BÀI ĐĂNG MỚI

Cuộc thi ảnh nghệ thuật “Huế - Những góc nhìn mới” lần III - 2017
...

 

Rừng che bộ đội - Sơn dầu của Quốc Thái

 

Hoa công nghiệp - Ảnh Nguyễn Viết Rừng

 

Cánh tay công nghiệp - Ảnh Vương Khánh Hồng

 

ẢNh Vũ Thành Chung

Chăn vịt - Ảnh Vũ Thành Chung

 

Mùa gặt - Ảnh Đức Biên

 

Đôi mắt cô gái H’mông - Ảnh Vũ Dũng


Hiện có 14 khách Trực tuyến

Lý luận phê bình

Tư duy văn hóa từ tiền đề ngôn ngữ (Qua nguyên lí tín hiệu học của F.de Saussure)
Theo quan điểm của F. de Saussure, cũng như nhiều nhà khoa học xã hội khác thì ngôn ngữ và văn hóa đều là những thiết chế trừu tượng, chúng dần dần được hình thành cùng với sự phát triển của con người xã hội. Và đặc biệt, khi đề cập đến tiến trình này, không phải ngẫu nhiên mà F. Engels rất coi trọng tiền đề ngôn ngữ ngay...
Tay tôi ôm khối bùa mê

Tập thơ được chia làm hai phần với phụ đề: Vọng biển và Tôi kể chuyện tôi. Vọng biển là chủ đề rộng viết về đất nước, quê hương, cuộc sống. Còn Tôi kể chuyện tôi là những bài thơ có tính riêng tư, chủ yếu là thơ tình.

Như bao người dân khắp từ Bắc chí Nam hướng về biển đảo Tổ quốc, tác giả Đinh Thường cũng viết về chủ đề này. Những câu thơ mộc mạc nhưng thấm đẫm tinh thần tự hào về truyền thống giữ gìn biển đảo muôn đời của nước mình: Ngoài kia biển cả bao la/ Trường Sa gió giật Hoàng Sa bão dồn/ Giang san muôn thuở trường tồn/ Mồ hôi và máu quyện… hồn nước non (Vọng biển)

Là một người lính biên phòng nên ý thức về sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước thường trực một cách sâu sắc. Đồng thời với các chiến hữu, đồng đội, tình cảm của tác giả thật sâu nặng: Biên cương muôn thuở gió vồn vã reo/ Bâng khuâng chạm đá tai mèo/ Nhắc tên đồng đội đau theo tháng ngày (Thăm lại điểm cao).

Với tinh thần của một người lính, một công dân, tác giả đau xót nỗi đau của di họa chiến tranh đối với những người mẹ, người vợ  khi tiếng súng từ lâu đã lặng: Đất ta bao xóm bao làng/ Một phen hóa đá bạt ngàn vọng phu (Vọng phu)

Suy ngẫm về lịch sử, về cuộc đời của vị tướng huyền thoại, tác giả thấm thía tinh thần sức mạnh của nhân dân là vô địch, lòng dân là cội nguồn cho sự bất tử và vững bền. “Bất tử muôn đời bởi tại lòng dân” và “Thành xây bởi lòng dân mới vững”. Nhìn cuộc sống thành công hôm nay, hiểu cái giá của chúng ta phải trả, càng thêm trân trọng nâng niu những gì đang có: Bên biển, bên em cảm xúc bỗng dâng đầy/ Ta càng hiểu đường lên hạnh phúc chưa bao giờ dễ dãi/ Không biết hi sinh làm sao có ngày thắng lợi (Hòn Dấu yêu thương)

Trong chùm thơ viết về các danh nhân như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Võ Nguyên Giáp, Nguyên Hồng... đượm vẻ suy ngẫm và tinh thần ca ngợi. Có những câu thơ ấn tượng viết về Nguyễn Du: Dẫu cho thế cuộc chuyển dời/ Chữ tâm càng sáng tình người càng trong; hoặc viết về Nguyên Hồng: Tiếng còi tàu chọc lủng trời sông Cấm/ Dường như ông đang khóc cùng Tám Bính dưới những lầu cao ánh điện lung linh.

Có thể đọc thấy nỗi lo lắng, băn khoăn, trăn trở của người viết khi nông thôn đang mất dần vẻ bình yên dù có vẻ hiện đại và màu mè hơn trước: Quê giờ rào sắt thay tre/ Nhà cao muôn kiểu, màu mè xênh xang/ Bê tông hóa khắp đường làng/ Xe rồ, bụi khói…bẽ bàng lối xưa […]/ Cát phun bức tử cánh đồng/ Nông nhàn ra phố chất chồng lo toan (Nỗi nhớ quê xưa).

