Rừng che bộ đội - Sơn dầu của Quốc Thái

 

Hoa công nghiệp - Ảnh Nguyễn Viết Rừng

 

Cánh tay công nghiệp - Ảnh Vương Khánh Hồng

 

ẢNh Vũ Thành Chung

Chăn vịt - Ảnh Vũ Thành Chung

 

Mùa gặt - Ảnh Đức Biên

 

Đôi mắt cô gái H’mông - Ảnh Vũ Dũng


Hiện có 82 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Sáng tác văn học trẻ, gắn với giữ gìn phát huy sắc thái văn hóa địa phương

Nhóm VN8+2 tổ chức Hội thảo “Sáng tác Văn học trẻ gắn với giữ gìn, phát huy sắc thái văn hóa địa phương” tại Ninh Bình. Các tham luận đề cập tới thực trạng thiếu vắng các cây bút trẻ gắn bó với văn học; Hội VHNT các địa phương luôn quan tâm, bồi dưỡng phát triển đội ngũ những người viết văn trẻ song hiệu quả thu được còn hạn chế. Tại Hội thảo, các đại biểu đã đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm xây dựng lớp tác giả kế cận sáng tác văn học thể hiện sắc thái địa phương.
Cửa Biển trích đăng các tham luận tại Hội thảo.

Nhà thơ Bình Nguyên
Chủ tịch Hội VHNT Ninh Bình


Hội thảo: Sáng tác văn học trẻ, gắn với giữ gìn phát huy sắc thái văn hóa địa phương của Nhóm Hợp tác và phát triển VHNT khu vực phía Bắc (VN8+2) được tổ chức trong thời điểm nền VHNT khu vực, đất nước đang có sự vận động, chuyển biến, đan xen nhiều khuynh hướng sáng tác. Đây là việc làm có ý nghĩa thiết thực và bổ ích. Là việc làm để chúng ta góp phần khẳng định vị thế của văn học nói chung và văn học trẻ nói riêng trong đời sống xã hội và góp phần làm giầu cho bản sắc văn hoá theo tinh thần Nghị quyết ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị (khoá X) về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới ”.
Chúng tôi luôn hiểu rằng, các tác phẩm trẻ ra đời bao giờ cũng chịu nhiều thử thách của thời gian và sự đánh giá bình phẩm của công chúng. Bồi dưỡng, chăm sóc sáng tác trẻ gắn với giữ gìn, phát huy sắc thái văn hoá là trách nhiệm của những người làm công tác VHNT chúng ta. Mỗi vùng đất, mỗi địa phương đều có sắc thái văn hóa riêng, những sắc thái văn hóa riêng ấy hòa quyện với nhau trong dòng chảy qua  thời gian, bồi đắp nên diện mạo văn hóa, tạo ra những cánh đồng, làng bản, quê hương văn học nghệ thuật. Đằm sâu trong sắc thái văn hóa mỗi vùng, miền là sự thể hiện, quan tâm, bồi dưỡng, chăm sóc tài năng văn học nghệ thuật của mỗi miền quê, vùng đất. Cái đằm sâu ấy chảy êm đềm bồi lắng lên những lấp lánh phù sa... Có thể nói truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc luôn luôn là điểm tựa cho đội ngũ văn nghệ sỹ trẻ sáng tạo. Qua
nhiều bước thăng trầm của cuộc sống nhân dân ta đã hình thành nên một nền VHNT trường tồn cùng dân tộc. Tất cả những điều đó đã kết tinh thành văn hoá và văn hoá ấy đã lan truyền, toả hương cho mỗi vùng đất, con người quê hương, xứ sở.
Cuộc Hội thảo “Sáng tác văn học trẻ, gắn với giữ gìn phát huy sắc thái văn hóa địa phương” của Nhóm VN8+2 lần này sẽ góp phần làm rõ hơn công tác tìm nguồn, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những tài năng văn học trẻ, trên cơ sở đó cần có chính sách thu hút, tạo sự hấp dẫn, tình yêu văn học cho các tác giả trẻ, tác giả có khả năng sáng tác tốt, khích lệ tạo điều kiện đưa tác phẩm ra ngoài biên giới mỗi địa phương, tạo sự hưng phấn cho các tác giả trẻ không ngừng sáng tạo./.

Nhà thơ Vũ Kim Liên
Phó TBT Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ - Phú Thọ

Phú Thọ luôn đề cao vai trò sáng tác của văn nghệ sĩ, trong đó có lực lượng sáng tác văn học trẻ, luôn có sự định hướng để sáng tác trẻ đi vào quỹ đạo, không mang màu sắc chủ quan mà đi vào thực tế đời sống, mang hơi thở đời sống vào sáng tác, gắn liền với việc đề cao truyền thống cách mạng, sắc thái văn hóa vùng miền, tập quán sinh hoạt của  người đất Tổ. Coi trọng vai trò định hướng, kết hợp với tổ chức các trại sáng tác, các chuyến đi thực tế hướng về cơ sở để phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ, qua đó động viên biểu dương những thành công mà lực lượng sáng tác nói chung, sáng tác văn học trẻ nói riêng đã gặt hái được, đồng thời động viên anh chị em viết trẻ  bằng tình yêu của mình và trách nhiệm công dân tiếp tục bám sát vào đời sống sinh động ở mỗi vùng đất, mỗi làng quê để viết và kể lại những câu chuyện về con người và miền đất ấy thông qua các tác phẩm văn học của mình. Đến hẹn lại lên 2 năm/lần Hội lại mở trại sáng tác văn học trẻ cho đội ngũ các giảng viên đại học, các em sinh viên, học sinh có năng khiếu đến từ các trường đại học, cao đẳng, các trường THPT chuyên và không chuyên trên địa bàn
...Những tác phẩm của đội ngũ này được các nhà văn, nhà thơ, những cây bút phê bình chuyên nghiệp phân tích một cách khách quan, chỉ ra cái được và chưa được trong phương pháp sáng tác, kỹ năng thể hiện  và ngay cả sự cảm thụ, duy trì, nuôi dưỡng cảm xúc  từ nhiều góc độ của cuộc sống để hình thành phong cách viết cho mỗi người.
... Trong hơn 300 hội viên của Phú Thọ, có tới 40% là các cây bút trẻ. Những gương mặt trẻ trung, năng động của Hội đang dần hình thành phong cách viết riêng của mỗi người, song không ai thoát ly khỏi thiên hướng sáng tác vùng miền, bản sắc dân tộc, những nét văn hóa độc đáo mà mình đang được hưởng thụ. Đó cũng chính là ý thức, là trách nhiệm của người cầm bút trẻ.
... Là người sáng tác từng trải qua giai đoạn viết trẻ, thiết nghĩ Nhóm VN 8+2 nên tổ chức những trại sáng tác VHNT, nhất là trại sáng tác VH cho đội ngũ những người viết trẻ hoặc những hội nghị viết văn trẻ trong Nhóm để họ có điều kiện gặp gỡ, giao lưu, học hỏi và cọ sát cùng sáng tác nên những tác phẩm mang đậm sắc thái văn hóa địa phương; song hành với đó là các sáng tác trẻ này cần được gửi trao đổi, in ấn, quảng bá trên các phương tiện truyền thông là các Tạp chí in và các trang Web của các Hội trong Nhóm nhằm mở rộng mối giao kết, quảng bá sản phẩm VH cũng như sắc thái văn hóa của 10 tỉnh, thành phố trên phương tiện truyền thông của mình, góp phần làm phong phú nội dung cũng như giá trị của báo chí văn nghệ địa phương./.

Nhà thơ Nguyễn Đình Minh
Hội Liên hiệp VHNT HP


Bằng niềm say mê văn học, khả năng và bản lĩnh sáng tạo của riêng mình, tác phẩm của CLB những người viết văn trẻ Hải Phòng nối tiếp mạch nguồn của lớp tác giả lớn tuổi giàu suy nghĩ , chứa chan cảm xúc, gồ ghề động sóng và mộng mơ; đồng thời mang đến vẻ mới lạ của hình thức hiện đại vang động tiết tấu cuộc sống vùng đất sóng và nhịp đời. Các cây bút văn trẻ Hải Phòng không có ai cách tân theo những trường phái mới gây tranh luận; sự cách tân ở các tác giả nhìn chung đều gắn với mạch nguồn và phát triển phù hợp với thời đại về cả nội dung và hình thức. Dường như các tác giả văn trẻ nơi đây có chung nhận thức: sự cách tân nào cũng đi đến cái đẹp, do vậy không ít nhà thơ hòa vào dòng thơ lục bát và tạo được một số thành công nhất định như Bùi Thu Hằng,  Phạm Văn Tuấn, Đào Mạnh Long.
Vẻ đẹp của văn trẻ Hải Phòng về hình thức chính là sự cách tân trong độ cho phép phù hợp với cảm nhận của số đông độc giả; Sự đa dạng về đề tài được khai thác từ tính chất đặc trưng của miền đất đầy sóng gió có nhiều biến động phong phú đặc biệt là chất trí tuệ có hàm lượng cao hơn, cảm xúc hơn trong các tác phẩm. Đọc thơ, văn của tác giả trẻ Hải Phòng dễ thấy sự già dặn trong triết lý, trong kiến giải những hiện tượng, quy luật cuộc sống chủ đạo nổi lên là nỗi âu lo, sự thương cảm cho số phận con người và con đường phía trước được thể hiện bằng nhiều cung bậc cảm xúc.
... Trong bối cảnh xã hội có quá nhiều sự đổi thay, sự cám dỗ đặc biệt là áp lực, chi phối trong một đô thị lớn, những người viết văn trẻ Hải Phòng vẫn kiên định con đường viết văn. Trước một nền tảng mĩ học  đang có những  thay đổi, trước xu thế cách tân mạnh mẽ… đã tạo nên những áp lực lớn không chỉ cho những người viết nơi đây. Dường như nhận định ra phong cách của 24 cây bút văn trẻ Hải Phòng bây giờ là quá sớm, nhưng nhìn vào sự chấp nhận dấn thân trong cô độc để cống hiến tài năng, phẩm tính; nhìn những thử thách cam go mà người viết trẻ  dám đương đầu, có thể hy vọng Hải Phòng có một thế hệ tiếp nối vững vàng trong tương lai./.

Nhà văn Nông Quang Khiêm
Biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Yên Bái


Lực lượng sáng tác văn học trẻ dân tộc thiểu số ở Yên Bái quá mỏng. Hiện nay, mới có 9 hội viên là người dân tộc thiểu số, gồm 6 người dân tộc Tày, 2 dân tộc Dao, 1 dân tộc Mường. Lực lượng tác giả mỏng, lại khó khăn trong việc phát hiện, bồi dưỡng nhân tố mới. Tác giả trẻ tham gia sáng tạo văn học đã hiếm, tác giả trẻ dân tộc thiểu số tham gia sáng tạo văn học lại càng hiếm. Phát hiện đã khó, nuôi dưỡng còn khó hơn, đấy là chưa nói đến thành công trong sáng tạo VHNT bao giờ cũng khắt khe…
Vì vậy tác giả văn học trẻ dân tộc thiểu số rất cần được quan tâm nuôi dưỡng, trân trọng, rất cần tâm huyết, trách nhiệm thực sự của những người trong cuộc. Cá nhân tôi nghĩ rằng, cần tạo điều kiện hơn nữa cho các tác giả văn học trẻ dân tộc thiểu số tham dự các trại sáng tác, các cuộc tọa đàm, trao đổi, tạo điều kiện giao lưu học tập cũng như động viên, khuyến khích họ sáng tạo.  
... Một vấn đề nữa là sáng tác văn học bằng tiếng dân tộc, chữ viết dân tộc. Vài năm trở lại đây, Hội Yên Bái có thêm ấn phẩm Văn nghệ Yên Bái vùng cao. Đó là “đất” rất quý dành cho các tác giả sáng tác bằng tiếng dân tộc, chữ viết dân tộc, song ngữ dân tộc, dễ dàng tiếp cận và phục vụ đồng bào dân tộc, miền núi, vùng cao, vùng sâu vùng xa của tỉnh. Tuy nhiên lực lượng sáng tác này hiện chỉ đếm được trên đầu ngón tay với sự có mặt của một vài dân tộc như: Tày, Mông, Dao, Thái, Mường; các tác giả tiêu biểu có thể kể đến như: Vũ Khả, Lò Văn Biến, Đặng Ngọc Thông, Hoàng Tương Lai, Nông Quang Khiêm… Thiết nghĩ chúng ta cần có cơ chế khuyến khích hơn nữa cho các tác giả, nhất là các tác giả văn học trẻ dân tộc thiểu số sáng tác bằng tiếng dân tộc, chữ viết dân tộc, không vì hướng tới hội nhập, không để cơn lốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa mà đánh mất gốc, đánh mất bản sắc dân tộc.../.



