Hiện có 37 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Những vần thơ viết cho thiếu niên, nhi đồng

Nguyễn Văn Thanh

(Quảng Trị)

Thơ viết về thiếu niên, nhi đồng là một tài sản tinh thần vô giá đối với các thế hệ thiếu nhi Việt Nam. Bằng sự am hiểu, bằng niềm say mê, bằng tấm lòng yêu thương trẻ, các nhà thơ  đã đem đến cho các em  những bài học thiết thực để phấn đấu vươn lên thành con ngoan, trò giỏi, thành những người chủ tương lai của nước nhà.

Khi nói đến lòng yêu thương trẻ, văn thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh như dành riêng một niềm yêu thương vô hạn, niềm cảm xúc thiết tha. Cách mạng Tháng Tám mới thành công, công việc nước nhà còn bề bộn, mặt khác lại phải bắt tay ngay vào cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ, nhưng Đảng, Chính phủ và Bác Hồ vẫn quan tâm đến thiếu nhi. Tờ Thiếu sinh-tiền thân của báo Thiếu niên Tiền phong đã ra mắt từ năm 1946. Hằng năm vào dịp Tết Trung Thu, 1/6 hay những dịp biểu dương khen ngợi thiếu nhi, Bác Hồ đều có thơ chúc Tết, thư khen các cháu. Bài thơ đầu tiên Bác viết cho thiếu nhi là bài “Kêu gọi thiếu nhi” (1941), trong đó Bác khẳng định:

“Trẻ em như búp trên cành,

Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”.

Điều đặc biệt là không Trung thu nào mà Bác Hồ không có thư cho các cháu. Đó cũng là dịp Bác nhắc nhở về học tập, về “tuổi nhỏ làm việc nhỏ”-nhưng cái chính vẫn là tấm lòng yêu thương da diết: “Ai yêu các nhi đồng /Bằng Bác Hồ Chí Minh/ Tính các cháu ngoan ngoãn/ Mặt các cháu xinh xinh/ Mong các cháu cố gắng/Thi đua học và hành/ Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/ Tùy theo sức của mình/ Để tham gia kháng chiến/ Để gìn giữ hòa bình/ Các cháu hãy xứng đáng” (Trung thu năm 1952).

Trung thu năm 1954, sau khi có thư chúc Tết các em, Bác còn viết hai câu thơ như một lời dự đoán tiên tri cho những mùa trung thu sau của đất nước:

“Bao giờ Nam Bắc một nhà

Các cháu xúm xít thì ta vui lòng”

Khi nói đến trẻ thơ, văn thơ Bác như dành riêng một niềm yêu thương vô hạn, niềm cảm xúc thiết tha. Nhà thơ Tố Hữu viết: “Và các em có hiểu vì sao/ Lòng Bác mênh mông vẫn dạt dào/ Yêu nụ mầm non, yêu tuổi trẻ/ Biển thường yêu vậy sóng xôn xao” (Theo chân Bác).

Thơ thiếu nhi Việt Nam từ sau cuộc kháng chiến chống Mĩ, đặc biệt từ 1986 có sự phát triển mạnh mẽ và phong phú. Công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước đã thực sự đem lại một không khí mới cho văn học nước nhà, trong đó có bộ phận văn học thiếu nhi. Sáng tác cho các em, từ những năm đầu thời kì đổi mới đến nay, đã đạt được những thành tựu đáng kể, với những tác giả quen thuộc đã dành tất cả tâm huyết cho các em như Phạm Hổ, Võ Quảng, Định Hải, Xuân Quỳnh…

Gần 50 năm cầm bút, Võ Quảng đã để lại cho văn học thiếu nhi Việt Nam một di sản đồ sộ với những tuyển tập như Nắng sớm (thơ,1965), Anh Đom đóm (thơ, 1970), Quê nội (truyện, 1973), Gà mái hoa (thơ, 1975).  Ông từng tâm sự: ‘Viết cho thiếu nhi, đó là niềm vui, là lẽ sống của tôi”. Những vần thơ của Phạm Hổ theo dấu thời gian đã in đậm vào tâm hồn thiếu nhi hàng thế hệ như: “- Cốc, cốc, cốc! /Ai gọi đó? /Tôi là Thỏ / Nếu là Thỏ / Cho xem tai...” (Mời vào); “Dưới vỏ một cành bàng / Còn một vài lá đỏ / Một mầm non nho nhỏ / Còn nằm nép lặng im” (Mầm non) hay “Ai dậy sớm/ Đi ra đồng / Cả vừng đông / Đang chờ đón” (Ai dậy sớm)... Nhà nghiên cứu Phong Lê nhận xét: “Thơ Võ Quảng ít nói điều gì cao xa, to tát, trừu tượng. Ông chỉ nói những chuyện nhỏ nhẹ, bình thường, với giọng vui hóm, ngộ nghĩnh... Nhưng mặc dù vậy, hay chính vì vậy, thơ ông lại rất giàu ý vị giáo dục”.

Nhà thơ Phạm Hổ tâm sự: “Nếu được sống thêm một lần nữa, tôi vẫn chọn nghề cũ: “Làm thơ, viết văn cho các em đọc, còn vẽ tranh cho các em xem nữa” (Nhà văn Việt Nam hiện đại, NXB Hội Nhà văn 1996). Thơ của ông luôn ngộ nghĩnh, sinh động, vui vẻ: “Mười quả trứng tròn/ Mẹ gà ấp ủ/ Mười chú gà con/ Hôm nay ra đủ/ Lòng trắng lòng đỏ/ Thành mỏ thành chân/ Cái mỏ tí hon/ Cái chân bé xíu…” (Mười quả trứng tròn). Bài “U ốm”,  Phạm Hổ cũng đã nói lên được tình cảm của người con thương mẹ sâu xa mà giản dị:  “U ốm nằm nhà/ Không ra đồng được/ U đắp kín chăn/ Mặt quay vào vách/ Em vẫn đi học/ Trường xa càng xa/ Người em ở lớp/ Lòng em ở nhà”.

Nhà thơ Định Hải, nguyên Trưởng ban Văn học thiếu nhi Hội Nhà văn Việt Nam, là một trong những nhà thơ có nhiều cống hiến cho nền văn học thiếu nhi. Đọc thơ Định Hải người đọc dễ dàng bắt gặp những câu thơ giản dị, trong sáng hồn nhiên với lối gieo vần tạo nhịp điệu kiểu như: “Nghé à, nghé ơi!/ Mùa xuân êm mát/ Cỏ xanh mượt đồi/ Đồng xanh bát ngát” (Gọi nghé). Thơ Định Hải còn cấu tứ chặt chẽ, hình tượng đẹp, lứa tuổi nào cũng yêu thích: “Chuồn chuồn kim ơi, chuồn chuồn kim/ Bà đang đi tìm, đang đi tìm / Về giúp bà, giúp bà khâu áo” (Chuồn chuồn kim) .

Nữ thi sĩ Xuân Quỳnh được nhiều thế hệ độc giả yêu mến. Xuân Quỳnh đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt 1 và mới đây được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Xuân Quỳnh không những viết thơ mà còn cả văn xuôi cho các em nữa. Thơ của chị được các em yêu thích bởi tính hóm hỉnh, vui tươi, nồng ấm và phù hợp với tâm lí tuổi thơ, mang lại cho các em bao điều thú vị,  đặc sắc nhất phải kể tới bài “Con yêu mẹ”: “-  Con yêu mẹ bằng ông trời/ Rộng lắm không bao giờ hết/ Thế thì làm sao con biết/ Là trời ở những đâu đâu/ Trời rất rộng, lại rất cao/ Mẹ mong, bao giờ con tới?”.

Ngoài ra, thơ ca cho thiếu nhi còn có những sáng tác của Huy Cận, Trần Đăng Khoa, Phan Thị Thanh Nhàn…. Thế giới trong thơ của các nhà thơ với  thiên nhiên gần gũi, một tiếng hót, một mùi hương, một nụ hoa, mầm non …giàu  chất thơ, giàu màu sắc, giàu nhạc điệu.

Huy Cận viết về con tôm với giọng vui tươi, dí dỏm như chính tâm hồn các em: “Bạn ơi bạn đừng/ Bạn đừng bắt chước /Con tôm nó đi/ Nó đi thụt lùi (Con tôm). Cũng có khi giọng thơ giống như tiếng cười trong trẻo của trẻ nhỏ, vừa mang giọng kể, vừa mang giọng tả hành động của con vật: Sóc ta dậy sớm /Cái đuôi quét trời/ Bốn chân nghịch ngợm / Chẳng yên đứng ngồi (Con sóc). Bài thơ “Cá” của Huy Cận nói về công việc nuôi cá của bé nhưng tác giả vừa gợi cái ý ngộ nghĩnh tuổi thơ vừa mở ra trí tưởng tượng trong cách nhìn, cách nghĩ sâu xa rất hợp lý: “Bé cũng nghĩ đi đâu/ Quên học bài mẹ mắng/ Cá bống vội trồi đầu/ Hớp một vòng ánh nắng”.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa làm thơ khi còn là một cậu thiếu nhi. Thơ của Trần đăng Khoa là sự cảm nhận thiên nhiên tinh tế. Từ cây chuối, gốc dừa, lá trầu, trái bưởi. Cho đến đàn kiến hành quân, con cua đồng, hay con chuồn chuồn, chú bướm vàng bên bờ cỏ. Hoặc là các sự vật hiện tượng như nắng, mưa, mây, gió. Tất cả đều trở thành thơ. Tất cả đều gần gũi nhưng thi vị xuất phát từ chính hơi thở của tâm hồn tác giả.  Trong bài “Một buổi sáng nhà em” với bao nhiêu nhân vật ngộ nghĩnh và sinh động, mà ta vẫn bắt gặp ở bất cứ vùng quê nào: “Cậu mèo đã dậy từ lâu/ Cái tay rửa mặt, cái đầu nghiêng nghiêng/ Mụ gà cục tác như điên/ Làm thằng gà trống huyên thuyên một hồi/ Cái na đã tỉnh giấc rồi/ Đàn chuối đứng vỗ tay cười vui sao!”.

Phan Thị Thanh Nhàn là nhà thơ xuất hiện vào thời kỳ chống Mỹ, nổi tiếng với những bài thơ cho người lớn, nhưng cũng nhiệt tình tham gia viết cho thiếu nhi. Chị còn là tác giả của nhiều cuốn sách thiếu nhi: Con muốn mặc áo đỏ đi chơi, Xóm đê ngày ấy; Tuổi trăng rằm, Bỏ trốn và gần đây là Học trò lớp chín….Nhớ nhất là bài thơ  “Làm anh”: “Làm anh khó đấy/ Phải đâu chuyện đùa/ Với em gái bé/ Phải “người lớn” cơ…Làm anh thật khó/ Nhưng mà thật vui/ Ai yêu em bé/ Thì làm được thôi”. Giọng thơ của chị thật mềm mại, ấm áp. Cách nói sao mà khéo, dỗ dành đến ngọt.

Những năm 90 đến nay, đội ngũ viết cho các em được bổ sung thêm nhiều cây bút trẻ như Trần Thiên Hương, Nguyễn Quang Thiều, Lê Cảnh Nhạc, Nguyễn Nhật ánh, Hà Lâm Kì, Quách Liêu, Phan Hồn Nhiên, Văn Công Toàn…

Thiếu nhi nước nhà đã được nhiều thế hệ các nhà văn, nhà thơ chuyên tâm, say mê với sự nghiệp văn học - giáo dục trẻ em. Viết thơ cho các em thật không dễ, nói như nhà văn Gorki trong lời khuyên các bạn trẻ viết văn, “Mỗi câu thơ, mỗi lời văn viết cho trẻ  đọc lời văn đó, câu thơ đó, phải là những ánh sáng của viên ngọc, phải là chất tư tưởng của máu thịt, chất hình tượng của sự gạn đục khơi trong”.

 

Tài liệu tham khảo:

- Bác Hồ kính yêu của em,  NXB Kim Đồng tuyển chọn và xuất bản năm 2007.

- Ai dậy sớm (Võ Quảng), NXB Kim Đồng 2016.

- Những bài thơ nho nhỏ (Phạm Hổ), NXB Kim Đồng 2016.

- Góc sân và khoảng trời (Trần Đăng Khoa), NXB Kim Đồng 2016.

- Con muốn mặc áo đỏ đi chơi (Phan Thị Thanh Nhàn), NXB Kim Đồng 2016.

 
Đổi mới tiểu thuyết Việt Nam hiện nay - Đôi điều suy nghĩ

TS. Nguyễn Thị Ninh

(Trường Đại học Hải Phòng)

Trong mấy thập niên gần đây, đã có không ít ý kiến rộ lên về sự cáo chung của tiểu thuyết hay “lễ cầu siêu cho tiểu thuyết”. Điều này khiến nhiều người quan tâm đến nền văn học nước nhà tỏ ra hoang mang. Cũng không ít ý kiến cho đó là chuyện vô căn cứ. Bằng chứng là “sản lượng” tiểu thuyết trên thế giới và Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI vẫn tăng lên không ngừng. Dù vậy, vẫn có thể hiểu “chết” theo nghĩa là sự thay thế hình thái này bằng một hình thái khác. Sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại là một sự thay đổi hình thái. Tuy nhiên, tiểu thuyết truyền thống không “chết” hoàn toàn mà vẫn tồn tại song song cùng tiểu thuyết hiện đại tạo nên bộ mặt văn học đa dạng, kích thích sự ra đời của các trào lưu văn hóa đọc sôi nổi.

Nhìn một cách tổng quát, trong số hàng trăm cuốn tiểu thuyết ra đời ở Việt Nam khoảng từ cuối thập kỷ 80 đến nay, phần nhiều vẫn được viết theo cách truyền thống. Có thể kể đến: Tường thành, Trong nước giá lạnh (Võ Thị Xuân Hà), Ngụ cư (Thùy Dương), Đèn vàng (Trần Chiến), Tẩu hỏa nhập ma (Lê Mai), Cháy đến giọt cuối cùng (Nguyễn Thị Anh Thư), Tìm trong nỗi nhớ (Lê Ngọc Mai), Ngư phủ (Hoàng Minh Tường), Đi qua bóng tối (Nguyễn Hoàng Thu), Gió tự thời khuất mặt (Lê Minh Hà), Cánh đồng lưu lạc (Hoàng Đình Quang), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Cõi người (Từ Nguyên Tĩnh), Rừng thiêng nước trong (Trần Văn Tuấn), Ba người khác (Tô Hoài), Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân Đức), Dòng sông mía (Đào Thắng), Cõi mê (Triệu Xuân)… Dù đã có những đổi mới nhất định về nội dung phản ánh và cái nhìn hiện thực, đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, nhưng các tác phẩm này vẫn tuân thủ cơ bản mô hình kết cấu thể loại truyền thống và tư tưởng nhân văn phương Đông. Sức hấp dẫn của các tác phẩm này chủ yếu vẫn ở nội dung truyện kể, ở cốt truyện xoay quanh những thăng trầm trong số phận của một cuộc đời, của nhân vật. “Tính thẩm mĩ của tiểu thuyết bộc lộ ở sự hài hòa, nhất quán của tổng thể và các phân đoạn khiến câu chuyện mạch lạc, lôi cuốn”, “trả độc giả về với trật tự quen thuộc của đời sống”[7].

