BÀI ĐĂNG MỚI

Cuộc thi ảnh nghệ thuật “Huế - Những góc nhìn mới” lần III - 2017
...

 

Rừng che bộ đội - Sơn dầu của Quốc Thái

 

Hoa công nghiệp - Ảnh Nguyễn Viết Rừng

 

Cánh tay công nghiệp - Ảnh Vương Khánh Hồng

 

ẢNh Vũ Thành Chung

Chăn vịt - Ảnh Vũ Thành Chung

 

Mùa gặt - Ảnh Đức Biên

 

Đôi mắt cô gái H’mông - Ảnh Vũ Dũng


Hiện có 83 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Tư duy văn hóa từ tiền đề ngôn ngữ (Qua nguyên lí tín hiệu học của F.de Saussure)

Theo quan điểm của F. de Saussure, cũng như nhiều nhà khoa học xã hội khác thì ngôn ngữ và văn hóa đều là những thiết chế trừu tượng, chúng dần dần được hình thành cùng với sự phát triển của con người xã hội. Và đặc biệt, khi đề cập đến tiến trình này, không phải ngẫu nhiên mà F. Engels rất coi trọng tiền đề ngôn ngữ ngay trong chức năng kích thích của nó đối với quá trình hình thành phẩm chất con người xã hội: Con người vượt lên bản chất động vật của mình để trở thành con người xã hội, theo Engels, trước hết là nhờ lao động và sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ [Dẫn theo Nguyễn Lai 2012:19] (Tiếc rằng, hình như vế nhấn mạnh cuối cùng đồng thời với lao động là ngôn ngữ, liên quan đến quá trình làm hình thành khả năng nhận thức - vốn là tiền đề sản sinh phẩm chất văn hóa đầu tiên đối với chính bản thể con người - chưa được chú ý khai thác đúng mức, ngay cả đối với một số nhà ngôn ngữ xã hội học nghiên cứu về văn hóa).

Như vậy, theo cách nhấn mạnh của Engels, rõ ràng ngôn ngữ không chỉ là phương tiện để giao tiếp và giao lưu văn hóa, mà thực ra, còn hơn thế - từ trong chiều sâu tiến trình lịch sử - nó còn là tiền đề tạo ra con người xã hội như một sản phẩm văn hóa (cultural product) để từ xuất phát điểm này, con người tạo tiếp những tiền đề chủ quan và khách quan, làm hình thành cho mình nhiều dạng sản phẩm văn hóa tinh tế khác trong quá trình phát triển. Từ đó, nhìn rộng ra, phải chăng ta có thể hiểu: Nếu không có loại ngôn ngữ đầu tiên tạo sức sản sinh tư duy nhận thức nơi con người thì không thể có con người xã hội gắn liền với khả năng hoạt động định hướng, làm hình thành những phẩm chất nghệ sĩ, để từ cơ sở ấy, dần dần con người tạo ra nhiều loại hình ngôn ngữ nghệ thuật dưới dạng không còn là ngôn ngữ ban đầu như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc… nằm trong đối tượng văn hóa.

Như vậy, rõ ràng, một số loại hình ngôn ngữ nghệ thuật thuộc phạm trù văn hóa, tuy cũng bắt đầu từ nền chung của loại ngôn ngữ sơ khởi vốn gắn với chức năng giao tiếp, nhưng những loại hình ngôn ngữ văn hóa này xuất hiện sau, và chúng không thể đồng nhất với loại ngôn ngữ đầu tiên. Đấy là một trong những chỗ phức tạp khó thấy nhất, liên quan đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa mà từ góc độ liên ngành, ta không thể không quan tâm. Theo chúng tôi, không phải tình cờ mà ngay từ chương mở đầu Giáo trình ngôn ngữ học đại cương nổi tiếng của mình, Saussure đã đặt vấn đề về chỗ phức tạp này như sau: “Ngôn ngữ học có liên quan chặt chẽ với các ngành khoa học khác không phải bao giờ cũng hiện ra rõ nét” [Saussure 1973: 27]. Và không dừng lại ở đó, đặc biệt khi nhìn nhận thiết chế chung giữa ngôn ngữ và văn hóa bằng con mắt tín hiệu học từ chiều sâu nhận thức triết học của mình, Saussure đã xác định vấn đề với tầm khái quát và triệt để hơn như sau: “Nếu muốn phát hiện bản chất sự thật của ngôn ngữ, trước hết phải xem nó ở những mặt cùng có chung với tất cả những hệ thống khác cùng loại. Làm như vậy, không chỉ soi sáng cho ngôn ngữ mà chẳng hạn - khi coi những nghi lễ, những phong tục… thuộc phạm vi văn hóa như những tín hiệu - thì những sự kiện này sẽ hiện ra dưới ánh sáng mới, và người ta thấy cần phải tập hợp chúng lại trong tín hiệu học và giải thích nó bằng quy luật của khoa học này” [Saussure 1973: 41]. (Chúng tôi nhấn mạnh: Cần phải tập hợp chúng lại trong tín hiệu học và giải thích nó bằng quy luật của khoa học này!).

Bước đầu vận dụng nguyên lí tiếp cận trên, cơ chế chung nhất của ngôn ngữ và văn hóa có thể được ghi nhận như sau:

(1). Nhìn chung, có thể nói, văn hóa là một thiết chế xã hội, ngôn ngữ cũng là một thiết chế xã hội. Giá trị nhận thức có được về chúng bao giờ cũng được quy định bởi tính ước lệ, vốn tạo ra bởi một cộng đồng xã hội xác định, gắn với một trạng thái không gian và thời gian xác định.

(2). Và sản phẩm tinh thần mang theo giá trị tinh thần gắn với nhận thức trên là trừu tượng; nhưng mặt trừu tượng này bao giờ cũng phải được biểu hiện thông qua một dấu hiệu vật thể để người ta có thể cảm nhận theo một giá trị quy ước (conventional value) nào đó mang tính cộng đồng. Chẳng hạn, một kí hiệu ngôn ngữ, một đường nét kiến trúc, một di vật khảo cổ, một điệu múa dân gian, một cung cách chào hỏi, một tập tục cúng lễ, thậm chí một danh nhân văn hoá…

(3). Tuy không giống nhau, nhưng giá trị tinh thần của những sản phẩm văn hoá khác nhau này đều cùng bị quy định bởi nguyên tắc ước lệ thông qua yếu tố tâm lí xã hội của phạm vi cộng đồng mà từ đó chúng xuất hiện.

(4). Nếu loại bỏ những yếu tố ấy thì tự thân chúng không còn là tài sản văn hóa nữa. Lúc này chúng trở thành những cái xác không hồn, và giá trị của chúng lui về giá trị tự thân, hoàn toàn vật thể, thoát khỏi thiết chế hệ thống văn hóa.

Như vậy, nhìn chung về mặt nguyên tắc, hoạt động ngôn ngữ cũng như hoạt động văn hóa là một loại hoạt động tinh thần mang ý nghĩa tâm lí xã hội của cộng đồng; cả hai - dù xuất hiện dưới dạng sản phẩm cụ thể nào - đều được xác lập dựa trên cơ chế quy ước (conventional mechanism) từ nguyên tắc vừa đối lập vừa thống nhất trong tính chỉnh thể giữa yếu tố vật thể và yếu tố tinh thần của nguyên lí tín hiệu học.

Theo chúng tôi, mặt đồng nhất rất cơ bản của hiện tượng ngôn ngữ và hiện tượng văn hóa được đặt vào quỹ đạo của tín hiệu học để khảo sát theo tinh thần của Saussure như trên là cần thiết và xác đáng về mặt nguyên tắc khoa học. Vì theo hướng khảo sát này, tiền đề tâm lí xã hội gắn với phẩm chất nhân văn - vốn là cốt lõi của cơ chế hình thành văn hóa - chẳng những không bị coi nhẹ mà trái lại còn được đề cao. Đề cao trong việc dựa vào đó và lấy nó làm cơ sở phân giải để từ đó tìm ra mẫu số chung vừa bao quát vừa triệt để đối với cơ chế của sự hình thành ngôn ngữ và văn hóa theo tinh thần nguyên lí của chính Saussure. “Tất cả các giá trị ước định đếu không trùng làm một với yếu tố có thể cảm giác được” [Saussure 1973: 250].

Rõ ràng, đây là một trong những chỗ phức tạp khó thấy nhất nằm trong xuất phát điểm của nguyên tắc khoa học mang tính liên ngành. Khi nói đến cơ chế liên thông sâu kín nhất về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa về mặt cấu trúc, do vậy, những người nghiên cứu liên ngành theo hướng cập nhật nhất không thể không bắt đầu từ tầm nhìn trên.

Tuy nhiên, khi mở rộng mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa theo cách nhấn mạnh của Engels từ chiều sâu – như trên đã có dịp đề cập – thì ngôn ngữ không chỉ là tiền đề tạo ra văn hóa, mà hơn thế, nó còn đem lại hoạt động và sức sống cho tư duy, cho cảm thụ, đem lại phẩm chất nghệ sĩ cho con người để từ đó con người có thể tạo ra văn hóa. Chắc chắn cũng không phải hoàn toàn ngẫu nhiên mà khi đề cập đến hiện tượng trên, nhiều nhà lí luận văn học có quan tâm đến ngôn ngữ học đã nhấn mạnh: “Nếu không có ngôn ngữ đầu tiên vốn làm chỗ dựa giúp cho con người hoạt động có định hướng trong xã hội thì những loại hình ngôn ngữ nghệ thuật thuộc màu sắc, âm thanh, đường nét... không thể trở thành hiện thực” [Khrapchenco 1985: 281].

Theo chúng tôi, nếu nhìn rộng ra thì phải chăng đó cũng chính là nguyên nhân sâu xa giúp ta suy nghĩ để giải thích ngược lại, vì sao thông qua ngôn ngữ con người có thể giải mã được tất cả các loại hình nghệ thuật nằm trong phạm trù văn hóa. Và không phải từ một lí do nào khác, mà chính từ cơ sở của tiềm năng trên, ngôn ngữ trở thành một chất liệu tinh tế, có khả năng tạo thành những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ phản ánh một cách tổng hợp và toàn diện nhiều sắc màu văn hóa cùng với tiến trình miêu tả quá trình phát triển bộ mặt của cộng đồng xã hội như chúng ta thường thấy trong tác phẩm văn chương. Chính từ cấp độ tinh tế của sự sản sinh văn hóa này, ta có thể nói cụ thể hơn như sau: Ngôn ngữ vừa tạo ra phẩm chất văn hóa nơi con người đồng thời nó cũng chính là phương tiện có thể dùng để thể hiện những phẩm chất và sắc thái văn hoá tinh tế ấy cùng với sự phát huy tiềm năng nghệ sỹ của chính con người. Với chức năng này, rõ ràng ngôn ngữ càng tỏ rõ ưu thế tuyệt đối của mình về nhiều phương diện trong tiến trình phát triển văn hóa của cộng đồng, đặc biệt dễ thấy nhất là trong sáng tạo văn chương - một nguồn mạch quan trọng của quá trình phát huy phẩm chất nghệ sĩ tối ưu của con người trong đời sống văn hóa thông qua mạng lưới tinh tế của nhiều cấp độ liên thông. Về phương diện này, chúng ta có thể có rất nhiều minh chứng hết sức sinh động từ đời sống thực tiễn.

Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du là một ví dụ dễ thấy nhất. Như chúng ta biết, không có bức họa đích thực nào đính theo Truyện Kiều. Nhưng ở đây qua các chấm phá bằng ngôn từ, ta có những bức tranh đầy đủ cảnh sắc của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông: Cỏ non xanh rợn chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa…/ Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Ngoài tường lửa lựu lập lòe đơm bông…/ Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng… Cũng không có bức phù điêu hay pho tượng nào ở đây. Nhưng qua những từ “lẻn”, “mặt sắt đen sì”, “nhờn nhợt màu da”, “cao lớn đẫy đà”… ta có được rất nhiều nét tạo hình, tạo dáng, mỗi người một vẻ, trong những tình huống khác nhau, tưởng như ta có thể sờ mó được nhân vật cụ thể. Ta không nghe được tiếng đàn của Kiều trên trang giấy, nhưng không vì thế mà hiệu lực của tiếng đàn kia không đến đích thực với tâm trạng ta bằng những sắc thái tế nhị nhất. Cùng trong một tiếng tơ đồng/Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm v.v...

Nhưng thực ra, đối tượng tinh thần có liên quan đến đời sống văn hóa thông qua ngôn từ mà Truyện Kiều bao quát đâu chỉ dừng lại ở đó. Tại đây, hiện ra trước mắt chúng ta còn là cả một hệ thống thiết chế xã hội về mặt tập tục, luân thường đạo lí, về mặt quan niệm nhân sinh. Ta có tiết thanh minh với nấm mồ không hương khói làm xúc động lòng người. Cạnh đấy, nổi bật trong cảm nhận chúng ta là cả một đời tài sắc tự nguyện chịu tan nát đến não lòng vì phụng thờ chữ hiếu. Và bao trùm lên tất cả là một loạt những thuyết lí gắn với quan niệm về cuộc sống theo số phận tiền định cho hay muôn sự tại trời…

Như vậy, trong mối quan hệ với văn hóa, ngôn ngữ ở đây, khi đã hoá thân vào nghệ thuật, nó vượt khỏi chức năng sơ đẳng ban đầu để dựng lên một bức tranh tổng hợp vô cùng sinh động về bộ mặt tinh thần của xã hội. Nếu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ không mang theo trong nó những mạch ngầm có liên quan đến bộ mặt văn hóa tinh thần trên nhiều quy mô và từ nhiều cấp độ liên thông như chúng ta thử phát hiện thì chắc chắn nó không còn là một tác phẩm nghệ thuật.

