Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 60 khách Trực tuyến
Tượng gỗ Đồng Minh

 

Q.V.

Trong mỹ thuật truyền thống, cùng với những phường thợ, những nghệ nhân còn lưu tên tuổi, biết bao nghệ nhân tài giỏi khuyết danh đã tạc nên bộ tượng La Hán chùa Tây Phương, tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay chùa Bút Tháp. Nổi danh xứ Đông là các phường thợ làm tượng gỗ sơn Hà Cầu, Bảo Động, Mai Yên nay thuộc xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo của Hải Phòng, đã có ngót trăm năm cha truyền con nối. Bao phủ quanh nghề tạc tượng gỗ Đồng Minh là những truyền thuyết, những giai thoại về những người thợ dân gian tài hoa yêu nghề say đắm, tiêu biểu là hai dòng họ Tô và họ Hoàng.


mythuathaiphong.blogspot.com mythuathaiphong.blogspot.com
Tượng cổ tại Đồng Minh

Người Bảo Hà xã Đồng Minh còn kể về cụ tổ nghề tạc tượng của họ là cụ Nguyễn Công Huệ sinh vào khoảng TK 15, bắt đầu của triều đại nhà Lê. Cụ lang thang đi kiếm sống bốn phương mong học lấy một hai nghề độ thân. Cụ đã mang về quê hương nghề tạc tượng, nghề ngải cứu và dệt vải. Trên bốn trăm pho tượng của Đồng Minh còn lại hiện giờ, tượng cụ tổ Nguyễn Công Huệ vẫn được các phường thợ suy tôn. Tượng cụ ngồi thoải mái, chân đi đất, một chân co lên, một bên áo tụt xuống quá vai, áo phanh hở toàn bộ ngực và bụng, nét mặt đạo mạo, phơ phất ba chòm râu, một tay đặt lên đùi, một tay vòng qua đầu gối. Tượng sơn phủ hoàn kim, tỷ lệ người cân xứng, nếp vải quần áo được khắc tả mềm mại, theo kiểu ước lệ của kinh nghiệm dân gian để diễn đạt phần mặt và thân thể khá chuẩn xác, mang rõ nét sự quan sát nghiên cứu từ thực tế. Đây là một trong những pho tượng đẹp nhất của Đồng Minh.

Truyền thuyết về cụ tổ Tô Phú Vượng, người đứng đầu dòng thợ họ Tô, vốn là bố vợ cụ Hoàng Đình Ức, người đứng đầu dòng thợ họ Hoàng. Tài nghệ của hai cha con được loan truyền đến tận Thăng Long. Vua Lê Cảnh Hưng (TK 18) cho sứ giả mời hai người lên kinh đô để chạm khắc ngai vàng. Khi ngai vàng được làm xong, cụ Tô Phú Vượng vốn tính phóng khoáng chẳng kiêng nể phép tắc triều đình, cụ trèo lên ngai ngồi thử tác phẩm của mình. Hành động đó có kẻ mách đến tai vua. Vua Lê Cảnh Hưng truyền cho băt hai cha con cụ Tô Phú Vượng hạ ngục.

Ở trong ngục thất, thời gian đằng đẵng. Buồn bực, nhân tìm thấy hạt thóc còn sót ở chiếc chổi lúa, người nghệ nhân tài hoa đó bèn dùng móng tay khắc hạt gạo thành con voi có đủ vòi và đuôi. Việc ấy cũng lại đến tai vua. Cảm phục tài năng kỳ diệu của nghệ nhân, vua Lê Cảnh Hưng hạ lệnh thả hai cha con ra. Cụ Tô là người can tội phạm thượng lại được phong Kỳ tài hầu, nhưng không được hưởng lộc.

Thời gian sau, cụ Hoàng Đình Ức muốn tỏ lòng biết ơn nhà vua, đã dùng trí nhớ tạc lại nét mặt của vua Lê Cảnh Hưng tạo thành nét mặt tượng Ngọc Hoàng đặt tại chùa làng Đông Cao (nay thuộc Ninh Giang, Hải Dương). Chân dung ấy giống đến nỗi nhà vua cảm phục sắc phong cho cụ Hoàng Đình Ức chức cục phó cục tạc tượng của triều đình. Tờ sắc phong ngày nay con cháu cụ còn lưu giữ được. Riêng kinh nghiệm tạc tượng về tỷ lệ được đúc kết gói gọn trên một thanh tre gọi là "Thước tầm".

Với quan niệm chạm khắc nhân vật giống thực, tượng "Quan văn" mặt điềm đạm hơi ngửng lên, chòm râu buông rủ, miệng như muốn nói một điều gì. Cặp mắt nhỏ của người nhiều cơ mưu, khăn áo sinh động với những nếp vải được thâm diễn đã được quan sát ký từ thực tế. Tượng Phật Bà cũng một xu hướng ấy, nét mặt Phật Bà khác với các tượng xưa ở ta cũng như ở nhiều nước phương Đông theo một công thức về mắt, môi, cổ, tai... Tượng Phật Bà của nghệ nhân Đồng Minh nét mặt giống như một sư bà trong cuộc đời thực, phúc hậu và thanh khiết rất dân gian Việt Nam.

Xu hướng thứ hai trong các phường tạc tượng ở Đồng Minh là cách nhìn nhân vật khi tạo hình, tạo ấn tượng, ước lệ tự do, hồn nhiên, giống như quan niệm của các nghệ nhân đã chạm khắc đình làng ở các thế kỷ 16,17,18: mộc mạc, chất chứa nhiều cảm xúc chân thực. Các tượng tạc nô bộc ở Đồng Minh khỏe mạnh, hóm hỉnh, tươi vui đang quỳ dâng rượu, bụng phưỡn ra, chiếc khố hờ hững làm người nô bộc như cố khép đùi lại cho kín, vì vậy mông cong lên, miệng thì cười tủm tỉm, đầy vẻ trào lộng, khác hẳn so với những tượng thờ ở chốn tôn nghiêm. Cách nhìn này gần gũi với các con rối nước cũng của Đồng Minh với những khối mảng dứt khoát, mạnh bạo.

Số lượng tượng phong phú của Đồng Minh còn lại ở nhiều giai đoạn đã chứng tỏ người nghệ sĩ dân dan đã quan sát nghiên cứu từ những mẫu thực của cộc đời, có cá tính và đặc điểm tâm lý, với những biểu hiện hồn nhiên, chân thực như tâm tư tình cảm tự nhiên, bộc trực của người lao động. Truyền thống tay nghề điêu luyện ấy góp mặt cùng với những tác phẩm điêu khắc vô giá đóng góp vô cùng to lớn vào kho tàng mỹ thuật Việt Nam.


Bài đăng trên "Tạp chí Mỹ thuật" số 1 năm 1986


 
 

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)