Theo quan niệm truyền thống thì “Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và hiện đại. Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”[6; 225]. Khi nói đến tiểu thuyết, người ta thường hình dung ra những gì “nặng ký” được chứa đựng trong đó (như bức tranh đời sống, những thăng trầm lịch sử, các quan hệ xã hội đan chéo nhau…). Tiểu thuyết thì phải lớn về dung lượng trang, nhiều về nhân vật, dồi dào khả năng bao quát hiện thực đời sống cả về chiều rộng lẫn chiều sâu… Tuy nhiên, do tiểu thuyết là thể loại văn học đang biến chuyển và còn chưa định hình, nó gắn với cái hiện tại đang sinh thành nên cũng không cam chịu chấp nhận một hình thức hoàn kết. Cùng với sự phát triển của văn hoá, văn minh nhân loại, tiểu thuyết luôn quẫy cựa để tự làm mới mình và “khơi thông dòng chảy” (chữ dùng của Nguyên Ngọc) dẫn đến khuôn khổ truyền thống của thể loại bị phá vỡ, các quan niệm về tiểu thuyết cũng thường xuyên biến đổi và ngày càng đa dạng. Năm 1988, tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài đã gây “sốc” cho số đông độc giả Việt Nam. Hưởng ứng tinh thần của Thiên sứ, khoảng từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay, ở Việt Nam có sự xuất hiện của khá nhiều tiểu thuyết có dấu hiệu “khác thường”, bất tuân theo qui tắc, làm khuấy đảo đời sống văn học đang phát triển rất từ từ, tiệm tiến, làm cho nó trở nên sôi động, nóng lên với biết bao rạn nứt, thay đổi, báo hiệu một tương lai mới của thể loại. Đó là những tiểu thuyết có xu hướng ngắn gọn, dồn nén, gia tăng mạnh mẽ các yếu tố huyền thoại, trào lộng như tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương (Vào cõi, Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thủy), Tạ Duy Anh (Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối, Giã biệt bóng tối), Hồ Anh Thái (Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm), Võ Thị Hảo (Giàn thiêu), Châu Diên (Người sông Mê), Nguyễn Việt Hà (Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn), mới nữa là Thuận (Made in Vietnam, Chinatown, T mất tích, Pari 11/8, Vân Vy), Nguyễn Đình Tú (Nháp, Hồ sơ một tử tù, Phiên bản, Kín), Đoàn Minh Phượng (Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau)… Mỗi cây bút đều nỗ lực thể hiện cái mới của riêng mình tạo nên bộ mặt văn học đa dạng, ngổn ngang những lối viết.

Tuy còn trong giai đoạn thử nghiệm tìm đường nhưng các tiểu thuyết này đã đem đến một ấn tượng khác lạ, làm đảo lộn kinh nghiệm thẩm mĩ của bạn đọc. ít nhiều, đây đã là một xu hướng tiểu thuyết “có ý nghĩa khơi mở, dự báo về một quan niệm, một mô hình, một bút pháp nghệ thuật mới”[7]. Không thật sự tỏa sáng nhưng ở mức độ nhất định, xu hướng tiểu thuyết này đã bộc lộ những khám phá, sáng tạo đáng trân trọng, đặc biệt, đã làm bật tung mọi khuôn khổ tưởng chừng như đã cũ mòn, ổn định của thể loại để hướng đến chân trời tự do.

Trong muôn mặt đổi thay thì sự “lạ hóa” về kết cấu là điều dễ nhận nhất. Bởi lẽ, trong quá trình sáng tác bất cứ một tác phẩm nào, thì việc đầu tiên của nhà văn là phải tổ chức tài liệu, sắp đặt câu chuyện, xem nên bắt đầu từ đâu, kết thúc ra sao; nên sắp xếp thành mấy chương, mấy hồi, mấy phần, mấy đoạn…; hình dung xem có bao nhiêu nhân vật, nhân vật nào chính, nhân vật nào phụ, bố trí nhân vật nào xuất hiện trước, nhân vật nào sau; quan hệ giữa các nhân vật với nhau, và môi trường các nhân vật hoạt động… Nói tóm lại, nhà văn phải sắp xếp, tổ chức hàng loạt các sự kiện, các cảnh ngộ, các tâm trạng, các tính cách theo một trật tự, một qui luật nhất định để thể hiện nội dung tư tưởng. Tất cả công việc phức tạp đó gọi là tổ chức kết cấu. Kết cấu phù hợp hay không sẽ làm tăng hoặc giảm giá trị của tác phẩm. Vì vậy, cũng như ngôn ngữ, kết cấu là điều kiện tất yếu và phương tiện cơ bản của việc sáng tác nghệ thuật. Mặt khác, trong điều kiện thường xuyên biến đổi của các hệ hình tư duy và giá trị thì kết cấu truyền thống không còn là một thứ công năng tối ưu có thể đảm nhiệm được những đòi hỏi khắt khe của thời đại, cũng không đủ sức đáp ứng những nhu cầu thẩm mĩ mới của độc giả. Do đó, đổi mới văn học cần phải đổi mới trước hết từ kết cấu.

So với truyền thống thì kết cấu của các tiểu thuyết trên có sự phá cách mạnh mẽ, hiện đại hơn, hấp dẫn hơn và cũng khó nắm bắt hơn. “Dường như nhà văn không phải đang tái hiện bức tranh hiện thực mà đang trình bày cách thức họ làm ra các “kết cấu nghệ thuật” như thế nào. Đây là các kết cấu mang rõ tinh thần “khước từ truyền thống”, nghĩa là vượt khỏi mô hình tiểu thuyết quen thuộc, xác lập mối quan hệ giữa văn chương với hiện thực, giữa nhà văn với bạn đọc để tạo ra những kinh nghiệm đọc mới”[5;213]. Mỗi xu hướng tiểu thuyết khác nhau có những mô hình kết cấu khác nhau. Cùng một mô hình kết cấu, mỗi tác giả lại có sự vận dụng sáng tạo khác nhau. Vì vậy, hình thức kết cấu của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này là vô cùng phong phú. Bên cạnh nhiều tác phẩm có kết cấu theo trình tự thời gian tuyến tính kiểu truyền thống (Trăm năm thoáng chốc, Dòng sông mía, Gia đình bé mọn…), các tác phẩm thuộc xu hướng cách tân trên đa phần đều tổ chức kết cấu theo kiểu buông lỏng; đầu cuối không rõ ràng; không - thời gian xáo trộn, đứt gãy, nhảy cóc, đồng hiện; thực - ảo đan xen; các mạch truyện bị xóa nhòa đường biên ranh giới; tương quan giữa các yếu tố nhân vật, cốt truyện, điểm nhìn, giọng điệu, không - thời gian… được triển khai linh hoạt. Tuy không tránh khỏi những vết tì khiên cưỡng hoặc xử lý chưa tinh xảo, những cố gắng trên vẫn thể hiện nỗ lực của các nhà văn nhằm thoát khỏi sự đơn điệu của loại tiểu thuyết như những truyện kể kéo dài. Khi tiếp xúc với văn bản nghệ thuật, bạn đọc thường xuyên rơi vào hoang mang trong mê cung trúc trắc với những móc nối chằng chịt, khó bóc tách để chiếm lĩnh các tầng ý nghĩa của tác phẩm. Dù vậy, xét trên cấp độ tổng quát, vẫn có thể qui vào một số mô hình kết cấu nổi bật: kết cấu lắp ghép (Thiên sứ, Thời của những tiên tri giả, Pari 11 tháng 8, Vân Vy, Giàn thiêu, Chuyện của thiên tài, Thoạt kỳ thủy…), kết cấu đồng hiện (Thoạt kỳ thủy, Trí nhớ suy tàn, Người sông Mê, Mẫu Thượng Ngàn, Chinatown, Khải huyền muộn…), kết cấu lồng ghép (Nỗi buồn chiến tranh, Thoạt kỳ thủy, Khải huyền muộn, Chinatown, Pari 11 tháng 8, Vân Vy …). Ngoài ra còn có thể kể đến mô hình kết cấu phân mảnh hay xoắn bện… Tuy nhiên, lướt qua các tác phẩm trên có thể thấy mọi sự khái quát đều chỉ mang tính tương đối, không tránh khỏi chồng chéo.

Các mô hình kết cấu trên đều dẫn đến vai trò của từng yếu tố và việc bố trí sắp xếp các yếu tố ấy trong kết cấu tác phẩm cũng thay đổi. Điển hình là sự co lại ngày càng nhiều về dung lượng, thay đổi vai trò của sự kiện, cốt truyện, nhân vật… và ngôn ngữ trong tổ chức kết cấu.

Không phải đến bây giờ mà ngay trong thời đại lên ngôi của các bộ tiểu thuyết dài trang thì tiểu thuyết ngắn trang đã xuất hiện. Lướt qua chặng đường văn học thế giới thế kỷ XX cũng có thể kể ra vô số những tác phẩm như thế: Người thứ 41 (B. Lavrênép -1926) - 195 trang tiếng Việt, khổ 13 x 19; Buồn ơi chào nhé (F. Sagan - 1954) - hơn 100 trang, giấy khổ nhỏ; Ông già và biển cả (E. Hemingway - 1965)  - gần 100 trang; Sống mà nhớ lấy (V. Raxputin -1977) - 200 trang; Người xa lạ (A. Camus - 1942) - 147 trang … Rất nhiều tiểu thuyết Việt Nam ra đời từ đầu thế kỷ XX đến trước 1986 cũng có độ dài dao động trong khoảng một đôi trăm trang như Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách), Hồn bướm mơ tiên (Khái Hưng - Nhất Linh), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Làm đĩ (Vũ Trọng Phụng), Đi bước nữa (Nguyễn Thế Phương), Mùa hoa dẻ (Văn Linh)… Nhưng phải đến những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI, tiểu thuyết mới có sự giảm thiểu dung lượng rõ rệt như một xu thế tất yếu. Có thể minh chứng bằng sự xuất hiện của một loạt tiểu thuyết có độ dài từ một đến hai trăm trang ở Việt Nam, ngắn nhất là Thiên sứ (Phạm Thị Hoài) - xuất hiện lần đầu tiên trên Tạp chí Tác phẩm văn học với chưa đầy 80 trang, sau được in thành sách có độ dài 174 trang, khổ13 x 19; Vào cõi - 180 trang, Trí nhớ suy tàn - 127 trang, Thoạt kỳ thủy - 163 trang (Nguyễn Bình Phương); Thiên thần sám hối - 120 trang (Tạ Duy Anh)… Hầu hết đều được in trên giấy khổ nhỏ với nhiều khoảng trắng vắng chữ. Tiểu thuyết có độ dài trên 500 trang vẫn xuất hiện nhưng hãn hữu như Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà). Tiểu thuyết “ngắn” và tiểu thuyết có độ dài trung bình chiếm số lượng áp đảo. Tiểu thuyết dài trang chủ yếu là tiểu thuyết lịch sử như Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh); Giàn thiêu (Võ Thị Hảo)… Nhiều người có lí khi lý giải sự thay đổi về dung lượng và  kết cấu của tiểu thuyết nói riêng, thể loại nói chung bắt đầu từ sự thay đổi lịch sử -xã hội. Cuộc sống hiện đại với sự bùng nổ thông tin đã khiến con người cùng một lúc phải làm rất nhiều việc, tiếp thu nhiều luồng tri thức khác nhau. Họ không còn đủ thời gian để đọc các tác phẩm đồ sộ có độ dày hàng nghìn trang. Tính phi trực quan (phi vật thể - hình tượng gián tiếp) của văn học ngày càng tỏ ra ít thuận tiện bên cạnh các phương tiện nghe nhìn có kĩ thuật tối tân. Từ địa vị một loại hình nghệ thuật quan trọng bậc nhất, được mến mộ, yêu thích nhất, văn học hiện nay đang đứng trước những thách thức lớn do tác động mang tính toàn cầu của kinh tế và của một số loại hình văn hóa khác. Nguy cơ này đe dọa đặc biệt đến tiểu thuyết - thể loại tự sự “cỡ lớn” vẫn được coi là cỗ “máy cái” của mỗi nền văn học. Để giữ vững được thế mạnh của mình bên cạnh các phương tiện thông tin siêu đẳng khác thì văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng phải hóa thân vào một hình thức tồn tại mới phù hợp với thị hiếu của thời đại. Để tìm cách “viết nội dung” chứ không phải “kể nội dung” thì tiểu thuyết phải tìm được một phương thức biểu hiện mới sao cho vừa cô đọng vừa mang sức biểu hiện lớn như cách nói của Paul Auster “càng ít càng nhiều”. Khi điều đó được thực hiện thì chúng ta có cơ sở để tin rằng văn học - nghệ thuật ngôn từ bao giờ cũng bộc lộ khuynh hướng tư tưởng sâu sắc hơn và phản ánh hiện thực toàn diện hơn. Không phải ngẫu nhiên mà dân ca Nga được N.V. Gogon cho là lịch sử tâm hồn Nga, Epnêghi Ônêghin được V. Bielinski nhận xét là bộ bách khoa toàn thư của Nga… Cũng có người đi tìm nguyên nhân sâu xa hơn: tiểu thuyết đương đại không nhằm tái hiện lại cuộc sống một cách rộng lớn như các nhà tiểu thuyết trước đây vẫn thường làm mà chuyển trọng tâm sang phía khác. Đó là tính vấn đề trong tiểu thuyết. Điều đáng nói là “sự khiêm tốn về dung lượng không hề ảnh hưởng đến chiều sâu của các vấn đề được đặt ra trong tác phẩm”[1].