Không phải ngẫu nhiên mà trong nghiên cứu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ ở mức độ tinh tế, ngôn ngữ ở đây được xác định trước hết như là một loại mã tâm lí xã hội đặc biệt, nó là một bảo vật “vừa cổ vừa kim”, nó gắn chặt với truyền thống văn hóa văn minh và đặc trưng dân tộc, nó có vai trò gợi dẫn cảm nghĩ trên cơ sở không tách rời khỏi tiền đề thẩm mĩ của cộng đồng. Nhiều nhà lí luận cho rằng chính kho tàng hình tượng ngôn ngữ có sự cộng đồng lớn hơn so với các đặc điểm khác (như tâm lí và tính cách nhân vật) đối với những nền văn hóa khác nhau nhưng có tính chất chung. Và cũng không phải ngẫu nhiên mà khi đi vào thi pháp, người ta mở ra nhiều bình diện để khảo sát những chức năng khác nhau của ngôn ngữ, và chính ở chỗ ngôn ngữ hóa thân và chịu sự quay vòng nhiều nhất này, ranh giới sáng tạo của nhà văn được ghi nhận một cách có nhiều chứng minh nhất trong mối quan hệ với các mạch ngầm văn hóa của cộng đồng.

Không lạ gì nữa, chẳng hạn, khi ta đọc Truyện Kiều: Thanh minh trong tiết tháng ba/ Mà đây hương khói vắng tanh thế mà! Từ ngữ ở đây là gì? Phải chăng đó là một tín hiệu về phong tục tập quán. Và, cũng như vậy, khi ta đọc: Lấy câu vận mệnh nguôi dần nhớ thương… Quả đây là một nét hiện thực trong tâm trạng của Kiều. Nhưng, nghĩ cho cùng, tâm trạng này đâu tách khỏi tiền đề tâm lí xã hội gắn với quan niệm về “số phận” của cộng đồng xã hội Việt Nam vào những thời điểm nào đó.

Như vậy, dù cho có thông thạo ngôn ngữ đến đâu, nếu người đọc không hiểu được tiền đề tâm lí gắn với nhận thức của xã hội về số phận thì làm sao có thể hiểu được hoàn cảnh để thâm nhập vào sự an ủi sâu kín nhất nơi nỗi lòng của Kiều… Nói khác, nếu người đọc tác phẩm vì lẽ gì đó mà chưa bắt nhập được vào mặt bằng văn hóa chung được kết tinh thông qua những mạch ngầm ngôn ngữ theo hướng nói trên thì những rung động về mặt thẩm mỹ sẽ không có đủ độ sâu để thưởng thức những gì gọi là tính hiện thực vốn có đích thực nơi tác phẩm ấy để hoà nhập vào tâm thức của cộng đồng.

Cũng không phải hoàn toàn ngẫu nhiên mà khi luận giải vấn đề trên, nhiều người thường nhắc đến lời khuyên của đại thi hào Goethe: “Ai muốn hiểu nhà thơ thì cần phải đến đất nước nhà thơ”. Đất nước nhà thơ ở đây chắc chắn không chỉ đơn thuần là miền địa lí không gian. Mà đây là độ dài và chiều sâu lịch sử xã hội gắn với truyền thống văn hóa văn minh cùng với bao nhiêu những yếu tố khác vốn từ bao đời là chiếc nôi, là bầu sữa mẹ thứ hai của nhà thơ. Và tất cả những cái ấy, dù muốn dù không, qua bao đời, chúng ta kết tinh thành thơ, thành nhạc, thành hoạ cho ngôn ngữ trong sắc thái cộng đồng, và chính nó là cái cầu chung để nâng cao và mở rộng mạch ngầm văn hóa cho ngôn ngữ cộng đồng trong quy trình phát triển.

Từ cách nhìn hàm lượng văn hóa nằm trong ngôn ngữ văn học với những cấp độ trên, nhiều nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng, khi đi vào khẳng định và lí giải chân giá trị của những tác phẩm ngôn từ, họ không tách rời nó khỏi thế liên thông từ những tiền đề văn hóa bao quát. Người đang được thế giới ngưỡng mộ về phương diện này là Bakhtin. Tác giả chỉ rõ vấn đề như sau: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa. Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ nền văn hóa của thời đại trong đó nó tồn tại” [Bakhtin 1992: 362]. Và sau đó, tại một chỗ khác, ông còn tiếp tục cảnh báo cụ thể hơn: “Văn hóa như một dòng thác chảy mạnh ở chiều sâu thật sự có tác động đến nhà văn, nhưng đôi khi chính nhà nghiên cứu không hay biết. Lối tiếp cận như vậy không thể giúp ta đi sâu vào những tác phẩm lớn, và khi đã thoát li khỏi tính liên thông từ những mạch ngầm văn hóa như thế thì bản thân văn học hiện ra rất nhỏ bé, không có gì đáng để ý.” [Bakhtin 1992: 363]

Hiểu được những điều bao quát và sâu sắc vừa đặt ra của Bakhtin, chúng ta càng sáng tỏ thêm vì sao những tác giả văn học lớn hầu hết là những nhà văn hóa lớn, và từ đó cũng nói được, trước khi là một tác giả văn học lớn, dù ý thức hay không, chắc chắn họ là người am hiểu sâu sắc cuộc sống tinh thần về nhiều mặt, từ quá khứ đến hiện tại, nhờ sự chuyển tải văn hóa qua ngôn ngữ của cộng đồng mà họ đang gắn bó. Và đặc biệt trong quá trình tự mở rộng các trường tri giác trở thành “một khí quan nhạy bén của cộng đồng” mà họ là người phát ngôn ấy thì - từ trong chiều sâu tâm thức của mình - chắc chắn ở họ khó có sự phân biệt thật rạch ròi đâu là phạm vi hoạt động của ngôn ngữ và đâu là phạm vi hoạt động của văn hóa. Vì trong trường hợp này chúng vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau, chúng luôn luôn ngầm ẩn chuyển hóa liên thông với nhau trên nhiều quy mô và qua nhiều cấp độ trong không gian và cả trong thời gian.

Với cách nhìn bước đầu về mối quan hệ liên thông giữa ngôn ngữ và văn hóa, ta có thể ghi nhận được như sau:

1/ Nhìn chung, từ góc nhìn cấu trúc, có thể nói văn hóa là một thiết chế xã hội, ngôn ngữ cũng là thiết chế xã hội. Giá trị nhận thức có thể có được về chúng bao giờ cũng bị quy định bởi tính ước lệ gắn liền với yếu tố tâm lí xã hội, vốn được tạo ra bởi những cộng đồng xác định.

2/ Và sản phẩm văn hóa mang theo giá trị tinh thần gắn với nhận thức trên là trừu tượng; nhưng mặt trừu tượng này bao giờ cũng phải được biểu hiện thông qua một dấu hiệu vật thể để người ta có thể cảm nhận theo một ước lệ nào đó mang tính cộng đồng từ nguyên lí tín hiệu học.

3/ Trong khi ngôn ngữ hóa thân thành tác phẩm nghệ thuật ngôn từ để phản ánh một cách tổng hợp và sinh động bộ mặt tinh thần của cộng đồng xã hội thì chính ngôn ngữ đã vô tình xác lập những mạch ngầm văn hóa khác nhau trên nhiều cấp độ để tạo thành những dòng chảy xiết liên thông ngay trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ để lôi cuốn người đọc. Tại giao điểm tích hợp này, ngôn ngữ và văn hóa luôn luôn là một phạm trù biện chứng, liên thông đồng thời mãi mãi là một loại thực thể phức hợp sắc màu tương trưng cho tính hòa đồng và cộng hưởng./.

 

GS.TSKH Nguyễn Lai (Đại học Thái Bình Dương, Nha Trang)

 
Tản mạn về thơ

Thơ Việt đã có từ ngàn năm nay. Đến thời Lý, Trần thơ Việt đã rất hay. Ngàn năm thơ, ngàn năm tươi mới. Ngàn mùa xuân, tâm hồn người cất cánh bay. Xuân nay xin gửi đến bạn bè xa gần mấy suy nghĩ về thơ.

I. Vai trò và tác dụng của thơ

Có lúc thơ cần thiết như cơm ăn, nước uống, có lúc như là thứ để bù lại một phần thiếu thốn vật chất. Thơ gần gũi với người lao động, thơ theo bước chân người chiến sĩ, thơ ngâm ngợi, thơ xung trận, thơ là động lực, là sức mạnh của người lính: Ta lại viết bài thơ lên báng súng/ Con lớn lên đang viết tiếp thay cha/ Người đứng dậy viết thay người ngã xuống/ Người hôm nay viết tiếp người hôm qua (Hoàng Trung Thông).

Ngoài đồng nông phu làm thơ, trên sông Chủ tịch nước làm thơ. Thơ lúc cày cấy, thơ lúc bàn bạc đại sự và cả khi không làm việc gì cũng có thơ: Ngâm thơ ta vốn không ham/ Nhưng mà trong ngục biết làm chi đây/ Ngày dài ngâm ngợi cho khuây/ Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do (Hồ Chí Minh).

Như vậy thơ có tác dụng to lớn, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống con người, giáo dục con người, bảo vệ Tổ quốc, phát triển giống nòi, chấn hưng đất nước, làm cho cuộc sống đẹp hơn, chân hơn, thiện hơn, văn hóa hơn!

Tuy nhiên, nếu thiếu vật chất thì nhìn thấy ngay (nạn đói năm 1945, hơn hai triệu người chết, rùng mình mãi) nhưng thiếu thơ thì tác hại không thấy ngay, bởi khó “cân đong đo đếm”. Thiếu thơ, luân thường đạo lý bị ảnh hưởng, chuyển di tư tưởng, tâm hồn, dẫn đến con người vô cảm, man rợ.

Thực ra, thơ tiềm ẩn nhiều sức mạnh. Lý Thường Kiệt đọc “Nam quốc sơn hà” phấn khích tướng sĩ, lui được giặc, chiến thắng Như Nguyệt là chiến thắng của sức mạnh tinh thần dân tộc, của thơ! “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn thực chất là thơ văn xuôi có thể xem là tiếng kèn mở đầu chiến dịch, “Cáo Bình Ngô” của Nguyễn Trãi như là tráng ca là bản tổng kết chiến tranh, dân tộc ta toàn thắng.

Thơ mạnh nhất khi ở thời điểm Tổ quốc bị xâm lăng, đất nước, xã hội, cá nhân mỗi người có vấn đề đặc biệt quan trọng, đặc biệt nhạy cảm, đặc biệt bức xúc, đặc biệt hưng phấn, đặc biệt đau khổ, những vấn đề cực kỳ quan trọng của đời người như “sinh, ly, tử, biệt”, “sinh, lão, bệnh, tử”, những vinh quang của dân tộc… Tất cả được thơ chuyển tải có nghệ thuật. Lúc đó thơ thăng hoa, thơ sẽ hay!

II. Vậy thơ là gì?

Có lúc công chúng đến với thơ hăm hở, say mê một thời gian rồi chào tạm biệt. Có lúc người làm thơ theo đuổi sự nghiệp “nửa chừng” bỗng thấy bế tắc, dao động, cá biệt cũng có người bỏ cuộc, có người chuyển sang văn xuôi.

Nhưng thực chất thơ vẫn tồn tại. Ta vẫn hưởng lợi từ nó, nhưng ta chưa hiểu hết, còn mơ hồ về nó. Có rất nhiều định nghĩa về thơ. Mỗi định nghĩa là một góc nhìn của các nhà lý luận, phê bình và các tác giả thơ. Chưa có định nghĩa nào thật thỏa đáng, thuyết phục 100% công chúng: “Thơ là sự thể hiện đồng ý, đồng tình” (Tố Hữu); “Thơ là sự thể hiện tâm hồn con người và thời đại một cách cao đẹp” (Sóng Hồng); Thơ văn có nghìn chuyện/ Phải nói được bảy tấc lòng (Đỗ Phủ); “Văn là cơm nuôi sống con người. Thơ là cơm được ủ men, cất lên thành rượu, làm say đắm lòng người” (Hoàng Trung Thông). Như thế, thơ phải là tinh túy, chắt lọc. Thơ là cái nuôi sống con người nhưng đã chuyển hóa sang dạng khác nhờ cảm hứng nghệ sỹ (men) và khi thăng hoa thơ có thể làm nghiêng ngả tâm hồn công chúng, xiêu lòng công chúng. Hoàng Trung Thông vừa nói lên bản chất của thơ, nội dung thơ, điều kiện thành thơ (men), công nghệ làm thơ (ủ men và chưng cất)

III. Thơ hàm chứa điều gì?

* Thứ nhất, hơn bất cứ thể loại nào, thơ cần điều riêng biệt, riêng có, thơ cần sự độc đáo, cần bản sắc cá nhân, đọc thơ biết người. Nhà thơ không giấu được ai điều gì. Vì vậy, sáng tác thơ cần tránh chung chung, lặp lại, dẫm đạp ý tứ, đi lại vết mòn người khác. Thơ có lúc cần một sự cực đoan, vui tràn trề, buồn tận cùng, làm tận hiến – “Cháy hết mình cánh phượng nhẹ nhàng rơi”.

* Thứ hai, thơ cần nén chặt năng lượng cảm xúc, ý tưởng phải được tích tụ, chuẩn bị và bùng nổ như phản ứng hạt nhân. Đó là lý do bài thơ nào tác giả cũng chuẩn bị một câu kết có cánh! Trong bài “Hoa dong riềng”, Đồng Đức Bốn đã chắt lọc từng chút cảm xúc, nén lại, gợi dần từ chỗ bông hoa đỏ thập thò sau bụi tre gai, đến chỗ nó là màu sắc của tình yêu đợi chờ: Nhà ai có gái chưa chồng/ Mượn màu hoa để chờ mong người về, và rồi cuối cùng bùng nổ cảm hứng: Cánh hoa sắc một lưỡi dao/ Vì yêu tôi cứ cầm vào như không.

* Thứ ba, thơ phải hết sức bất ngờ, đột ngột, vươn bay, ý tưởng phải được cất cánh, câu thơ, ý thơ ra đời như chân trời xuất hiện bình minh, như máy bay cất cánh khỏi đường băng đi vào bầu trời rộng bao la. ở bài “Những đứa trẻ chơi trước cửa đền”, sau khi hoàn thành việc tổ chức tứ thơ, Thi Hoàng bung ra câu kết luận: “Chợt ngẫm thấy trẻ con là giỏi nhất/ Làm được buổi chiều rất giống ban mai”. Nhà thơ nói như thế, chứ không nói trông trẻ con chơi hồn nhiên, thấy mình trẻ lại, đó là cách nói của văn xuôi.