Ban Tổ chức Hội thảo trao cờ lưu niệm cho 10 hội VHNT trong khu vực
Ảnh: Ninh Đức Hậu

Nhà văn Trương Thị Thương Huyền
Phó Chủ tịch Hội VHNT Hải Dương


Trong khái niệm Sáng tác văn học trẻ này, chúng tôi chỉ muốn đề cập tới sáng tác của những người trẻ tuổi, không có khái niệm về những gì gọi là làm mới văn học, làm văn học trẻ hoá mà không cần phân biệt tuổi tác người viết đang bùng phát trong giai đoạn hiện tại, đặc biệt là chúng tôi tập trung vào quá trình bồi dưỡng để những người viết trẻ góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, sắc thái văn hóa vùng miền của địa phương mình. Đó thực chất là một điều vô cùng  khó.
Nguyên nhân của cái khó ấy tập trung vào mấy vấn đề:
- Lực lượng trẻ yêu thích và tham gia sáng tác hiện tại không có nhiều. Với Hải Dương hiện nay, số lượng các tác giả tính từ tuổi 45 trở lại chỉ đếm chưa hết hai bàn tay (Còn nếu tính theo tiêu chí do Hội Nhà văn Việt Nam đưa ra, trẻ từ 35 tuổi trở xuống thì Hội chúng tôi … Không có).
- Những người viết trẻ ấy đã ít nhưng lại càng không có tham vọng trở thành người sáng tác chuyên nghiệp. Họ đều là những người đang sống bằng nghề khác và việc viết lách đối với họ chỉ như một thú vui, một nghề tay trái. Sáng tác chỉ hứng như một thú tiêu khiển để tìm kiếm, mong muốn vơi bớt những gánh nặng, những áp lực của cuộc sống thực tại, đồng thời cũng có hy vọng biểu hiện sự bình đẳng của cá nhân mình với mọi người, với bạn đọc trên khắp thế giới khi cuộc sống số phát triển rầm rộ như hiện nay và từ đó thì các sáng tác của họ hầu hết thể hiện cái tôi của mỗi người. Tác phẩm viết ra chủ yếu xuất bản “mạng” qua FC.
... Để sáng tác văn học trẻ gắn với các di sản văn hóa, lịch sử của mỗi địa phương, có thể cho rằng trước hết, Hội Văn nghệ cũng như Tạp chí văn nghệ ở mỗi tỉnh cần chủ động làm tốt phần việc của mình, thuộc phạm vi địa phương mình, đồng thời, liên kết với các tỉnh bạn trong hoạt động sáng tác và giới thiệu, quảng bá tác phẩm. Mặt khác, có những hoạt động cần được nâng lên tầm khu vực. Theo đó, mỗi tỉnh hoặc 10 tỉnh, thành phố trong khu vực có thể phối hợp cùng nhau áp dụng các giải pháp để nhằm nâng cao vai trò của tạp chí địa phương với việc tôn vinh, các sáng tác văn học trẻ phản ánh giá trị lịch sử, văn hóa, di sản vùng miền: - Tổ chức đi thực tế hoặc mở trại viết trẻ tại địa bàn có di sản văn hóa, lịch sử. Tổ chức hội thảo chuyên đề về tuyên truyền, quảng bá các di sản văn hóa, lịch sử; Tổ chức các cuộc thi sáng tác Trẻ chuyên loại hình VHNT như: văn xuôi, thơ, ảnh, mỹ thuật...  hoặc huy động mọi loại hình nghệ thuật phù hợp sáng tác tuyên truyền, quảng bá về một di sản văn hóa, lịch sử. Tạp chí văn nghệ các tỉnh nên dành “đất” giới thiệu tác phẩm của Hội, của Tạp chí văn nghệ tỉnh bạn, thường xuyên giữ mối liên hệ, trao đổi kinh nghiệm của tỉnh mình với tỉnh bạn trong việc tôn vinh các sáng tác văn học trẻ về đề tài này...

Nhà báo Ngô Hồng Giang
Phó Chủ tịch Hội VHNT Bắc Ninh

Có thể khẳng định, hiện nay đa phần các cây viết trẻ hiện nay đều có trình độ học vấn khá cao, tầm hiểu biết xã hội tương đối sâu rộng,  có một không gian văn hóa hiện đại, tuy nhiên trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, các cây viết trẻ dường như đều có chung tâm trạng là muốn đi tìm cái mới, cố gắng vượt qua những cái lỗi thời, mòn cũ. Đó là một mong muốn rất chính đáng. Tuy vậy, quan niệm thế nào là cái mới đích thực trong văn học thì không phải ai cũng đã tìm được câu trả lời thoả đáng. Người viết trẻ thường chuộng lạ, đó là cơ sở làm nên sự sáng tạo. Một điều dễ nhận thấy các nhà văn trẻ hôm nay đều rất tự tin, mạnh dạn thể hiện tài năng qua nhiều đề tài khác nhau. Trong các tác phẩm,  cách thể hiện những suy nghĩ về tình yêu khá “thoáng”: Những hờn giận, ghen tuông, sự cô đơn và nổi loạn... được khai thác một cách triệt để, đậm nét bằng trí tưởng tượng cũng như trải nghiệm của cá nhân người viết.
Tuy nhiên nhiều người viết trẻ bị “lạc” vào rừng văn chương hiện đại, do vậy không tự lựa chọn được con đường riêng cho mình. Sự buông thả, dễ dãi, háo danh cũng thường dẫn người ta sa vào ảo tưởng, ngộ nhận. Văn học trẻ vì thế mà vẫn loanh quanh trong rừng văn học hiện đại với quá nhiều trào lưu chưa rõ ràng.
.. Nhận biết được điều này chúng tôi đã và đang dần từng bước khắc phục để có được một đội ngũ viết văn trẻ có năng lực, trình độ. Chúng tôi đã thực hiện các giải pháp sau:
Một là, phối hợp chặt chẽ giữa Hội VHNT với Sở GDĐT, Tỉnh đoàn trong việc bồi dưỡng các cây bút viết văn trẻ, trọng tâm là đội ngũ những nhà giáo trẻ yêu văn học, các em học sinh đang học chuyên văn tại các trường phổ thông, trường cao đẳng sư phạm tỉnh, tiến tới xây dựng các câu lạc bộ viết văn trẻ ở các nhà trường.
Hai là, xây dựng kế hoạch mở các lớp bồi dưỡng sáng tác trẻ cho đội ngũ giáo viên và học sinh, tạo điều kiện cho họ có thời gian xâm nhập thực tiễn, tiếp cận với các mảng đề tài và xu thế sáng tác; định kỳ cử các nhà văn có uy tín của Hội nói chuyện về nghiệp vụ cũng như trao đổi về các vấn đề mà đội ngũ viết văn trẻ quan tâm. Đồng thời tích cực tìm tòi, phát hiện những cây viết trẻ trong cộng đồng, trong các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang nhằm làm phong phú và đã dạng hóa đội ngũ viết văn trẻ.
Ba là, có cơ chế ưu tiên thu hút kết nạp những cây viết có triển vọng vào Hội để có điều kiện bồi dưỡng giúp họ trưởng thành. Phối hợp với Tỉnh đoàn phát động các cuộc thi sáng tác truyện ngắn cho thanh thiếu nhi. Trên Tạp chí Người Kinh Bắc duy trì thường xuyên chuyên mục “Văn học với nhà trường” để thu hút các tác giả sáng tác, nhất là đội ngũ thầy cô giáo, học sinh, sinh viên.
Bốn là, thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu, mạn đàm về các chủ đề liên quan đến văn học trẻ hiện nay để kịp thời giải đáp những vướng mắc, đồng thời định hướng những mảng, những vấn đề cần quan tâm sáng tác hiện nay, nhất là vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương, đất nước./.

Nhà thơ Ninh Đức Hậu
Trưởng Ban Văn học trẻ Hội VHNT Ninh Bình


Hơn hai mươi năm qua, để tìm kiếm, phát hiện và kịp thời bồi dưỡng các tài năng văn học trẻ, Hội VHNT tỉnh Ninh Bình đã thành lập Ban Văn học trẻ, thường xuyên tổ chức các Trại sáng tác văn học trẻ, các cuộc thi sáng tác văn học dành cho lứa tuổi thanh thiếu niên. Chính vì vậy tỉnh Ninh Bình luôn luôn có một lực lượng sáng tác văn học trẻ. Lực lượng này kế tiếp nhau làm phong phú thêm đội ngũ sáng tác Văn học, và cũng là lực lượng tiếp nối cho đội ngũ văn nghệ sĩ.
... Từ khích lệ sáng tác giữ gìn bản sắc văn hoá địa phương Hội VHNT Ninh Bình còn là nơi kết dính đội ngũ sáng tác trẻ với Hội, để từ đó những sáng tác của họ trở thành gắn bó và là một bộ phận không thể thiếu được của văn học địa phương. Sự gắn bó của văn học trẻ với văn học địa phương được thể hiện rõ nét nhất đầu tiên phải kể đến đội ngũ. Hàng năm ở Ninh Bình, Trại sáng tác văn học trẻ được tổ chức mỗi năm 1 lần, mỗi lần từ 10 đến 15 ngày. Ngoài các cháu có tác phẩm thường xuyên gửi về Hội, Hội được sự giới thiệu đội ngũ từ Sở GDĐT, Trường Đại học Hoa Lư, một số Trường THPT và THCS, vì vậy năm nào đội ngũ tác giả trẻ cũng dao động từ 20 đến 30 cháu. Các tác giả trẻ luôn nhận được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, các sở ban ngành khác. Quan tâm về tinh thần, vật chất và được Hội quan tâm về chuyên môn nghiệp vụ. Các lớp bồi dưỡng sáng tác văn học trẻ được tổ chức, tạo nên sự gắn bó ngày càng mật thiết.
... Sự gắn bó của lực lượng sáng tác văn

học trẻ hiện đang học tập, công tác, sinh sống tại địa phương được thể hiện trên nhiều bình diện. Họ là đội ngũ không thể thiếu được của văn học địa phương. Tác phẩm của họ không những luôn thể hiện đậm đà bản sắc văn hoá vùng miền mà còn được cách tân, đổi mới, làm phong phú, đa dạng, chất lượng hơn. Họ đã vượt qua được sự bảo thủ nếu có, hoặc cách tư duy hay tiếp cận cái mới chưa có của một số tác giả đã cao tuổi. Trong thơ của Phạm Khải Lợi, Đặng Diệu Thoa, Cầm Thị Đào… hình ảnh Ninh Bình bao giờ cũng lấp lánh, sinh động. Còn thơ của Phạm Thuý Nga, Bùi Hồng, Bùi Thị Nhài thì mượt mà giàu hình ảnh. Các tác giả trẻ đã phần nào có tên tuổi trên văn đàn như Phạm Thị Duyên, Vũ Thanh Lịch, Phạm Tâm An thì bản sắc địa phương bao giờ cũng nổi bật. Trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Vũ Thanh Lịch vùng rừng đồi của thành phố Tam Điệp hiện lên rõ nét... Đất và người ở Nho Quan vào truyện ngắn của Phạm Thị Duyên cũng điển hình và nổi bật....Thơ của Trần Xuân Trường, Nguyễn Thanh Sơn, Phạm Tâm An lại đưa hình ảnh miền quê Kim Sơn, Yên Khánh lại gần với bạn đọc. Thơ của các tác giả trẻ này đang dần được khẳng định và họ luôn là lực lương kế cận...

Nhà báo Vũ Nghiêm Trợ
Phó TBT Báo Hạ Long - Quảng Ninh


Số hội viên Hội VHNT Quảng Ninh khá đông so với các tỉnh trong khu vực, song đang có chiều hướng già đi. Việc hội thảo lần này đưa ra chủ đề: “Sáng tác Văn học trẻ, gắn với giữ gìn, phát huy sắc thái văn hóa địa phương” là một vấn đề không mới nhưng đặc biệt quan trọng và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay, bởi lớp trẻ hiện nay đa phần không quan tâm đến văn học, chưa nói đến việc động viên họ đi theo con đường sáng tác VHNT là một việc làm không hề đơn giản chút nào. Từ tình hình thực tế, nhằm tạo nguồn và đội ngũ sáng tác kế cận, Quảng Ninh đã triển khai liên tục 6 năm trở lại đây  theo nhiều hướng khác nhau như: thông qua các hoạt động tại các Ngày thơ Quảng Ninh được tổ chức hàng năm, tổ chức cuộc thi sáng tác văn học tuổi học trò trên Báo Hạ Long, gửi báo đến các Trường THPT trên địa bàn tỉnh để các cháu tiếp cận dần với văn chươngv.v. nhưng kết quả vẫn còn hạn chế. Báo Hạ Long đã tổ chức phát động mở cuộc thi sáng tác thơ, truyện ngắn tuổi học trò lần thứ nhất (2011-2012). Hội đã cử các nhà văn, nhà thơ về một số trường THPT, THCS trên địa bàn tỉnh để tuyên truyền phổ biến cuộc thi. Sau gần hai năm phát động, cuộc thi đã thu được kết quả đáng phấn khởi, đã có trên 30 tác giả ở nhiều lứa tuổi thuộc các trường học trên địa bàn toàn tỉnh gửi gần 60 tác phẩm về dự thi, có những em ở vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo như Cô Tô, Ba Chẽ, Tiên Yên cũng gửi bài về dự thi.
... Trong bối cảnh hiện nay, sự phức tạp của cuộc sống đời thường, những quan hệ đa chiều của nền kinh tế thị trường có tác động không nhỏ đến đời sống VHNT, đa phần các tầng lớp trong xã hội chỉ quan tâm đến kinh tế, ít chú ý đến VHNT đặc biệt là giới trẻ. Vì thế công tác phát triển, bồi dưỡng đội ngũ sáng tác trẻ là một việc làm hết sức cần thiết trước mắt cũng như lâu dài, Hội VHNT Quảng Ninh những năm qua đã có những việc làm thiết thực mang tính lâu dài nhằm phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ sáng tác trẻ nhưng kết quả vẫn còn hạn chế, chưa thực sự rõ nét mặc dù đã có nhiều cố gắng. Từ diễn đàn này chúng tôi mong muốn có sự hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm giữa  Hội VHNT Quảng Ninh, với các Hội VHNT trong  Nhóm VN8+2, trong đó có việc đẩy mạnh các hoạt động liên kết sáng tác, trao đổi, quảng bá các tác phẩm đặc biệt là học tập, trao đổi kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng đội ngũ sáng tác trẻ./.