Cũng cần nói thêm, không phải tiểu thuyết nào ngắn cũng có kết cấu theo lối mới, không phải tiểu thuyết nào dài cũng có kết cấu theo lối cũ. Nhiều tiểu thuyết ngắn về dung lượng nhưng vẫn tuân thủ mô hình truyện truyền thống. Có thể kể đến các tác phẩm: Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Tường thành (Võ Thị Xuân Hà), Ngụ cư (Thùy Dương), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh), Bóng của cây sồi (Đỗ Bích Thúy)… Ngược lại, tuy dài về dung lượng nhưng Cơ hội của Chúa và các tiểu thuyết lịch sử nói trên có kết cấu lạ và độc đáo. Rõ ràng, độ dài ngắn của tiểu thuyết “chưa nói được gì đáng kể nếu như chúng không được bảo hiểm bằng những giá trị thuộc tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm”[2] nhưng đó là dấu hiệu đầu tiên của sự thay đổi kết cấu mà người đọc dễ nhận nhất. Dĩ nhiên, sự thay đổi dung lượng phải gắn liền với thay đổi trong tổ chức nhân vật, cốt truyện và ngôn ngữ…

Tiểu thuyết truyền thống coi trọng tính truyện nên sự kiện, cốt truyện và nhân vật đóng vai trò then chốt trong tổ chức tác phẩm. Đó là những tâm điểm để từ đó nhà văn xây dựng các mối quan hệ, sắp xếp các yếu tố làm sao để hiện thực được toát lên một cách sâu sắc nhất, đầy đủ nhất. Ngược lại, tiểu thuyết đương đại do quan tâm đặc biệt đến thế giới bên trong phong phú, phức tạp đầy bí ẩn của tâm hồn con người nên có xu hướng nới lỏng cốt truyện, vai trò của cốt truyện bị giảm thiểu, thậm chí biến mất khiến độc giả hụt hẫng vì không lần tìm được đầu mối câu chuyện. Cốt truyện có khi vẫn tồn tại nhưng bị đảo lộn một cách không có trật tự, cốt truyện có khi chỉ là sự chắp nối những mảnh rời rạc lại với nhau. Bạn đọc khó có thể nhận ra logic bên trong thống nhất của tác phẩm. Sự thống nhất giữa từng phân đoạn với tổng thể và giữa các phân đoạn với nhau bị phá vỡ. Tiểu thuyết trở thành bức tranh của những miếng ghép nhiều màu phản ánh hiện thực phi lý, phi trật tự, hỗn độn, bất tuân theo logic thông thường. Độc giả vì vậy cảm thấy như bị đánh đố giữa mê cung của các con chữ. Họ không thể đọc và lý giải tác phẩm như trước nữa mà phải giải mã, khám phá khả năng biểu hiện vô hạn của ngôn từ. Đối với tiểu thuyết hiện nay, viết cái gì không quan trọng bằng viết như thế nào. Nói như J. Ricardou, nếu tiểu thuyết truyền thống mang tính chất “chuyện của phiêu lưu” thì tiểu thuyết hiện đại mang tính chất “phiêu lưu của chuyện”. Nhà văn bị tước mất quyền lực tối cao và chức năng ban phát những lời răn dạy, sấm truyền. Nhà văn không còn là người thư ký trung thành của thời đại mà là người đưa ra những giả thuyết, nghi vấn hay khả năng… Tiểu thuyết trở thành bản hợp âm nhiều bè, nhiều giọng mà ở đó độc giả và nhà văn có thể cùng tham gia đối thoại với tinh thần dân chủ, cởi mở. Tiểu thuyết đương đại đang bứt tung mọi sự ràng buộc để thực hiện tham vọng phát huy đến tận cùng khả năng vô hạn của chính mình. Kết cấu của tiểu thuyết ngày càng linh hoạt hơn, co giãn hơn với những sáng tạo bất ngờ. Nó đánh mất tính nguyên khối, nguyên phiến và trở nên lỏng lẻo, thiên biến vạn hóa chưa từng thấy. Có lẽ, văn học thời đại nào cũng thực hiện chức năng tải đạo nhưng khái niệm “đạo” với tiểu thuyết đương đại được hiểu không giống như trước nữa vì giờ đây tiểu thuyết phiêu lưu cùng tiếng gọi của trò chơi. Các nhà tiểu thuyết nhìn cuộc sống như một trò chơi, đồng thời cũng biến sáng tác nghệ thuật thành “trò chơi của các hình thức”, không phục vụ cho mục đích thực dụng. Quan niệm này cho phép họ tự do hoàn toàn trong thể nghiệm, sáng tạo, cho dù có những thể nghiệm không được bạn đọc chấp nhận, thậm chí dị ứng. ở tiểu thuyết đương đại, ký ức được xem như một thành tố quan trọng để tổ chức tác phẩm. Ký ức tạo ra không gian tâm lý, thời gian tâm lý và kết cấu theo kiểu “dòng ý thức” hay lắp ghép, rời rạc, gây cho người đọc cảm giác hoang mang, không điểm tựa. Ký ức cũng tạo ra chất kết dính bền chặt giữa các thành tố bộ phận với nhau, giữa bộ phận và chỉnh thể. Có thể dễ dàng nhận thấy điều này qua các tác phẩm: Thiên sứ, Nỗi buồn chiến tranh, Trí nhớ suy tàn, Vào cõi, Thoạt kỳ thủy, Chinatown, Lạc rừng, Và khi tro bụi, Người sông Mê… Khi vai trò của cốt truyện bị tiết chế, phân tán rời rã ở bề mặt thì vai trò của nhân vật, sự kiện cũng bị giảm thiểu theo. Sự kiện trọng đại, gay cấn dường như không còn tồn tại. Sự kiện chỉ là cái cớ để nhân vật suy tưởng, bộc lộ cảm xúc. Nhân vật cũng không còn được khắc họa theo kiểu “kể tiểu sử” hay thiết kế một cách công phu với đáp án có sẵn về số phận, tính cách. Nhân vật của tiểu thuyết Việt Nam đương đại không đến mức bị rút giảm tới mức cực đoan thành “không nhân vật” như các nhà tiểu thuyết Mới nhưng không còn là những mô hình có sẵn. Nhân vật của tiểu thuyết hiện nay “nghĩ” nhiều hơn hành động (Trí nhớ suy tàn, Người sông Mê, Và khi tro bụi, Chinatown…), nếu có hành động thì chủ yếu là hành động bằng ngôn ngữ và các động tác (Pari 11 tháng 8). Xuất hiện trong vùng hiện thực tâm linh với những giấc mơ, dòng suy cảm, miền vô thức, nhân vật có khi bị xóa mờ các đường viền tiểu sử, nhân dạng, trở thành những ký hiệu, ý niệm, tượng trưng tham gia vào trò chơi tiểu thuyết: Chàng Cá Bơn, Dã Nhân (Giàn thiêu), linh hồn của Hoa, Hương, Khánh (Người sông Mê), B, N, M, V, Y, N1, N2 (Vân Vy), T (T mất tích), Hắn (Vào cõi, Chinatown)…

Ngôn ngữ tiểu thuyết cũng vì thế được phát huy hết sức mạnh để thực hiện khát vọng thoát khỏi con đường quen thuộc truyền thống. Thừa hưởng thành tựu triết học hiện tượng học của E. Husserl, sau nữa là học trò của ông - M. Heidegger (thế kỷ XX), triết học ngôn ngữ và ngôn ngữ học hiện đại của F. Saussure cùng sự tiếp thu ảnh hưởng của tư duy văn học hiện đại, hậu hiện đại, vai trò và khả năng tiềm tàng của ngôn ngữ cũng được các nhà tiểu thuyết Việt Nam quan tâm khai thác triệt để. Sự “lạ hóa” xuất hiện ngày càng nhiều với vốn ngôn ngữ mới được sáng tạo, bổ sung, sự đa dạng hóa cấu trúc câu văn và sự phá vỡ mô hình cú pháp truyền thống. Sự kết hợp nhiều loại hình ngôn ngữ và phong cách diễn ngôn tạo ra khả năng biểu đạt mới. Ngoài việc tăng cường tính đối thoại vốn có của ngôn ngữ tiểu thuyết mà M. Bakhtin đã nói đến, các nhà tiểu thuyết hiện đại còn tăng cường tính đa nghĩa, mơ hồ, khó xác định của ngôn ngữ đến mức khó hiểu, biến ngôn ngữ thành trò chơi, thành những ký hiệu, biểu tượng bí ẩn, chứa “đầy niềm kính sợ”[4].

Cũng cần nói thêm, bên cạnh những đóng góp lí thú rất cần được động viên khích lệ, “Trên thực tế đã có không ít tác phẩm “gây sốc” với “tầm đón đợi truyền thống” của người đọc. Do cái mới không dễ được chấp nhận, do một số thể nghiệm còn rơi vào cực đoan, người đọc như lạc vào mê cung của các con chữ”[7]. Đây là lẽ hiển nhiên vì bạn đọc phải nhận thức tức khắc khi chưa có độ lùi thời gian để lắng lại. Các tiểu thuyết trên là khúc xạ của chính chúng ta, đang đồng hành cùng chúng ta trong khi ngay bản thân chúng ta còn chưa biết đích đến thực sự của chính mình, chúng ta vẫn đang đi tìm mình. Chúng ta chưa dám chắc giá trị mới mà chúng ta cần để thay thế giá trị cũ là gì. Vì thế, cảm giác dang dở và khó khăn là điều không tránh khỏi. Có người than vãn rằng tác giả của những tiểu thuyết này đang “phá bĩnh văn chương”, người khác cho họ không đủ tài năng nên cứ “vẽ bừa” cho qua chuyện, người bức xúc vì bị đánh đố, nghiền ngẫm mãi vẫn không hiểu được ý đồ của tác giả, người không đủ kiên nhẫn đi từ đầu đến cuối quyển sách. Trong số đó, có người nghiên cứu bằng con mắt chuyên nghiệp, có cả bạn đọc tìm đến những tác phẩm loại này chỉ để thỏa mãn trí tò mò về cơn sốt thời thượng. Xét một cách công bằng, trong số các tác phẩm trên, chưa có tác phẩm nào có thể được xem là đỉnh cao trội bật, đáng được xem là tác phẩm để đời. Cũng phải khẳng định không phải cái “lạ” nào cũng là nỗ lực cách tân. Khác người, khác truyền thống chưa hẳn là đổi mới. Khát vọng đổi mới có nhưng một số thử nghiệm chưa đạt đến độ nhuần nhuyễn giữa tư tưởng ý nghĩa của tác phẩm với kỹ thuật tự sự được xem là mới, thử nghiệm chưa đủ lực để tới nơi. Một số tác phẩm được vội vã “lăng xê” quá đà nhưng ngay sau đó bị dư luận đem ra nhìn nhận lại như Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái. Điển hình hơn là trường hợp một số tiểu thuyết đoạt giải trong các cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn gần đây: Cán cờ tre của Trịnh Đình Khôi đoạt giải cuộc thi tiểu thuyết 2002 - 2004 được tác giả Nguyễn Hòa xem là sản phẩm “của một cây bút chưa bộc lộ khả năng nắm bắt các yêu cầu tối giản về thể loại”[3]. Chuyện của thiên tài của Nguyễn Thế Hoàng Linh giải thưởng cho thể loại tiểu thuyết 2004 - 2005 của Hội Nhà văn Hà Nội bị không ít dư luận cho là ánh hào quang “giả” được một số cây bút “đàn anh” nâng đỡ v.v... Vì những lí do đó, các nhà phê bình đặt vấn đề cần xem lại sự công tâm và cả trình độ của Ban giám khảo. Điều này cho thấy đổi mới là nhu cầu tất yếu của văn học nhưng đổi mới cũng là con dao hai lưỡi, nếu điều khiển không “cao tay”, nó sẽ gây tác dụng ngược.

Bạn đọc vì thế cũng cần có thái độ tiếp nhận nghiêm khắc và thận trọng, không loại trừ xu hướng lai căng, vọng ngoại, phản ứng lại truyền thống đang có nguy cơ xâm thực văn học nước nhà./.

 

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Đăng Điệp (2007), “Nghệ thuật tổ chức cấu trúc tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI”, Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Đề tài cấp Viện, Bích Thu chủ biên, Viện Văn học, Hà Nội.

[2] Văn Giá (18/11/2004), Thử nhận diện loại tiểu thuyết ngắn ở Việt Nam những năm gần đây, Evăn.com.vn.

[3] Nguyễn Hòa (29/09/2005), Tiểu thuyết: Khoảng cách giữa khát vọng và khả năng thực tế, Vietnamnet. com. Vn.

[4] Kristjana Gunnars (7/7/2004), On writing short books (về những tiểu thuyết ngắn), Tạp chí World literature Today, số tháng 5, tháng 8/ 2004 (Hải Ngọc dịch), Evăn.com.vn.

[5] Nhiều tác giả (2006), Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[6] Trần Đình Sử (chủ biên) (1987), Lí luận văn học, Tập 2, NXB  Giáo dục.

[7] Bích Thu (2007), “Bước đầu nhận diện tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI”, Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, sách đã dẫn.

 
Tư duy văn hóa từ tiền đề ngôn ngữ (Qua nguyên lí tín hiệu học của F.de Saussure)

Theo quan điểm của F. de Saussure, cũng như nhiều nhà khoa học xã hội khác thì ngôn ngữ và văn hóa đều là những thiết chế trừu tượng, chúng dần dần được hình thành cùng với sự phát triển của con người xã hội. Và đặc biệt, khi đề cập đến tiến trình này, không phải ngẫu nhiên mà F. Engels rất coi trọng tiền đề ngôn ngữ ngay trong chức năng kích thích của nó đối với quá trình hình thành phẩm chất con người xã hội: Con người vượt lên bản chất động vật của mình để trở thành con người xã hội, theo Engels, trước hết là nhờ lao động và sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ [Dẫn theo Nguyễn Lai 2012:19] (Tiếc rằng, hình như vế nhấn mạnh cuối cùng đồng thời với lao động là ngôn ngữ, liên quan đến quá trình làm hình thành khả năng nhận thức - vốn là tiền đề sản sinh phẩm chất văn hóa đầu tiên đối với chính bản thể con người - chưa được chú ý khai thác đúng mức, ngay cả đối với một số nhà ngôn ngữ xã hội học nghiên cứu về văn hóa).

Như vậy, theo cách nhấn mạnh của Engels, rõ ràng ngôn ngữ không chỉ là phương tiện để giao tiếp và giao lưu văn hóa, mà thực ra, còn hơn thế - từ trong chiều sâu tiến trình lịch sử - nó còn là tiền đề tạo ra con người xã hội như một sản phẩm văn hóa (cultural product) để từ xuất phát điểm này, con người tạo tiếp những tiền đề chủ quan và khách quan, làm hình thành cho mình nhiều dạng sản phẩm văn hóa tinh tế khác trong quá trình phát triển. Từ đó, nhìn rộng ra, phải chăng ta có thể hiểu: Nếu không có loại ngôn ngữ đầu tiên tạo sức sản sinh tư duy nhận thức nơi con người thì không thể có con người xã hội gắn liền với khả năng hoạt động định hướng, làm hình thành những phẩm chất nghệ sĩ, để từ cơ sở ấy, dần dần con người tạo ra nhiều loại hình ngôn ngữ nghệ thuật dưới dạng không còn là ngôn ngữ ban đầu như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc… nằm trong đối tượng văn hóa.