Hai người bạn uống rượu bên bờ biển. Khi tửu lượng như sóng dâng cao, đất trời chếnh choáng, người bình thường sẽ lăn ra chân sóng. Anh nhà thơ lại khác: Tôi ngồi rót biển vào chai (Trịnh Thanh Sơn). Thật bất ngờ, thật lạ lùng, trí tuệ và óc tưởng tượng bay vọt lên không còn giới hạn. Đúng là “thơ say”! Câu thơ thật hay! Thật ấn tượng!

* Thứ tư, xương sống của thơ là tưởng tượng, mơ mộng (ý Xuân Diệu). Tưởng tượng để tìm hình ảnh mới cho bài thơ, để thực hiện cấu tứ bài thơ. Tưởng tượng là xương sống của thơ. Làm thơ mà không tưởng tượng, không tìm được cái mới, chỉ kể tả, coi như viết văn xuôi!

Tưởng tượng nhiều khi tạo ra bất ngờ cho thơ. Lúc đó câu thơ đến ngoài dự kiến, nó như đâu đó từ trái tim, từ khối óc rơi ra, nó như “vị khách không mời” đến gõ cửa nhà ta, gặp khách thân ta mừng run lên vì quá đột ngột. Đó là những câu thơ trời cho! Hình như có “thần thánh trợ lực”: Đọc sách hiểu vạn cuốn/ Làm thơ như có thần giúp đỡ (Đỗ Phủ)

* Thứ năm, làm thơ phải có “cảm xúc khác thường, suy nghĩ khác thường, cách viết khác thường”. Người làm thơ đang chuyển dần từ “nhìn thấy” sang “cảm thấy”. “Nhìn thấy” gần với truyện và ký, “nhìn thấy” thì bài thơ nặng về kể và tả, ý thơ nông, ít rung, ít lan tỏa, khó lay động. Bởi lẽ, cái nhà thơ nói người đọc đã thấy. Khi nhà thơ “cảm thấy” thì mở ra một trường liên tưởng mới, kỳ lạ, cuộc sống vào thơ đã khoác chiếc áo khác, “nó” là “nó” mà không phải “nó”! Quen thuộc mà lạ lẫm! Gần gũi mà xa xăm: “Vạt áo em lơ đãng quệt ngang chiều” (Trương Nam Hương). Anh nhà thơ về chiều bỗng nhiên có “vạt áo” non tơ trẻ trung “lơ đãng” quệt vào (“lơ đãng” chứ không phải “vô tình”, “quệt” chứ không phải “vương” vào). Công chúng đọc thơ sẽ tha hồ tưởng tượng tiếp tục cái “cảm thấy” của nhà thơ!

Có thể dẫn ra thêm vài “câu thơ cảm thấy”: “Ve kêu từng chặp, kêu liên hồi/ Không gian sôi mãi tiếng ve sôi/ Bốn phía màu xanh như đặc lại/ Gấp bước quân đi nắng lóa trời” (Phạm Ngà); “Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm” (Huy Cận); “Con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu/ Lả lả cành hoang nắng trở chiều” (Xuân Diệu); “Vầng trăng ai xẻ làm đôi” (Nguyễn Du); “Trăng nằm sóng xoài trên cành liễu” (Hàn Mặc Tử); “Sông Đuống trôi đi một dòng lấp loáng/ Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ” (Hoàng Cầm); “Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu” (Hữu Thỉnh); “Trời thì xanh như rút ruột mà xanh/ Cây thì biếc như vặn mình mà biếc” (Thi Hoàng)

Cảm thấy có nghĩa là nhà thơ đã nhìn được cái không thấy, cái bị che khuất mà người khác không nhìn ra được. “Cảm” cũng là nhìn! Nhìn bằng con mắt thần! Cái “mưa xuân” nó thần diệu đến mức làm cho cây cột buồm khô nẩy mầm xòe lá. Chưa ai viết được thế!

Anh lính giữa rừng Trường Sơn “nghe tiếng ve kêu”, cây súng trên tay “day dứt” như thôi thúc, anh cảm thấy “màu xanh như đặc lại”, màu lá cũng “đặc” là cảm giác chứ không phải là suy nghĩ, không phải “nhìn”. Chỉ có nhà thơ mới nói “trời rút ruột”, sông “nằm nghiêng”, “gió xiêu xiêu”, “trăng xẻ đôi”, “trăng nằm sóng xoãi”,  đám mây “vắt nửa mình sang thu”…

Tôi đồng ý với nhà thơ Nguyễn Khôi khi cho rằng mặt bề ngoài của thơ (mặt sáng) ta thấy được, đó là phong cách của nhà thơ, ý và tình được diễn tả bằng cú pháp, luật thơ, cách gieo vần, còn những cảm thụ mà thơ mang đến cho chúng ta (cái ẩn dụ “thi tại ngôn ngoại”, đó là tiếng thầm không thể trông thấy được). Lúc đó nhà thơ mới cần đến sự “cảm thấy” quan trọng nhường nào!

* Thứ sáu, cái đặc biệt làm nên hình thể của thơ là linh hồn của thơ, ý tưởng của thơ, là tình cảm, là tâm trạng nhà thơ, tâm trạng nhân vật trữ tình. Đó chính là cái duy nhất truyền cảm, rung động, tạo nên cơn địa chấn trong trái tim người tiếp nhận. Nhà thơ không chỉ  làm nhiệm vụ gieo ươm, nhà thơ phải hoàn  chỉnh bữa tiệc tâm hồn thết đãi công chúng. Vì vậy ý tưởng thơ phải rõ ràng, dù ý tưởng được giấu sau các biện pháp nghệ thuật, các loại “dụ”, nhưng nhà thơ phải khéo léo dẫn dắt ý thơ đến người đọc.

* Thứ bảy, nhà thơ phải là người luôn luôn đổi mới, đổi mới phong cách, đổi mới cách diễn đạt, đổi mới cách thâm nhập cuộc sống, phát hiện cái mới. Cái mới trong cuộc sống rất nhiều, nhưng cái mới không dễ nhìn thấy, như muối hòa tan trong biển cả. Nhà thơ là người phát hiện cái mới, cái đặc sắc mà người khác không thấy, bạn đọc không thấy. Họ chỉ “vỡ òa” ra, giật mình và kêu lên “à ra thế” sau khi đọc câu thơ: “Tại sao gần gũi thế, quen thuộc thế mà ta không nhận ra?” “Một cánh hồng nhung rơi xuống?/ Không, một con bướm đỏ bay lên!”. Phát hiện lớn nhất của “bài thơ hai câu” này là chiều đi xuống và chiều đi lên của sự việc và cuộc đời, sự khẳng định của bất tử, cô đọng và súc tích. Triết lý thông qua hình ảnh đầy ấn tượng. Đẹp và hay!

IV. Vậy thế nào là thơ hay?

Thơ hay là tác giả luôn “tặng” ta cái mới, cái kỳ lạ, độc đáo và bất ngờ. Lúc nào ta cũng phải tâm niệm rằng mình được ủy nhiệm đi tìm chân trời mới. Sức ta không làm được thì phải chịu chứ quyết không xa rời mục đích ấy! Phải tìm ra “cái chưa có” hoặc tìm ra “cái đã có” nhưng chưa ai đưa vào thơ: “Đừng buông giọt mắt xuống sông/ Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm” (Đồng Đức Bốn). “Hình ảnh của thơ vừa làm ta ngạc nhiên, vừa đã quen với chúng ta từ bao giờ” (Nguyễn Đình Thi).

Thơ hay là thơ chất chứa cảm xúc, tâm trạng của một người được nhiều người hô hấp, đồng điệu. Lúc ấy thơ hóa thành tài sản chung. Bài thơ hay là bài thơ mang nặng nỗi niềm của tác giả. Buồn đến tận cùng: “Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn” (Xuân Diệu); “Mõ thảm không khua mà cũng cốc/ Chuông buồn chẳng đánh cớ sao om” (Hồ Xuân Hương). Vui đến tột đỉnh: “Ngày vui ngắn chẳng tày gang” (Nguyễn Du). Cảm xúc vỡ òa không gian, câu thơ cứ bám lấy tâm trí độc giả, rồi nó thành kẻ “ngụ cư” suốt đời trong trái tim công chúng: “Tin về nửa đêm/ Hỏa tốc, hỏa tốc/ Ngựa bay lên dốc/ Đuốc chạy sáng rừng/ Chuông réo tin mừng/ Loa kêu từng cửa/ Làng bản đỏ đèn đỏ lửa (Tố Hữu). “Niềm vui chiến thắng chảy tràn bờ” (Ca Lê Hiến).

Thơ hay phải là thơ đầy ấn tượng, với những hình ảnh in đậm vào trái tim, khối óc bạn đọc. “Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô” (Lưu Trọng Lư); “Đêm nay rừng hoang sương muối/ Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới/ Đầu súng trăng treo” (Chính Hữu).

Thơ hay phải có “tứ” hay! “ý” và “tứ” hai mặt làm nên nội dung của thơ. Tư tưởng và tình cảm của nhà thơ được bộc lộ qua ý thơ và tứ thơ. Muốn soi chiếu nội dung thơ, tình thơ, thông điệp của tác giả, người đọc phải bắt đầu khám phá tứ thơ. Việc tác giả tìm kiếm tứ thơ rất khó khăn, như khai thác mỏ! Chế Lan Viên cho rằng muốn tìm được tứ thơ hay, nhà thơ phải lật nhiều tầng của cuộc sống như khai khoáng, thăm dò, thử nghiệm, khoan sâu, đến một lúc nào đó sẽ gặp được vàng, kim cương. Cũng có người cho rằng thơ không cần tứ! Các bạn trẻ hiện nay làm thơ hay từng câu, từng chữ, chữ và câu rất mới! Nhưng đọc xong bài thơ vẫn thấy tiếc là ít chú ý cài cắm được một tứ thơ thật hay! Có thể lấy bài thơ “Thuật hoài” của Đặng Dung làm thí dụ. Bài thơ hay vì nó hội đủ các đặc điểm của thơ; nó “gài” trong bài thơ một tứ thơ rất quen nhưng rất lạ: Tâm trạng của kẻ thất trận, tưởng bế tắc an phận, tiêu tan ý chí thế mà vẫn nuôi mộng phục hồi non sông, đêm đêm vẫn lặng lẽ mài gươm. Bài thơ ấn tượng đến mức một họa sĩ đã lấy cảm hứng từ  nó vẽ nên bức tranh “Mài kiếm dưới trăng”, hiện treo ở Dinh Độc Lập

Rõ ràng tứ thơ mới là quan trọng, kỹ xảo ngôn từ cần thiết nhưng chỉ là “thời thượng” mà thôi! Cảm xúc thơ - tình thơ - ấn tượng thơ – tứ thơ – cái mới của thơ hợp lại trong bài thơ làm ta day dứt, suy ngẫm, bồi hồi xúc động. Ta bỗng nhiên hưng phấn muốn làm một điều gì đó đẹp hơn, tốt hơn. Đó là thơ! Thực tế rất hiếm khi một bài thơ hội tụ đủ cả bốn yếu tố nói trên. Những bài thơ để đời là nững bài thơ tiến sát đến các tiêu chí đó. Nhiều khi viết được một bài thơ có tứ hay hoặc tạo dựng được một hình ảnh ấn tượng, chói sáng, một cảm xúc mạnh đã là thành công.

V. Lao động của nhà thơ

Làm thơ là một “công nghệ”, một “quy trình” cực kỳ khó khăn. Nhà thơ   At-ti-la-jô-fép nói về lao động nhà thơ: “Nhà thơ cầm cuốc hai lưỡi”. Lao động nhà thơ nặng nhọc gấp đôi người khác! Làm thơ là một công việc cực nhọc. Nhà thơ phải vắt kiệt sức lực và trí tuệ, dồn nén tiêu hao tinh thần, day dứt kéo dài. “Đời rụng từng giây trên từng trang giấy”, “Anh làm thơ như mẹ gieo trồng/ Lặn lội trên cánh đồng nước trắng/ Trang giấy nhỏ mảnh ruộng con vuông vắn/ Hạt giống trong tim gieo dần xuống đường cày…”. Nhiều người theo đuổi văn chương như “nghiệp chướng”. Đôi khi biết thất bại vẫn theo, theo mãi …

Làm thơ, một cuộc thi đua không cần đối thủ. Tự mình vượt mình. Tự mình nâng mình lên từng nấc thang nghệ thuật. Không có cuộc tranh chấp địa vị. Làm thơ là cuộc đi bộ bền bỉ. Sẽ có lúc đến, sẽ có lúc “trời cho”! Làm thơ cần đam mê (thực ra ai làm thơ cũng đã đam mê rồi!).

Có người nói: “làm văn chương không phải học”. Chẳng ai dạy được ai làm thơ! Tuy nhiên, tôi cho rằng vẫn có thể học làm thơ được. Học bạn, học đồng nghiệp là tốt nhất. Nghe bạn nói, nghĩ bạn làm!

Từ khi còn trên ghế nhà trường, tôi vẫn thích thú với ý kiến một học giả Trung Quốc: “Làm thơ, ý kỵ nông, mạch kỵ thông, tứ kỵ lộ” nghĩa là lập ý tránh nông cạn, mạch thơ dẫn dắt người đọc tránh thẳng tuột, tứ thơ được giấu kín để làm cho bạn đọc bất ngờ thích thú! Khó thay! Nhưng lúc nào cũng phải treo lời nói này trước mặt, trong tim óc!

Người làm thơ, nói như Nguyễn Vũ Tiềm, phải là “người khác thường”. Không phải là “lập dị” mà là “cảm xúc khác thường, suy nghĩ khác thường, cách viết khác thường”.