Nhà thơ Hà Thu
Tổng BT Tạp chí Văn nghệ Suối Reo - Sơn La


Những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng bộ, chính quyền tỉnh, Hội Liên hiệp VHNT Sơn La đã chú trọng phát hiện bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sỹ với các thế hệ tiếp nối thông qua các cuộc thi, các cuộc vận động sáng tác do trung ương, tỉnh và các ban ngành của tỉnh tổ chức. Ngoài những cây bút già dặn, có nghề mà tên tuổi đã được khẳng định như: Hoàng Mai Lộc, Lò Văn Cậy, Cầm Thị Chiêu, Cầm Hùng, Lò Vũ Vân, Hà Thu, Phan Thị Thu Hồng, Hoàng Lệ Thủy, Kiều Duy Khánh... Hiện lực lượng sáng tác của tỉnh đã được bổ sung thêm một số cây bút trẻ như: Hồng Minh, Trịnh Mỹ Duyên, Đinh Ngọc Minh, Trang Hà, Nguyễn Thái Hà... tuy nhiên chủ yếu viết về đề tài tình yêu đôi lứa, trong số đó cũng đã có một vài tác giả đã thể hiện sự tìm tòi về văn hóa của các dân tộc nhưng mới chỉ là sự tiếp cận bước đầu mà thôi.
Những tác giả trẻ là người dân tộc, sáng tác bằng ngôn ngữ mẹ đẻ hầu như còn thiếu vắng trên văn đàn. Khả năng am hiểu về phong tục, tập quán và vốn văn hóa truyền thống của chính dân tộc mình còn nhiều hạn chế. Bởi vậy, chất lượng tác phẩm chưa được như mong muốn. Trong thời gian qua, công tác phát triển hội viên mới, nhất là với các tác giả trẻ mặc dù hết sức được coi trọng  nhưng thực tế, số hội viên trẻ được kết nạp hàng năm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Thậm chí, có những năm trong lĩnh vực văn học không kết nạp được hội viên nào, nhất là mảng lý luận phê bình văn học, nghệ thuật càng thiếu vắng hơn.
... Đặc biệt là bản sắc văn hoá các dân tộc đang bị mai một ở mức báo động. Trong khi những người già, những nghệ nhân am hiểu văn hoá dân tộc đang vắng bóng dần thì không ít cán bộ và lớp trẻ người dân tộc lại thờ ơ với chữ viết và tiếng mẹ đẻ của chính mình. Vì vậy, cần phải coi “Sáng tác văn học trẻ, gắn với giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa địa phương” là nhiệm vụ, định hướng cấp thiết hàng đầu của Hội Sơn La. Nhằm bảo tồn bền vững bản sắc văn hóa truyền thống quý giá của các dân tộc, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của tỉnh và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn học nghệ thuật ngày càng cao của đồng bào.  
Từ thực trạng nêu trên Hội Liên hiệp VHNT tỉnh Sơn La đã đưa ra giải pháp khắc phục như sau: Động viên, khuyến khích các tác giả trẻ mạnh dạn tìm tòi, đi sâu phản ánh mọi mặt đời sống xã hội, đồng thời có những cách nhìn đa chiều, có phương tiện biểu đạt phong phú nhằm tạo ra những tác phẩm có giá trị cả về nội dung và nghệ thuật góp phần định hướng xã hội, truyền tải những ý nghĩa nhân văn và giá trị chân - thiện - mỹ thông qua các tác phẩm văn học - nghệ thuật chân chính.
Thường xuyên phát hiện, bồi dưỡng các tác giả trẻ có năng khiếu. Tổ chức các lớp nâng cao, bồi dưỡng kỹ năng sáng tạo VHNT tại địa phương và trung ương để họ có cơ hội giao lưu, học hỏi, trau dồi vốn sống và tích lũy kinh nghiệm, từng bước nâng cao năng lực sáng tác của mình.
... Hiện nay, tỉnh Sơn La đã ban hành Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về “Tăng cường lãnh đạo công tác phát triển VHNT trong thời kỳ mới” với các tiêu chí phấn đấu rất cụ thể. Đồng thời tiến hành nghiên cứu các đề tài khoa học và viết Dư địa chí Sơn La mang tính bách khoa toàn thư của tỉnh, trong đó có nội dung lớn về VHNT mà Hội Liên hiệp VHNT tỉnh cũng là thành viên Ban chỉ đạo và biên soạn nội dung./.

Nhà văn Nguyễn Thị Thu Hà
Phó Chủ tịch Hội VHNT Bắc Giang


Ở Bắc Giang xu hướng sáng tác trẻ đang được đa dạng hóa ở nhiều hình thức thể hiện bởi môi trường văn học nói chung của chúng ta cũng đang được mở cửa và giao lưu với nhiều nền văn học các nước trên thế giới. Người đọc bao giờ cũng hiếu kỳ với những tác phẩm được quảng bá, gây sốc. Đặc biệt giới trẻ là người thích khám phá những điều mới lạ.
... Đối với Hội VHNT Bắc Giang, Chi hội Văn học hiện có 50 hội viên, trong đó người viết trẻ ở lứa tuổi 7x trở về sau thì số lượng chỉ có 7 hội viên.
... Hội VHNT Bắc Giang đã chủ động tổ chức các trại sáng tác dành cho các lứa tuổi, các đề tài  gắn với tình hình thực tế tại địa phương, đồng thời Hội cũng thường xuyên lựa chọn những gương mặt viết trẻ, dưới độ tuổi 40 tham gia các trại viết của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam. Tuy nhiên  số lượng hội viên văn học trẻ ở Hội Bắc Giang còn ít, nên các hội viên này như trở thành gương mặt thân thuộc qua nhiều trại sáng tác trẻ ở trung ương. Sau mỗi đợt tham gia trại viết trẻ, những người viết trẻ của địa phương được giao lưu, mở rộng tầm nhìn và trưởng thành hơn trong cách viết. Bản thân tôi cũng là một người được tham gia 3 trại viết trẻ của Liên hiệp. Việc tổ chức những trại viết trẻ là rất cần thiết. Nhưng ở độ tuổi ngoài 20 tuổi đến khoảng 40 tuổi thì người viết  ở nhiều ngành nghề khác nhau, thời gian bố trí để tham gia trại viết trong khoảng 15 ngày liền thì không phải ai cũng có điều kiện.
...  Nhìn vào thực tế, người viết trẻ cũng đang là lực lượng quý hiếm ở các địa phương. Hy vọng rằng thời gian tới đây, từ các Hội VHNT ở địa phương có những hoạt động kết nối, giao lưu, cuộc thi dành riêng cho người viết trẻ tạo thành phong trào cổ vũ mạnh mẽ cho giới trẻ yêu thích văn học. Đặc biệt, ngoài vai trò về phía Hội địa phương thì Chi hội Văn học địa phương cần chủ động đưa ra kế hoạch gợi mở, phối hợp để tổ chức các hoạt động giao lưu, thành lập Câu lạc bộ Văn học trẻ để thu nạp người viết trẻ ở các huyện, thị trong tỉnh để bồi dưỡng và động viên họ phát triển thành hội viên của Hội VHNT tỉnh./.

 
Ngôn ngữ và đường dây biểu cảm trong tiếp nhận văn chương

Văn chương từ thuở nào vốn được xem như là một loại sáng tác dựa vào quy luật biểu cảm thông qua thế giới ngôn từ. Ngôn ngữ văn chương, do vậy, rất tinh tế và vô cùng năng động, về một phương diện nào đó, có thể hiểu chữ nghĩa của văn chương là nơi nhà văn kí gửi sự rung động của con tim thông qua thế giới cảm giác, cảm xúc, ấn tượng của chính riêng mình. Cũng vì vậy, nhiều người cho rằng muốn cảm nhận được văn chương, ngoài việc đọc bằng mắt, người đọc cần nhận biết nó bằng sức mạnh của chính trái tim mình. Chỉ bằng con đường ấy, người đọc mới xác định được chân giá trị của tác phẩm văn chương theo đúng quy luật của nghệ thuật. Và cũng chỉ qua con đường biểu cảm của thế giới ngôn từ ấy, người đọc mới có thể chia sẻ đích thực được bao niềm vui nỗi buồn mà người sáng tạo đã bộc lộ trên trang sách.
Để làm sáng tỏ cách hiểu trên, thử bắt đầu bằng một thí dụ hết sức đơn giản. Chẳng hạn từ nghe trong Tiếng thu của Lưu Trọng Lư.
Em không nghe mùa thu.
Dưới trăng mờ thổn thức...