Như vậy, rõ ràng, một số loại hình ngôn ngữ nghệ thuật thuộc phạm trù văn hóa, tuy cũng bắt đầu từ nền chung của loại ngôn ngữ sơ khởi vốn gắn với chức năng giao tiếp, nhưng những loại hình ngôn ngữ văn hóa này xuất hiện sau, và chúng không thể đồng nhất với loại ngôn ngữ đầu tiên. Đấy là một trong những chỗ phức tạp khó thấy nhất, liên quan đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa mà từ góc độ liên ngành, ta không thể không quan tâm. Theo chúng tôi, không phải tình cờ mà ngay từ chương mở đầu Giáo trình ngôn ngữ học đại cương nổi tiếng của mình, Saussure đã đặt vấn đề về chỗ phức tạp này như sau: “Ngôn ngữ học có liên quan chặt chẽ với các ngành khoa học khác không phải bao giờ cũng hiện ra rõ nét” [Saussure 1973: 27]. Và không dừng lại ở đó, đặc biệt khi nhìn nhận thiết chế chung giữa ngôn ngữ và văn hóa bằng con mắt tín hiệu học từ chiều sâu nhận thức triết học của mình, Saussure đã xác định vấn đề với tầm khái quát và triệt để hơn như sau: “Nếu muốn phát hiện bản chất sự thật của ngôn ngữ, trước hết phải xem nó ở những mặt cùng có chung với tất cả những hệ thống khác cùng loại. Làm như vậy, không chỉ soi sáng cho ngôn ngữ mà chẳng hạn - khi coi những nghi lễ, những phong tục… thuộc phạm vi văn hóa như những tín hiệu - thì những sự kiện này sẽ hiện ra dưới ánh sáng mới, và người ta thấy cần phải tập hợp chúng lại trong tín hiệu học và giải thích nó bằng quy luật của khoa học này” [Saussure 1973: 41]. (Chúng tôi nhấn mạnh: Cần phải tập hợp chúng lại trong tín hiệu học và giải thích nó bằng quy luật của khoa học này!).

Bước đầu vận dụng nguyên lí tiếp cận trên, cơ chế chung nhất của ngôn ngữ và văn hóa có thể được ghi nhận như sau:

(1). Nhìn chung, có thể nói, văn hóa là một thiết chế xã hội, ngôn ngữ cũng là một thiết chế xã hội. Giá trị nhận thức có được về chúng bao giờ cũng được quy định bởi tính ước lệ, vốn tạo ra bởi một cộng đồng xã hội xác định, gắn với một trạng thái không gian và thời gian xác định.

(2). Và sản phẩm tinh thần mang theo giá trị tinh thần gắn với nhận thức trên là trừu tượng; nhưng mặt trừu tượng này bao giờ cũng phải được biểu hiện thông qua một dấu hiệu vật thể để người ta có thể cảm nhận theo một giá trị quy ước (conventional value) nào đó mang tính cộng đồng. Chẳng hạn, một kí hiệu ngôn ngữ, một đường nét kiến trúc, một di vật khảo cổ, một điệu múa dân gian, một cung cách chào hỏi, một tập tục cúng lễ, thậm chí một danh nhân văn hoá…

(3). Tuy không giống nhau, nhưng giá trị tinh thần của những sản phẩm văn hoá khác nhau này đều cùng bị quy định bởi nguyên tắc ước lệ thông qua yếu tố tâm lí xã hội của phạm vi cộng đồng mà từ đó chúng xuất hiện.

(4). Nếu loại bỏ những yếu tố ấy thì tự thân chúng không còn là tài sản văn hóa nữa. Lúc này chúng trở thành những cái xác không hồn, và giá trị của chúng lui về giá trị tự thân, hoàn toàn vật thể, thoát khỏi thiết chế hệ thống văn hóa.

Như vậy, nhìn chung về mặt nguyên tắc, hoạt động ngôn ngữ cũng như hoạt động văn hóa là một loại hoạt động tinh thần mang ý nghĩa tâm lí xã hội của cộng đồng; cả hai - dù xuất hiện dưới dạng sản phẩm cụ thể nào - đều được xác lập dựa trên cơ chế quy ước (conventional mechanism) từ nguyên tắc vừa đối lập vừa thống nhất trong tính chỉnh thể giữa yếu tố vật thể và yếu tố tinh thần của nguyên lí tín hiệu học.

Theo chúng tôi, mặt đồng nhất rất cơ bản của hiện tượng ngôn ngữ và hiện tượng văn hóa được đặt vào quỹ đạo của tín hiệu học để khảo sát theo tinh thần của Saussure như trên là cần thiết và xác đáng về mặt nguyên tắc khoa học. Vì theo hướng khảo sát này, tiền đề tâm lí xã hội gắn với phẩm chất nhân văn - vốn là cốt lõi của cơ chế hình thành văn hóa - chẳng những không bị coi nhẹ mà trái lại còn được đề cao. Đề cao trong việc dựa vào đó và lấy nó làm cơ sở phân giải để từ đó tìm ra mẫu số chung vừa bao quát vừa triệt để đối với cơ chế của sự hình thành ngôn ngữ và văn hóa theo tinh thần nguyên lí của chính Saussure. “Tất cả các giá trị ước định đếu không trùng làm một với yếu tố có thể cảm giác được” [Saussure 1973: 250].

Rõ ràng, đây là một trong những chỗ phức tạp khó thấy nhất nằm trong xuất phát điểm của nguyên tắc khoa học mang tính liên ngành. Khi nói đến cơ chế liên thông sâu kín nhất về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa về mặt cấu trúc, do vậy, những người nghiên cứu liên ngành theo hướng cập nhật nhất không thể không bắt đầu từ tầm nhìn trên.

Tuy nhiên, khi mở rộng mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa theo cách nhấn mạnh của Engels từ chiều sâu – như trên đã có dịp đề cập – thì ngôn ngữ không chỉ là tiền đề tạo ra văn hóa, mà hơn thế, nó còn đem lại hoạt động và sức sống cho tư duy, cho cảm thụ, đem lại phẩm chất nghệ sĩ cho con người để từ đó con người có thể tạo ra văn hóa. Chắc chắn cũng không phải hoàn toàn ngẫu nhiên mà khi đề cập đến hiện tượng trên, nhiều nhà lí luận văn học có quan tâm đến ngôn ngữ học đã nhấn mạnh: “Nếu không có ngôn ngữ đầu tiên vốn làm chỗ dựa giúp cho con người hoạt động có định hướng trong xã hội thì những loại hình ngôn ngữ nghệ thuật thuộc màu sắc, âm thanh, đường nét... không thể trở thành hiện thực” [Khrapchenco 1985: 281].

Theo chúng tôi, nếu nhìn rộng ra thì phải chăng đó cũng chính là nguyên nhân sâu xa giúp ta suy nghĩ để giải thích ngược lại, vì sao thông qua ngôn ngữ con người có thể giải mã được tất cả các loại hình nghệ thuật nằm trong phạm trù văn hóa. Và không phải từ một lí do nào khác, mà chính từ cơ sở của tiềm năng trên, ngôn ngữ trở thành một chất liệu tinh tế, có khả năng tạo thành những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ phản ánh một cách tổng hợp và toàn diện nhiều sắc màu văn hóa cùng với tiến trình miêu tả quá trình phát triển bộ mặt của cộng đồng xã hội như chúng ta thường thấy trong tác phẩm văn chương. Chính từ cấp độ tinh tế của sự sản sinh văn hóa này, ta có thể nói cụ thể hơn như sau: Ngôn ngữ vừa tạo ra phẩm chất văn hóa nơi con người đồng thời nó cũng chính là phương tiện có thể dùng để thể hiện những phẩm chất và sắc thái văn hoá tinh tế ấy cùng với sự phát huy tiềm năng nghệ sỹ của chính con người. Với chức năng này, rõ ràng ngôn ngữ càng tỏ rõ ưu thế tuyệt đối của mình về nhiều phương diện trong tiến trình phát triển văn hóa của cộng đồng, đặc biệt dễ thấy nhất là trong sáng tạo văn chương - một nguồn mạch quan trọng của quá trình phát huy phẩm chất nghệ sĩ tối ưu của con người trong đời sống văn hóa thông qua mạng lưới tinh tế của nhiều cấp độ liên thông. Về phương diện này, chúng ta có thể có rất nhiều minh chứng hết sức sinh động từ đời sống thực tiễn.

Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du là một ví dụ dễ thấy nhất. Như chúng ta biết, không có bức họa đích thực nào đính theo Truyện Kiều. Nhưng ở đây qua các chấm phá bằng ngôn từ, ta có những bức tranh đầy đủ cảnh sắc của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông: Cỏ non xanh rợn chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa…/ Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Ngoài tường lửa lựu lập lòe đơm bông…/ Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng… Cũng không có bức phù điêu hay pho tượng nào ở đây. Nhưng qua những từ “lẻn”, “mặt sắt đen sì”, “nhờn nhợt màu da”, “cao lớn đẫy đà”… ta có được rất nhiều nét tạo hình, tạo dáng, mỗi người một vẻ, trong những tình huống khác nhau, tưởng như ta có thể sờ mó được nhân vật cụ thể. Ta không nghe được tiếng đàn của Kiều trên trang giấy, nhưng không vì thế mà hiệu lực của tiếng đàn kia không đến đích thực với tâm trạng ta bằng những sắc thái tế nhị nhất. Cùng trong một tiếng tơ đồng/Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm v.v...

Nhưng thực ra, đối tượng tinh thần có liên quan đến đời sống văn hóa thông qua ngôn từ mà Truyện Kiều bao quát đâu chỉ dừng lại ở đó. Tại đây, hiện ra trước mắt chúng ta còn là cả một hệ thống thiết chế xã hội về mặt tập tục, luân thường đạo lí, về mặt quan niệm nhân sinh. Ta có tiết thanh minh với nấm mồ không hương khói làm xúc động lòng người. Cạnh đấy, nổi bật trong cảm nhận chúng ta là cả một đời tài sắc tự nguyện chịu tan nát đến não lòng vì phụng thờ chữ hiếu. Và bao trùm lên tất cả là một loạt những thuyết lí gắn với quan niệm về cuộc sống theo số phận tiền định cho hay muôn sự tại trời…

Như vậy, trong mối quan hệ với văn hóa, ngôn ngữ ở đây, khi đã hoá thân vào nghệ thuật, nó vượt khỏi chức năng sơ đẳng ban đầu để dựng lên một bức tranh tổng hợp vô cùng sinh động về bộ mặt tinh thần của xã hội. Nếu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ không mang theo trong nó những mạch ngầm có liên quan đến bộ mặt văn hóa tinh thần trên nhiều quy mô và từ nhiều cấp độ liên thông như chúng ta thử phát hiện thì chắc chắn nó không còn là một tác phẩm nghệ thuật.

Không phải ngẫu nhiên mà trong nghiên cứu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ ở mức độ tinh tế, ngôn ngữ ở đây được xác định trước hết như là một loại mã tâm lí xã hội đặc biệt, nó là một bảo vật “vừa cổ vừa kim”, nó gắn chặt với truyền thống văn hóa văn minh và đặc trưng dân tộc, nó có vai trò gợi dẫn cảm nghĩ trên cơ sở không tách rời khỏi tiền đề thẩm mĩ của cộng đồng. Nhiều nhà lí luận cho rằng chính kho tàng hình tượng ngôn ngữ có sự cộng đồng lớn hơn so với các đặc điểm khác (như tâm lí và tính cách nhân vật) đối với những nền văn hóa khác nhau nhưng có tính chất chung. Và cũng không phải ngẫu nhiên mà khi đi vào thi pháp, người ta mở ra nhiều bình diện để khảo sát những chức năng khác nhau của ngôn ngữ, và chính ở chỗ ngôn ngữ hóa thân và chịu sự quay vòng nhiều nhất này, ranh giới sáng tạo của nhà văn được ghi nhận một cách có nhiều chứng minh nhất trong mối quan hệ với các mạch ngầm văn hóa của cộng đồng.

Không lạ gì nữa, chẳng hạn, khi ta đọc Truyện Kiều: Thanh minh trong tiết tháng ba/ Mà đây hương khói vắng tanh thế mà! Từ ngữ ở đây là gì? Phải chăng đó là một tín hiệu về phong tục tập quán. Và, cũng như vậy, khi ta đọc: Lấy câu vận mệnh nguôi dần nhớ thương… Quả đây là một nét hiện thực trong tâm trạng của Kiều. Nhưng, nghĩ cho cùng, tâm trạng này đâu tách khỏi tiền đề tâm lí xã hội gắn với quan niệm về “số phận” của cộng đồng xã hội Việt Nam vào những thời điểm nào đó.

Như vậy, dù cho có thông thạo ngôn ngữ đến đâu, nếu người đọc không hiểu được tiền đề tâm lí gắn với nhận thức của xã hội về số phận thì làm sao có thể hiểu được hoàn cảnh để thâm nhập vào sự an ủi sâu kín nhất nơi nỗi lòng của Kiều… Nói khác, nếu người đọc tác phẩm vì lẽ gì đó mà chưa bắt nhập được vào mặt bằng văn hóa chung được kết tinh thông qua những mạch ngầm ngôn ngữ theo hướng nói trên thì những rung động về mặt thẩm mỹ sẽ không có đủ độ sâu để thưởng thức những gì gọi là tính hiện thực vốn có đích thực nơi tác phẩm ấy để hoà nhập vào tâm thức của cộng đồng.

Cũng không phải hoàn toàn ngẫu nhiên mà khi luận giải vấn đề trên, nhiều người thường nhắc đến lời khuyên của đại thi hào Goethe: “Ai muốn hiểu nhà thơ thì cần phải đến đất nước nhà thơ”. Đất nước nhà thơ ở đây chắc chắn không chỉ đơn thuần là miền địa lí không gian. Mà đây là độ dài và chiều sâu lịch sử xã hội gắn với truyền thống văn hóa văn minh cùng với bao nhiêu những yếu tố khác vốn từ bao đời là chiếc nôi, là bầu sữa mẹ thứ hai của nhà thơ. Và tất cả những cái ấy, dù muốn dù không, qua bao đời, chúng ta kết tinh thành thơ, thành nhạc, thành hoạ cho ngôn ngữ trong sắc thái cộng đồng, và chính nó là cái cầu chung để nâng cao và mở rộng mạch ngầm văn hóa cho ngôn ngữ cộng đồng trong quy trình phát triển.