Sau khi Nguyễn Văn Trỗi hy sinh anh dũng, có biết bao người làm thơ ca ngợi anh, rất nhiều bài hay, nhưng tôi thích bài thơ của Cờlốt Pari,một người bạn thơ của Tế Hanh có câu thơ rất lạ và rất hay tặng Tế Hanh: Hai chúng ta cùng khiêng anh ấy/ Thân thể Nguyễn Văn Trỗi điểm sao. Rõ rang Cờlốt Pari “cảm, nghĩ” và “viết” khác thường”! Thơ hay là như vậy!

VI. Điều độc đáo và kỳ lạ của thơ Việt Nam

Việt Nam tự hào là một nước nhỏ nhưng có nền văn hóa tiến bộ, lâu đời và ngày càng phát triển, càng văn minh. Tổ chức UNESCO của Liên hợp quốc công nhận và vinh danh bốn người con của dân tộc Việt Nam là “Danh nhân Văn hóa thế giới”: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh.

Thơ của bốn vĩ nhân, từ thơ quốc âm cho đến thơ chữ Hán, chữ Nôm, sấm ký … tất cả đều hay! Tách riêng phần thơ ra, các cụ là nhà thơ đích thực, nhà thơ lớn! Nhưng nếu tách thơ ra khỏi sự nghiệp của các cụ, e rằng màu sắc Danh nhân thế giới có phần nhạt phai, bớt rực rỡ. Bởi vậy thơ là một phần quan trọng góp phần làm sáng chói thêm chân dung Danh nhân văn hóa thế giới.

- “Thấy nguyệt tròn thì kể tháng

Nhìn hoa nở mới hay xuân

(Nguyễn Trãi)

- “Xuân về hoa nở, mùi hương nức

Khách đến, chim rừng, dáng mặt quen

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

- “Làn thu thủy, nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liều hờn kém xanh

(Nguyễn Du)

- “Rằm xuân lồng rộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

(Hồ Chí Minh)

Bạn đọc hãy dùng trái tim của mình để chiêm ngắm và thưởng thức.

H.A.T

 
Sáng tác văn học trẻ, gắn với giữ gìn phát huy sắc thái văn hóa địa phương

Nhóm VN8+2 tổ chức Hội thảo “Sáng tác Văn học trẻ gắn với giữ gìn, phát huy sắc thái văn hóa địa phương” tại Ninh Bình. Các tham luận đề cập tới thực trạng thiếu vắng các cây bút trẻ gắn bó với văn học; Hội VHNT các địa phương luôn quan tâm, bồi dưỡng phát triển đội ngũ những người viết văn trẻ song hiệu quả thu được còn hạn chế. Tại Hội thảo, các đại biểu đã đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm xây dựng lớp tác giả kế cận sáng tác văn học thể hiện sắc thái địa phương.
Cửa Biển trích đăng các tham luận tại Hội thảo.

Nhà thơ Bình Nguyên
Chủ tịch Hội VHNT Ninh Bình


Hội thảo: Sáng tác văn học trẻ, gắn với giữ gìn phát huy sắc thái văn hóa địa phương của Nhóm Hợp tác và phát triển VHNT khu vực phía Bắc (VN8+2) được tổ chức trong thời điểm nền VHNT khu vực, đất nước đang có sự vận động, chuyển biến, đan xen nhiều khuynh hướng sáng tác. Đây là việc làm có ý nghĩa thiết thực và bổ ích. Là việc làm để chúng ta góp phần khẳng định vị thế của văn học nói chung và văn học trẻ nói riêng trong đời sống xã hội và góp phần làm giầu cho bản sắc văn hoá theo tinh thần Nghị quyết ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị (khoá X) về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới ”.
Chúng tôi luôn hiểu rằng, các tác phẩm trẻ ra đời bao giờ cũng chịu nhiều thử thách của thời gian và sự đánh giá bình phẩm của công chúng. Bồi dưỡng, chăm sóc sáng tác trẻ gắn với giữ gìn, phát huy sắc thái văn hoá là trách nhiệm của những người làm công tác VHNT chúng ta. Mỗi vùng đất, mỗi địa phương đều có sắc thái văn hóa riêng, những sắc thái văn hóa riêng ấy hòa quyện với nhau trong dòng chảy qua  thời gian, bồi đắp nên diện mạo văn hóa, tạo ra những cánh đồng, làng bản, quê hương văn học nghệ thuật. Đằm sâu trong sắc thái văn hóa mỗi vùng, miền là sự thể hiện, quan tâm, bồi dưỡng, chăm sóc tài năng văn học nghệ thuật của mỗi miền quê, vùng đất. Cái đằm sâu ấy chảy êm đềm bồi lắng lên những lấp lánh phù sa... Có thể nói truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc luôn luôn là điểm tựa cho đội ngũ văn nghệ sỹ trẻ sáng tạo. Qua
nhiều bước thăng trầm của cuộc sống nhân dân ta đã hình thành nên một nền VHNT trường tồn cùng dân tộc. Tất cả những điều đó đã kết tinh thành văn hoá và văn hoá ấy đã lan truyền, toả hương cho mỗi vùng đất, con người quê hương, xứ sở.
Cuộc Hội thảo “Sáng tác văn học trẻ, gắn với giữ gìn phát huy sắc thái văn hóa địa phương” của Nhóm VN8+2 lần này sẽ góp phần làm rõ hơn công tác tìm nguồn, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những tài năng văn học trẻ, trên cơ sở đó cần có chính sách thu hút, tạo sự hấp dẫn, tình yêu văn học cho các tác giả trẻ, tác giả có khả năng sáng tác tốt, khích lệ tạo điều kiện đưa tác phẩm ra ngoài biên giới mỗi địa phương, tạo sự hưng phấn cho các tác giả trẻ không ngừng sáng tạo./.

Nhà thơ Vũ Kim Liên
Phó TBT Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ - Phú Thọ

Phú Thọ luôn đề cao vai trò sáng tác của văn nghệ sĩ, trong đó có lực lượng sáng tác văn học trẻ, luôn có sự định hướng để sáng tác trẻ đi vào quỹ đạo, không mang màu sắc chủ quan mà đi vào thực tế đời sống, mang hơi thở đời sống vào sáng tác, gắn liền với việc đề cao truyền thống cách mạng, sắc thái văn hóa vùng miền, tập quán sinh hoạt của  người đất Tổ. Coi trọng vai trò định hướng, kết hợp với tổ chức các trại sáng tác, các chuyến đi thực tế hướng về cơ sở để phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ, qua đó động viên biểu dương những thành công mà lực lượng sáng tác nói chung, sáng tác văn học trẻ nói riêng đã gặt hái được, đồng thời động viên anh chị em viết trẻ  bằng tình yêu của mình và trách nhiệm công dân tiếp tục bám sát vào đời sống sinh động ở mỗi vùng đất, mỗi làng quê để viết và kể lại những câu chuyện về con người và miền đất ấy thông qua các tác phẩm văn học của mình. Đến hẹn lại lên 2 năm/lần Hội lại mở trại sáng tác văn học trẻ cho đội ngũ các giảng viên đại học, các em sinh viên, học sinh có năng khiếu đến từ các trường đại học, cao đẳng, các trường THPT chuyên và không chuyên trên địa bàn
...Những tác phẩm của đội ngũ này được các nhà văn, nhà thơ, những cây bút phê bình chuyên nghiệp phân tích một cách khách quan, chỉ ra cái được và chưa được trong phương pháp sáng tác, kỹ năng thể hiện  và ngay cả sự cảm thụ, duy trì, nuôi dưỡng cảm xúc  từ nhiều góc độ của cuộc sống để hình thành phong cách viết cho mỗi người.
... Trong hơn 300 hội viên của Phú Thọ, có tới 40% là các cây bút trẻ. Những gương mặt trẻ trung, năng động của Hội đang dần hình thành phong cách viết riêng của mỗi người, song không ai thoát ly khỏi thiên hướng sáng tác vùng miền, bản sắc dân tộc, những nét văn hóa độc đáo mà mình đang được hưởng thụ. Đó cũng chính là ý thức, là trách nhiệm của người cầm bút trẻ.
... Là người sáng tác từng trải qua giai đoạn viết trẻ, thiết nghĩ Nhóm VN 8+2 nên tổ chức những trại sáng tác VHNT, nhất là trại sáng tác VH cho đội ngũ những người viết trẻ hoặc những hội nghị viết văn trẻ trong Nhóm để họ có điều kiện gặp gỡ, giao lưu, học hỏi và cọ sát cùng sáng tác nên những tác phẩm mang đậm sắc thái văn hóa địa phương; song hành với đó là các sáng tác trẻ này cần được gửi trao đổi, in ấn, quảng bá trên các phương tiện truyền thông là các Tạp chí in và các trang Web của các Hội trong Nhóm nhằm mở rộng mối giao kết, quảng bá sản phẩm VH cũng như sắc thái văn hóa của 10 tỉnh, thành phố trên phương tiện truyền thông của mình, góp phần làm phong phú nội dung cũng như giá trị của báo chí văn nghệ địa phương./.

Nhà thơ Nguyễn Đình Minh
Hội Liên hiệp VHNT HP


Bằng niềm say mê văn học, khả năng và bản lĩnh sáng tạo của riêng mình, tác phẩm của CLB những người viết văn trẻ Hải Phòng nối tiếp mạch nguồn của lớp tác giả lớn tuổi giàu suy nghĩ , chứa chan cảm xúc, gồ ghề động sóng và mộng mơ; đồng thời mang đến vẻ mới lạ của hình thức hiện đại vang động tiết tấu cuộc sống vùng đất sóng và nhịp đời. Các cây bút văn trẻ Hải Phòng không có ai cách tân theo những trường phái mới gây tranh luận; sự cách tân ở các tác giả nhìn chung đều gắn với mạch nguồn và phát triển phù hợp với thời đại về cả nội dung và hình thức. Dường như các tác giả văn trẻ nơi đây có chung nhận thức: sự cách tân nào cũng đi đến cái đẹp, do vậy không ít nhà thơ hòa vào dòng thơ lục bát và tạo được một số thành công nhất định như Bùi Thu Hằng,  Phạm Văn Tuấn, Đào Mạnh Long.
Vẻ đẹp của văn trẻ Hải Phòng về hình thức chính là sự cách tân trong độ cho phép phù hợp với cảm nhận của số đông độc giả; Sự đa dạng về đề tài được khai thác từ tính chất đặc trưng của miền đất đầy sóng gió có nhiều biến động phong phú đặc biệt là chất trí tuệ có hàm lượng cao hơn, cảm xúc hơn trong các tác phẩm. Đọc thơ, văn của tác giả trẻ Hải Phòng dễ thấy sự già dặn trong triết lý, trong kiến giải những hiện tượng, quy luật cuộc sống chủ đạo nổi lên là nỗi âu lo, sự thương cảm cho số phận con người và con đường phía trước được thể hiện bằng nhiều cung bậc cảm xúc.
... Trong bối cảnh xã hội có quá nhiều sự đổi thay, sự cám dỗ đặc biệt là áp lực, chi phối trong một đô thị lớn, những người viết văn trẻ Hải Phòng vẫn kiên định con đường viết văn. Trước một nền tảng mĩ học  đang có những  thay đổi, trước xu thế cách tân mạnh mẽ… đã tạo nên những áp lực lớn không chỉ cho những người viết nơi đây. Dường như nhận định ra phong cách của 24 cây bút văn trẻ Hải Phòng bây giờ là quá sớm, nhưng nhìn vào sự chấp nhận dấn thân trong cô độc để cống hiến tài năng, phẩm tính; nhìn những thử thách cam go mà người viết trẻ  dám đương đầu, có thể hy vọng Hải Phòng có một thế hệ tiếp nối vững vàng trong tương lai./.

Nhà văn Nông Quang Khiêm
Biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Yên Bái


Lực lượng sáng tác văn học trẻ dân tộc thiểu số ở Yên Bái quá mỏng. Hiện nay, mới có 9 hội viên là người dân tộc thiểu số, gồm 6 người dân tộc Tày, 2 dân tộc Dao, 1 dân tộc Mường. Lực lượng tác giả mỏng, lại khó khăn trong việc phát hiện, bồi dưỡng nhân tố mới. Tác giả trẻ tham gia sáng tạo văn học đã hiếm, tác giả trẻ dân tộc thiểu số tham gia sáng tạo văn học lại càng hiếm. Phát hiện đã khó, nuôi dưỡng còn khó hơn, đấy là chưa nói đến thành công trong sáng tạo VHNT bao giờ cũng khắt khe…
Vì vậy tác giả văn học trẻ dân tộc thiểu số rất cần được quan tâm nuôi dưỡng, trân trọng, rất cần tâm huyết, trách nhiệm thực sự của những người trong cuộc. Cá nhân tôi nghĩ rằng, cần tạo điều kiện hơn nữa cho các tác giả văn học trẻ dân tộc thiểu số tham dự các trại sáng tác, các cuộc tọa đàm, trao đổi, tạo điều kiện giao lưu học tập cũng như động viên, khuyến khích họ sáng tạo.  
... Một vấn đề nữa là sáng tác văn học bằng tiếng dân tộc, chữ viết dân tộc. Vài năm trở lại đây, Hội Yên Bái có thêm ấn phẩm Văn nghệ Yên Bái vùng cao. Đó là “đất” rất quý dành cho các tác giả sáng tác bằng tiếng dân tộc, chữ viết dân tộc, song ngữ dân tộc, dễ dàng tiếp cận và phục vụ đồng bào dân tộc, miền núi, vùng cao, vùng sâu vùng xa của tỉnh. Tuy nhiên lực lượng sáng tác này hiện chỉ đếm được trên đầu ngón tay với sự có mặt của một vài dân tộc như: Tày, Mông, Dao, Thái, Mường; các tác giả tiêu biểu có thể kể đến như: Vũ Khả, Lò Văn Biến, Đặng Ngọc Thông, Hoàng Tương Lai, Nông Quang Khiêm… Thiết nghĩ chúng ta cần có cơ chế khuyến khích hơn nữa cho các tác giả, nhất là các tác giả văn học trẻ dân tộc thiểu số sáng tác bằng tiếng dân tộc, chữ viết dân tộc, không vì hướng tới hội nhập, không để cơn lốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa mà đánh mất gốc, đánh mất bản sắc dân tộc.../.



