Rừng che bộ đội - Sơn dầu của Quốc Thái

 

Hoa công nghiệp - Ảnh Nguyễn Viết Rừng

 

Cánh tay công nghiệp - Ảnh Vương Khánh Hồng

 

ẢNh Vũ Thành Chung

Chăn vịt - Ảnh Vũ Thành Chung

 

Mùa gặt - Ảnh Đức Biên

 

Đôi mắt cô gái H’mông - Ảnh Vũ Dũng


Hiện có 36 khách Trực tuyến
Thơ tự sự của Trần Nhuận Minh

Tự sự bằng thơ khó hơn tự sự bằng văn xuôi, bởi thơ bị vần điệu, cấu tứ, số chữ trong câu, số câu trong bài chi phối. Trên văn đàn hiện nay, Trần Nhuận Minh nổi lên như một trong số ít các nhà thơ có biệt tài làm thơ tự sự. Điều đó được thể hiện qua một loạt bài: Mợ Hữu, Thím Hai Vai, Ông Hủi, Dì Nga, Cô Bổng, Bá Kim, Cháu Thủy, Ông Vọng... Tài làm thơ tự sự không chỉ góp phần tạo nên nét riêng trong phong cách thơ Trần Nhuận Minh mà còn tạo nên sức hấp dẫn đến khó tin của thi phẩm Nhà thơ và hoa cỏ (có số lần tái bản vào loại kỉ lục).


Phong cách thơ Trần Nhuận Minh khá đa dạng: vừa hiện thực vừa lãng mạn; vừa nôm na, bình dị vừa lịch lãm, uyên bác; vừa hóm hỉnh, đáo để vừa triết lí, thâm trầm… Nhưng cái chủ yếu làm nên thương hiệu Trần Nhuận Minh gần đây, theo tôi chính là nghệ thuật kể chuyện bằng thơ hết sức tài tình của anh. Nếu lược bỏ đi tất cả những bài được anh viết theo lối tự sự, tôi tin là giá trị và sức hấp dẫn của Nhà thơ và hoa cỏ sẽ giảm đi đáng kể. Trước Trần Nhuận Minh, Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ có lối kể chuyện khá độc đáo. Nhưng yếu tố tự sự trong những bài thơ kể chuyện của Nguyễn Bính chỉ đóng vai trò phụ. ở các bài thơ ấy, chủ yếu là tác giả diễn tả nội tâm nhân vật. Chất trữ tình trong thơ kể chuyện của Nguyễn Bính lấn át chất tự sự. Còn Trần Nhuận Minh thì ngược lại. Ngay cách đặt tiêu đề đã phần nào nói lên điều đó. Các tiêu đề của Nguyễn Bính: Hoa và rượu, Lỡ bước sang ngang, Mưa xuân… mang đậm chất trữ tình. Các tiêu đề của Trần Nhuận Minh: Mợ Hữu, Thím Hai Vai, Ông Hủi… mang đậm chất tự sự. Nhà thơ Nguyễn Bính hầu như không quan tâm đến việc miêu tả ngoại hình nhân vật. Ta không biết nhân vật người chị trong Lỡ bước sang ngang, người em trong Hoa và rượu, cô gái trong Mưa xuân… vóc dáng, da dẻ, mặt mũi, tóc tai, áo quần… như thế nào. Còn Trần Nhuận Minh lại rất chú tâm đặc tả ngoại hình nhân vật trong những bài thơ tự sự của mình. Bá Kim suốt ngày mò cua, bắt ốc “mu bàn tay chéo chằng vết xước”; ông Vọng làm nghề đánh giậm “người như thỏi sắt cháy thui”; dì Nga lấy chồng cảnh sát, lắm tiền nhiều của, tha hồ ăn diện “chuỗi bạc trong ngực áo”, “vòng vàng ngoài cổ tay”…


Lời thoại trong các bài thơ kể chuyện của Nguyễn Bính rất ít, chỉ chêm vào một đôi câu, kiểu như Em ơi, nói nhỏ câu này với em (Lỡ bước sang ngang) hoặc Mẹ bảo: Mùa xuân đã cạn ngày (Mưa xuân). Khác với Nguyễn Bính, trong các bài thơ tự sự của mình, Trần Nhuận Minh sử dụng khá nhiều lời thoại. Về điểm này, có lẽ nhà thơ học Nguyễn Du chăng. Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã đưa lời thoại vào thơ rất đắc địa. Tôi phục nhất là đoạn cụ để cho mụ Tú Bà xỉa xói nàng Kiều: Lão kia có giở bài bây/ Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe/ Cớ sao chịu lép một bề/ Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao… Đúng là thứ ngôn ngữ chợ búa không lẫn vào đâu được! Trần Nhuận Minh thường chọn thể năm chữ, sáu chữ để sáng tác thơ tự sự nên dễ đưa lời thoại vào hơn là thể lục bát. Cách đưa lời thoại của Trần Nhuận Minh hết sức tự nhiên, linh hoạt. Có đôi chỗ anh “nhại” cụ Nguyễn Du:  Hỏi vợ Vợ bỏ tớ/ Hỏi con Nó vượt biên/ Hỏi nhà Nhà tớ bán/ Hỏi thơ Đếch ai in (Bạn cũ). Đọc đoạn hội thoại này, ta liên tưởng ngay đến mấy câu thơ trong Truyện Kiều: Hỏi ông, ông mắc tụng đình/ Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha… Có khi trong cả bài thơ Trần Nhuận Minh chỉ chen vào một vài lời thoại, như các bài: Thăm bạn, Tinh chất, Nhà thơ áp tải… Có trường hợp toàn bộ bài thơ là lời thoại, như bài Dặn con: Chẳng ai muốn làm hành khất/ Tội trời đày ở nhân gian/ Con không được cười giễu họ/ Dù họ hôi hám úa tàn/ Nhà mình sát đường, họ đến/ Có cho thì có là bao/ Con không bao giờ được hỏi/ Quê hương họ ở nơi nào/ Con chó nhà mình rất hư/ Cứ thấy ăn mày là cắn/ Con phải răn dạy nó đi/ Nếu không thì con nên bán/ Mình tạm gọi là no ấm/ Ai biết cơ trời vần xoay/ Lòng tốt gửi vào thiên hạ/ Biết đâu nuôi bố sau này… Nhà thơ Tố Hữu trước đây cũng từng “dặn con” bằng lời thoại, nhưng tác giả đã cách điệu hóa trong lời ru ngọt ngào của thể lục bát: Con ong làm mật yêu hoa/ Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời/ Con người muốn sống, con ơi/ Phải yêu đồng chí, yêu người anh em… Còn Trần Nhuận Minh thì nói bằng thứ ngôn ngữ đời thường, nôm na, bình dị. Nhưng ẩn đằng sau những câu nói bình dị, nôm na ấy chất chứa tình yêu thương con người và triết lí nhân sinh.