Từ cách nhìn hàm lượng văn hóa nằm trong ngôn ngữ văn học với những cấp độ trên, nhiều nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng, khi đi vào khẳng định và lí giải chân giá trị của những tác phẩm ngôn từ, họ không tách rời nó khỏi thế liên thông từ những tiền đề văn hóa bao quát. Người đang được thế giới ngưỡng mộ về phương diện này là Bakhtin. Tác giả chỉ rõ vấn đề như sau: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa. Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ nền văn hóa của thời đại trong đó nó tồn tại” [Bakhtin 1992: 362]. Và sau đó, tại một chỗ khác, ông còn tiếp tục cảnh báo cụ thể hơn: “Văn hóa như một dòng thác chảy mạnh ở chiều sâu thật sự có tác động đến nhà văn, nhưng đôi khi chính nhà nghiên cứu không hay biết. Lối tiếp cận như vậy không thể giúp ta đi sâu vào những tác phẩm lớn, và khi đã thoát li khỏi tính liên thông từ những mạch ngầm văn hóa như thế thì bản thân văn học hiện ra rất nhỏ bé, không có gì đáng để ý.” [Bakhtin 1992: 363]

Hiểu được những điều bao quát và sâu sắc vừa đặt ra của Bakhtin, chúng ta càng sáng tỏ thêm vì sao những tác giả văn học lớn hầu hết là những nhà văn hóa lớn, và từ đó cũng nói được, trước khi là một tác giả văn học lớn, dù ý thức hay không, chắc chắn họ là người am hiểu sâu sắc cuộc sống tinh thần về nhiều mặt, từ quá khứ đến hiện tại, nhờ sự chuyển tải văn hóa qua ngôn ngữ của cộng đồng mà họ đang gắn bó. Và đặc biệt trong quá trình tự mở rộng các trường tri giác trở thành “một khí quan nhạy bén của cộng đồng” mà họ là người phát ngôn ấy thì - từ trong chiều sâu tâm thức của mình - chắc chắn ở họ khó có sự phân biệt thật rạch ròi đâu là phạm vi hoạt động của ngôn ngữ và đâu là phạm vi hoạt động của văn hóa. Vì trong trường hợp này chúng vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau, chúng luôn luôn ngầm ẩn chuyển hóa liên thông với nhau trên nhiều quy mô và qua nhiều cấp độ trong không gian và cả trong thời gian.

Với cách nhìn bước đầu về mối quan hệ liên thông giữa ngôn ngữ và văn hóa, ta có thể ghi nhận được như sau:

1/ Nhìn chung, từ góc nhìn cấu trúc, có thể nói văn hóa là một thiết chế xã hội, ngôn ngữ cũng là thiết chế xã hội. Giá trị nhận thức có thể có được về chúng bao giờ cũng bị quy định bởi tính ước lệ gắn liền với yếu tố tâm lí xã hội, vốn được tạo ra bởi những cộng đồng xác định.

2/ Và sản phẩm văn hóa mang theo giá trị tinh thần gắn với nhận thức trên là trừu tượng; nhưng mặt trừu tượng này bao giờ cũng phải được biểu hiện thông qua một dấu hiệu vật thể để người ta có thể cảm nhận theo một ước lệ nào đó mang tính cộng đồng từ nguyên lí tín hiệu học.

3/ Trong khi ngôn ngữ hóa thân thành tác phẩm nghệ thuật ngôn từ để phản ánh một cách tổng hợp và sinh động bộ mặt tinh thần của cộng đồng xã hội thì chính ngôn ngữ đã vô tình xác lập những mạch ngầm văn hóa khác nhau trên nhiều cấp độ để tạo thành những dòng chảy xiết liên thông ngay trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ để lôi cuốn người đọc. Tại giao điểm tích hợp này, ngôn ngữ và văn hóa luôn luôn là một phạm trù biện chứng, liên thông đồng thời mãi mãi là một loại thực thể phức hợp sắc màu tương trưng cho tính hòa đồng và cộng hưởng./.

 

GS.TSKH Nguyễn Lai (Đại học Thái Bình Dương, Nha Trang)

 
Tản mạn về thơ

Thơ Việt đã có từ ngàn năm nay. Đến thời Lý, Trần thơ Việt đã rất hay. Ngàn năm thơ, ngàn năm tươi mới. Ngàn mùa xuân, tâm hồn người cất cánh bay. Xuân nay xin gửi đến bạn bè xa gần mấy suy nghĩ về thơ.

I. Vai trò và tác dụng của thơ

Có lúc thơ cần thiết như cơm ăn, nước uống, có lúc như là thứ để bù lại một phần thiếu thốn vật chất. Thơ gần gũi với người lao động, thơ theo bước chân người chiến sĩ, thơ ngâm ngợi, thơ xung trận, thơ là động lực, là sức mạnh của người lính: Ta lại viết bài thơ lên báng súng/ Con lớn lên đang viết tiếp thay cha/ Người đứng dậy viết thay người ngã xuống/ Người hôm nay viết tiếp người hôm qua (Hoàng Trung Thông).

Ngoài đồng nông phu làm thơ, trên sông Chủ tịch nước làm thơ. Thơ lúc cày cấy, thơ lúc bàn bạc đại sự và cả khi không làm việc gì cũng có thơ: Ngâm thơ ta vốn không ham/ Nhưng mà trong ngục biết làm chi đây/ Ngày dài ngâm ngợi cho khuây/ Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do (Hồ Chí Minh).

Như vậy thơ có tác dụng to lớn, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống con người, giáo dục con người, bảo vệ Tổ quốc, phát triển giống nòi, chấn hưng đất nước, làm cho cuộc sống đẹp hơn, chân hơn, thiện hơn, văn hóa hơn!

Tuy nhiên, nếu thiếu vật chất thì nhìn thấy ngay (nạn đói năm 1945, hơn hai triệu người chết, rùng mình mãi) nhưng thiếu thơ thì tác hại không thấy ngay, bởi khó “cân đong đo đếm”. Thiếu thơ, luân thường đạo lý bị ảnh hưởng, chuyển di tư tưởng, tâm hồn, dẫn đến con người vô cảm, man rợ.

Thực ra, thơ tiềm ẩn nhiều sức mạnh. Lý Thường Kiệt đọc “Nam quốc sơn hà” phấn khích tướng sĩ, lui được giặc, chiến thắng Như Nguyệt là chiến thắng của sức mạnh tinh thần dân tộc, của thơ! “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn thực chất là thơ văn xuôi có thể xem là tiếng kèn mở đầu chiến dịch, “Cáo Bình Ngô” của Nguyễn Trãi như là tráng ca là bản tổng kết chiến tranh, dân tộc ta toàn thắng.

Thơ mạnh nhất khi ở thời điểm Tổ quốc bị xâm lăng, đất nước, xã hội, cá nhân mỗi người có vấn đề đặc biệt quan trọng, đặc biệt nhạy cảm, đặc biệt bức xúc, đặc biệt hưng phấn, đặc biệt đau khổ, những vấn đề cực kỳ quan trọng của đời người như “sinh, ly, tử, biệt”, “sinh, lão, bệnh, tử”, những vinh quang của dân tộc… Tất cả được thơ chuyển tải có nghệ thuật. Lúc đó thơ thăng hoa, thơ sẽ hay!

II. Vậy thơ là gì?

Có lúc công chúng đến với thơ hăm hở, say mê một thời gian rồi chào tạm biệt. Có lúc người làm thơ theo đuổi sự nghiệp “nửa chừng” bỗng thấy bế tắc, dao động, cá biệt cũng có người bỏ cuộc, có người chuyển sang văn xuôi.

Nhưng thực chất thơ vẫn tồn tại. Ta vẫn hưởng lợi từ nó, nhưng ta chưa hiểu hết, còn mơ hồ về nó. Có rất nhiều định nghĩa về thơ. Mỗi định nghĩa là một góc nhìn của các nhà lý luận, phê bình và các tác giả thơ. Chưa có định nghĩa nào thật thỏa đáng, thuyết phục 100% công chúng: “Thơ là sự thể hiện đồng ý, đồng tình” (Tố Hữu); “Thơ là sự thể hiện tâm hồn con người và thời đại một cách cao đẹp” (Sóng Hồng); Thơ văn có nghìn chuyện/ Phải nói được bảy tấc lòng (Đỗ Phủ); “Văn là cơm nuôi sống con người. Thơ là cơm được ủ men, cất lên thành rượu, làm say đắm lòng người” (Hoàng Trung Thông). Như thế, thơ phải là tinh túy, chắt lọc. Thơ là cái nuôi sống con người nhưng đã chuyển hóa sang dạng khác nhờ cảm hứng nghệ sỹ (men) và khi thăng hoa thơ có thể làm nghiêng ngả tâm hồn công chúng, xiêu lòng công chúng. Hoàng Trung Thông vừa nói lên bản chất của thơ, nội dung thơ, điều kiện thành thơ (men), công nghệ làm thơ (ủ men và chưng cất)

III. Thơ hàm chứa điều gì?

* Thứ nhất, hơn bất cứ thể loại nào, thơ cần điều riêng biệt, riêng có, thơ cần sự độc đáo, cần bản sắc cá nhân, đọc thơ biết người. Nhà thơ không giấu được ai điều gì. Vì vậy, sáng tác thơ cần tránh chung chung, lặp lại, dẫm đạp ý tứ, đi lại vết mòn người khác. Thơ có lúc cần một sự cực đoan, vui tràn trề, buồn tận cùng, làm tận hiến – “Cháy hết mình cánh phượng nhẹ nhàng rơi”.

* Thứ hai, thơ cần nén chặt năng lượng cảm xúc, ý tưởng phải được tích tụ, chuẩn bị và bùng nổ như phản ứng hạt nhân. Đó là lý do bài thơ nào tác giả cũng chuẩn bị một câu kết có cánh! Trong bài “Hoa dong riềng”, Đồng Đức Bốn đã chắt lọc từng chút cảm xúc, nén lại, gợi dần từ chỗ bông hoa đỏ thập thò sau bụi tre gai, đến chỗ nó là màu sắc của tình yêu đợi chờ: Nhà ai có gái chưa chồng/ Mượn màu hoa để chờ mong người về, và rồi cuối cùng bùng nổ cảm hứng: Cánh hoa sắc một lưỡi dao/ Vì yêu tôi cứ cầm vào như không.

* Thứ ba, thơ phải hết sức bất ngờ, đột ngột, vươn bay, ý tưởng phải được cất cánh, câu thơ, ý thơ ra đời như chân trời xuất hiện bình minh, như máy bay cất cánh khỏi đường băng đi vào bầu trời rộng bao la. ở bài “Những đứa trẻ chơi trước cửa đền”, sau khi hoàn thành việc tổ chức tứ thơ, Thi Hoàng bung ra câu kết luận: “Chợt ngẫm thấy trẻ con là giỏi nhất/ Làm được buổi chiều rất giống ban mai”. Nhà thơ nói như thế, chứ không nói trông trẻ con chơi hồn nhiên, thấy mình trẻ lại, đó là cách nói của văn xuôi.

Hai người bạn uống rượu bên bờ biển. Khi tửu lượng như sóng dâng cao, đất trời chếnh choáng, người bình thường sẽ lăn ra chân sóng. Anh nhà thơ lại khác: Tôi ngồi rót biển vào chai (Trịnh Thanh Sơn). Thật bất ngờ, thật lạ lùng, trí tuệ và óc tưởng tượng bay vọt lên không còn giới hạn. Đúng là “thơ say”! Câu thơ thật hay! Thật ấn tượng!

* Thứ tư, xương sống của thơ là tưởng tượng, mơ mộng (ý Xuân Diệu). Tưởng tượng để tìm hình ảnh mới cho bài thơ, để thực hiện cấu tứ bài thơ. Tưởng tượng là xương sống của thơ. Làm thơ mà không tưởng tượng, không tìm được cái mới, chỉ kể tả, coi như viết văn xuôi!

Tưởng tượng nhiều khi tạo ra bất ngờ cho thơ. Lúc đó câu thơ đến ngoài dự kiến, nó như đâu đó từ trái tim, từ khối óc rơi ra, nó như “vị khách không mời” đến gõ cửa nhà ta, gặp khách thân ta mừng run lên vì quá đột ngột. Đó là những câu thơ trời cho! Hình như có “thần thánh trợ lực”: Đọc sách hiểu vạn cuốn/ Làm thơ như có thần giúp đỡ (Đỗ Phủ)

* Thứ năm, làm thơ phải có “cảm xúc khác thường, suy nghĩ khác thường, cách viết khác thường”. Người làm thơ đang chuyển dần từ “nhìn thấy” sang “cảm thấy”. “Nhìn thấy” gần với truyện và ký, “nhìn thấy” thì bài thơ nặng về kể và tả, ý thơ nông, ít rung, ít lan tỏa, khó lay động. Bởi lẽ, cái nhà thơ nói người đọc đã thấy. Khi nhà thơ “cảm thấy” thì mở ra một trường liên tưởng mới, kỳ lạ, cuộc sống vào thơ đã khoác chiếc áo khác, “nó” là “nó” mà không phải “nó”! Quen thuộc mà lạ lẫm! Gần gũi mà xa xăm: “Vạt áo em lơ đãng quệt ngang chiều” (Trương Nam Hương). Anh nhà thơ về chiều bỗng nhiên có “vạt áo” non tơ trẻ trung “lơ đãng” quệt vào (“lơ đãng” chứ không phải “vô tình”, “quệt” chứ không phải “vương” vào). Công chúng đọc thơ sẽ tha hồ tưởng tượng tiếp tục cái “cảm thấy” của nhà thơ!

Có thể dẫn ra thêm vài “câu thơ cảm thấy”: “Ve kêu từng chặp, kêu liên hồi/ Không gian sôi mãi tiếng ve sôi/ Bốn phía màu xanh như đặc lại/ Gấp bước quân đi nắng lóa trời” (Phạm Ngà); “Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm” (Huy Cận); “Con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu/ Lả lả cành hoang nắng trở chiều” (Xuân Diệu); “Vầng trăng ai xẻ làm đôi” (Nguyễn Du); “Trăng nằm sóng xoài trên cành liễu” (Hàn Mặc Tử); “Sông Đuống trôi đi một dòng lấp loáng/ Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ” (Hoàng Cầm); “Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu” (Hữu Thỉnh); “Trời thì xanh như rút ruột mà xanh/ Cây thì biếc như vặn mình mà biếc” (Thi Hoàng)

Cảm thấy có nghĩa là nhà thơ đã nhìn được cái không thấy, cái bị che khuất mà người khác không nhìn ra được. “Cảm” cũng là nhìn! Nhìn bằng con mắt thần! Cái “mưa xuân” nó thần diệu đến mức làm cho cây cột buồm khô nẩy mầm xòe lá. Chưa ai viết được thế!

Anh lính giữa rừng Trường Sơn “nghe tiếng ve kêu”, cây súng trên tay “day dứt” như thôi thúc, anh cảm thấy “màu xanh như đặc lại”, màu lá cũng “đặc” là cảm giác chứ không phải là suy nghĩ, không phải “nhìn”. Chỉ có nhà thơ mới nói “trời rút ruột”, sông “nằm nghiêng”, “gió xiêu xiêu”, “trăng xẻ đôi”, “trăng nằm sóng xoãi”,  đám mây “vắt nửa mình sang thu”…

Tôi đồng ý với nhà thơ Nguyễn Khôi khi cho rằng mặt bề ngoài của thơ (mặt sáng) ta thấy được, đó là phong cách của nhà thơ, ý và tình được diễn tả bằng cú pháp, luật thơ, cách gieo vần, còn những cảm thụ mà thơ mang đến cho chúng ta (cái ẩn dụ “thi tại ngôn ngoại”, đó là tiếng thầm không thể trông thấy được). Lúc đó nhà thơ mới cần đến sự “cảm thấy” quan trọng nhường nào!