Ban Tổ chức Hội thảo trao cờ lưu niệm cho 10 hội VHNT trong khu vực
Ảnh: Ninh Đức Hậu

Nhà văn Trương Thị Thương Huyền
Phó Chủ tịch Hội VHNT Hải Dương


Trong khái niệm Sáng tác văn học trẻ này, chúng tôi chỉ muốn đề cập tới sáng tác của những người trẻ tuổi, không có khái niệm về những gì gọi là làm mới văn học, làm văn học trẻ hoá mà không cần phân biệt tuổi tác người viết đang bùng phát trong giai đoạn hiện tại, đặc biệt là chúng tôi tập trung vào quá trình bồi dưỡng để những người viết trẻ góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, sắc thái văn hóa vùng miền của địa phương mình. Đó thực chất là một điều vô cùng  khó.
Nguyên nhân của cái khó ấy tập trung vào mấy vấn đề:
- Lực lượng trẻ yêu thích và tham gia sáng tác hiện tại không có nhiều. Với Hải Dương hiện nay, số lượng các tác giả tính từ tuổi 45 trở lại chỉ đếm chưa hết hai bàn tay (Còn nếu tính theo tiêu chí do Hội Nhà văn Việt Nam đưa ra, trẻ từ 35 tuổi trở xuống thì Hội chúng tôi … Không có).
- Những người viết trẻ ấy đã ít nhưng lại càng không có tham vọng trở thành người sáng tác chuyên nghiệp. Họ đều là những người đang sống bằng nghề khác và việc viết lách đối với họ chỉ như một thú vui, một nghề tay trái. Sáng tác chỉ hứng như một thú tiêu khiển để tìm kiếm, mong muốn vơi bớt những gánh nặng, những áp lực của cuộc sống thực tại, đồng thời cũng có hy vọng biểu hiện sự bình đẳng của cá nhân mình với mọi người, với bạn đọc trên khắp thế giới khi cuộc sống số phát triển rầm rộ như hiện nay và từ đó thì các sáng tác của họ hầu hết thể hiện cái tôi của mỗi người. Tác phẩm viết ra chủ yếu xuất bản “mạng” qua FC.
... Để sáng tác văn học trẻ gắn với các di sản văn hóa, lịch sử của mỗi địa phương, có thể cho rằng trước hết, Hội Văn nghệ cũng như Tạp chí văn nghệ ở mỗi tỉnh cần chủ động làm tốt phần việc của mình, thuộc phạm vi địa phương mình, đồng thời, liên kết với các tỉnh bạn trong hoạt động sáng tác và giới thiệu, quảng bá tác phẩm. Mặt khác, có những hoạt động cần được nâng lên tầm khu vực. Theo đó, mỗi tỉnh hoặc 10 tỉnh, thành phố trong khu vực có thể phối hợp cùng nhau áp dụng các giải pháp để nhằm nâng cao vai trò của tạp chí địa phương với việc tôn vinh, các sáng tác văn học trẻ phản ánh giá trị lịch sử, văn hóa, di sản vùng miền: - Tổ chức đi thực tế hoặc mở trại viết trẻ tại địa bàn có di sản văn hóa, lịch sử. Tổ chức hội thảo chuyên đề về tuyên truyền, quảng bá các di sản văn hóa, lịch sử; Tổ chức các cuộc thi sáng tác Trẻ chuyên loại hình VHNT như: văn xuôi, thơ, ảnh, mỹ thuật...  hoặc huy động mọi loại hình nghệ thuật phù hợp sáng tác tuyên truyền, quảng bá về một di sản văn hóa, lịch sử. Tạp chí văn nghệ các tỉnh nên dành “đất” giới thiệu tác phẩm của Hội, của Tạp chí văn nghệ tỉnh bạn, thường xuyên giữ mối liên hệ, trao đổi kinh nghiệm của tỉnh mình với tỉnh bạn trong việc tôn vinh các sáng tác văn học trẻ về đề tài này...

Nhà báo Ngô Hồng Giang
Phó Chủ tịch Hội VHNT Bắc Ninh

Có thể khẳng định, hiện nay đa phần các cây viết trẻ hiện nay đều có trình độ học vấn khá cao, tầm hiểu biết xã hội tương đối sâu rộng,  có một không gian văn hóa hiện đại, tuy nhiên trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, các cây viết trẻ dường như đều có chung tâm trạng là muốn đi tìm cái mới, cố gắng vượt qua những cái lỗi thời, mòn cũ. Đó là một mong muốn rất chính đáng. Tuy vậy, quan niệm thế nào là cái mới đích thực trong văn học thì không phải ai cũng đã tìm được câu trả lời thoả đáng. Người viết trẻ thường chuộng lạ, đó là cơ sở làm nên sự sáng tạo. Một điều dễ nhận thấy các nhà văn trẻ hôm nay đều rất tự tin, mạnh dạn thể hiện tài năng qua nhiều đề tài khác nhau. Trong các tác phẩm,  cách thể hiện những suy nghĩ về tình yêu khá “thoáng”: Những hờn giận, ghen tuông, sự cô đơn và nổi loạn... được khai thác một cách triệt để, đậm nét bằng trí tưởng tượng cũng như trải nghiệm của cá nhân người viết.
Tuy nhiên nhiều người viết trẻ bị “lạc” vào rừng văn chương hiện đại, do vậy không tự lựa chọn được con đường riêng cho mình. Sự buông thả, dễ dãi, háo danh cũng thường dẫn người ta sa vào ảo tưởng, ngộ nhận. Văn học trẻ vì thế mà vẫn loanh quanh trong rừng văn học hiện đại với quá nhiều trào lưu chưa rõ ràng.
.. Nhận biết được điều này chúng tôi đã và đang dần từng bước khắc phục để có được một đội ngũ viết văn trẻ có năng lực, trình độ. Chúng tôi đã thực hiện các giải pháp sau:
Một là, phối hợp chặt chẽ giữa Hội VHNT với Sở GDĐT, Tỉnh đoàn trong việc bồi dưỡng các cây bút viết văn trẻ, trọng tâm là đội ngũ những nhà giáo trẻ yêu văn học, các em học sinh đang học chuyên văn tại các trường phổ thông, trường cao đẳng sư phạm tỉnh, tiến tới xây dựng các câu lạc bộ viết văn trẻ ở các nhà trường.
Hai là, xây dựng kế hoạch mở các lớp bồi dưỡng sáng tác trẻ cho đội ngũ giáo viên và học sinh, tạo điều kiện cho họ có thời gian xâm nhập thực tiễn, tiếp cận với các mảng đề tài và xu thế sáng tác; định kỳ cử các nhà văn có uy tín của Hội nói chuyện về nghiệp vụ cũng như trao đổi về các vấn đề mà đội ngũ viết văn trẻ quan tâm. Đồng thời tích cực tìm tòi, phát hiện những cây viết trẻ trong cộng đồng, trong các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang nhằm làm phong phú và đã dạng hóa đội ngũ viết văn trẻ.
Ba là, có cơ chế ưu tiên thu hút kết nạp những cây viết có triển vọng vào Hội để có điều kiện bồi dưỡng giúp họ trưởng thành. Phối hợp với Tỉnh đoàn phát động các cuộc thi sáng tác truyện ngắn cho thanh thiếu nhi. Trên Tạp chí Người Kinh Bắc duy trì thường xuyên chuyên mục “Văn học với nhà trường” để thu hút các tác giả sáng tác, nhất là đội ngũ thầy cô giáo, học sinh, sinh viên.
Bốn là, thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu, mạn đàm về các chủ đề liên quan đến văn học trẻ hiện nay để kịp thời giải đáp những vướng mắc, đồng thời định hướng những mảng, những vấn đề cần quan tâm sáng tác hiện nay, nhất là vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương, đất nước./.

Nhà thơ Ninh Đức Hậu
Trưởng Ban Văn học trẻ Hội VHNT Ninh Bình


Hơn hai mươi năm qua, để tìm kiếm, phát hiện và kịp thời bồi dưỡng các tài năng văn học trẻ, Hội VHNT tỉnh Ninh Bình đã thành lập Ban Văn học trẻ, thường xuyên tổ chức các Trại sáng tác văn học trẻ, các cuộc thi sáng tác văn học dành cho lứa tuổi thanh thiếu niên. Chính vì vậy tỉnh Ninh Bình luôn luôn có một lực lượng sáng tác văn học trẻ. Lực lượng này kế tiếp nhau làm phong phú thêm đội ngũ sáng tác Văn học, và cũng là lực lượng tiếp nối cho đội ngũ văn nghệ sĩ.
... Từ khích lệ sáng tác giữ gìn bản sắc văn hoá địa phương Hội VHNT Ninh Bình còn là nơi kết dính đội ngũ sáng tác trẻ với Hội, để từ đó những sáng tác của họ trở thành gắn bó và là một bộ phận không thể thiếu được của văn học địa phương. Sự gắn bó của văn học trẻ với văn học địa phương được thể hiện rõ nét nhất đầu tiên phải kể đến đội ngũ. Hàng năm ở Ninh Bình, Trại sáng tác văn học trẻ được tổ chức mỗi năm 1 lần, mỗi lần từ 10 đến 15 ngày. Ngoài các cháu có tác phẩm thường xuyên gửi về Hội, Hội được sự giới thiệu đội ngũ từ Sở GDĐT, Trường Đại học Hoa Lư, một số Trường THPT và THCS, vì vậy năm nào đội ngũ tác giả trẻ cũng dao động từ 20 đến 30 cháu. Các tác giả trẻ luôn nhận được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, các sở ban ngành khác. Quan tâm về tinh thần, vật chất và được Hội quan tâm về chuyên môn nghiệp vụ. Các lớp bồi dưỡng sáng tác văn học trẻ được tổ chức, tạo nên sự gắn bó ngày càng mật thiết.
... Sự gắn bó của lực lượng sáng tác văn

học trẻ hiện đang học tập, công tác, sinh sống tại địa phương được thể hiện trên nhiều bình diện. Họ là đội ngũ không thể thiếu được của văn học địa phương. Tác phẩm của họ không những luôn thể hiện đậm đà bản sắc văn hoá vùng miền mà còn được cách tân, đổi mới, làm phong phú, đa dạng, chất lượng hơn. Họ đã vượt qua được sự bảo thủ nếu có, hoặc cách tư duy hay tiếp cận cái mới chưa có của một số tác giả đã cao tuổi. Trong thơ của Phạm Khải Lợi, Đặng Diệu Thoa, Cầm Thị Đào… hình ảnh Ninh Bình bao giờ cũng lấp lánh, sinh động. Còn thơ của Phạm Thuý Nga, Bùi Hồng, Bùi Thị Nhài thì mượt mà giàu hình ảnh. Các tác giả trẻ đã phần nào có tên tuổi trên văn đàn như Phạm Thị Duyên, Vũ Thanh Lịch, Phạm Tâm An thì bản sắc địa phương bao giờ cũng nổi bật. Trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Vũ Thanh Lịch vùng rừng đồi của thành phố Tam Điệp hiện lên rõ nét... Đất và người ở Nho Quan vào truyện ngắn của Phạm Thị Duyên cũng điển hình và nổi bật....Thơ của Trần Xuân Trường, Nguyễn Thanh Sơn, Phạm Tâm An lại đưa hình ảnh miền quê Kim Sơn, Yên Khánh lại gần với bạn đọc. Thơ của các tác giả trẻ này đang dần được khẳng định và họ luôn là lực lương kế cận...

Nhà báo Vũ Nghiêm Trợ
Phó TBT Báo Hạ Long - Quảng Ninh


Số hội viên Hội VHNT Quảng Ninh khá đông so với các tỉnh trong khu vực, song đang có chiều hướng già đi. Việc hội thảo lần này đưa ra chủ đề: “Sáng tác Văn học trẻ, gắn với giữ gìn, phát huy sắc thái văn hóa địa phương” là một vấn đề không mới nhưng đặc biệt quan trọng và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay, bởi lớp trẻ hiện nay đa phần không quan tâm đến văn học, chưa nói đến việc động viên họ đi theo con đường sáng tác VHNT là một việc làm không hề đơn giản chút nào. Từ tình hình thực tế, nhằm tạo nguồn và đội ngũ sáng tác kế cận, Quảng Ninh đã triển khai liên tục 6 năm trở lại đây  theo nhiều hướng khác nhau như: thông qua các hoạt động tại các Ngày thơ Quảng Ninh được tổ chức hàng năm, tổ chức cuộc thi sáng tác văn học tuổi học trò trên Báo Hạ Long, gửi báo đến các Trường THPT trên địa bàn tỉnh để các cháu tiếp cận dần với văn chươngv.v. nhưng kết quả vẫn còn hạn chế. Báo Hạ Long đã tổ chức phát động mở cuộc thi sáng tác thơ, truyện ngắn tuổi học trò lần thứ nhất (2011-2012). Hội đã cử các nhà văn, nhà thơ về một số trường THPT, THCS trên địa bàn tỉnh để tuyên truyền phổ biến cuộc thi. Sau gần hai năm phát động, cuộc thi đã thu được kết quả đáng phấn khởi, đã có trên 30 tác giả ở nhiều lứa tuổi thuộc các trường học trên địa bàn toàn tỉnh gửi gần 60 tác phẩm về dự thi, có những em ở vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo như Cô Tô, Ba Chẽ, Tiên Yên cũng gửi bài về dự thi.
... Trong bối cảnh hiện nay, sự phức tạp của cuộc sống đời thường, những quan hệ đa chiều của nền kinh tế thị trường có tác động không nhỏ đến đời sống VHNT, đa phần các tầng lớp trong xã hội chỉ quan tâm đến kinh tế, ít chú ý đến VHNT đặc biệt là giới trẻ. Vì thế công tác phát triển, bồi dưỡng đội ngũ sáng tác trẻ là một việc làm hết sức cần thiết trước mắt cũng như lâu dài, Hội VHNT Quảng Ninh những năm qua đã có những việc làm thiết thực mang tính lâu dài nhằm phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ sáng tác trẻ nhưng kết quả vẫn còn hạn chế, chưa thực sự rõ nét mặc dù đã có nhiều cố gắng. Từ diễn đàn này chúng tôi mong muốn có sự hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm giữa  Hội VHNT Quảng Ninh, với các Hội VHNT trong  Nhóm VN8+2, trong đó có việc đẩy mạnh các hoạt động liên kết sáng tác, trao đổi, quảng bá các tác phẩm đặc biệt là học tập, trao đổi kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng đội ngũ sáng tác trẻ./.