Như thông thường được chấp nhận, nghe có nghĩa là đón nhận âm thanh bằng thính giác. Nhưng qua câu thơ đã dẫn, ta có nghe với sắc thái tinh tế khác. Nghe ở đây cũng là đón nhận. Nhưng không chỉ đón nhận bằng thính giác riêng đối tượng âm thanh. Mà đây là sự đón nhận bằng những rung động sâu lắng nhất của tâm hồn mình tất cả âm thanh, màu sắc, cùng mọi dáng vẻ của thế giới mùa thu. Em không nghe mùa thu/ Dưới trăng mờ thổn thức... Sức mạnh cảm xúc vừa tinh tế vừa sâu lắng của nhà thơ ở đây phải chăng đã làm giàu thêm cho ta sắc thái cảm hứng về nét đẹp của mùa thu. Tại đây, lấy ngữ nghĩa phổ quát có trước làm tiền đề, băng những xúc cảm tinh tế và sâu lắng của mình, tác giả đã đưa thêm vào nghe - tức là đồng hóa vào ngôn ngữ - một sắc thái cảm hứng mới về mùa thu. Cái mới được đồng hoá vào ngôn ngữ ấy chắc chắn là cái có thực, nó nảy sinh thực từ tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ. Như vậy, sự giàu có thêm lên của ngôn từ ở đây cũng chính là sự giàu có thêm lên của nội dung cảm xúc được chuyển hoá thành lớp trường nghĩa với sắc thái thẩm mĩ mới để tác giả hướng tới người đọc thông qua đường dây biểu cảm của tác phẩm văn chương.
Ở đây, cũng cần thấy rõ điều này. Sự tự biểu hiện và tự bộc lộ theo hướng biểu cảm của người sáng tạo theo cách trên không phải bỗng dưng mà có. Và dĩ nhiên nó không xuất hiện một cách ngang bằng với mọi cá thể. Vì ở nơi con người, cái đẹp, cái xấu, niềm vui, nỗi buồn cũng như sự yêu thương, hờn giận không phải là những nguồn mạch tự bẩm sinh. Trong việc tiếp xúc có định hướng trước thế giới khách quan, dần dà những cảm xúc ấy được hình thành nơi con người xã hội và tạo nên sự rộng mở các trường tri giác. Những trường tri giác ấy dĩ nhiên mở rộng nhanh hơn và có độ tinh tế sắc nhạy hơn ở nhà thơ, nhà văn. Và sự định hình của nó dĩ nhiên không thể tách rời khả năng xác lập đường dây biểu cảm để hướng tới người đọc trong tác phẩm văn chương.
Tuy nhiên, từ góc độ tạo nghĩa đối với người tiếp nhận khi nói đến đường dây biểu cảm với đầy đủ ý nghĩa của nó mà ta muốn hướng tới, không chỉ dừng lại nghĩa biểu cảm ở cấp độ từ vựng. Mà còn phải hướng tới lớp nghĩa biểu cảm ở cấp độ hình tượng. Vì như chúng ta biết, con đường tạo nghĩa theo hướng biểu cảm đích thực của loại tác phẩm văn chương (như truyện ngắn, tiểu thuyết) thường bao giờ cũng vậy, trước khi hướng tới đích cuối cùng là chủ đề tư tưởng, người đọc phải cùng lúc đi từ lớp nghĩa của từ đến lớp nghĩa hình tượng.
Hiểu được đường dây tạo nghĩa theo hướng trên, ta thấy được ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên không thể thiếu. Thấy cả sự thiên biến vạn hóa của chính nó trong tác phẩm văn chương.
Đặc biệt, qua sự thiên biến vạn hóa ấy ta càng có điều kiện thấu rõ tính chất phức tạp về sự hình thành đường dây biểu cảm trong mối quan hệ với hoạt động tạo nghĩa từ phía người tiếp nhận.
Đây vốn chính là mạch ngầm khó kiểm soát thường xuyên đặt ra đối với người giảng dạy.
Trong cách tiếp cận văn chương ở trường học hiện nay, có lẽ đây là chỗ bất cập thường gặp nhất Tại đây, người học thường nắm lấy chủ đề tư tưởng tác phẩm ở “đầu ra” nhưng không thông qua đường dây biểu cảm gắn với quá trình chế biến hình tượng ở “đầu vào”. Theo thói quen nào đó, các em học sinh ngại học văn thường thuộc làu chủ đề tư tưởng một cách vô cảm. Tức là, khi họ nói lên một cách trôi chảy chủ đề tư tưởng của tác phẩm theo hướng kết luận của thầy giảng thì coi như việc tiếp cận tác phẩm đã xong xuôi (Dù trước đó, họ cảm xúc một cách hời hợt hoặc thậm chí không bày tỏ được một cảm xúc cụ thể gì về hình tượng nhân vật). Cách tiếp cận chủ đề tư tưởng xa rời đường dây biểu cảm một cách vô cảm như vậy thường diễn ra với những mức độ khác nhau. Nhưng dù khác nhau thế nào, đó cũng là điều không phù hợp với yêu cầu tiếp nhận văn chương. Cách tiếp cận này trước tiên dĩ nhiên không thể nào thực sự phát huy được tính chủ động và năng động của người học. Và từ đó nó không thể nào kích thích sự mở rộng các trường xúc cảm để nâng cao trình độ thẩm mĩ gắn với việc rèn luyện khả năng nhạy bén về mặt tư duy hình tượng vốn được coi như là cái đích vô cùng quan trọng mà việc học văn cần hướng tới. Thực trạng trên tuy dễ nhận biết nhưng không dễ khắc phục. Vì tiếp nhận vốn là một hoạt động ngầm, người dạy khó trực tiếp kiểm soát. Mặt khác, tuy có nhiều tranh cãi nhưng bản chất tích hợp của hiện tượng này hầu như chưa được chúng ta nhận thức đầy đủ.
Để lí giải vấn đề, theo tôi, trước hết có lẽ chúng ta cần có ý thức bao quát chung về cơ chế tích hợp của quá trình tiếp nhận. Từ kinh nghiệm có được, chúng tôi hiểu: Tiếp nhận không tách rời với quá trình vừa tạo nghĩa vừa chế biến nghĩa thông qua con đường biểu cảm theo cơ chế chuyển hoá liên thông từ cấp độ từ đến cấp độ hình tượng để hướng tới chủ đề tư tưởng trong nội tâm người học.
Theo cách xác định trên thì ngôn ngữ nằm trong hoạt động tiếp nhận ở đây là một thứ ngôn ngữ được chế biến theo cơ chế chuyển mã bằng sức mạnh nội tâm của người tiếp nhận. Đúng hơn, đây chính là quá trình chế biến nghĩa từ mã ngôn ngữ (language code) sang mã hình tượng (image code) theo cơ chế tín hiệu học - một quá trình mà người trong cuộc vốn thường không dễ tự biết.
Để làm sáng tỏ cơ chế này, trước hết ta không thể đơn giản trong cách nhận thức. Theo tôi, có lẽ nên chia làm ba bước với cách hiểu cụ thể từng bước như sau:
Bước một: Từ góc độ tín hiệu học, cần khẳng định: Ngôn ngữ là một loại mã, và hình tượng cũng là một loại mã. Mã hình tượng lấy mã ngôn ngữ làm tiền đề, nhưng mã hình tượng không đồng nhất với mã ngôn ngữ về mặt cấp độ. Mã hình tượng được hình thành gắn trực tiếp với quá trình chuyển mã tuy bắt đầu từ tiền đề vật thể (có thể cảm nhận được bằng trực giác) là mã ngôn ngữ. Nhưng trên đường dây biểu cảm, khi chế biến mã ngôn ngữ thành mã hình tượng (trong nội tâm người tiếp nhận), thì hình tượng chỉ là một thực thể xúc cảm thẩm mĩ (aesthetic-emotional identity). Nó không còn là phẩm chất vật thể có thể được cảm nhận như mã ngôn ngữ. (Đây chính là chỗ phức tạp nhất nhưng ít khi được đề cập khi trục tiếp miêu tả quá trình chuyển mã).
Bước hai: Quá trình chuyển mã trong nội tâm người tiếp nhận này cần được lí giải triệt để hơn như sau:
Đối tượng khách thể (ngôn ngữ) qua khúc xạ tâm lí, chuyển hoá thành hình ảnh mang phẩm chất chủ quan của chủ thể tiếp nhận. Tại đây, quá trình này đã làm mờ đi những dấu hiệu vật thể của ngôn ngữ hiện thực, và thay vào đó là sự làm nổi rõ sức sống xúc cảm thẩm mĩ của chính người tiếp nhận gắn với hình ảnh mới (tức là hình tượng); và hình tượng này chỉ có người tiếp nhận tự mình hình dung ra, tự mình biết lấy, người thứ hai không có khả năng trực tiếp nhận biết Như vậy, tầm quan trọng của quá trình chuyển mã không thể giải thích tách rời với quá trình “phi vật thể hoá” (dematerialisation) lớp ngôn ngữ vật thể đầu tiên, vốn là tiền đề cho hoạt động năng động để xác lập đường dây biểu cảm trong tâm lí người tiếp nhận.
Bước ba: Khi lí giải theo hướng thao tác trên, từ góc độ giảng dạy, để làm rõ vấn đề, chúng ta cần tiếp tục định vị bao quát hình tượng cùng một lúc trên ba hướng: (1) Hình tượng là một loại tín hiệu thẩm mĩ tích hợp bằng sức sống cảm xúc được định hình từ quá trình chuyển mã gắn với hoạt động hướng nội thông qua cơ chế tâm lí; (2) Nếu trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ không có loại mã hình tượng trên thì, với người tiếp nhận, không thể nào có được sự quy nạp thành trạng thái nghĩa trừu tượng ở cấp độ cuối cùng (chủ đề tư tưởng) của tác phẩm; (3) Ngược lại, khi vừa phát ra và làm định hình thông báo, nếu không hướng vào sự định hình hệ thống hình tượng thì không thể có tiền đề cho sự liên kết văn bản theo hướng ngữ nghĩa đối với quá trình tiếp nhận.
Như vậy, nhìn chung, quá trình tiếp nhận thực chất là một quá trình hoạt động vừa tạo nghĩa vừa chế biến nghĩa mang tính hướng nội bằng con đường xúc cảm tâm lí thông qua cơ chế chuyển mã (Chỗ tích hợp này từ lâu chẳng những trở thành một hiện tượng khó nhận biết đối với người tiếp nhận mà thậm chí khó tự nhận biết cả đối với chính người sáng tạo!). Kiểu được điều này trong sự rộng mở, ta mới thấu rõ vì sao có thể nói: Khi học, người học chỉ nói được chủ đề tư tưởng nhưng không có xúc cảm gì về hình tượng nhân vật là cách học “vô cảm”, chưa đi đúng vào quĩ đạo của cách tiếp nhận văn chương.
Bên cạnh mặt tồn tại qua cách tiếp cận đã nêu, chúng ta có thể chỉ ra nhiều mặt của cách tiếp cận đúng hướng. Đặc biệt là từ góc độ kinh nghiệm giảng dạy, ta có thể nhận dạng và phân tích một số biểu hiện đúng quy luật, trong việc chủ động phát huy sức năng động nội tâm qua đường dây biểu cảm trong hoạt động tiếp nhận (chẳng hạn, qua giảng dạy Truyện Kiều).
Dĩ nhiên, thoạt tiên, với phản ứng của người tiếp nhận, Kiều chi là một tín hiệu ngôn ngữ. Tín hiệu Kiều, khi ở cấp độ từ, chỉ là một từ đối lập với những từ khác. Nhưng khi được chế biến thông qua đường dây biểu cảm ở cấp độ hình tượng trong cảm nhận người học, thì Kiều không còn đơn giản là một danh từ riêng nữa mà đã trở thành một hình tượng xúc cảm thẩm mĩ. Nó mang thông báo về số phận của một kiếp người phụ nữ bị đoạ đày trong nội tâm của chúng ta. Cũng theo cách hiểu trên, nếu mở rộng ra thì có thể nói một Kiều, một Kim Trọng, một Tú Bà... mỗi hình tượng là một thế giới yêu thương, giận ghét của chúng ta. Mỗi hình tượng được tạo ra là một phản ứng năng động chủ quan được nảy sinh từ tâm hồn chúng ta. Và tại đường dây biểu cảm để xác lập hình tượng nội tâm người học này, mạch biểu cảm của thể giới ngôn từ đã hóa thành sức sống của thế giới hình tượng. Tại sao chúng ta thán phục nghệ thuật tạo hình của Nguyễn Du qua Truyện Kiều với những nét tả Tú Bà “nhờn nhợt màu da”, “cao lớn đẫy đà”?... Phải chăng vì qua những từ ngữ trên, tác giả đã khơi dậy nơi ta và đánh thức trong ta mọi sự căm ghét và ghê tởm, để cuối cùng từ đó tự ta có thể làm bật dậy trong nội tâm của chính ta hình tượng một mụ Tú Bà đáng lên án?!... Chính tại đây, sức mạnh của quá trình xúc cảm nơi chủ thể tiếp nhận được phát huy tối đa để tạo ra hình tượng có thể xem như là một sự bừng sáng nội tại và tự thân hoàn toàn mang tính cá thể. Và khi ở vào trạng thái này của quá trình tiếp nhận, thì từ ngữ trong đường dây biểu cảm chỉ là những yếu tố gợi dẫn (suggesting factors), nó không tồn tại vì nổ, mà đã hòa nhập và trở thành hiện thân sức sống của hình tượng. Hiểu được cơ chế này, ta càng thấu rõ lời khẳng định hoàn toàn xác đảng sau đây của nhà lí luận văn học M.B. Khraptrencô: Chức năng miêu tả và biểu cảm của ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ trong khi hoà nhập với những thuộc tính giao tiếp, đã tạo ra những mối liên hệ phức tạp và đa dạng giữa cơ sở từ ngữ của tác phẩm với hệ thống hình tượng [2, 210].
Như vậy, trong quá trình làm rộng mở thế giới nội tâm của người học, đặc biệt, khi người học thông qua ngôn từ, bước vào giai đoạn tự điều chỉnh thế giới nội tâm của chính mình để hướng tới hình tượng thì, tại đây, người dạy có thể hiểu: Đây là quá trình người học tự làm giàu có thêm những sắc thái tâm lí xã hội nhân văn hết sức tinh tế nơi tâm hồn mình theo đường dây biểu cảm đang rộng mở về phía đồng sáng tạo trong quá trình tiếp nhận để hưởng tới chủ đề của tác phẩm một cách không vô cảm (Tại quá trình này, nếu không có sự yêu thương, giận ghét dấy lên trong lòng ta thì sẽ không có một hình tượng nhân vật đích thực nào cái Và, khi mà độ xúc cảm hình tượng nơi người học không được phát động thi quá trình xác định chủ đề thường chỉ là sự lặp lại một cách vô cảm những gì người dạy nói ra!). Chính từ đó, người giảng dạy có điều kiện để ý thức được rằng thao tác tiếp nhận văn chương thực ra cũng chính là thao tác tự bộc lộ sức mạnh nội tâm tự nơi chính mình của người học. Trong trường hợp này, có thể nói, người học đọc tác phẩm văn chương Truyện Kiều bằng mắt nhưng với sự gợi dẫn theo hướng đồng sáng tạo, người dạy đã làm cho người học hiểu tác phẩm không phải chỉ bằng mắt mà bằng cả chính trái tim mình, qua đó, tự phát hiện nỗi lòng mình, phát hiện sắc thái tâm lí xã hội nơi chính mình để, cuối cùng, tự mình quy nạp thành kết luận: Truyện Kiều là tác phẩm tố cáo chế độ phong kiến thối nát chà đạp quyền sống của người phụ nữ...!
Tuy không nói ra nhưng khi ở vào trạng thái này, chúng ta có thể ngầm hiểu: Hướng dẫn người học đi đúng vào con đường đồng sáng tạo trong tiếp nhận theo cách trên, dù muốn hay không, tức là chính người dạy đã làm sáng tỏ chẳng những quỵ luật về sự hoá thân của người tiếp nhận vào số phận của nhân vật mà cả quy luật về sự giao hoà giữa các cung bậc lí trí và tình cảm vốn nằm trong sự chế biến tích hợp của chính đường dây biểu cảm. Chẳng hạn, cũng với đối tượng là Truyện Kiều, tại đây qua quá trình tiếp nhận, khi thâm nhập vào đường dây biểu cảm với sự hóa thân vào cuộc đời đầy đau khổ của Kiều thì, dĩ nhiên, tự lòng mình, ta cũng khó trả lời một cách thật tách bạch: Chém cha cái số ba đào. Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi... đó là tiếng nói chỉ riêng của lí trí hay chỉ riêng của tình cảm? Đó là nỗi lòng của chỉ riêng Kiều hay vừa của Kiều, vừa của Nguyễn Du và vừa của cả chúng ta?! Đúng vậy, khi thâm nhập vào đường dây biểu cảm với sức mạnh của sự đồng sáng tạo thì tại đây, theo quy luật chung, bao giờ cũng hiện ra sự rộng mở một chân trời gặp gỡ giữa lí trí và tình cảm cũng như giữa nhân vật, tác giả và người đọc! Và cuối cùng, không ở đâu khác, mà chỉnh cũng tại trạng thái này, lần đầu tiên chúng tôi có điều kiện nhận dạng thực chất hơn sự giao nhau mang tính liên ngành giữa ngôn ngữ học, văn học, tâm lí học, tín hiệu học, thông tín học... (một sự giao nhau không phải thực hiện bằng những con số cộng cơ giới, mà bằng sự chế biến tích hợp từ quá trình tạo nghĩa theo hướng chuyển mã liên thông của chính đường dây biểu cảm!
Lược đồ hoạt động tiếp nhận theo cơ chế tạo nghĩa từ mã ngôn ngữ đến mã hình tượng và chủ đề tư tưởng trên đường dây biểu cảm:

* Có thể tham khảo 4 luận điểm trong tóm tắt báo cáo khoa học (Language and the creation of literature in the process of teaching) được chính  thức đưa lên mạng Hội nghị quốc tế về Thi pháp học (tại Phần Lan, 8/1995) với nguyên văn như sau:
... For the explcmation of this relation, it is very necessary to remark
1. The mouvement of the receiver becomes the recerving mouvement
2. The logical information of the language code is transformed into the aesthetic information of the image code
3. Here, thus, appears the obvious character of the connectedness of reason and feelmg and thrơugh thatyou have the expansion of the metting behveen the writer, the reader, the work’s character
4. And in this is the critically inclusive matter: Primarily because of the realization of the dytiamic activity of the receiver with the overall structure, we have the capacity to see the meeting ground between the branches of linguistics, literature, psychology, the study of logic, informatics (a meeting does not mean simple number crunching, rather, and effort at a more general integration of the dynamic quality of the receiver

Cuối cùng, về mặt nhận thức, từ tất cả những gì đã được đề cập qua Ngôn ngữ và đường dây biểu cảm trong tiếp nhận văn chương, chúng tôi có mấy ghi nhận cơ bản cần được lưu ý:
1. Tiếp nhận văn chương trong môi trường văn học nghệ thuật, dù với dạng thơ hay văn xuôi, bao giờ trước hết cũng là một hoạt động nằm trong đường dây biểu cảm gắn với sức sống của ngôn từ vốn được chế biến bằng năng lực sáng tạo và năng lực cảm thụ chủ quan của người sáng tạo và người tiếp nhận. Do vậy, nếu không thấy được sức năng động chủ quan của cá thể tạo nên đường dây biểu cảm thông qua thế giới ngôn từ thì không có tiền đề xuất phát để đi vào cơ chế tiếp nhận.
2. Đặt vấn đề tiếp nhận văn chương thông qua đường dây biểu cảm trong sự nhấn mạnh quá trình chế biến hình tượng từ lớp nghĩa ngôn từ như đã làm, thực chất là nói đến quá trình vừa tạo nghĩa vừa chế biến nghĩa (theo nguyên tắc chuyển mã thông qua đồng sáng tạo) để nhận dạng đẫy đủ tính chất phức tạp vốn có quy luật nhưng khó kiểm soát đối với quá trình tiếp nhận. Do vậy, nếu không thấy được con đường đồng sáng tạo thông qua cơ chế vừa tạo nghĩa vừa chế biến nghĩa theo nguyên tắc chuyển mã (liên thông cấp độ) thì không có điều kiện để nhận thức đầy đủ quy luật chung nhất của quá trình tiếp nhận.
3. Tiếp nhận văn chương bao giờ cũng là một quá trình đồng sáng tạo thông qua đường dây biểu cảm vốn được xác lập bằng phương tiện ngôn từ. Do vậy, trong giảng dạy, nếu không thông qua đường dây biểu cảm để dẫn người học vào con đường đồng sáng tạo (cocreation) thì quá trình tiếp nhận văn chương sẽ dễ bị lạc vào hướng xã hội học dung tục./.

* Tài liệu tham khảo
1. Kagan M, Những bài giảng về thẩm mĩ Mác - Lênin, Berlin, 1975.
2. Khaptrenco M B., Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn hoc, H., 1976.
3. Nhiều tác giả, Những vấn đề khoa học của văn học, H., 1990.
4. Naumann M., Xã hội - Văn học - Người đọc, Berlin, 1971.
5. Spillner B., Linguistik und Litera- turwissenschaft, Stutgart, 1974.
6. Nguyễn Lai, Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học, H., 1991.
7. Nguyễn Lai, Language and the creation of literature in the process of teaching, Báo cáo tại Hội nghị quốc tể về thi pháp, tại Phần Lan, 8/1995.

GS.TSKH Nguyễn Lai

 


 
Hồ Chí Minh nếp sống – con người

Ghi lại hình ảnh những tư liệu và di vật của Bác Hồ để lại trong suốt những năm làm phim về Bác, càng hiểu thêm nhiều ý nghĩa sâu sắc trong phong cách sinh hoạt – nếp sống của Người, một cuộc sống đẹp mang những giá trị văn hóa của cuộc đời đạt tới đạo lý thanh cao.

Ngôi nhà sàn bé nhỏ, vài bộ quần áo vải, đôi dép cao su, chiếc giường, tủ quần áo, giá sách... những thứ cần cho công việc và nghỉ ngơi để lấy lại sức làm việc, chỉ có thế thôi, không gì hơn nữa, gắn bó với sinh hoạt, nếp sống làm nên hình ảnh của Bác, một người ở giữa mọi người, bình thường như mọi người, như một cảm nhận của bạn bè quốc tế đến thăm ngôi nhà sàn của Bác: “Không hề có dấu vết uy lực đè nén của chức quyền, của địa vị, tài sản cả của tài năng, trí tuệ, nhưng vẫn chứa đựng một lòng thương yêu rộng rãi bao la, một tình cảm thiêng liêng còn mãi”.

Tháng 5 lại đến, nhìn những cây phượng la đà bên hồ cá nở hoa rực rỡ lại nhớ đến chiếc quạt giản dị Bác dùng trong suốt 15 năm cuối đời với mùa hè Hà Nội. Những năm đầu Bác còn ở trong căn buồng nhỏ của người thợ điện ở Phủ Toàn quyền cũ. Thấy cái buồng rất nóng, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch trông nom sức khỏe cho Bác mấy lần đề nghị Bác cho lắp cái máy điều hòa nhiệt độ, Bác đều không bằng lòng.

Trong nhà sàn của Bác có chiếc quạt máy Thượng Hải của nước bạn Trung Quốc biếu Bác dùng thử để giới thiệu một số cải tiến tính năng rất hay. Bác bảo dùng vài lần để xem nó hay như thế nào, khi biết rồi, Bác rất ít dùng. Trong sinh hoạt, Bác không muốn tạo thành thói quen, lệ thuộc vào bất cứ cái gì, trước sau vẫn giữ nếp sống đơn giản, tự nhiên như bản tính vốn có. Xem lại những thước phim tư liệu những khi Bác làm việc, nghỉ ngơi hay đi thăm các nơi, thấy Bác thường dùng cái quạt giấy, loại quạt mà các cụ ở nông thôn và các nhà bình dân ngoài phố hay dùng. Mỗi khi ghi lại hình ảnh chiếc quạt này của Bác trong Bảo tàng, nhìn đến đoạn nan gãy được quấn lại bằng băng dính, lại tưởng tượng thấy hình dáng của Bác ngồi cặm cụi chữa quạt một mình, thấy thương Bác vô cùng!

Trong khu vườn Bác có vài cây cọ, một hôm có mấy tàu cọ già rơi xuống, Bác bảo anh em cắt lấy mỗi người một mảnh làm quạt. Để khỏi lẫn, Bác lấy que diêm cháy dở châm thủng ba lỗ ở chỗ tay cầm làm dấu bảo đây là quạt của Bác Hồ. Bác đã dùng chiếc quạt đó cho đến những phút cuối cùng nằm trên giường bệnh. Mỗi khi làm phim, ghi lại hình ảnh những di vật này lại nhớ đến Bác, lâu dần thấm vào trong lòng một suy nghĩ về nếp sống và sinh hoạt của Bác đạt tới một ý niệm về “Tâm lập”. Cái Tâm làm chủ và hòa đồng với mọi biến đổi của tự nhiên. “Thiên Nhân hợp nhất” – con người với thiên nhiên là một.

Trong Bảo tàng có chiếc áo bông cũ của Bác có miếng vá ở vai. Đó là chiếc áo bông đồng bào biếu, Bác dùng đã nhiều năm. Trong đoạn phim ghi lại chuyến về thăm Pắc Bó (Cao Bằng) có hình ảnh Bác mặc chiếc áo bông này, thân thiết bắt tay bà con vui mừng ra đón Bác. Chiếc áo dùng lâu phai màu, đứt chỉ ở cổ tay và cổ, lại rách cả vai, Bác bảo mạng vá lại cho Bác mặc. Có đồng chí nhiều năm làm việc với Bác, xin Bác cho thay vỏ ngoài chiếc áo. Bác nói thân tình: “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch Nước mà còn mặc áo vá như thế này là cái phúc của dân dấy chú ạ!” Bác nói câu này vào một ngày giá rét, tháng 2 năm 1969, sáu tháng trước khi Bác qua đời. Con người giản dị, khiêm nhường như vậy nhưng không bao giờ là con người khắc kỷ. Nhà hiền triết tránh thói xa hoa, thái quá để đưa văn hóa vào đời sống của dân đã tự xác định nếp sống của mình là: “Phải biết ăn ngon mặc đẹp cho đúng thời, phải đúng cảnh. Trong lúc nhân dân còn thiếu thốn mà một người nào đó muốn riêng hưởng ăn ngon mặc đẹp thì không có đạo đức...”. Bác có thể phê bình một đồng chí, một bạn chiến đấu cũ, một cán bộ cấp cao của Nhà nước đến thăm Bác trong thời chiến mà đóng bộ comple, cà vạt: “Nếu như chú đi tiếp khách quốc tế, chú thắt cà vạt là cần, là đúng. Nhưng đến đây là đến với Bác, chú lại như thế này ư?”.  Có lần Bác nói ở một hội nghị: “Rồi đây, chúng ta phải có nhiều loại nước hoa cho chị em phụ nữ được dùng”. Nếp sống văn hóa của Bác là nếp sống ân nghĩa, chân tình đến từng khía cạnh sâu sắc của tâm lý con người. Thăm chỗ ở của một đồng chí bảo vệ đã có gia đình ở quê, thấy đầu giường có dán ảnh một cô văn công xinh đẹp, Bác hỏi: “Có phải ảnh thím ấy đây không?”. Rồi Bác bảo: “Nếu chú định dán ảnh đầu giường sao chú không dán ảnh thím ấy mà lại dán ảnh cô văn công? Nếu bây giờ chú về thăm nhà, chú thấy thím ấy dán ở đầu giường ảnh một anh chàng nào đấy không phải chú cười cười cợt cợt liệu chú có vui không?”. Cách ứng xử và những lời nói giản dị của Bác là những chuyện thường nhật nhưng đều mang xuất xứ của một tri giác sâu sắc về đạo đức các vấn đề con người và xã hội.