* Thứ sáu, cái đặc biệt làm nên hình thể của thơ là linh hồn của thơ, ý tưởng của thơ, là tình cảm, là tâm trạng nhà thơ, tâm trạng nhân vật trữ tình. Đó chính là cái duy nhất truyền cảm, rung động, tạo nên cơn địa chấn trong trái tim người tiếp nhận. Nhà thơ không chỉ  làm nhiệm vụ gieo ươm, nhà thơ phải hoàn  chỉnh bữa tiệc tâm hồn thết đãi công chúng. Vì vậy ý tưởng thơ phải rõ ràng, dù ý tưởng được giấu sau các biện pháp nghệ thuật, các loại “dụ”, nhưng nhà thơ phải khéo léo dẫn dắt ý thơ đến người đọc.

* Thứ bảy, nhà thơ phải là người luôn luôn đổi mới, đổi mới phong cách, đổi mới cách diễn đạt, đổi mới cách thâm nhập cuộc sống, phát hiện cái mới. Cái mới trong cuộc sống rất nhiều, nhưng cái mới không dễ nhìn thấy, như muối hòa tan trong biển cả. Nhà thơ là người phát hiện cái mới, cái đặc sắc mà người khác không thấy, bạn đọc không thấy. Họ chỉ “vỡ òa” ra, giật mình và kêu lên “à ra thế” sau khi đọc câu thơ: “Tại sao gần gũi thế, quen thuộc thế mà ta không nhận ra?” “Một cánh hồng nhung rơi xuống?/ Không, một con bướm đỏ bay lên!”. Phát hiện lớn nhất của “bài thơ hai câu” này là chiều đi xuống và chiều đi lên của sự việc và cuộc đời, sự khẳng định của bất tử, cô đọng và súc tích. Triết lý thông qua hình ảnh đầy ấn tượng. Đẹp và hay!

IV. Vậy thế nào là thơ hay?

Thơ hay là tác giả luôn “tặng” ta cái mới, cái kỳ lạ, độc đáo và bất ngờ. Lúc nào ta cũng phải tâm niệm rằng mình được ủy nhiệm đi tìm chân trời mới. Sức ta không làm được thì phải chịu chứ quyết không xa rời mục đích ấy! Phải tìm ra “cái chưa có” hoặc tìm ra “cái đã có” nhưng chưa ai đưa vào thơ: “Đừng buông giọt mắt xuống sông/ Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm” (Đồng Đức Bốn). “Hình ảnh của thơ vừa làm ta ngạc nhiên, vừa đã quen với chúng ta từ bao giờ” (Nguyễn Đình Thi).

Thơ hay là thơ chất chứa cảm xúc, tâm trạng của một người được nhiều người hô hấp, đồng điệu. Lúc ấy thơ hóa thành tài sản chung. Bài thơ hay là bài thơ mang nặng nỗi niềm của tác giả. Buồn đến tận cùng: “Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn” (Xuân Diệu); “Mõ thảm không khua mà cũng cốc/ Chuông buồn chẳng đánh cớ sao om” (Hồ Xuân Hương). Vui đến tột đỉnh: “Ngày vui ngắn chẳng tày gang” (Nguyễn Du). Cảm xúc vỡ òa không gian, câu thơ cứ bám lấy tâm trí độc giả, rồi nó thành kẻ “ngụ cư” suốt đời trong trái tim công chúng: “Tin về nửa đêm/ Hỏa tốc, hỏa tốc/ Ngựa bay lên dốc/ Đuốc chạy sáng rừng/ Chuông réo tin mừng/ Loa kêu từng cửa/ Làng bản đỏ đèn đỏ lửa (Tố Hữu). “Niềm vui chiến thắng chảy tràn bờ” (Ca Lê Hiến).

Thơ hay phải là thơ đầy ấn tượng, với những hình ảnh in đậm vào trái tim, khối óc bạn đọc. “Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô” (Lưu Trọng Lư); “Đêm nay rừng hoang sương muối/ Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới/ Đầu súng trăng treo” (Chính Hữu).

Thơ hay phải có “tứ” hay! “ý” và “tứ” hai mặt làm nên nội dung của thơ. Tư tưởng và tình cảm của nhà thơ được bộc lộ qua ý thơ và tứ thơ. Muốn soi chiếu nội dung thơ, tình thơ, thông điệp của tác giả, người đọc phải bắt đầu khám phá tứ thơ. Việc tác giả tìm kiếm tứ thơ rất khó khăn, như khai thác mỏ! Chế Lan Viên cho rằng muốn tìm được tứ thơ hay, nhà thơ phải lật nhiều tầng của cuộc sống như khai khoáng, thăm dò, thử nghiệm, khoan sâu, đến một lúc nào đó sẽ gặp được vàng, kim cương. Cũng có người cho rằng thơ không cần tứ! Các bạn trẻ hiện nay làm thơ hay từng câu, từng chữ, chữ và câu rất mới! Nhưng đọc xong bài thơ vẫn thấy tiếc là ít chú ý cài cắm được một tứ thơ thật hay! Có thể lấy bài thơ “Thuật hoài” của Đặng Dung làm thí dụ. Bài thơ hay vì nó hội đủ các đặc điểm của thơ; nó “gài” trong bài thơ một tứ thơ rất quen nhưng rất lạ: Tâm trạng của kẻ thất trận, tưởng bế tắc an phận, tiêu tan ý chí thế mà vẫn nuôi mộng phục hồi non sông, đêm đêm vẫn lặng lẽ mài gươm. Bài thơ ấn tượng đến mức một họa sĩ đã lấy cảm hứng từ  nó vẽ nên bức tranh “Mài kiếm dưới trăng”, hiện treo ở Dinh Độc Lập

Rõ ràng tứ thơ mới là quan trọng, kỹ xảo ngôn từ cần thiết nhưng chỉ là “thời thượng” mà thôi! Cảm xúc thơ - tình thơ - ấn tượng thơ – tứ thơ – cái mới của thơ hợp lại trong bài thơ làm ta day dứt, suy ngẫm, bồi hồi xúc động. Ta bỗng nhiên hưng phấn muốn làm một điều gì đó đẹp hơn, tốt hơn. Đó là thơ! Thực tế rất hiếm khi một bài thơ hội tụ đủ cả bốn yếu tố nói trên. Những bài thơ để đời là nững bài thơ tiến sát đến các tiêu chí đó. Nhiều khi viết được một bài thơ có tứ hay hoặc tạo dựng được một hình ảnh ấn tượng, chói sáng, một cảm xúc mạnh đã là thành công.

V. Lao động của nhà thơ

Làm thơ là một “công nghệ”, một “quy trình” cực kỳ khó khăn. Nhà thơ   At-ti-la-jô-fép nói về lao động nhà thơ: “Nhà thơ cầm cuốc hai lưỡi”. Lao động nhà thơ nặng nhọc gấp đôi người khác! Làm thơ là một công việc cực nhọc. Nhà thơ phải vắt kiệt sức lực và trí tuệ, dồn nén tiêu hao tinh thần, day dứt kéo dài. “Đời rụng từng giây trên từng trang giấy”, “Anh làm thơ như mẹ gieo trồng/ Lặn lội trên cánh đồng nước trắng/ Trang giấy nhỏ mảnh ruộng con vuông vắn/ Hạt giống trong tim gieo dần xuống đường cày…”. Nhiều người theo đuổi văn chương như “nghiệp chướng”. Đôi khi biết thất bại vẫn theo, theo mãi …

Làm thơ, một cuộc thi đua không cần đối thủ. Tự mình vượt mình. Tự mình nâng mình lên từng nấc thang nghệ thuật. Không có cuộc tranh chấp địa vị. Làm thơ là cuộc đi bộ bền bỉ. Sẽ có lúc đến, sẽ có lúc “trời cho”! Làm thơ cần đam mê (thực ra ai làm thơ cũng đã đam mê rồi!).

Có người nói: “làm văn chương không phải học”. Chẳng ai dạy được ai làm thơ! Tuy nhiên, tôi cho rằng vẫn có thể học làm thơ được. Học bạn, học đồng nghiệp là tốt nhất. Nghe bạn nói, nghĩ bạn làm!

Từ khi còn trên ghế nhà trường, tôi vẫn thích thú với ý kiến một học giả Trung Quốc: “Làm thơ, ý kỵ nông, mạch kỵ thông, tứ kỵ lộ” nghĩa là lập ý tránh nông cạn, mạch thơ dẫn dắt người đọc tránh thẳng tuột, tứ thơ được giấu kín để làm cho bạn đọc bất ngờ thích thú! Khó thay! Nhưng lúc nào cũng phải treo lời nói này trước mặt, trong tim óc!

Người làm thơ, nói như Nguyễn Vũ Tiềm, phải là “người khác thường”. Không phải là “lập dị” mà là “cảm xúc khác thường, suy nghĩ khác thường, cách viết khác thường”.

Sau khi Nguyễn Văn Trỗi hy sinh anh dũng, có biết bao người làm thơ ca ngợi anh, rất nhiều bài hay, nhưng tôi thích bài thơ của Cờlốt Pari,một người bạn thơ của Tế Hanh có câu thơ rất lạ và rất hay tặng Tế Hanh: Hai chúng ta cùng khiêng anh ấy/ Thân thể Nguyễn Văn Trỗi điểm sao. Rõ rang Cờlốt Pari “cảm, nghĩ” và “viết” khác thường”! Thơ hay là như vậy!

VI. Điều độc đáo và kỳ lạ của thơ Việt Nam

Việt Nam tự hào là một nước nhỏ nhưng có nền văn hóa tiến bộ, lâu đời và ngày càng phát triển, càng văn minh. Tổ chức UNESCO của Liên hợp quốc công nhận và vinh danh bốn người con của dân tộc Việt Nam là “Danh nhân Văn hóa thế giới”: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh.

Thơ của bốn vĩ nhân, từ thơ quốc âm cho đến thơ chữ Hán, chữ Nôm, sấm ký … tất cả đều hay! Tách riêng phần thơ ra, các cụ là nhà thơ đích thực, nhà thơ lớn! Nhưng nếu tách thơ ra khỏi sự nghiệp của các cụ, e rằng màu sắc Danh nhân thế giới có phần nhạt phai, bớt rực rỡ. Bởi vậy thơ là một phần quan trọng góp phần làm sáng chói thêm chân dung Danh nhân văn hóa thế giới.

- “Thấy nguyệt tròn thì kể tháng

Nhìn hoa nở mới hay xuân

(Nguyễn Trãi)

- “Xuân về hoa nở, mùi hương nức

Khách đến, chim rừng, dáng mặt quen

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

- “Làn thu thủy, nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liều hờn kém xanh

(Nguyễn Du)

- “Rằm xuân lồng rộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

(Hồ Chí Minh)

Bạn đọc hãy dùng trái tim của mình để chiêm ngắm và thưởng thức.

H.A.T

 
Sáng tác văn học trẻ, gắn với giữ gìn phát huy sắc thái văn hóa địa phương

Nhóm VN8+2 tổ chức Hội thảo “Sáng tác Văn học trẻ gắn với giữ gìn, phát huy sắc thái văn hóa địa phương” tại Ninh Bình. Các tham luận đề cập tới thực trạng thiếu vắng các cây bút trẻ gắn bó với văn học; Hội VHNT các địa phương luôn quan tâm, bồi dưỡng phát triển đội ngũ những người viết văn trẻ song hiệu quả thu được còn hạn chế. Tại Hội thảo, các đại biểu đã đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm xây dựng lớp tác giả kế cận sáng tác văn học thể hiện sắc thái địa phương.
Cửa Biển trích đăng các tham luận tại Hội thảo.

Nhà thơ Bình Nguyên
Chủ tịch Hội VHNT Ninh Bình


Hội thảo: Sáng tác văn học trẻ, gắn với giữ gìn phát huy sắc thái văn hóa địa phương của Nhóm Hợp tác và phát triển VHNT khu vực phía Bắc (VN8+2) được tổ chức trong thời điểm nền VHNT khu vực, đất nước đang có sự vận động, chuyển biến, đan xen nhiều khuynh hướng sáng tác. Đây là việc làm có ý nghĩa thiết thực và bổ ích. Là việc làm để chúng ta góp phần khẳng định vị thế của văn học nói chung và văn học trẻ nói riêng trong đời sống xã hội và góp phần làm giầu cho bản sắc văn hoá theo tinh thần Nghị quyết ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị (khoá X) về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới ”.
Chúng tôi luôn hiểu rằng, các tác phẩm trẻ ra đời bao giờ cũng chịu nhiều thử thách của thời gian và sự đánh giá bình phẩm của công chúng. Bồi dưỡng, chăm sóc sáng tác trẻ gắn với giữ gìn, phát huy sắc thái văn hoá là trách nhiệm của những người làm công tác VHNT chúng ta. Mỗi vùng đất, mỗi địa phương đều có sắc thái văn hóa riêng, những sắc thái văn hóa riêng ấy hòa quyện với nhau trong dòng chảy qua  thời gian, bồi đắp nên diện mạo văn hóa, tạo ra những cánh đồng, làng bản, quê hương văn học nghệ thuật. Đằm sâu trong sắc thái văn hóa mỗi vùng, miền là sự thể hiện, quan tâm, bồi dưỡng, chăm sóc tài năng văn học nghệ thuật của mỗi miền quê, vùng đất. Cái đằm sâu ấy chảy êm đềm bồi lắng lên những lấp lánh phù sa... Có thể nói truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc luôn luôn là điểm tựa cho đội ngũ văn nghệ sỹ trẻ sáng tạo. Qua
nhiều bước thăng trầm của cuộc sống nhân dân ta đã hình thành nên một nền VHNT trường tồn cùng dân tộc. Tất cả những điều đó đã kết tinh thành văn hoá và văn hoá ấy đã lan truyền, toả hương cho mỗi vùng đất, con người quê hương, xứ sở.
Cuộc Hội thảo “Sáng tác văn học trẻ, gắn với giữ gìn phát huy sắc thái văn hóa địa phương” của Nhóm VN8+2 lần này sẽ góp phần làm rõ hơn công tác tìm nguồn, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những tài năng văn học trẻ, trên cơ sở đó cần có chính sách thu hút, tạo sự hấp dẫn, tình yêu văn học cho các tác giả trẻ, tác giả có khả năng sáng tác tốt, khích lệ tạo điều kiện đưa tác phẩm ra ngoài biên giới mỗi địa phương, tạo sự hưng phấn cho các tác giả trẻ không ngừng sáng tạo./.