Nhà thơ Hà Thu
Tổng BT Tạp chí Văn nghệ Suối Reo - Sơn La


Những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng bộ, chính quyền tỉnh, Hội Liên hiệp VHNT Sơn La đã chú trọng phát hiện bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sỹ với các thế hệ tiếp nối thông qua các cuộc thi, các cuộc vận động sáng tác do trung ương, tỉnh và các ban ngành của tỉnh tổ chức. Ngoài những cây bút già dặn, có nghề mà tên tuổi đã được khẳng định như: Hoàng Mai Lộc, Lò Văn Cậy, Cầm Thị Chiêu, Cầm Hùng, Lò Vũ Vân, Hà Thu, Phan Thị Thu Hồng, Hoàng Lệ Thủy, Kiều Duy Khánh... Hiện lực lượng sáng tác của tỉnh đã được bổ sung thêm một số cây bút trẻ như: Hồng Minh, Trịnh Mỹ Duyên, Đinh Ngọc Minh, Trang Hà, Nguyễn Thái Hà... tuy nhiên chủ yếu viết về đề tài tình yêu đôi lứa, trong số đó cũng đã có một vài tác giả đã thể hiện sự tìm tòi về văn hóa của các dân tộc nhưng mới chỉ là sự tiếp cận bước đầu mà thôi.
Những tác giả trẻ là người dân tộc, sáng tác bằng ngôn ngữ mẹ đẻ hầu như còn thiếu vắng trên văn đàn. Khả năng am hiểu về phong tục, tập quán và vốn văn hóa truyền thống của chính dân tộc mình còn nhiều hạn chế. Bởi vậy, chất lượng tác phẩm chưa được như mong muốn. Trong thời gian qua, công tác phát triển hội viên mới, nhất là với các tác giả trẻ mặc dù hết sức được coi trọng  nhưng thực tế, số hội viên trẻ được kết nạp hàng năm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Thậm chí, có những năm trong lĩnh vực văn học không kết nạp được hội viên nào, nhất là mảng lý luận phê bình văn học, nghệ thuật càng thiếu vắng hơn.
... Đặc biệt là bản sắc văn hoá các dân tộc đang bị mai một ở mức báo động. Trong khi những người già, những nghệ nhân am hiểu văn hoá dân tộc đang vắng bóng dần thì không ít cán bộ và lớp trẻ người dân tộc lại thờ ơ với chữ viết và tiếng mẹ đẻ của chính mình. Vì vậy, cần phải coi “Sáng tác văn học trẻ, gắn với giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa địa phương” là nhiệm vụ, định hướng cấp thiết hàng đầu của Hội Sơn La. Nhằm bảo tồn bền vững bản sắc văn hóa truyền thống quý giá của các dân tộc, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của tỉnh và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn học nghệ thuật ngày càng cao của đồng bào.  
Từ thực trạng nêu trên Hội Liên hiệp VHNT tỉnh Sơn La đã đưa ra giải pháp khắc phục như sau: Động viên, khuyến khích các tác giả trẻ mạnh dạn tìm tòi, đi sâu phản ánh mọi mặt đời sống xã hội, đồng thời có những cách nhìn đa chiều, có phương tiện biểu đạt phong phú nhằm tạo ra những tác phẩm có giá trị cả về nội dung và nghệ thuật góp phần định hướng xã hội, truyền tải những ý nghĩa nhân văn và giá trị chân - thiện - mỹ thông qua các tác phẩm văn học - nghệ thuật chân chính.
Thường xuyên phát hiện, bồi dưỡng các tác giả trẻ có năng khiếu. Tổ chức các lớp nâng cao, bồi dưỡng kỹ năng sáng tạo VHNT tại địa phương và trung ương để họ có cơ hội giao lưu, học hỏi, trau dồi vốn sống và tích lũy kinh nghiệm, từng bước nâng cao năng lực sáng tác của mình.
... Hiện nay, tỉnh Sơn La đã ban hành Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về “Tăng cường lãnh đạo công tác phát triển VHNT trong thời kỳ mới” với các tiêu chí phấn đấu rất cụ thể. Đồng thời tiến hành nghiên cứu các đề tài khoa học và viết Dư địa chí Sơn La mang tính bách khoa toàn thư của tỉnh, trong đó có nội dung lớn về VHNT mà Hội Liên hiệp VHNT tỉnh cũng là thành viên Ban chỉ đạo và biên soạn nội dung./.

Nhà văn Nguyễn Thị Thu Hà
Phó Chủ tịch Hội VHNT Bắc Giang


Ở Bắc Giang xu hướng sáng tác trẻ đang được đa dạng hóa ở nhiều hình thức thể hiện bởi môi trường văn học nói chung của chúng ta cũng đang được mở cửa và giao lưu với nhiều nền văn học các nước trên thế giới. Người đọc bao giờ cũng hiếu kỳ với những tác phẩm được quảng bá, gây sốc. Đặc biệt giới trẻ là người thích khám phá những điều mới lạ.
... Đối với Hội VHNT Bắc Giang, Chi hội Văn học hiện có 50 hội viên, trong đó người viết trẻ ở lứa tuổi 7x trở về sau thì số lượng chỉ có 7 hội viên.
... Hội VHNT Bắc Giang đã chủ động tổ chức các trại sáng tác dành cho các lứa tuổi, các đề tài  gắn với tình hình thực tế tại địa phương, đồng thời Hội cũng thường xuyên lựa chọn những gương mặt viết trẻ, dưới độ tuổi 40 tham gia các trại viết của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam. Tuy nhiên  số lượng hội viên văn học trẻ ở Hội Bắc Giang còn ít, nên các hội viên này như trở thành gương mặt thân thuộc qua nhiều trại sáng tác trẻ ở trung ương. Sau mỗi đợt tham gia trại viết trẻ, những người viết trẻ của địa phương được giao lưu, mở rộng tầm nhìn và trưởng thành hơn trong cách viết. Bản thân tôi cũng là một người được tham gia 3 trại viết trẻ của Liên hiệp. Việc tổ chức những trại viết trẻ là rất cần thiết. Nhưng ở độ tuổi ngoài 20 tuổi đến khoảng 40 tuổi thì người viết  ở nhiều ngành nghề khác nhau, thời gian bố trí để tham gia trại viết trong khoảng 15 ngày liền thì không phải ai cũng có điều kiện.
...  Nhìn vào thực tế, người viết trẻ cũng đang là lực lượng quý hiếm ở các địa phương. Hy vọng rằng thời gian tới đây, từ các Hội VHNT ở địa phương có những hoạt động kết nối, giao lưu, cuộc thi dành riêng cho người viết trẻ tạo thành phong trào cổ vũ mạnh mẽ cho giới trẻ yêu thích văn học. Đặc biệt, ngoài vai trò về phía Hội địa phương thì Chi hội Văn học địa phương cần chủ động đưa ra kế hoạch gợi mở, phối hợp để tổ chức các hoạt động giao lưu, thành lập Câu lạc bộ Văn học trẻ để thu nạp người viết trẻ ở các huyện, thị trong tỉnh để bồi dưỡng và động viên họ phát triển thành hội viên của Hội VHNT tỉnh./.

 
Ngôn ngữ và đường dây biểu cảm trong tiếp nhận văn chương

Văn chương từ thuở nào vốn được xem như là một loại sáng tác dựa vào quy luật biểu cảm thông qua thế giới ngôn từ. Ngôn ngữ văn chương, do vậy, rất tinh tế và vô cùng năng động, về một phương diện nào đó, có thể hiểu chữ nghĩa của văn chương là nơi nhà văn kí gửi sự rung động của con tim thông qua thế giới cảm giác, cảm xúc, ấn tượng của chính riêng mình. Cũng vì vậy, nhiều người cho rằng muốn cảm nhận được văn chương, ngoài việc đọc bằng mắt, người đọc cần nhận biết nó bằng sức mạnh của chính trái tim mình. Chỉ bằng con đường ấy, người đọc mới xác định được chân giá trị của tác phẩm văn chương theo đúng quy luật của nghệ thuật. Và cũng chỉ qua con đường biểu cảm của thế giới ngôn từ ấy, người đọc mới có thể chia sẻ đích thực được bao niềm vui nỗi buồn mà người sáng tạo đã bộc lộ trên trang sách.
Để làm sáng tỏ cách hiểu trên, thử bắt đầu bằng một thí dụ hết sức đơn giản. Chẳng hạn từ nghe trong Tiếng thu của Lưu Trọng Lư.
Em không nghe mùa thu.
Dưới trăng mờ thổn thức...