Văn hóa trong nếp sống còn thể hiện trong những bữa ăn bình thường của Người. Những thước phim ghi lại hình ảnh bữa ăn của Bác ở chiến khu Việt Bắc với anh em chiến sĩ, với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng làm việc hay sau này ở thủ đô khi Bác mời cơm thân mật mọi người cũng vẫn giữ một phong cách giản dị ân tình như vậy. Bữa ăn của Bác thường đạm bạc, rất khó tưởng tượng với nhiều người. Trong bữa ăn, Bác lưu ý mọi người ăn món nào thì ăn cho hết, món nào không ăn để lại thì giữ cho tươm tất, nói lên tấm lòng yêu mến, lòng kính trọng của Bác đối với những người chế biến bữa ăn, và sâu xa hơn đối với những người sản xuất ra các thứ làm nên bữa ăn. Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc sinh thời thường ngày dùng cơm với Bác kể lại: Biết Bác thích ăn đầu cá, nhất là miếng môi con cá, anh em tìm được cá Anh Vũ là loại cá quý thượng nguồn sông Đà có miếng môi thật ngon về làm cơm cho Bác. Bác mời Thủ tướng cùng ăn. Bác khen ngon. Lần thứ hai lại làm đầu cá Anh Vũ dành cho Bác. Bác hỏi cặn kẽ đồng chí làm bếp. Biết chuyện, Bác không bằng lòng. Bác nói: “Nhất định từ nay phải thôi, không được làm như thế nữa. Các chú đừng làm thành một thứ cá tiến Vua như thế, không đúng đâu...!”. Và thế là thôi, không bao giờ Bác ăn cá Anh Vũ nữa. Dù đấy là con cá Bác thích.

Suốt một đời làm phim đi nhiều nơi, ghi lại những kỷ niệm cuộc đời và những di vật của Bác, thấy hiện lên ý nghĩa sâu sắc của tư tưởng triết học và đạo lý phương Đông thể hiện qua nếp sống và cách ứng xử của Bác trong suốt cuộc đời, kiểu như Lão Tử thường kêu gọi: “Khử thậm, khử xa, khử thái”. Nghĩa là gạt bỏ cái quá mức, gạt bỏ cái xa hoa, gạt bỏ cái hào nhoáng. Còn Khổng Tử thì nhấn mạnh rằng: “Kiểu thái dĩ thất chi”, nghĩa là kiêu căng và hào nhoáng thì mất lòng người. Học giả Pháp Phơrăngxoa Ankiê khẳng định: “Đến vinh quang tột đỉnh, cụ Hồ vẫn sống như trước kia, nghĩa là vẫn ghét thói xa hoa, hào nhoáng...”. Phải chăng nếp sống nhất quán trong sự giản dị và khiêm tốn của Bác chính là một trong những tri thức hiện đại của nền văn hóa tương lai “khi quy luật và nếp sống điều độ cũng như sự cân bằng và hài hòa giữa con người và tự nhiên là một tất yếu mang tính vĩnh cửu trong các nhu cầu phát triển liên tục của nền văn hóa nhân loại”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa nếp sống văn hóa vào tâm hồn của bản thân mình và của cả quần chúng khi vạch ra cho nhân dân “con đường đi tới một đời sống có đủ điều kiện xứng đáng với con người” như Người đã đề ra. Người vốn phản đối việc chia đều sự nghèo khổ trong quần chúng và kêu gọi xây dựng một xã hội công bằng để đất nước và nhân dân mau chóng vượt qua cảnh nghèo nàn đi lên “con đường lớn làm ra của cải” như một tư tưởng chứa đựng quan hệ hợp lý giữa con người và trời đất, giữa lãnh đạo và quần chúng như một nhu cầu văn hóa không thể bỏ mất trong nếp sống con người.

Nếp sống Hồ Chí Minh là nếp sống văn hóa cao cả của con người và những di vật còn lại của Bác là tài sản quý báu của dân tộc chứa đựng tình cảm thiêng liêng đối với hình ảnh và cuộc đời của Bác.

Trong những ngày chúng tôi làm bộ phim chân dung “Đồng chí Phạm Văn Đồng”, Thủ tướng thường nhắc lại một lời xúc cảm: “Hồ Chí Minh là một người cộng sản mẫu mực, làm nảy sinh một ý tưởng thú vị: Người cộng sản đẹp làm chủ nghĩa cộng sản đẹp và chủ nghĩa cộng sản đẹp làm người cộng sản đẹp!”./.

Đào Trọng Khánh

 
Một hiện thân của sức bền văn chương

Có thể nói Đại hội lần thứ nhất thành lập Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng (ngày 4 và 5/1/1964) là một đại hội trẻ trung - trẻ từ không khí đại hội đến con người. Nhà văn Phùng Văn Ong có lần nói, mỗi khi Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tổ chức đại hội hay lễ kỷ niệm ở Nhà hát lớn thành phố, ông lại như trở về ngày Đại hội thành lập, một không khí thật vui mừng, phấn khởi, ai cũng xúc động với lời khai mạc của nhà văn Nguyên Hồng, giọng ông hồ hởi cuồn cuộn “rung chuyển như búa đe và máy chạy, tiếng sóng tiếng gió của biển khơi, tiếng cựa mình nảy nở của ngô khoai lúa đỗ, tiếng ca hát của một thành phố tưng bừng sản xuất...”, hệt như con người và văn chương ông. Sau lời khai mạc là tràng vỗ tay kéo dài vang động nhà hát. Niềm vui còn lân lan rạo rực mãi sau này khi được biết Chi hội VHNT Hải Phòng ra đời chỉ sau Chi hội Văn nghệ Việt Bắc (thành lập trong kháng chiến chống Pháp) và Chi hội Văn nghệ Quảng Bình - Vĩnh Linh (trực thuộc Ty Văn hóa Quảng Bình)(1). Tuổi đời văn nghệ sĩ ngày ấy hầu hết đều dưới 30, hơn chỉ có nhà thơ Lê Đại Thanh 57 tuổi, nhà văn Nguyên Hồng 46, nhà thơ Nguyễn Viết Lãm 45 và nhà văn Phùng Văn Ong 38. Vâng, ít ai nghĩ ngày đó Phùng Văn Ong đã tuổi ấy, còn hơn Trần Hoàn hai tuổi, mãi khi ông nằm xuống mới hay ông sống thật bền(2) và chỉ chịu ra đi khi ở tuổi 91.

Sống bền đã quý, làm việc bền còn quý hơn và càng quý khi lại luôn luôn bền bỉ một cách trẻ trung. Thật khó ai được như nhà văn Phùng Văn Ong khi năm 2005, ở tuổi 80 vẫn còn được giải nhất Cuộc thi thơ và truyện ngắn trên tạp chí Cửa Biển, mà lại là truyện nội dung yêu đương: Một chuyện tình! Ban chung khảo cuộc thi ấy là những nhà văn hàng đầu của cả nước nên việc đánh giá chắc chắn không nhầm: Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Vũ Quần Phương, Nguyễn Đức Mậu, Chu Lai, Khuất Quang Thụy. Mà đâu phải nhà văn của chúng ta chỉ có “một chuyện tình”, tạm kể sơ sơ: Chuyện tình của tôi, Giờ này em ở đâu, Hạnh phúc mỏng manh, Muộn mằn... Một hôm đến thăm ông, tôi nói đùa bảo bác gái phải xem lại thời trẻ bác giai thế nào, chứ nhiều nhân tình lắm, ông ấy lại chẳng giấu gì cả, viết ráo thành truyện. Cả ông bà đều cười: “Phải thế chứ!”. Rồi ông lại cười nữa, bảo: “Còn thua ông Mai Vui!” và nói thêm: “Thế mới gọi là truyện! Bịa mà thật, thật mà bịa! Toàn những con người tốt đẹp và mối tình đẹp nhưng dang dở nên đau khổ, tiếc nuối và ân hận, không dang dở thì cũng muộn màng!”. Ông bà Phùng Văn Ong sống rất hạnh phúc và tình cảm, khoảng những năm 1980 tôi đến thăm ông, vô tình gặp bà làm chuyên gia y tế ở Algeria vừa về, bà ôm lấy tay ông, bảo bà đi được là do ông động viên, ở nhà mọi việc lớn nhỏ ông gánh vác  “mà ông ấy lại còn bận sáng tác nữa chứ!”.  

Công việc của người sáng tác khó mà thành nền nếp được, bận không ra bận, nghỉ ngơi cũng không ra nghỉ ngơi, cảm hứng tưởng dào dạt nhưng ngồi vào bàn cả ngày lại chẳng được chữ nào, người cứ bần thần vơ vẩn nên có tài mà không kiên tâm và bền bỉ thì dễ nản và bỏ “nghề”. Đấy là chưa nói tới những tác động đến tư tưởng khiến nhà văn có thể giã từ nghiệp bút. Nhìn vào danh sách Ban Chấp hành Chi hội VHNT Hải Phòng nhiệm kỳ I và các nhà văn được kết nạp năm 1964 - những người được đặt nhiều kỳ vọng thì giờ đây chỉ lưu lại trong trí nhớ người đọc vài ba cái tên, trong đó có Phùng Văn Ong. Nhưng chính Phùng Văn Ong cũng từng giữa chừng bỏ cuộc. Năm 1955 ông sớm có truyện ngắn đăng báo Văn nghệ(3), năm 1962 truyện Người em gái được giải nhì (không có giải nhất) cuộc thi truyện ngắn của báo Hải Phòng kiến thiết; cùng năm 1962 tập truyện Cha và con do NXB Lao Động ấn hành được dư luận chú ý. Vào năm ấy có tập truyện là rất hiếm. Đang đà bỗng dưng Phùng Văn Ong buông bút! Mãi 40 năm sau trong kỷ yếu Hội viên  Hội Văn học (NXB Hải Phòng, 2001) ông mới có dịp bày tỏ, ấy là “thấy con đường văn chương vô cùng cực nhọc và cũng “rất lắm chuyện”. Nhưng đã mang lấy nghiệp vào thân, sau đó lại viết, âm thầm, lặng lẽ. 22 năm sau, 1984 xuất bản tập truyện ngắn thứ hai: Chuyện gia đình.

Phải lần lại quá khứ mới thấy cái nghiệp văn chương ở Phùng Văn Ong chập chờn dọa bỏ không chỉ một lần, nhưng sau mỗi lần như thế nó lại quấn quýt và càng bám riết hơn: Mầm mống từ những năm học tiểu học, lặng đi suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bật dậy vào những năm 1954-1962 rồi chìm nghỉm suốt hơn 20 năm tới mức tưởng như tắt hẳn thì bừng trở lại hết sức mạnh mẽ và sáng chói đến tận cuối đời. Bảo cái nghiệp văn chương ở Phùng Văn Ong mầm mống từ thuở còn là học  sinh tiểu học thật khó tinnhưng đúng là như vậy. Học sinh hồi đó lớn chứ không như bây giờ. Trong hồi ức Thầy giáo, nhà thơ Lê Đại Thanh và học trò (đăng Cửa Biển số 92 - tháng 8+9/2007) Phùng Văn Ong kể, những năm trước Cách mạng phong trào yêu nước đánh Pháp đuổi Nhật sôi nổi khắp nơi. Ông học lớp cuối trường tiểu học Hàng Kênh huyện Hải An, trường ngay sát nội thành nên học sinh rất nhạy cảm, họ cho ra đời tập san Vừng đông và trương hẳn tên “chủ bút” cùng các “văn nhân”, “thi sĩ”. Chỉ đến khi thầy giáo dạy tiếng Pháp là nhà thơ Lê Đại Thanh tịch thu tập san, phạt quỳ các tác giả, trong đó có Phùng Văn Ong, (chủ bút Trường Giang nhảy qua cửa sổ thoát được), tập san mới chịu đình bản. Một tuần sau, vào giờ ra chơi thầy bảo cả lớp ngồi lại và nói: “Vừa qua chắc các con oán thầy lắm. Các con đều biết con đường tiến tới độc lập, tự do của đất nước đang mở ra trước mắt. Bọn đế quốc và tay sai không dễ để yên cho chúng ta đào huyệt chôn chúng. Mật thám nhan nhản khắp nơi. Tập san của các con tuy chỉ là trò chơi văn hóa nhưng nếu rơi vào tay chúng, với những bài như Lên đường, Học sinh và tương lai chúng sẽ coi đấy là lò đào tạo thanh niên yêu nước. Khi ấy điều gì xảy ra chắc các con cũng hiểu...”.  

Nghiệp văn quay trở lại, khẳng định bằng tập Chuyện gia đình đã giúp nhà văn Phùng Văn Ong tự tin và từ đây một lòng gắn bó với văn chương, ông không ngừng viết và liên tiếp xuất bản các tập truyện ngắn Chị gái tôi (1996), Nỗi ám ảnh khôn nguôi (1997), Vùng sâu (2004), Cây phượng già (2010), tiểu thuyết Số phận nghiệt ngã (2009).