Nhà thơ Vũ Kim Liên
Phó TBT Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ - Phú Thọ

Phú Thọ luôn đề cao vai trò sáng tác của văn nghệ sĩ, trong đó có lực lượng sáng tác văn học trẻ, luôn có sự định hướng để sáng tác trẻ đi vào quỹ đạo, không mang màu sắc chủ quan mà đi vào thực tế đời sống, mang hơi thở đời sống vào sáng tác, gắn liền với việc đề cao truyền thống cách mạng, sắc thái văn hóa vùng miền, tập quán sinh hoạt của  người đất Tổ. Coi trọng vai trò định hướng, kết hợp với tổ chức các trại sáng tác, các chuyến đi thực tế hướng về cơ sở để phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ, qua đó động viên biểu dương những thành công mà lực lượng sáng tác nói chung, sáng tác văn học trẻ nói riêng đã gặt hái được, đồng thời động viên anh chị em viết trẻ  bằng tình yêu của mình và trách nhiệm công dân tiếp tục bám sát vào đời sống sinh động ở mỗi vùng đất, mỗi làng quê để viết và kể lại những câu chuyện về con người và miền đất ấy thông qua các tác phẩm văn học của mình. Đến hẹn lại lên 2 năm/lần Hội lại mở trại sáng tác văn học trẻ cho đội ngũ các giảng viên đại học, các em sinh viên, học sinh có năng khiếu đến từ các trường đại học, cao đẳng, các trường THPT chuyên và không chuyên trên địa bàn
...Những tác phẩm của đội ngũ này được các nhà văn, nhà thơ, những cây bút phê bình chuyên nghiệp phân tích một cách khách quan, chỉ ra cái được và chưa được trong phương pháp sáng tác, kỹ năng thể hiện  và ngay cả sự cảm thụ, duy trì, nuôi dưỡng cảm xúc  từ nhiều góc độ của cuộc sống để hình thành phong cách viết cho mỗi người.
... Trong hơn 300 hội viên của Phú Thọ, có tới 40% là các cây bút trẻ. Những gương mặt trẻ trung, năng động của Hội đang dần hình thành phong cách viết riêng của mỗi người, song không ai thoát ly khỏi thiên hướng sáng tác vùng miền, bản sắc dân tộc, những nét văn hóa độc đáo mà mình đang được hưởng thụ. Đó cũng chính là ý thức, là trách nhiệm của người cầm bút trẻ.
... Là người sáng tác từng trải qua giai đoạn viết trẻ, thiết nghĩ Nhóm VN 8+2 nên tổ chức những trại sáng tác VHNT, nhất là trại sáng tác VH cho đội ngũ những người viết trẻ hoặc những hội nghị viết văn trẻ trong Nhóm để họ có điều kiện gặp gỡ, giao lưu, học hỏi và cọ sát cùng sáng tác nên những tác phẩm mang đậm sắc thái văn hóa địa phương; song hành với đó là các sáng tác trẻ này cần được gửi trao đổi, in ấn, quảng bá trên các phương tiện truyền thông là các Tạp chí in và các trang Web của các Hội trong Nhóm nhằm mở rộng mối giao kết, quảng bá sản phẩm VH cũng như sắc thái văn hóa của 10 tỉnh, thành phố trên phương tiện truyền thông của mình, góp phần làm phong phú nội dung cũng như giá trị của báo chí văn nghệ địa phương./.

Nhà thơ Nguyễn Đình Minh
Hội Liên hiệp VHNT HP


Bằng niềm say mê văn học, khả năng và bản lĩnh sáng tạo của riêng mình, tác phẩm của CLB những người viết văn trẻ Hải Phòng nối tiếp mạch nguồn của lớp tác giả lớn tuổi giàu suy nghĩ , chứa chan cảm xúc, gồ ghề động sóng và mộng mơ; đồng thời mang đến vẻ mới lạ của hình thức hiện đại vang động tiết tấu cuộc sống vùng đất sóng và nhịp đời. Các cây bút văn trẻ Hải Phòng không có ai cách tân theo những trường phái mới gây tranh luận; sự cách tân ở các tác giả nhìn chung đều gắn với mạch nguồn và phát triển phù hợp với thời đại về cả nội dung và hình thức. Dường như các tác giả văn trẻ nơi đây có chung nhận thức: sự cách tân nào cũng đi đến cái đẹp, do vậy không ít nhà thơ hòa vào dòng thơ lục bát và tạo được một số thành công nhất định như Bùi Thu Hằng,  Phạm Văn Tuấn, Đào Mạnh Long.
Vẻ đẹp của văn trẻ Hải Phòng về hình thức chính là sự cách tân trong độ cho phép phù hợp với cảm nhận của số đông độc giả; Sự đa dạng về đề tài được khai thác từ tính chất đặc trưng của miền đất đầy sóng gió có nhiều biến động phong phú đặc biệt là chất trí tuệ có hàm lượng cao hơn, cảm xúc hơn trong các tác phẩm. Đọc thơ, văn của tác giả trẻ Hải Phòng dễ thấy sự già dặn trong triết lý, trong kiến giải những hiện tượng, quy luật cuộc sống chủ đạo nổi lên là nỗi âu lo, sự thương cảm cho số phận con người và con đường phía trước được thể hiện bằng nhiều cung bậc cảm xúc.
... Trong bối cảnh xã hội có quá nhiều sự đổi thay, sự cám dỗ đặc biệt là áp lực, chi phối trong một đô thị lớn, những người viết văn trẻ Hải Phòng vẫn kiên định con đường viết văn. Trước một nền tảng mĩ học  đang có những  thay đổi, trước xu thế cách tân mạnh mẽ… đã tạo nên những áp lực lớn không chỉ cho những người viết nơi đây. Dường như nhận định ra phong cách của 24 cây bút văn trẻ Hải Phòng bây giờ là quá sớm, nhưng nhìn vào sự chấp nhận dấn thân trong cô độc để cống hiến tài năng, phẩm tính; nhìn những thử thách cam go mà người viết trẻ  dám đương đầu, có thể hy vọng Hải Phòng có một thế hệ tiếp nối vững vàng trong tương lai./.

Nhà văn Nông Quang Khiêm
Biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Yên Bái


Lực lượng sáng tác văn học trẻ dân tộc thiểu số ở Yên Bái quá mỏng. Hiện nay, mới có 9 hội viên là người dân tộc thiểu số, gồm 6 người dân tộc Tày, 2 dân tộc Dao, 1 dân tộc Mường. Lực lượng tác giả mỏng, lại khó khăn trong việc phát hiện, bồi dưỡng nhân tố mới. Tác giả trẻ tham gia sáng tạo văn học đã hiếm, tác giả trẻ dân tộc thiểu số tham gia sáng tạo văn học lại càng hiếm. Phát hiện đã khó, nuôi dưỡng còn khó hơn, đấy là chưa nói đến thành công trong sáng tạo VHNT bao giờ cũng khắt khe…
Vì vậy tác giả văn học trẻ dân tộc thiểu số rất cần được quan tâm nuôi dưỡng, trân trọng, rất cần tâm huyết, trách nhiệm thực sự của những người trong cuộc. Cá nhân tôi nghĩ rằng, cần tạo điều kiện hơn nữa cho các tác giả văn học trẻ dân tộc thiểu số tham dự các trại sáng tác, các cuộc tọa đàm, trao đổi, tạo điều kiện giao lưu học tập cũng như động viên, khuyến khích họ sáng tạo.  
... Một vấn đề nữa là sáng tác văn học bằng tiếng dân tộc, chữ viết dân tộc. Vài năm trở lại đây, Hội Yên Bái có thêm ấn phẩm Văn nghệ Yên Bái vùng cao. Đó là “đất” rất quý dành cho các tác giả sáng tác bằng tiếng dân tộc, chữ viết dân tộc, song ngữ dân tộc, dễ dàng tiếp cận và phục vụ đồng bào dân tộc, miền núi, vùng cao, vùng sâu vùng xa của tỉnh. Tuy nhiên lực lượng sáng tác này hiện chỉ đếm được trên đầu ngón tay với sự có mặt của một vài dân tộc như: Tày, Mông, Dao, Thái, Mường; các tác giả tiêu biểu có thể kể đến như: Vũ Khả, Lò Văn Biến, Đặng Ngọc Thông, Hoàng Tương Lai, Nông Quang Khiêm… Thiết nghĩ chúng ta cần có cơ chế khuyến khích hơn nữa cho các tác giả, nhất là các tác giả văn học trẻ dân tộc thiểu số sáng tác bằng tiếng dân tộc, chữ viết dân tộc, không vì hướng tới hội nhập, không để cơn lốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa mà đánh mất gốc, đánh mất bản sắc dân tộc.../.



Ban Tổ chức Hội thảo trao cờ lưu niệm cho 10 hội VHNT trong khu vực
Ảnh: Ninh Đức Hậu

Nhà văn Trương Thị Thương Huyền
Phó Chủ tịch Hội VHNT Hải Dương


Trong khái niệm Sáng tác văn học trẻ này, chúng tôi chỉ muốn đề cập tới sáng tác của những người trẻ tuổi, không có khái niệm về những gì gọi là làm mới văn học, làm văn học trẻ hoá mà không cần phân biệt tuổi tác người viết đang bùng phát trong giai đoạn hiện tại, đặc biệt là chúng tôi tập trung vào quá trình bồi dưỡng để những người viết trẻ góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, sắc thái văn hóa vùng miền của địa phương mình. Đó thực chất là một điều vô cùng  khó.
Nguyên nhân của cái khó ấy tập trung vào mấy vấn đề:
- Lực lượng trẻ yêu thích và tham gia sáng tác hiện tại không có nhiều. Với Hải Dương hiện nay, số lượng các tác giả tính từ tuổi 45 trở lại chỉ đếm chưa hết hai bàn tay (Còn nếu tính theo tiêu chí do Hội Nhà văn Việt Nam đưa ra, trẻ từ 35 tuổi trở xuống thì Hội chúng tôi … Không có).
- Những người viết trẻ ấy đã ít nhưng lại càng không có tham vọng trở thành người sáng tác chuyên nghiệp. Họ đều là những người đang sống bằng nghề khác và việc viết lách đối với họ chỉ như một thú vui, một nghề tay trái. Sáng tác chỉ hứng như một thú tiêu khiển để tìm kiếm, mong muốn vơi bớt những gánh nặng, những áp lực của cuộc sống thực tại, đồng thời cũng có hy vọng biểu hiện sự bình đẳng của cá nhân mình với mọi người, với bạn đọc trên khắp thế giới khi cuộc sống số phát triển rầm rộ như hiện nay và từ đó thì các sáng tác của họ hầu hết thể hiện cái tôi của mỗi người. Tác phẩm viết ra chủ yếu xuất bản “mạng” qua FC.
... Để sáng tác văn học trẻ gắn với các di sản văn hóa, lịch sử của mỗi địa phương, có thể cho rằng trước hết, Hội Văn nghệ cũng như Tạp chí văn nghệ ở mỗi tỉnh cần chủ động làm tốt phần việc của mình, thuộc phạm vi địa phương mình, đồng thời, liên kết với các tỉnh bạn trong hoạt động sáng tác và giới thiệu, quảng bá tác phẩm. Mặt khác, có những hoạt động cần được nâng lên tầm khu vực. Theo đó, mỗi tỉnh hoặc 10 tỉnh, thành phố trong khu vực có thể phối hợp cùng nhau áp dụng các giải pháp để nhằm nâng cao vai trò của tạp chí địa phương với việc tôn vinh, các sáng tác văn học trẻ phản ánh giá trị lịch sử, văn hóa, di sản vùng miền: - Tổ chức đi thực tế hoặc mở trại viết trẻ tại địa bàn có di sản văn hóa, lịch sử. Tổ chức hội thảo chuyên đề về tuyên truyền, quảng bá các di sản văn hóa, lịch sử; Tổ chức các cuộc thi sáng tác Trẻ chuyên loại hình VHNT như: văn xuôi, thơ, ảnh, mỹ thuật...  hoặc huy động mọi loại hình nghệ thuật phù hợp sáng tác tuyên truyền, quảng bá về một di sản văn hóa, lịch sử. Tạp chí văn nghệ các tỉnh nên dành “đất” giới thiệu tác phẩm của Hội, của Tạp chí văn nghệ tỉnh bạn, thường xuyên giữ mối liên hệ, trao đổi kinh nghiệm của tỉnh mình với tỉnh bạn trong việc tôn vinh các sáng tác văn học trẻ về đề tài này...

Nhà báo Ngô Hồng Giang
Phó Chủ tịch Hội VHNT Bắc Ninh

Có thể khẳng định, hiện nay đa phần các cây viết trẻ hiện nay đều có trình độ học vấn khá cao, tầm hiểu biết xã hội tương đối sâu rộng,  có một không gian văn hóa hiện đại, tuy nhiên trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, các cây viết trẻ dường như đều có chung tâm trạng là muốn đi tìm cái mới, cố gắng vượt qua những cái lỗi thời, mòn cũ. Đó là một mong muốn rất chính đáng. Tuy vậy, quan niệm thế nào là cái mới đích thực trong văn học thì không phải ai cũng đã tìm được câu trả lời thoả đáng. Người viết trẻ thường chuộng lạ, đó là cơ sở làm nên sự sáng tạo. Một điều dễ nhận thấy các nhà văn trẻ hôm nay đều rất tự tin, mạnh dạn thể hiện tài năng qua nhiều đề tài khác nhau. Trong các tác phẩm,  cách thể hiện những suy nghĩ về tình yêu khá “thoáng”: Những hờn giận, ghen tuông, sự cô đơn và nổi loạn... được khai thác một cách triệt để, đậm nét bằng trí tưởng tượng cũng như trải nghiệm của cá nhân người viết.
Tuy nhiên nhiều người viết trẻ bị “lạc” vào rừng văn chương hiện đại, do vậy không tự lựa chọn được con đường riêng cho mình. Sự buông thả, dễ dãi, háo danh cũng thường dẫn người ta sa vào ảo tưởng, ngộ nhận. Văn học trẻ vì thế mà vẫn loanh quanh trong rừng văn học hiện đại với quá nhiều trào lưu chưa rõ ràng.
.. Nhận biết được điều này chúng tôi đã và đang dần từng bước khắc phục để có được một đội ngũ viết văn trẻ có năng lực, trình độ. Chúng tôi đã thực hiện các giải pháp sau:
Một là, phối hợp chặt chẽ giữa Hội VHNT với Sở GDĐT, Tỉnh đoàn trong việc bồi dưỡng các cây bút viết văn trẻ, trọng tâm là đội ngũ những nhà giáo trẻ yêu văn học, các em học sinh đang học chuyên văn tại các trường phổ thông, trường cao đẳng sư phạm tỉnh, tiến tới xây dựng các câu lạc bộ viết văn trẻ ở các nhà trường.
Hai là, xây dựng kế hoạch mở các lớp bồi dưỡng sáng tác trẻ cho đội ngũ giáo viên và học sinh, tạo điều kiện cho họ có thời gian xâm nhập thực tiễn, tiếp cận với các mảng đề tài và xu thế sáng tác; định kỳ cử các nhà văn có uy tín của Hội nói chuyện về nghiệp vụ cũng như trao đổi về các vấn đề mà đội ngũ viết văn trẻ quan tâm. Đồng thời tích cực tìm tòi, phát hiện những cây viết trẻ trong cộng đồng, trong các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang nhằm làm phong phú và đã dạng hóa đội ngũ viết văn trẻ.
Ba là, có cơ chế ưu tiên thu hút kết nạp những cây viết có triển vọng vào Hội để có điều kiện bồi dưỡng giúp họ trưởng thành. Phối hợp với Tỉnh đoàn phát động các cuộc thi sáng tác truyện ngắn cho thanh thiếu nhi. Trên Tạp chí Người Kinh Bắc duy trì thường xuyên chuyên mục “Văn học với nhà trường” để thu hút các tác giả sáng tác, nhất là đội ngũ thầy cô giáo, học sinh, sinh viên.
Bốn là, thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu, mạn đàm về các chủ đề liên quan đến văn học trẻ hiện nay để kịp thời giải đáp những vướng mắc, đồng thời định hướng những mảng, những vấn đề cần quan tâm sáng tác hiện nay, nhất là vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương, đất nước./.