Như thông thường được chấp nhận, nghe có nghĩa là đón nhận âm thanh bằng thính giác. Nhưng qua câu thơ đã dẫn, ta có nghe với sắc thái tinh tế khác. Nghe ở đây cũng là đón nhận. Nhưng không chỉ đón nhận bằng thính giác riêng đối tượng âm thanh. Mà đây là sự đón nhận bằng những rung động sâu lắng nhất của tâm hồn mình tất cả âm thanh, màu sắc, cùng mọi dáng vẻ của thế giới mùa thu. Em không nghe mùa thu/ Dưới trăng mờ thổn thức... Sức mạnh cảm xúc vừa tinh tế vừa sâu lắng của nhà thơ ở đây phải chăng đã làm giàu thêm cho ta sắc thái cảm hứng về nét đẹp của mùa thu. Tại đây, lấy ngữ nghĩa phổ quát có trước làm tiền đề, băng những xúc cảm tinh tế và sâu lắng của mình, tác giả đã đưa thêm vào nghe - tức là đồng hóa vào ngôn ngữ - một sắc thái cảm hứng mới về mùa thu. Cái mới được đồng hoá vào ngôn ngữ ấy chắc chắn là cái có thực, nó nảy sinh thực từ tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ. Như vậy, sự giàu có thêm lên của ngôn từ ở đây cũng chính là sự giàu có thêm lên của nội dung cảm xúc được chuyển hoá thành lớp trường nghĩa với sắc thái thẩm mĩ mới để tác giả hướng tới người đọc thông qua đường dây biểu cảm của tác phẩm văn chương.
Ở đây, cũng cần thấy rõ điều này. Sự tự biểu hiện và tự bộc lộ theo hướng biểu cảm của người sáng tạo theo cách trên không phải bỗng dưng mà có. Và dĩ nhiên nó không xuất hiện một cách ngang bằng với mọi cá thể. Vì ở nơi con người, cái đẹp, cái xấu, niềm vui, nỗi buồn cũng như sự yêu thương, hờn giận không phải là những nguồn mạch tự bẩm sinh. Trong việc tiếp xúc có định hướng trước thế giới khách quan, dần dà những cảm xúc ấy được hình thành nơi con người xã hội và tạo nên sự rộng mở các trường tri giác. Những trường tri giác ấy dĩ nhiên mở rộng nhanh hơn và có độ tinh tế sắc nhạy hơn ở nhà thơ, nhà văn. Và sự định hình của nó dĩ nhiên không thể tách rời khả năng xác lập đường dây biểu cảm để hướng tới người đọc trong tác phẩm văn chương.
Tuy nhiên, từ góc độ tạo nghĩa đối với người tiếp nhận khi nói đến đường dây biểu cảm với đầy đủ ý nghĩa của nó mà ta muốn hướng tới, không chỉ dừng lại nghĩa biểu cảm ở cấp độ từ vựng. Mà còn phải hướng tới lớp nghĩa biểu cảm ở cấp độ hình tượng. Vì như chúng ta biết, con đường tạo nghĩa theo hướng biểu cảm đích thực của loại tác phẩm văn chương (như truyện ngắn, tiểu thuyết) thường bao giờ cũng vậy, trước khi hướng tới đích cuối cùng là chủ đề tư tưởng, người đọc phải cùng lúc đi từ lớp nghĩa của từ đến lớp nghĩa hình tượng.
Hiểu được đường dây tạo nghĩa theo hướng trên, ta thấy được ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên không thể thiếu. Thấy cả sự thiên biến vạn hóa của chính nó trong tác phẩm văn chương.
Đặc biệt, qua sự thiên biến vạn hóa ấy ta càng có điều kiện thấu rõ tính chất phức tạp về sự hình thành đường dây biểu cảm trong mối quan hệ với hoạt động tạo nghĩa từ phía người tiếp nhận.
Đây vốn chính là mạch ngầm khó kiểm soát thường xuyên đặt ra đối với người giảng dạy.
Trong cách tiếp cận văn chương ở trường học hiện nay, có lẽ đây là chỗ bất cập thường gặp nhất Tại đây, người học thường nắm lấy chủ đề tư tưởng tác phẩm ở “đầu ra” nhưng không thông qua đường dây biểu cảm gắn với quá trình chế biến hình tượng ở “đầu vào”. Theo thói quen nào đó, các em học sinh ngại học văn thường thuộc làu chủ đề tư tưởng một cách vô cảm. Tức là, khi họ nói lên một cách trôi chảy chủ đề tư tưởng của tác phẩm theo hướng kết luận của thầy giảng thì coi như việc tiếp cận tác phẩm đã xong xuôi (Dù trước đó, họ cảm xúc một cách hời hợt hoặc thậm chí không bày tỏ được một cảm xúc cụ thể gì về hình tượng nhân vật). Cách tiếp cận chủ đề tư tưởng xa rời đường dây biểu cảm một cách vô cảm như vậy thường diễn ra với những mức độ khác nhau. Nhưng dù khác nhau thế nào, đó cũng là điều không phù hợp với yêu cầu tiếp nhận văn chương. Cách tiếp cận này trước tiên dĩ nhiên không thể nào thực sự phát huy được tính chủ động và năng động của người học. Và từ đó nó không thể nào kích thích sự mở rộng các trường xúc cảm để nâng cao trình độ thẩm mĩ gắn với việc rèn luyện khả năng nhạy bén về mặt tư duy hình tượng vốn được coi như là cái đích vô cùng quan trọng mà việc học văn cần hướng tới. Thực trạng trên tuy dễ nhận biết nhưng không dễ khắc phục. Vì tiếp nhận vốn là một hoạt động ngầm, người dạy khó trực tiếp kiểm soát. Mặt khác, tuy có nhiều tranh cãi nhưng bản chất tích hợp của hiện tượng này hầu như chưa được chúng ta nhận thức đầy đủ.
Để lí giải vấn đề, theo tôi, trước hết có lẽ chúng ta cần có ý thức bao quát chung về cơ chế tích hợp của quá trình tiếp nhận. Từ kinh nghiệm có được, chúng tôi hiểu: Tiếp nhận không tách rời với quá trình vừa tạo nghĩa vừa chế biến nghĩa thông qua con đường biểu cảm theo cơ chế chuyển hoá liên thông từ cấp độ từ đến cấp độ hình tượng để hướng tới chủ đề tư tưởng trong nội tâm người học.
Theo cách xác định trên thì ngôn ngữ nằm trong hoạt động tiếp nhận ở đây là một thứ ngôn ngữ được chế biến theo cơ chế chuyển mã bằng sức mạnh nội tâm của người tiếp nhận. Đúng hơn, đây chính là quá trình chế biến nghĩa từ mã ngôn ngữ (language code) sang mã hình tượng (image code) theo cơ chế tín hiệu học - một quá trình mà người trong cuộc vốn thường không dễ tự biết.
Để làm sáng tỏ cơ chế này, trước hết ta không thể đơn giản trong cách nhận thức. Theo tôi, có lẽ nên chia làm ba bước với cách hiểu cụ thể từng bước như sau:
Bước một: Từ góc độ tín hiệu học, cần khẳng định: Ngôn ngữ là một loại mã, và hình tượng cũng là một loại mã. Mã hình tượng lấy mã ngôn ngữ làm tiền đề, nhưng mã hình tượng không đồng nhất với mã ngôn ngữ về mặt cấp độ. Mã hình tượng được hình thành gắn trực tiếp với quá trình chuyển mã tuy bắt đầu từ tiền đề vật thể (có thể cảm nhận được bằng trực giác) là mã ngôn ngữ. Nhưng trên đường dây biểu cảm, khi chế biến mã ngôn ngữ thành mã hình tượng (trong nội tâm người tiếp nhận), thì hình tượng chỉ là một thực thể xúc cảm thẩm mĩ (aesthetic-emotional identity). Nó không còn là phẩm chất vật thể có thể được cảm nhận như mã ngôn ngữ. (Đây chính là chỗ phức tạp nhất nhưng ít khi được đề cập khi trục tiếp miêu tả quá trình chuyển mã).
Bước hai: Quá trình chuyển mã trong nội tâm người tiếp nhận này cần được lí giải triệt để hơn như sau:
Đối tượng khách thể (ngôn ngữ) qua khúc xạ tâm lí, chuyển hoá thành hình ảnh mang phẩm chất chủ quan của chủ thể tiếp nhận. Tại đây, quá trình này đã làm mờ đi những dấu hiệu vật thể của ngôn ngữ hiện thực, và thay vào đó là sự làm nổi rõ sức sống xúc cảm thẩm mĩ của chính người tiếp nhận gắn với hình ảnh mới (tức là hình tượng); và hình tượng này chỉ có người tiếp nhận tự mình hình dung ra, tự mình biết lấy, người thứ hai không có khả năng trực tiếp nhận biết Như vậy, tầm quan trọng của quá trình chuyển mã không thể giải thích tách rời với quá trình “phi vật thể hoá” (dematerialisation) lớp ngôn ngữ vật thể đầu tiên, vốn là tiền đề cho hoạt động năng động để xác lập đường dây biểu cảm trong tâm lí người tiếp nhận.
Bước ba: Khi lí giải theo hướng thao tác trên, từ góc độ giảng dạy, để làm rõ vấn đề, chúng ta cần tiếp tục định vị bao quát hình tượng cùng một lúc trên ba hướng: (1) Hình tượng là một loại tín hiệu thẩm mĩ tích hợp bằng sức sống cảm xúc được định hình từ quá trình chuyển mã gắn với hoạt động hướng nội thông qua cơ chế tâm lí; (2) Nếu trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ không có loại mã hình tượng trên thì, với người tiếp nhận, không thể nào có được sự quy nạp thành trạng thái nghĩa trừu tượng ở cấp độ cuối cùng (chủ đề tư tưởng) của tác phẩm; (3) Ngược lại, khi vừa phát ra và làm định hình thông báo, nếu không hướng vào sự định hình hệ thống hình tượng thì không thể có tiền đề cho sự liên kết văn bản theo hướng ngữ nghĩa đối với quá trình tiếp nhận.
Như vậy, nhìn chung, quá trình tiếp nhận thực chất là một quá trình hoạt động vừa tạo nghĩa vừa chế biến nghĩa mang tính hướng nội bằng con đường xúc cảm tâm lí thông qua cơ chế chuyển mã (Chỗ tích hợp này từ lâu chẳng những trở thành một hiện tượng khó nhận biết đối với người tiếp nhận mà thậm chí khó tự nhận biết cả đối với chính người sáng tạo!). Kiểu được điều này trong sự rộng mở, ta mới thấu rõ vì sao có thể nói: Khi học, người học chỉ nói được chủ đề tư tưởng nhưng không có xúc cảm gì về hình tượng nhân vật là cách học “vô cảm”, chưa đi đúng vào quĩ đạo của cách tiếp nhận văn chương.
Bên cạnh mặt tồn tại qua cách tiếp cận đã nêu, chúng ta có thể chỉ ra nhiều mặt của cách tiếp cận đúng hướng. Đặc biệt là từ góc độ kinh nghiệm giảng dạy, ta có thể nhận dạng và phân tích một số biểu hiện đúng quy luật, trong việc chủ động phát huy sức năng động nội tâm qua đường dây biểu cảm trong hoạt động tiếp nhận (chẳng hạn, qua giảng dạy Truyện Kiều).
Dĩ nhiên, thoạt tiên, với phản ứng của người tiếp nhận, Kiều chi là một tín hiệu ngôn ngữ. Tín hiệu Kiều, khi ở cấp độ từ, chỉ là một từ đối lập với những từ khác. Nhưng khi được chế biến thông qua đường dây biểu cảm ở cấp độ hình tượng trong cảm nhận người học, thì Kiều không còn đơn giản là một danh từ riêng nữa mà đã trở thành một hình tượng xúc cảm thẩm mĩ. Nó mang thông báo về số phận của một kiếp người phụ nữ bị đoạ đày trong nội tâm của chúng ta. Cũng theo cách hiểu trên, nếu mở rộng ra thì có thể nói một Kiều, một Kim Trọng, một Tú Bà... mỗi hình tượng là một thế giới yêu thương, giận ghét của chúng ta. Mỗi hình tượng được tạo ra là một phản ứng năng động chủ quan được nảy sinh từ tâm hồn chúng ta. Và tại đường dây biểu cảm để xác lập hình tượng nội tâm người học này, mạch biểu cảm của thể giới ngôn từ đã hóa thành sức sống của thế giới hình tượng. Tại sao chúng ta thán phục nghệ thuật tạo hình của Nguyễn Du qua Truyện Kiều với những nét tả Tú Bà “nhờn nhợt màu da”, “cao lớn đẫy đà”?... Phải chăng vì qua những từ ngữ trên, tác giả đã khơi dậy nơi ta và đánh thức trong ta mọi sự căm ghét và ghê tởm, để cuối cùng từ đó tự ta có thể làm bật dậy trong nội tâm của chính ta hình tượng một mụ Tú Bà đáng lên án?!... Chính tại đây, sức mạnh của quá trình xúc cảm nơi chủ thể tiếp nhận được phát huy tối đa để tạo ra hình tượng có thể xem như là một sự bừng sáng nội tại và tự thân hoàn toàn mang tính cá thể. Và khi ở vào trạng thái này của quá trình tiếp nhận, thì từ ngữ trong đường dây biểu cảm chỉ là những yếu tố gợi dẫn (suggesting factors), nó không tồn tại vì nổ, mà đã hòa nhập và trở thành hiện thân sức sống của hình tượng. Hiểu được cơ chế này, ta càng thấu rõ lời khẳng định hoàn toàn xác đảng sau đây của nhà lí luận văn học M.B. Khraptrencô: Chức năng miêu tả và biểu cảm của ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ trong khi hoà nhập với những thuộc tính giao tiếp, đã tạo ra những mối liên hệ phức tạp và đa dạng giữa cơ sở từ ngữ của tác phẩm với hệ thống hình tượng [2, 210].
Như vậy, trong quá trình làm rộng mở thế giới nội tâm của người học, đặc biệt, khi người học thông qua ngôn từ, bước vào giai đoạn tự điều chỉnh thế giới nội tâm của chính mình để hướng tới hình tượng thì, tại đây, người dạy có thể hiểu: Đây là quá trình người học tự làm giàu có thêm những sắc thái tâm lí xã hội nhân văn hết sức tinh tế nơi tâm hồn mình theo đường dây biểu cảm đang rộng mở về phía đồng sáng tạo trong quá trình tiếp nhận để hưởng tới chủ đề của tác phẩm một cách không vô cảm (Tại quá trình này, nếu không có sự yêu thương, giận ghét dấy lên trong lòng ta thì sẽ không có một hình tượng nhân vật đích thực nào cái Và, khi mà độ xúc cảm hình tượng nơi người học không được phát động thi quá trình xác định chủ đề thường chỉ là sự lặp lại một cách vô cảm những gì người dạy nói ra!). Chính từ đó, người giảng dạy có điều kiện để ý thức được rằng thao tác tiếp nhận văn chương thực ra cũng chính là thao tác tự bộc lộ sức mạnh nội tâm tự nơi chính mình của người học. Trong trường hợp này, có thể nói, người học đọc tác phẩm văn chương Truyện Kiều bằng mắt nhưng với sự gợi dẫn theo hướng đồng sáng tạo, người dạy đã làm cho người học hiểu tác phẩm không phải chỉ bằng mắt mà bằng cả chính trái tim mình, qua đó, tự phát hiện nỗi lòng mình, phát hiện sắc thái tâm lí xã hội nơi chính mình để, cuối cùng, tự mình quy nạp thành kết luận: Truyện Kiều là tác phẩm tố cáo chế độ phong kiến thối nát chà đạp quyền sống của người phụ nữ...!
Tuy không nói ra nhưng khi ở vào trạng thái này, chúng ta có thể ngầm hiểu: Hướng dẫn người học đi đúng vào con đường đồng sáng tạo trong tiếp nhận theo cách trên, dù muốn hay không, tức là chính người dạy đã làm sáng tỏ chẳng những quỵ luật về sự hoá thân của người tiếp nhận vào số phận của nhân vật mà cả quy luật về sự giao hoà giữa các cung bậc lí trí và tình cảm vốn nằm trong sự chế biến tích hợp của chính đường dây biểu cảm. Chẳng hạn, cũng với đối tượng là Truyện Kiều, tại đây qua quá trình tiếp nhận, khi thâm nhập vào đường dây biểu cảm với sự hóa thân vào cuộc đời đầy đau khổ của Kiều thì, dĩ nhiên, tự lòng mình, ta cũng khó trả lời một cách thật tách bạch: Chém cha cái số ba đào. Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi... đó là tiếng nói chỉ riêng của lí trí hay chỉ riêng của tình cảm? Đó là nỗi lòng của chỉ riêng Kiều hay vừa của Kiều, vừa của Nguyễn Du và vừa của cả chúng ta?! Đúng vậy, khi thâm nhập vào đường dây biểu cảm với sức mạnh của sự đồng sáng tạo thì tại đây, theo quy luật chung, bao giờ cũng hiện ra sự rộng mở một chân trời gặp gỡ giữa lí trí và tình cảm cũng như giữa nhân vật, tác giả và người đọc! Và cuối cùng, không ở đâu khác, mà chỉnh cũng tại trạng thái này, lần đầu tiên chúng tôi có điều kiện nhận dạng thực chất hơn sự giao nhau mang tính liên ngành giữa ngôn ngữ học, văn học, tâm lí học, tín hiệu học, thông tín học... (một sự giao nhau không phải thực hiện bằng những con số cộng cơ giới, mà bằng sự chế biến tích hợp từ quá trình tạo nghĩa theo hướng chuyển mã liên thông của chính đường dây biểu cảm!
Lược đồ hoạt động tiếp nhận theo cơ chế tạo nghĩa từ mã ngôn ngữ đến mã hình tượng và chủ đề tư tưởng trên đường dây biểu cảm:

* Có thể tham khảo 4 luận điểm trong tóm tắt báo cáo khoa học (Language and the creation of literature in the process of teaching) được chính  thức đưa lên mạng Hội nghị quốc tế về Thi pháp học (tại Phần Lan, 8/1995) với nguyên văn như sau:
... For the explcmation of this relation, it is very necessary to remark
1. The mouvement of the receiver becomes the recerving mouvement
2. The logical information of the language code is transformed into the aesthetic information of the image code
3. Here, thus, appears the obvious character of the connectedness of reason and feelmg and thrơugh thatyou have the expansion of the metting behveen the writer, the reader, the work’s character
4. And in this is the critically inclusive matter: Primarily because of the realization of the dytiamic activity of the receiver with the overall structure, we have the capacity to see the meeting ground between the branches of linguistics, literature, psychology, the study of logic, informatics (a meeting does not mean simple number crunching, rather, and effort at a more general integration of the dynamic quality of the receiver

Cuối cùng, về mặt nhận thức, từ tất cả những gì đã được đề cập qua Ngôn ngữ và đường dây biểu cảm trong tiếp nhận văn chương, chúng tôi có mấy ghi nhận cơ bản cần được lưu ý:
1. Tiếp nhận văn chương trong môi trường văn học nghệ thuật, dù với dạng thơ hay văn xuôi, bao giờ trước hết cũng là một hoạt động nằm trong đường dây biểu cảm gắn với sức sống của ngôn từ vốn được chế biến bằng năng lực sáng tạo và năng lực cảm thụ chủ quan của người sáng tạo và người tiếp nhận. Do vậy, nếu không thấy được sức năng động chủ quan của cá thể tạo nên đường dây biểu cảm thông qua thế giới ngôn từ thì không có tiền đề xuất phát để đi vào cơ chế tiếp nhận.
2. Đặt vấn đề tiếp nhận văn chương thông qua đường dây biểu cảm trong sự nhấn mạnh quá trình chế biến hình tượng từ lớp nghĩa ngôn từ như đã làm, thực chất là nói đến quá trình vừa tạo nghĩa vừa chế biến nghĩa (theo nguyên tắc chuyển mã thông qua đồng sáng tạo) để nhận dạng đẫy đủ tính chất phức tạp vốn có quy luật nhưng khó kiểm soát đối với quá trình tiếp nhận. Do vậy, nếu không thấy được con đường đồng sáng tạo thông qua cơ chế vừa tạo nghĩa vừa chế biến nghĩa theo nguyên tắc chuyển mã (liên thông cấp độ) thì không có điều kiện để nhận thức đầy đủ quy luật chung nhất của quá trình tiếp nhận.
3. Tiếp nhận văn chương bao giờ cũng là một quá trình đồng sáng tạo thông qua đường dây biểu cảm vốn được xác lập bằng phương tiện ngôn từ. Do vậy, trong giảng dạy, nếu không thông qua đường dây biểu cảm để dẫn người học vào con đường đồng sáng tạo (cocreation) thì quá trình tiếp nhận văn chương sẽ dễ bị lạc vào hướng xã hội học dung tục./.