Mỗi khi có sách mới, nhà văn Phùng Văn Ong đều mang đến tận nhà tặng tôi, từ khi tôi chuyển nhà mà ông thì đã yếu, lúc có sách ông gọi điện nhắn tôi đến. Cuối năm 2014 ông gọi điện, bảo có rỗi đến góp ý giúp ông một việc. Thì ra ông định ra tuyển tập, dự kiến khoảng hơn 1000 trang, bìa cáctông, đang tính in 500 hay 1000 cuốn, “tay Quyết ở Nhà xuất bản Hải Phòng là cháu gọi tôi bằng chú, nhưng tôi không muốn in ở đấy. Anh tính hộ mất độ bao nhiêu tiền”. Tôi bảo cũng tùy loại giấy. “Giấy tốt.” - ông nói. “Vậy ít ra phải ba, bốn chục triệu”. “Thế thì được. Các con tôi bảo bố cứ in, tiền nong chúng con lo, cuốn sách để đời nên bố phải in thật đẹp, dưới 100 triệu là chúng con chịu đựng được!”. “Vậy thì vác lên Hà Nội, tội gì in ở Hải Phòng. Thế cụ chuẩn bị đến đâu rồi?”. “Con nó vi tính sắp xong. Tôi đã gọi điện cho Nguyễn Quang Thân ở Sài Gòn viết cho Lời giới thiệu”... Mấy tháng sau ông gọi điện bảo sách đã ra, nhà ở đâu để cho con mang đến tặng, con ông đã mang đến tận nhà tặng Vũ Hoàng Lâm. Tôi bảo không cần thế, tôi sẽ đến.  

Cầm nặng tay Phùng Văn Ong tuyển tập (NXB Văn học, 7/2015) những 1040 trang, tôi không khỏi trầm trồ. Văn xuôi Hải Phòng cho đến lúc này sau nhà văn Nguyên Hồng và Mai Vui, ông là người thứ ba có được tuyển tập. 62 truyện ngắn, 4 truyện dài và tiểu thuyết. Hầu hết tác phẩm của ông tôi đều biết nên không khỏi ngạc nhiên khi lần đầu được thấy trong tuyển có truyện dài Chiến hào và hai tiểu thuyết Giữa lòng thành phố, Chuyện ở xã. Nhìn vào danh mục sách được xuất bản ở bìa 4 thì đúng là chúng được in lần đầu. Hóa ra nhà văn của chúng ta chục năm nay (2005-2015) vẫn viết, không những thế còn viết đến “khủng khiếp” khi tất cả đều nghĩ ông đã nghỉ ngơi và “có quyền” nghỉ ngơi khi đã sang tuổi 80. Ông quả là hiện thân hiếm thấy của sức bền văn chương. Năm 2005, nhân ông được giải truyện ngắn Một chuyện tình, nhà báo Anh Thơ đã tới phỏng vấn, ông bảo: “Tôi không từ bỏ được thói quen đọc sách mỗi ngày. Và cũng chưa có ý định ngừng viết. Tôi vừa xong hai truyện ngắn Con chó đá góc vườn, Giọt nước mắt muộn màng và đang hoàn thành tiểu thuyết Huệ”. Huệ chỉ là tên tạm đặt, sau này là tiểu thuyết Số phận nghiệt ngã mà Huệ là nhân vật chính.

Nhà văn Phùng Văn Ong sống thế nào thì truyện của ông cũng thế, ông hiền lành, sống có tình, không cầu kỳ, hình thức nên truyện của ông đôn hậu, đậm đà, nhân ái, văn chương giản dị, trong sáng và mực thước, thủ thỉ như lời tâm sự. Phùng Văn Ong viết không nhằm trở thành “nhà nọ nhà kia” mà viết như một sự ám ảnh, niềm ‘“Ám ảnh khôn nguôi”. Ông không tô hồng bất cứ điều gì mà chỉ bày tỏ niềm yêu bằng tất cả sự chân thành, trung thực; cũng không lên án điều gì mà chỉ nói lên nỗi day dứt về những cảnh đời ngang trái. Ông tin vào nhân cách con người và đề cao nhân cách trong tác phẩm.

Trong các đề tài, nhà văn Phùng Văn Ong đeo đuổi nhiều nhất là hai đề tài: Một, đề tài kháng chiến chống Pháp, như truyện dài Chiến hào, tiểu thuyết Giữa lòng thành phố và một số truyện ngắn; Hai, đề tài ngành y, như Cô y tá khoa Nhi, Cha và con, Đêm Nôen, Lanđa, Anna... Ông từng tham gia phong trào thanh niên cứu quốc trước Cách mạng tháng Tám; trong Đội tuyên truyền xung phong của Mặt trận Việt Minh; năm 1946 vào bộ đội, bị địch bắt trong một trận chiến đấu; sau khi được tự do, tiếp tục hoạt động trong đường dây bí mật của Liên hiệp Công đoàn tại Nhà thương thành phố (nay là Bệnh viện Việt Tiệp). Hòa bình lập lại làm trong ngành y tế, chuyên trách công tác thi đua tuyên truyền cho đến khi nghỉ hưu - đó là “vốn sống” để Phùng Văn Ong gắn bó với hai đề tài trên.  

Một nhân vật của Phùng Văn Ong nói: “Tuổi đã vào khung bảy mươi là mọi thứ khó rồi. Người ta cứ mất dần những người bạn, vài ba ngày có khi cả tháng mới ra khỏi nhà một vài lần và cũng chỉ đủ thời gian để trò chuyện với một người, gặp lại một đường phố”. Tình cảnh ấy ám vào tất cả mọi người nhưng với chính nhà văn Phùng Văn Ong nó chỉ đúng có một nửa, quả là khi đã “vào khung 70” ông ít ra khỏi nhà và “mất dần những người bạn” - mất Mai Vui, Bùi Ngọc Tấn, chưa mất Nguyễn Quang Thân nhưng ở xa không gặp được. Cái nửa không đúng đó là không phải “mọi thứ đều khó” - Hành trình sáng tạo của ông vẫn ầm ầm tiến về phía trước cho đến tận ga cuối cuộc đời - cái ga ít ai đến được bởi nó ngự xa tít tận cây số thứ 91!

Lưu Văn Khuê

(1) Mới đây, nhân dự Ngày thơ Việt Nam ở Hải Phòng (21/2/2016), nhà thơ Trần Nhuận Minh cho biết đáng lẽ Chi hội Văn nghệ Quảng Ninh thành lập trước hoặc ít ra cùng lúc với Chi hội Văn nghệ Hải Phòng nhưng “xảy ra sự cố” tiểu thuyết Những người thợ mỏ (1961) khiến tác giả là nhà văn Võ Huy Tâm phải xin lỗi trước công nhân nên mãi 5 năm sau, tháng 11/1969 Quảng Ninh mới tổ chức được đại hội thành lập.  
(2) “Sống bền” là cách nói của nhạc sĩ Trần Hoàn về nhà thơ Nguyễn Viết Lãm.
(3) Đúng ra nên gọi là tạp chí Văn nghệ (của Hội Văn nghệ Việt Nam), ra số đầu tháng 3/1948. Sau Đại hội I (4/1957) Hội Nhà văn Việt Nam mới ra báo Văn. Báo Văn sau đó “đi trệch đường” nên không thể tồn tại. ít lâu sau được thay thế bằng báo Văn học. Đến nhiệm kỳ II, Hội Nhà văn đổi tên báo Văn học thành báo Văn nghệ và coi số tháng 3/1948 của tạp chí Văn nghệ là số đầu tiên.

 
Giấc chiêm bao trong thơ Nguyễn Đình Di

Ở nơi ấy

Cái hạt mở ra hai bàn tay

N.Đ.D

 

Có tiếng rì rầm dưới trăng

Lời của người được đất ru

Ai đấy

Hát chậm cho tôi học lời.

 

Đó là khổ thơ được nhà thơ Nguyễn Đình Di viết riêng, không thuộc bài thơ nào, dùng làm đề từ tập thơ đầu tay của ông, mang tên Giấc mơ cây (Nxb Hải Phòng, 2001). Những câu thơ thật hồn nhiên, như mê đắm trong chiêm bao, mộng du. Đến độ, cảm thấy như khi ấy, có ai cố ý đến bên ông đánh thức hoặc lay gọi, thì nhà thơ cũng khó mà nhận ra thật-ảo của một đời sống hiện hữu lam lũ cùng cực nhưng rất đáng yêu đang bám đuổi, vây quanh ông. Những cơn chiêm bao như vậy đã nâng đỡ, che chở, giúp ông vượt thoát qua mọi khó khăn hiểm nghèo để đến được xứ đẹp.

Sau Giấc mơ cây, nhà thơ Nguyễn Đình Di xuất bản thêm 4 tập thơ: Cỏ khát (2006), Trường ca Lộ trình (2008), Tín chấp (2011), Vườn gió mặn (2015) đều do NXB Hải Phòng thực hiện. Tôi không muốn gọi những tập thơ này là cuộc hành trình của nhà thơ. Bởi hành trình thường có điểm xuất phát, rồi có thể gặp những khúc cua, lúc tăng tốc, và đích đến. Tôi đọc thơ Nguyễn Đình Di và cảm nhận các tập thơ của ông, tuy viết trong các thời điểm khác nhau, nhưng có cùng một đời sống, cùng một tâm trạng, một thân phận trong một cảnh giới.

Thơ Nguyễn Đình Di trước sau vẫn trung thành với hệ hình thi pháp truyền thống, nền tảng là hiện thực và lãng mạn. Đây là một khuynh hướng sáng tác mà gần như cả thế hệ ông chịu ảnh hưởng đến tận bây giờ. Sau mỗi tập thơ, cảnh giới thơ Nguyễn Đình Di được mở rộng, thêm phong phú. Nhưng những sự kiện, sự vật, những ước mơ, khao khát trong đó thường được lặp đi lặp lại trong những tình huống, tâm trạng khá giống nhau ở nhiều thời điểm. Người đọc gần như quen thuộc từng bóng dáng thi ảnh, nhịp điệu, ngôn ngữ thơ của ông. Từ vầng trăng, con sóng, cái cây, con cá, con công cống, vạt cỏ, cái chợ, giọt mưa, con thuyền, bình rượu… Đến bàn tay, đôi mắt, lời ru, tiếng khóc, sợi tóc, trái tim, hồn mình... Những hành động của con người, như đi câu, hát, vung rìu, rũ bụi, buột mồm, nhập đồng… Những tâm trạng, như nhớ, sự đa mang, thương đồng đội, lẩn thẩn, lỡ thì… Hầu như những hiện hữu, chuyển động trong đời sống thường nhật kia, tựa những con lắc đơn, cứ trở đi trở lại trong thơ ông như ngày tiếp ngày, mùa nối mùa. Ấy vậy mà đọc thơ Nguyễn Đình Di vẫn thấy hấp dẫn và bị mê dụ. Bí quyết của sự hấp dẫn ấy chính là cách ông chiêm bao và bản năng chiêm bao thông qua một số bài thơ thành công của ông.

Phải nói thêm về chiêm bao để rõ hơn trạng thái này trong thơ Nguyễn Đình Di. Đây vốn là một hiện tượng tâm lý, sinh lý và đôi khi cả bệnh lý xuất hiện trong giấc ngủ, một hoạt động thường nhật của đời sống con người. Từng có nhiều nhà khoa học, triết gia đã lý giải những hiện tượng chiêm bao bí ẩn và diễn ra ngẫu nhiên này. Trang Tử (~365 – 290 trước CN), một triết gia và tác gia Đạo giáo cho rằng: “Giấc mơ là tính của khí dương. Vui, giận đều từ tính khí”. Còn theo thuyết Phân tâm học của nhà khoa học thần kinh và tâm lý người Áo Sigmund Schlomo Freud (1856 – 1939), những  tưởng tượng, ẩn ức, khát vọng chính là những nguyên nhân dẫn đến những xung đột vô thức để nảy sinh những giấc mơ. Với thơ của Nguyễn Đình Di, tôi gọi một số bài thơ của ông là những giấc chiêm bao có thật. Người đọc có thể nhìn thấy giấc chiêm bao ấy của nhà thơ, rồi nhanh chóng bị chúng ám thị, thôi miên... Và trong tâm thế đồng sáng tạo, những câu thơ của Nguyễn Đình Di vẫy gọi, dẫn dụ người đọc tới cảnh giới mà nhà thơ đã thăng hoa khi sáng tạo.

Sống chân thành, trải nghiệm và sáng tạo trong những giấc mơ là lẽ sống còn, đương nhiên, có lúc khá dễ dàng với nhà thơ Nguyễn Đình Di. Dễ dàng, bởi lúc ấy ông viết như vui chơi, như say, như hít thở… Tôi linh cảm rằng, dường như nhà thơ có được nhãn quan và nhãn lực để nhìn thấy cái vong cái vía của vạn vật mà trò chuyện, tỏ bầy: Ở miền không còn đêm/ Thấy ban ngày ngồi khóc/ Triền sông hoang gió mọc/ Cỏ se vàng chân mây (Nỗi chiêm bao). Giọt nước mắt vỡ/ Thả những hạt cỏ/ Vào cơn gió khô/ Trên cánh đồng đời (Trầm cảm). Em trốn ở đâu mà thơm quá/ Chiếc lá bùa mê ơi/ Những câu thơ ngẩn ngơ tôi chôn dưới móng nhà/ Như chiếc neo đang đòi được nhổ/ Để ngôi nhà trôi…” (Lãng du). “Cái vong cái vía” ấy có lúc ông thấy nó “mờ mờ nhân ảnh” và nhiều khi cũng chỉ thấy được một phần. Do vậy, nếu tác giả không dồn đẩy được cảm xúc tới ngưỡng cần thiết, thì những hình ảnh đặt lên mặt giấy kia chỉ là những cái xác không hồn. Nhưng sự chân thành gan ruột và tình yêu mãnh liệt đã giúp nhà thơ neo giữ được những hình ảnh vốn đã quen thuộc với bạn đọc làm chúng trở nên sống động trong một thế giới thơ mộng mị, kỳ ảo: Đêm đêm khi em đã ngủ/ Bàn tay giấu em ủ những câu thơ/ Thay lời hát ru/ Vỗ về giấc ngủ của em thật sâu/ Và sau đấy giấc ngủ của anh cũng sâu (Nói hộ bàn tay chai).