Nhà thơ Ninh Đức Hậu
Trưởng Ban Văn học trẻ Hội VHNT Ninh Bình


Hơn hai mươi năm qua, để tìm kiếm, phát hiện và kịp thời bồi dưỡng các tài năng văn học trẻ, Hội VHNT tỉnh Ninh Bình đã thành lập Ban Văn học trẻ, thường xuyên tổ chức các Trại sáng tác văn học trẻ, các cuộc thi sáng tác văn học dành cho lứa tuổi thanh thiếu niên. Chính vì vậy tỉnh Ninh Bình luôn luôn có một lực lượng sáng tác văn học trẻ. Lực lượng này kế tiếp nhau làm phong phú thêm đội ngũ sáng tác Văn học, và cũng là lực lượng tiếp nối cho đội ngũ văn nghệ sĩ.
... Từ khích lệ sáng tác giữ gìn bản sắc văn hoá địa phương Hội VHNT Ninh Bình còn là nơi kết dính đội ngũ sáng tác trẻ với Hội, để từ đó những sáng tác của họ trở thành gắn bó và là một bộ phận không thể thiếu được của văn học địa phương. Sự gắn bó của văn học trẻ với văn học địa phương được thể hiện rõ nét nhất đầu tiên phải kể đến đội ngũ. Hàng năm ở Ninh Bình, Trại sáng tác văn học trẻ được tổ chức mỗi năm 1 lần, mỗi lần từ 10 đến 15 ngày. Ngoài các cháu có tác phẩm thường xuyên gửi về Hội, Hội được sự giới thiệu đội ngũ từ Sở GDĐT, Trường Đại học Hoa Lư, một số Trường THPT và THCS, vì vậy năm nào đội ngũ tác giả trẻ cũng dao động từ 20 đến 30 cháu. Các tác giả trẻ luôn nhận được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, các sở ban ngành khác. Quan tâm về tinh thần, vật chất và được Hội quan tâm về chuyên môn nghiệp vụ. Các lớp bồi dưỡng sáng tác văn học trẻ được tổ chức, tạo nên sự gắn bó ngày càng mật thiết.
... Sự gắn bó của lực lượng sáng tác văn

học trẻ hiện đang học tập, công tác, sinh sống tại địa phương được thể hiện trên nhiều bình diện. Họ là đội ngũ không thể thiếu được của văn học địa phương. Tác phẩm của họ không những luôn thể hiện đậm đà bản sắc văn hoá vùng miền mà còn được cách tân, đổi mới, làm phong phú, đa dạng, chất lượng hơn. Họ đã vượt qua được sự bảo thủ nếu có, hoặc cách tư duy hay tiếp cận cái mới chưa có của một số tác giả đã cao tuổi. Trong thơ của Phạm Khải Lợi, Đặng Diệu Thoa, Cầm Thị Đào… hình ảnh Ninh Bình bao giờ cũng lấp lánh, sinh động. Còn thơ của Phạm Thuý Nga, Bùi Hồng, Bùi Thị Nhài thì mượt mà giàu hình ảnh. Các tác giả trẻ đã phần nào có tên tuổi trên văn đàn như Phạm Thị Duyên, Vũ Thanh Lịch, Phạm Tâm An thì bản sắc địa phương bao giờ cũng nổi bật. Trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Vũ Thanh Lịch vùng rừng đồi của thành phố Tam Điệp hiện lên rõ nét... Đất và người ở Nho Quan vào truyện ngắn của Phạm Thị Duyên cũng điển hình và nổi bật....Thơ của Trần Xuân Trường, Nguyễn Thanh Sơn, Phạm Tâm An lại đưa hình ảnh miền quê Kim Sơn, Yên Khánh lại gần với bạn đọc. Thơ của các tác giả trẻ này đang dần được khẳng định và họ luôn là lực lương kế cận...

Nhà báo Vũ Nghiêm Trợ
Phó TBT Báo Hạ Long - Quảng Ninh


Số hội viên Hội VHNT Quảng Ninh khá đông so với các tỉnh trong khu vực, song đang có chiều hướng già đi. Việc hội thảo lần này đưa ra chủ đề: “Sáng tác Văn học trẻ, gắn với giữ gìn, phát huy sắc thái văn hóa địa phương” là một vấn đề không mới nhưng đặc biệt quan trọng và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay, bởi lớp trẻ hiện nay đa phần không quan tâm đến văn học, chưa nói đến việc động viên họ đi theo con đường sáng tác VHNT là một việc làm không hề đơn giản chút nào. Từ tình hình thực tế, nhằm tạo nguồn và đội ngũ sáng tác kế cận, Quảng Ninh đã triển khai liên tục 6 năm trở lại đây  theo nhiều hướng khác nhau như: thông qua các hoạt động tại các Ngày thơ Quảng Ninh được tổ chức hàng năm, tổ chức cuộc thi sáng tác văn học tuổi học trò trên Báo Hạ Long, gửi báo đến các Trường THPT trên địa bàn tỉnh để các cháu tiếp cận dần với văn chươngv.v. nhưng kết quả vẫn còn hạn chế. Báo Hạ Long đã tổ chức phát động mở cuộc thi sáng tác thơ, truyện ngắn tuổi học trò lần thứ nhất (2011-2012). Hội đã cử các nhà văn, nhà thơ về một số trường THPT, THCS trên địa bàn tỉnh để tuyên truyền phổ biến cuộc thi. Sau gần hai năm phát động, cuộc thi đã thu được kết quả đáng phấn khởi, đã có trên 30 tác giả ở nhiều lứa tuổi thuộc các trường học trên địa bàn toàn tỉnh gửi gần 60 tác phẩm về dự thi, có những em ở vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo như Cô Tô, Ba Chẽ, Tiên Yên cũng gửi bài về dự thi.
... Trong bối cảnh hiện nay, sự phức tạp của cuộc sống đời thường, những quan hệ đa chiều của nền kinh tế thị trường có tác động không nhỏ đến đời sống VHNT, đa phần các tầng lớp trong xã hội chỉ quan tâm đến kinh tế, ít chú ý đến VHNT đặc biệt là giới trẻ. Vì thế công tác phát triển, bồi dưỡng đội ngũ sáng tác trẻ là một việc làm hết sức cần thiết trước mắt cũng như lâu dài, Hội VHNT Quảng Ninh những năm qua đã có những việc làm thiết thực mang tính lâu dài nhằm phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ sáng tác trẻ nhưng kết quả vẫn còn hạn chế, chưa thực sự rõ nét mặc dù đã có nhiều cố gắng. Từ diễn đàn này chúng tôi mong muốn có sự hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm giữa  Hội VHNT Quảng Ninh, với các Hội VHNT trong  Nhóm VN8+2, trong đó có việc đẩy mạnh các hoạt động liên kết sáng tác, trao đổi, quảng bá các tác phẩm đặc biệt là học tập, trao đổi kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng đội ngũ sáng tác trẻ./.

Nhà thơ Hà Thu
Tổng BT Tạp chí Văn nghệ Suối Reo - Sơn La


Những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng bộ, chính quyền tỉnh, Hội Liên hiệp VHNT Sơn La đã chú trọng phát hiện bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sỹ với các thế hệ tiếp nối thông qua các cuộc thi, các cuộc vận động sáng tác do trung ương, tỉnh và các ban ngành của tỉnh tổ chức. Ngoài những cây bút già dặn, có nghề mà tên tuổi đã được khẳng định như: Hoàng Mai Lộc, Lò Văn Cậy, Cầm Thị Chiêu, Cầm Hùng, Lò Vũ Vân, Hà Thu, Phan Thị Thu Hồng, Hoàng Lệ Thủy, Kiều Duy Khánh... Hiện lực lượng sáng tác của tỉnh đã được bổ sung thêm một số cây bút trẻ như: Hồng Minh, Trịnh Mỹ Duyên, Đinh Ngọc Minh, Trang Hà, Nguyễn Thái Hà... tuy nhiên chủ yếu viết về đề tài tình yêu đôi lứa, trong số đó cũng đã có một vài tác giả đã thể hiện sự tìm tòi về văn hóa của các dân tộc nhưng mới chỉ là sự tiếp cận bước đầu mà thôi.
Những tác giả trẻ là người dân tộc, sáng tác bằng ngôn ngữ mẹ đẻ hầu như còn thiếu vắng trên văn đàn. Khả năng am hiểu về phong tục, tập quán và vốn văn hóa truyền thống của chính dân tộc mình còn nhiều hạn chế. Bởi vậy, chất lượng tác phẩm chưa được như mong muốn. Trong thời gian qua, công tác phát triển hội viên mới, nhất là với các tác giả trẻ mặc dù hết sức được coi trọng  nhưng thực tế, số hội viên trẻ được kết nạp hàng năm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Thậm chí, có những năm trong lĩnh vực văn học không kết nạp được hội viên nào, nhất là mảng lý luận phê bình văn học, nghệ thuật càng thiếu vắng hơn.
... Đặc biệt là bản sắc văn hoá các dân tộc đang bị mai một ở mức báo động. Trong khi những người già, những nghệ nhân am hiểu văn hoá dân tộc đang vắng bóng dần thì không ít cán bộ và lớp trẻ người dân tộc lại thờ ơ với chữ viết và tiếng mẹ đẻ của chính mình. Vì vậy, cần phải coi “Sáng tác văn học trẻ, gắn với giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa địa phương” là nhiệm vụ, định hướng cấp thiết hàng đầu của Hội Sơn La. Nhằm bảo tồn bền vững bản sắc văn hóa truyền thống quý giá của các dân tộc, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của tỉnh và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn học nghệ thuật ngày càng cao của đồng bào.  
Từ thực trạng nêu trên Hội Liên hiệp VHNT tỉnh Sơn La đã đưa ra giải pháp khắc phục như sau: Động viên, khuyến khích các tác giả trẻ mạnh dạn tìm tòi, đi sâu phản ánh mọi mặt đời sống xã hội, đồng thời có những cách nhìn đa chiều, có phương tiện biểu đạt phong phú nhằm tạo ra những tác phẩm có giá trị cả về nội dung và nghệ thuật góp phần định hướng xã hội, truyền tải những ý nghĩa nhân văn và giá trị chân - thiện - mỹ thông qua các tác phẩm văn học - nghệ thuật chân chính.
Thường xuyên phát hiện, bồi dưỡng các tác giả trẻ có năng khiếu. Tổ chức các lớp nâng cao, bồi dưỡng kỹ năng sáng tạo VHNT tại địa phương và trung ương để họ có cơ hội giao lưu, học hỏi, trau dồi vốn sống và tích lũy kinh nghiệm, từng bước nâng cao năng lực sáng tác của mình.
... Hiện nay, tỉnh Sơn La đã ban hành Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về “Tăng cường lãnh đạo công tác phát triển VHNT trong thời kỳ mới” với các tiêu chí phấn đấu rất cụ thể. Đồng thời tiến hành nghiên cứu các đề tài khoa học và viết Dư địa chí Sơn La mang tính bách khoa toàn thư của tỉnh, trong đó có nội dung lớn về VHNT mà Hội Liên hiệp VHNT tỉnh cũng là thành viên Ban chỉ đạo và biên soạn nội dung./.

Nhà văn Nguyễn Thị Thu Hà
Phó Chủ tịch Hội VHNT Bắc Giang


Ở Bắc Giang xu hướng sáng tác trẻ đang được đa dạng hóa ở nhiều hình thức thể hiện bởi môi trường văn học nói chung của chúng ta cũng đang được mở cửa và giao lưu với nhiều nền văn học các nước trên thế giới. Người đọc bao giờ cũng hiếu kỳ với những tác phẩm được quảng bá, gây sốc. Đặc biệt giới trẻ là người thích khám phá những điều mới lạ.
... Đối với Hội VHNT Bắc Giang, Chi hội Văn học hiện có 50 hội viên, trong đó người viết trẻ ở lứa tuổi 7x trở về sau thì số lượng chỉ có 7 hội viên.
... Hội VHNT Bắc Giang đã chủ động tổ chức các trại sáng tác dành cho các lứa tuổi, các đề tài  gắn với tình hình thực tế tại địa phương, đồng thời Hội cũng thường xuyên lựa chọn những gương mặt viết trẻ, dưới độ tuổi 40 tham gia các trại viết của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam. Tuy nhiên  số lượng hội viên văn học trẻ ở Hội Bắc Giang còn ít, nên các hội viên này như trở thành gương mặt thân thuộc qua nhiều trại sáng tác trẻ ở trung ương. Sau mỗi đợt tham gia trại viết trẻ, những người viết trẻ của địa phương được giao lưu, mở rộng tầm nhìn và trưởng thành hơn trong cách viết. Bản thân tôi cũng là một người được tham gia 3 trại viết trẻ của Liên hiệp. Việc tổ chức những trại viết trẻ là rất cần thiết. Nhưng ở độ tuổi ngoài 20 tuổi đến khoảng 40 tuổi thì người viết  ở nhiều ngành nghề khác nhau, thời gian bố trí để tham gia trại viết trong khoảng 15 ngày liền thì không phải ai cũng có điều kiện.
...  Nhìn vào thực tế, người viết trẻ cũng đang là lực lượng quý hiếm ở các địa phương. Hy vọng rằng thời gian tới đây, từ các Hội VHNT ở địa phương có những hoạt động kết nối, giao lưu, cuộc thi dành riêng cho người viết trẻ tạo thành phong trào cổ vũ mạnh mẽ cho giới trẻ yêu thích văn học. Đặc biệt, ngoài vai trò về phía Hội địa phương thì Chi hội Văn học địa phương cần chủ động đưa ra kế hoạch gợi mở, phối hợp để tổ chức các hoạt động giao lưu, thành lập Câu lạc bộ Văn học trẻ để thu nạp người viết trẻ ở các huyện, thị trong tỉnh để bồi dưỡng và động viên họ phát triển thành hội viên của Hội VHNT tỉnh./.

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)

 

Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...