* Tài liệu tham khảo
1. Kagan M, Những bài giảng về thẩm mĩ Mác - Lênin, Berlin, 1975.
2. Khaptrenco M B., Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn hoc, H., 1976.
3. Nhiều tác giả, Những vấn đề khoa học của văn học, H., 1990.
4. Naumann M., Xã hội - Văn học - Người đọc, Berlin, 1971.
5. Spillner B., Linguistik und Litera- turwissenschaft, Stutgart, 1974.
6. Nguyễn Lai, Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học, H., 1991.
7. Nguyễn Lai, Language and the creation of literature in the process of teaching, Báo cáo tại Hội nghị quốc tể về thi pháp, tại Phần Lan, 8/1995.

GS.TSKH Nguyễn Lai

 


 
Hồ Chí Minh nếp sống – con người

Ghi lại hình ảnh những tư liệu và di vật của Bác Hồ để lại trong suốt những năm làm phim về Bác, càng hiểu thêm nhiều ý nghĩa sâu sắc trong phong cách sinh hoạt – nếp sống của Người, một cuộc sống đẹp mang những giá trị văn hóa của cuộc đời đạt tới đạo lý thanh cao.

Ngôi nhà sàn bé nhỏ, vài bộ quần áo vải, đôi dép cao su, chiếc giường, tủ quần áo, giá sách... những thứ cần cho công việc và nghỉ ngơi để lấy lại sức làm việc, chỉ có thế thôi, không gì hơn nữa, gắn bó với sinh hoạt, nếp sống làm nên hình ảnh của Bác, một người ở giữa mọi người, bình thường như mọi người, như một cảm nhận của bạn bè quốc tế đến thăm ngôi nhà sàn của Bác: “Không hề có dấu vết uy lực đè nén của chức quyền, của địa vị, tài sản cả của tài năng, trí tuệ, nhưng vẫn chứa đựng một lòng thương yêu rộng rãi bao la, một tình cảm thiêng liêng còn mãi”.

Tháng 5 lại đến, nhìn những cây phượng la đà bên hồ cá nở hoa rực rỡ lại nhớ đến chiếc quạt giản dị Bác dùng trong suốt 15 năm cuối đời với mùa hè Hà Nội. Những năm đầu Bác còn ở trong căn buồng nhỏ của người thợ điện ở Phủ Toàn quyền cũ. Thấy cái buồng rất nóng, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch trông nom sức khỏe cho Bác mấy lần đề nghị Bác cho lắp cái máy điều hòa nhiệt độ, Bác đều không bằng lòng.

Trong nhà sàn của Bác có chiếc quạt máy Thượng Hải của nước bạn Trung Quốc biếu Bác dùng thử để giới thiệu một số cải tiến tính năng rất hay. Bác bảo dùng vài lần để xem nó hay như thế nào, khi biết rồi, Bác rất ít dùng. Trong sinh hoạt, Bác không muốn tạo thành thói quen, lệ thuộc vào bất cứ cái gì, trước sau vẫn giữ nếp sống đơn giản, tự nhiên như bản tính vốn có. Xem lại những thước phim tư liệu những khi Bác làm việc, nghỉ ngơi hay đi thăm các nơi, thấy Bác thường dùng cái quạt giấy, loại quạt mà các cụ ở nông thôn và các nhà bình dân ngoài phố hay dùng. Mỗi khi ghi lại hình ảnh chiếc quạt này của Bác trong Bảo tàng, nhìn đến đoạn nan gãy được quấn lại bằng băng dính, lại tưởng tượng thấy hình dáng của Bác ngồi cặm cụi chữa quạt một mình, thấy thương Bác vô cùng!

Trong khu vườn Bác có vài cây cọ, một hôm có mấy tàu cọ già rơi xuống, Bác bảo anh em cắt lấy mỗi người một mảnh làm quạt. Để khỏi lẫn, Bác lấy que diêm cháy dở châm thủng ba lỗ ở chỗ tay cầm làm dấu bảo đây là quạt của Bác Hồ. Bác đã dùng chiếc quạt đó cho đến những phút cuối cùng nằm trên giường bệnh. Mỗi khi làm phim, ghi lại hình ảnh những di vật này lại nhớ đến Bác, lâu dần thấm vào trong lòng một suy nghĩ về nếp sống và sinh hoạt của Bác đạt tới một ý niệm về “Tâm lập”. Cái Tâm làm chủ và hòa đồng với mọi biến đổi của tự nhiên. “Thiên Nhân hợp nhất” – con người với thiên nhiên là một.

Trong Bảo tàng có chiếc áo bông cũ của Bác có miếng vá ở vai. Đó là chiếc áo bông đồng bào biếu, Bác dùng đã nhiều năm. Trong đoạn phim ghi lại chuyến về thăm Pắc Bó (Cao Bằng) có hình ảnh Bác mặc chiếc áo bông này, thân thiết bắt tay bà con vui mừng ra đón Bác. Chiếc áo dùng lâu phai màu, đứt chỉ ở cổ tay và cổ, lại rách cả vai, Bác bảo mạng vá lại cho Bác mặc. Có đồng chí nhiều năm làm việc với Bác, xin Bác cho thay vỏ ngoài chiếc áo. Bác nói thân tình: “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch Nước mà còn mặc áo vá như thế này là cái phúc của dân dấy chú ạ!” Bác nói câu này vào một ngày giá rét, tháng 2 năm 1969, sáu tháng trước khi Bác qua đời. Con người giản dị, khiêm nhường như vậy nhưng không bao giờ là con người khắc kỷ. Nhà hiền triết tránh thói xa hoa, thái quá để đưa văn hóa vào đời sống của dân đã tự xác định nếp sống của mình là: “Phải biết ăn ngon mặc đẹp cho đúng thời, phải đúng cảnh. Trong lúc nhân dân còn thiếu thốn mà một người nào đó muốn riêng hưởng ăn ngon mặc đẹp thì không có đạo đức...”. Bác có thể phê bình một đồng chí, một bạn chiến đấu cũ, một cán bộ cấp cao của Nhà nước đến thăm Bác trong thời chiến mà đóng bộ comple, cà vạt: “Nếu như chú đi tiếp khách quốc tế, chú thắt cà vạt là cần, là đúng. Nhưng đến đây là đến với Bác, chú lại như thế này ư?”.  Có lần Bác nói ở một hội nghị: “Rồi đây, chúng ta phải có nhiều loại nước hoa cho chị em phụ nữ được dùng”. Nếp sống văn hóa của Bác là nếp sống ân nghĩa, chân tình đến từng khía cạnh sâu sắc của tâm lý con người. Thăm chỗ ở của một đồng chí bảo vệ đã có gia đình ở quê, thấy đầu giường có dán ảnh một cô văn công xinh đẹp, Bác hỏi: “Có phải ảnh thím ấy đây không?”. Rồi Bác bảo: “Nếu chú định dán ảnh đầu giường sao chú không dán ảnh thím ấy mà lại dán ảnh cô văn công? Nếu bây giờ chú về thăm nhà, chú thấy thím ấy dán ở đầu giường ảnh một anh chàng nào đấy không phải chú cười cười cợt cợt liệu chú có vui không?”. Cách ứng xử và những lời nói giản dị của Bác là những chuyện thường nhật nhưng đều mang xuất xứ của một tri giác sâu sắc về đạo đức các vấn đề con người và xã hội.

Văn hóa trong nếp sống còn thể hiện trong những bữa ăn bình thường của Người. Những thước phim ghi lại hình ảnh bữa ăn của Bác ở chiến khu Việt Bắc với anh em chiến sĩ, với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng làm việc hay sau này ở thủ đô khi Bác mời cơm thân mật mọi người cũng vẫn giữ một phong cách giản dị ân tình như vậy. Bữa ăn của Bác thường đạm bạc, rất khó tưởng tượng với nhiều người. Trong bữa ăn, Bác lưu ý mọi người ăn món nào thì ăn cho hết, món nào không ăn để lại thì giữ cho tươm tất, nói lên tấm lòng yêu mến, lòng kính trọng của Bác đối với những người chế biến bữa ăn, và sâu xa hơn đối với những người sản xuất ra các thứ làm nên bữa ăn. Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc sinh thời thường ngày dùng cơm với Bác kể lại: Biết Bác thích ăn đầu cá, nhất là miếng môi con cá, anh em tìm được cá Anh Vũ là loại cá quý thượng nguồn sông Đà có miếng môi thật ngon về làm cơm cho Bác. Bác mời Thủ tướng cùng ăn. Bác khen ngon. Lần thứ hai lại làm đầu cá Anh Vũ dành cho Bác. Bác hỏi cặn kẽ đồng chí làm bếp. Biết chuyện, Bác không bằng lòng. Bác nói: “Nhất định từ nay phải thôi, không được làm như thế nữa. Các chú đừng làm thành một thứ cá tiến Vua như thế, không đúng đâu...!”. Và thế là thôi, không bao giờ Bác ăn cá Anh Vũ nữa. Dù đấy là con cá Bác thích.

Suốt một đời làm phim đi nhiều nơi, ghi lại những kỷ niệm cuộc đời và những di vật của Bác, thấy hiện lên ý nghĩa sâu sắc của tư tưởng triết học và đạo lý phương Đông thể hiện qua nếp sống và cách ứng xử của Bác trong suốt cuộc đời, kiểu như Lão Tử thường kêu gọi: “Khử thậm, khử xa, khử thái”. Nghĩa là gạt bỏ cái quá mức, gạt bỏ cái xa hoa, gạt bỏ cái hào nhoáng. Còn Khổng Tử thì nhấn mạnh rằng: “Kiểu thái dĩ thất chi”, nghĩa là kiêu căng và hào nhoáng thì mất lòng người. Học giả Pháp Phơrăngxoa Ankiê khẳng định: “Đến vinh quang tột đỉnh, cụ Hồ vẫn sống như trước kia, nghĩa là vẫn ghét thói xa hoa, hào nhoáng...”. Phải chăng nếp sống nhất quán trong sự giản dị và khiêm tốn của Bác chính là một trong những tri thức hiện đại của nền văn hóa tương lai “khi quy luật và nếp sống điều độ cũng như sự cân bằng và hài hòa giữa con người và tự nhiên là một tất yếu mang tính vĩnh cửu trong các nhu cầu phát triển liên tục của nền văn hóa nhân loại”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa nếp sống văn hóa vào tâm hồn của bản thân mình và của cả quần chúng khi vạch ra cho nhân dân “con đường đi tới một đời sống có đủ điều kiện xứng đáng với con người” như Người đã đề ra. Người vốn phản đối việc chia đều sự nghèo khổ trong quần chúng và kêu gọi xây dựng một xã hội công bằng để đất nước và nhân dân mau chóng vượt qua cảnh nghèo nàn đi lên “con đường lớn làm ra của cải” như một tư tưởng chứa đựng quan hệ hợp lý giữa con người và trời đất, giữa lãnh đạo và quần chúng như một nhu cầu văn hóa không thể bỏ mất trong nếp sống con người.

Nếp sống Hồ Chí Minh là nếp sống văn hóa cao cả của con người và những di vật còn lại của Bác là tài sản quý báu của dân tộc chứa đựng tình cảm thiêng liêng đối với hình ảnh và cuộc đời của Bác.

Trong những ngày chúng tôi làm bộ phim chân dung “Đồng chí Phạm Văn Đồng”, Thủ tướng thường nhắc lại một lời xúc cảm: “Hồ Chí Minh là một người cộng sản mẫu mực, làm nảy sinh một ý tưởng thú vị: Người cộng sản đẹp làm chủ nghĩa cộng sản đẹp và chủ nghĩa cộng sản đẹp làm người cộng sản đẹp!”./.

Đào Trọng Khánh

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)

 

 

Cầu Thượng Lỹ - Tranh Nguyễn Văn Trường

Cầu Thượng Lý - Tranh sơn khắc của Nguyễn Văn Trường

 

Chiến thắng Bạch Đằng - Tranh khắc gỗ của Đặng Hướng

 

Chân dung nhà thơ Nguyễn Viết Lãm - Tượng đồng của Khắc Nghi

 

Buổi trưa vắng - Sơn dầu của Đặng Tiến

 

Sông Cấm - Tranh của Sơn Trúc

 

Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Trung thu trên đảo - Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

 

Tranh của Lê Viết Sử

Carnaval Hải Phòng - Tranh Lê Viết Sử

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...