Sự chân thành của câu thơ Và sau đấy giấc ngủ của anh cũng sâu đã vượt qua mọi thủ pháp, thi pháp. Chữ “cũng sâu” được tác giả viết lặp lại chữ “thật sâu” nằm ở ngay cuối câu thơ trên. Thông thường khi viết, đây là những từ đồng âm cùng nghĩa mà nhà thơ cần tránh dùng lại, bởi bạn đọc sẽ cho là tác giả bí từ. Nhưng trong trường hợp này, nhà thơ Nguyễn Đình Di đã cố ý dùng lại một chữ mà ông vừa dùng. Sự lặp lại này phù hợp với chuyển động “chậm dần đều” của giấc ngủ. Nó giống như một viên sỏi đang rơi vào miệng giếng, rồi liệng dần xuống đáy sâu. Nếu không có câu thơ này, cả bài thơ “Nói hộ bàn tay chai” sẽ đưa người đọc rơi vào cảm giác nhàm chán, cũ mòn (cliché). Câu thơ độc đáo trên có thể ví như cái “huyệt” trên “cơ thể” thơ đang ủ rũ, ngái ngủ…, bất ngờ được tác giả “bấm” vào thật đúng lúc, làm “toàn thân” bài thơ trở nên ấm nóng và vận động hoàn toàn khỏe mạnh.

Sự nồng mặn, thổn thức của tình yêu luôn là mạch sữa nguồn nuôi dưỡng cảm xúc sáng tạo của nhà thơ Nguyễn Đình Di. Trong trường hợp người thơ này, chỉ có tình yêu thương mãnh liệt và trọn vẹn mới đủ lực kéo ông từ sự trần trụi, thô nhám của thực tại đời thường về với cảnh giới thơ chiêm bao lung linh, u mặc của riêng ông: Tôi lạy hoa trặc trìu đừng thơm day dứt nữa/ Anh sẽ nói được lời chưa kịp nói em nghe/ Trong hương trặc trìu tóc bạc đã như mê (Hoa trặc trìu). Trong cảnh giới huyền hoặc và tuyệt đẹp ấy, nhà thơ đã thức nhận được bản chất của chân giá trị. Nó không xa vời, khó tìm kiếm, mà chính là những điều bình dị và rất gần gũi với mỗi con người: Chỉ có mỗi điều giản dị/ Cỏ xanh… mình cũng xanh đi (Cỏ ở phố).

Vẻ đẹp thơ Nguyễn Đình Di trong cõi chiêm bao khá đa dạng. Lúc tinh tế, mỏng manh như cánh ong bay: Sau gương/ Có tiếng cánh vỗ/ Có tiếng gọi nhỏ (Gương thu). Khi sâu lắng, quấn quyện, rồi vụt sáng ở cuối bài thơ như ngọn nến: Câu thơ váng vất nguồn cơn/ Đắng vào rễ cỏ cuối đường gọi hoa (Bâng quơ chiều). Lại có bài, ông viết như sự mặc khải, mặc định ngẫu nhiên: Hào hển vít gió khoe/ Nghe hạt hát đây này (Tiếng cây).

Tôi đọc trọn vẹn 5 tập thơ của Nguyễn Đình Di một cách mê mải. Không ngắt quãng. Để thấy mình bị mê dụ trong những giấc chiêm bao. Khi huyền hoặc, khi đột ngột trở về thực tại. Khi như tan chảy ra hoặc bị vo tròn lại. Trong 5 tập thơ ấy, tôi ấn tượng nhất với bài thơ “Khấn gọi cây”. Bài thơ này in trong tập thơ Giấc mơ cây, không biết chính xác tác giả viết thời gian nào. Song tôi chắc chắn đó là khoảng thời gian trước năm 2001.

KHẤN GỌI CÂY

Cây quéo cửa nhà tôi

Của ông nội tôi trồng

Tôi đã đeo khăn tang cho nó ngày bố tôi mất

Bây giờ tôi nói gì khi phải chặt nó đây

Cây ơi!

Mày bằng tuổi em tao

Mày đã cho tao tiếng chim trong phố

Cho tao bóng xanh dịu đi nắng lửa

Cho tao quả ngọt để đẩy cái đắng khỏi lưỡi

Cho tao thao thức nghe lá rụng và

gửi được vào trong trang thơ một loài lá

chỉ chịu rơi khi nõn đã xanh đầy

Cây ơi

Ta bầy lễ ra đây

Thắp hương

Khấn gọi

Mày hãy về mọc trong trang thơ này

Hãy tỏa bóng mày che mát vết bỏng đêm của tao

Hãy gọi chim về hát trong nỗi nhớ của tao

Và mang quả chín của mày đặt vào tay ông nội

Cây ơi

Tao bẻ lưỡi cưa rồi vì sợ sẽ ngã cùng với mày

Khi nghe hồn cây đang nói lời của người sắp bị chặt.

Bài thơ đạt tới sự thành công toàn bích. Từ cấu tứ, tạo vỉa ngầm, huyền ảo kết hợp với tự sự, mê và tỉnh… Cho đến ngôn ngữ thơ giản dị, tự nhiên… Sau khi công bố, bài thơ “Khấn gọi cây” cùng với 2 bài thơ “Lãng du” và “Những con chữ” đoạt Giải thưởng thơ hay tháng 11 năm 2011 của tuần báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn VN). Nét độc đáo ở đây là, tác giả dành hẳn 2 khổ thơ đầu chỉ để liệt kê “lịch sử” của cây đã gắn với “lịch sử” người viết - nhân vật xưng “Tao” ra sao. Với giọng điệu bông lơn nhưng thân thiết và gần gũi, ông nói cho cây nghe thấy: Mày bằng tuổi em tao/ Mày đã cho…/ Mày đã cho… Và, đây là câu thơ đặc sắc, mang thần khí vực dậy hồn vía của tất cả những sự kiện tưởng chừng khô khan, đơn điệu vừa kể: Cho tao thao thức nghe lá rụng và/ gửi được vào trong trang thơ một loài lá/ chỉ chịu rơi khi nõn đã xanh đầy. Khổ thơ tiếp theo là những khát vọng của cây xanh, của diệp lục, khát vọng sống của mọi sinh linh trên mặt đất. Tao bẻ lưỡi cưa rồi vì sợ sẽ ngã cùng với mày/ Khi nghe hồn cây đang nói lời của người sắp bị chặt. Câu kết bài thơ là sự hóa thân, đổi ngôi…, nói khác đi, chính là sự hóa giải cho tội lỗi phá hoại thiên nhiên của con người. Bài thơ “Khấn gọi cây” của Nguyễn Đình Di là một gợi ý cho chúng ta liên tưởng tới mối quan hệ sống còn giữa sinh thể và môi trường sống quanh ta. Mọi quan hệ giữa cơ thể con người với thế giới bên ngoài được ví như một cơ thể hoàn chỉnh. Tiểu vũ trụ người luôn cần hòa đồng, vận động song hành cùng với nhịp điệu của đại vũ trụ. Con người không chỉ là thực thể tự nhiên mà là một thức thể tự nhiên - xã hội. Những hành động phá hủy cây xanh, hủy hoại môi trường sống đều có nguy cơ làm mất sự cân bằng sinh thái, xâm hại trực tiếp vào đời sống con người và của vạn vật trên hành tinh này. Hành động của nhân vật “Tao” “bẻ lưỡi cưa” trong câu thơ kết là quyết định đúng đắn, cương quyết để bảo vệ những giá trị sinh tồn của thiên nhiên, vì sự sống của loài người trên trái đất.

 

 

Từ sự xuất hiện được đánh dấu với tập thơ đầu tay, Giấc mơ cây năm 2001, phải khẳng định rằng, thơ Nguyễn Đình Di đã đem đến cho thơ đương đại, đặc biệt cho thơ Hải Phòng một giọng nói đằm mặn và ám gợi. Chỉ tiếc rằng, những bài thơ có nền tảng vững chắc, có vỉa tầng chồng lấn, có ngôn ngữ tự sự hồn nhiên như “Khấn gọi cây” lại không nhiều. Thêm vào đó, về sau này, thơ ông có phần nào phai nhạt sự đắm mê, ngơ ngẩn và hồn hậu so với tập thơ đầu. Tuy cấu tứ bài thơ và câu chữ một số tập thơ gần đây có chặt chẽ hơn trước, nhưng chính điều đó lại làm thưa vắng cái dại khờ, vụng dại rất đáng yêu trong thuở sáng tạo ban đầu.

Nhà thơ William Wordsworth (người Anh) quan niệm, cuộc đời chỉ là một giấc mơ và chúng ta sẽ tỉnh thức khi không còn hiện hữu trên cõi đời này nữa. Cõi chiêm bao trong thơ Nguyễn Đình Di dẫn người đọc đến những miền trong veo tuyệt đẹp và níu giữ chúng ta ở đó mãi. Nơi ấy là địa chỉ tin cậy, một cõi sống thật, cõi yêu thương và đắm mê.

Nhà thơ Nguyễn Đình Di sinh năm 1947, tại tỉnh Hưng Yên, hiện sống và sáng tác tại thành phố Hải Phòng. Ông từng đoạt một số giải thưởng văn học, tiêu biểu: Giải thưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hải Phòng, 1997), Giải thưởng Văn học của Bộ Quốc phòng (2004 – 2009), Giải thưởng Cuộc thi thơ của tạp chí Cửa Biển (2006), Giải thưởng đề tài “”Đây biển Việt Nam” do báo Viẹtnam.net và Hội Nhà văn VN trao tặng (2012), Giải thưởng cuộc thi thơ “Hoa phượng” do Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng trao tặng (2012)…

Những bài thơ hay trong 5 tập thơ đã đến với nhà thơ Nguyễn Đình Di bằng nhiều nẻo của tư duy và cảm xúc, đôi khi bằng cả sự vô thức, bất ngờ trong quá trình sáng tạo. Chắc gì thơ tôi biết nghĩ/ Chắc gì hồn tôi biết nhìn (Khiếm thị). Đó là lời tác giả nói với một “bé gái mù”. Cách ông luôn cật vấn, phản tỉnh, chính là thái độ sống, trách nhiệm sống của ông, với tư cách người cầm bút trước cuộc đời đầy âu lo, thổn thức chờ đợi này. Ông cũng đã nhìn thấy con đường xa tít trước mặt mà quỹ thời gian có thể không còn nhiều. Gánh số phận mình/ Con chữ mơ mọc cánh bay giữa khoảng đặc giữa trời và đất (Những con chữ). Hình ảnh con chữ “mơ mọc cánh”, dù phải bay “giữa khoảng đặc…” là giấc mơ đẹp nhất của một nhà thơ suốt đời trăn trở, khao khát sự vươn vượt, bứt phá để mong đến với những giá trị đích thực, mới mẻ.

Tôi viết những dòng cuối của bài viết nhỏ này khi biết nhà thơ Nguyễn Đình Di đang phải vật lộn với căn bệnh hiểm nghèo. Xin được cầu mong cho ông được mau bình phục. Bạn đọc cũng đang lần theo từng câu thơ còn in dấu vân tay nhà thơ để chúc phúc an lành cho ông: Trong mỗi ngón tay/ Có một trái tim đang dịu dàng nói (Nói hộ bàn tay chai).

Hải Phòng, 24/1/2016

Mai Văn Phấn

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)

 

 

Cầu Thượng Lỹ - Tranh Nguyễn Văn Trường

Cầu Thượng Lý - Tranh sơn khắc của Nguyễn Văn Trường

 

Chiến thắng Bạch Đằng - Tranh khắc gỗ của Đặng Hướng

 

Chân dung nhà thơ Nguyễn Viết Lãm - Tượng đồng của Khắc Nghi

 

Buổi trưa vắng - Sơn dầu của Đặng Tiến

 

Sông Cấm - Tranh của Sơn Trúc

 

Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Trung thu trên đảo - Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

 

Tranh của Lê Viết Sử

Carnaval Hải Phòng - Tranh Lê Viết Sử

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...