Không khó khăn để nhận ra tác giả là người đa cảm, hay nghĩ ngợi, dễ xúc động, dù là trước ánh mắt người điên, trước thân phận một cô gái, một điểm cao biên giới, hay Chiều ngã ba Đồng Lộc, trước sắc trạng nguyên trong vườn, Đêm xuân trên chốt biên phòng, hoặc Mùa hoa cau của mẹ (tên các bài thơ trong tập)… Đúng như tác giả tự bạch: Hành trang nặng những lời yêu/ Đường lên Tây Bắc hóa điều tâm tư.

Phần thơ hai của tập thơ có tên Tôi kể chuyện tôi. Thật ra, sự phân chia này cũng chỉ có tính chất tương đối mà thôi. Cả phần Vọng biển, cái tôi của tác giả cũng đã hiện diện khá rõ ràng. Mà không chỉ thế. Nhiều lần tác giả xưng tôi, kể chuyện tôi cụ thể, chi tiết như: Chiều Yên Bái, tôi tìm em qua cơn mưa mùa hạ/ Phố hẹn hò… hun hút tính bằng cây/ Làn da con gái sáng như trăng ngà mở lối/ Rượu mời say bởi ánh mắt, bàn tay (Yên Bái yêu thương).

Bài thơ “Tôi kể chuyện tôi” lấy làm tên chung cho cả phần này có những câu tự bạch: Thi nhân một chút hão huyền/ Góc trang danh phận mấy miền đa đoan/ Ngẫn ngơ như bị ma làm/ Câu thơ rút ruột xênh xang dâng đời

Có vẻ như  tác giả tự diễu, tự chế mình, nhưng đằng sau câu chuyện đó là một sự tự nguyện, chân thành mong mỏi dâng đời! Hai mươi ba bài thơ ở phần này tập trung nói về thơ và tình yêu. Hơn một lần tác giả tự trào, tự coi mình là lơ ngơ, lóng ngóng, huyên thiên, ngộ nhận. Đây nữa, hình ảnh người làm thơ: Tay tôi ôm khối bùa mê/ Bẫy người chẳng được lại ghê chính mình.

Có thể thấy được tác giả là người tôn thờ, ca ngợi Em, ca ngợi phái đẹp. Mà cũng phải thôi, từ ông M.Gorki xa xôi bên Nga đến ông hoàng thơ tình Xuân Diệu ở Việt Nam, đều ca ngợi phụ nữ. Đinh Thường cũng không ngoài lệ ấy: Em là một tác phẩm toàn bích về thơ

Rồi em là người như một phép nhiệm màu làm thay đổi hết: Từ hôm anh được biết em/ Sông dài biển rộng, gần thêm mỗi ngày/ Đường đời muôn nỗi đắng cay/ Bỗng dưng hoa điểm ngất ngây lối chiều (Xuân muộn). Si mê như thế này cũng là hiếm trong đời: Hoa cười lụy khóe môi em/ Nhục vinh, được mất, sang hèn bằng không. Và ý nghĩ này không phải là không độc đáo: Tôi đi tìm em bằng con đường tự trói/ Mới hay trong nhau tung tẩy đến vô bờ. Chính phần này góp phần đem đến sự đa thanh, đa sắc cho thơ Đinh Thường.

Có thể nói, sau Hoa dã quỳ và Trái tim trước biển, tập thơ Chiều qua thung nhớ là một cố gắng mới của người lính yêu biển, yêu đời, yêu thơ đem dâng tặng cho đời./.

(Đọc Chiều qua thung nhớ của Đinh Thường, NXB Hội Nhà văn 2015)

VŨ NHO (Hà Nội)

 
 
 
 
   
 
 

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)

 

 

Cầu Thượng Lỹ - Tranh Nguyễn Văn Trường

Cầu Thượng Lý - Tranh sơn khắc của Nguyễn Văn Trường

 

Chiến thắng Bạch Đằng - Tranh khắc gỗ của Đặng Hướng

 

Chân dung nhà thơ Nguyễn Viết Lãm - Tượng đồng của Khắc Nghi

 

Buổi trưa vắng - Sơn dầu của Đặng Tiến

 

Sông Cấm - Tranh của Sơn Trúc

 

Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Trung thu trên đảo - Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

 

Tranh của Lê Viết Sử

Carnaval Hải Phòng - Tranh Lê Viết Sử

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...