Trong những bài thơ tự sự, Trần Nhuận Minh tỏ ra rất có tài quan sát, nắm bắt chi tiết và thấu hiểu tâm lý người đời. Bài Mợ Hữu là một minh chứng. Khi nghe tin cậu Hữu vừa làm nhà ba tầng xong thì mất đột ngột: Cô bác từ quê ra viếng/ Thấy mợ dịu dàng mảnh mai/ Mà nhà thì to đẹp thế/ Biết rồi sẽ về tay ai?/ Em chồng mắt lườm miệng nguýt/ Vô tâm mợ có hay đâu/ Thương cậu mợ không biết khóc/ Thỉnh thoảng lại hờ một câu… Cô bác thì chỉ nghĩ trong bụng không nói ra, em chồng thì tỏ thái độ khó chịu với chị dâu ra mặt, cái tiếng “hờ” của mợ Hữu là khóc thật hay khóc giả khó lòng biết được. Phần lớn những bài thơ tự sự, Trần Nhuận Minh thường dùng khổ kết để bày tỏ thái độ, cảm xúc, suy nghĩ của mình trước những điều tai nghe, mắt thấy. Với mợ Hữu - vừa đáng thương, vừa đáng trách, nhà thơ có cách nghĩ riêng: Trời ơi! Tách bạch mà chi/ Dòng sông muôn đời vẫn thế/ Đục trong thì cũng trôi đi (Mợ Hữu); với bá Kim - một bà cụ hiền hậu và thơm thảo, nhà thơ bày tỏ lòng cảm phục, yêu mến: Tôi chắp tay trước màu xanh muôn thuở/ Vẫn từng xanh trên làng xóm ruộng đồng (Bá Kim); với cô Bổng - trước cán bộ hết sức gương mẫu về hưu lại làm nghề bói toán, đồng bóng, nhà thơ trăn trở, băn khoăn: Sự thế buồn vui lẫn lộn/ Nào ai hiểu được vì sao (Cô Bổng).


Nhân vật trong thơ tự sự của Trần Nhuận Minh mỗi người một số phận. Có người thoái hóa, biến chất (Thăm bạn); có người rơi vào tình cảnh éo le (Mợ Hữu); có người trước khi mất mới tỉnh ngộ (Phút lâm chung của cụ Hãn)… Tất cả đều được Trần Nhuận Mình đánh giá và bày tỏ thái độ dưới góc nhìn của một người giàu tính nhân văn, độ lượng. Anh đặc biệt quan tâm đến thân phận những người dân lao động: bá Kim “trước móc cua, bây giờ cũng móc cua”, ông Vọng đánh giậm “quanh năm chỉ mặc quần đùi”, thím Hai Vui “cấy cày đến quắt người”, cháu Mừng đi đào than thổ phỉ, sập lò, bị gẫy nát “xác buộc túm trong vải bạt”… Trần Nhuận Minh đã viết những vần thơ đầy thương cảm về họ. Nhưng nếu chỉ thế thôi thì anh cũng giống như bao nhà thơ, nhà văn hiện thực khác. Có người còn viết sâu sắc và xúc động hơn anh.


Điều làm tôi cảm phục Trần Nhuận Minh là anh dám “nói thẳng, nói thật” những vấn đề nhức nhối trong xã hội chúng ta hiện nay - điều mà trước những năm chín mươi của thế kỷ trước (khi chưa được “cởi trói”), ít ai dám nói. Có thời ở nước ta, do thất nghiệp, do nghèo đói, do sự suy thoái về đạo đức… mà nạn trộm cướp hoành hành khắp nơi. Nhà thơ Thanh Tùng của Hải Phòng (tác giả Thời hoa đỏ) làm nghề áp tải cho biết: Thỉnh thoảng lại gặp cướp/ Còn trộm… thì mênh mông… Người ta thường nói biển mênh mông, rừng mênh mông, cánh đồng mênh mông… không ngờ những kẻ chuyên nghề ăn trộm cũng “mênh mông”, nghĩa là nhiều vô kể. Chính điều này đã tạo nên tình trạng bất an trong dân chúng. Nhà văn Võ Huy Tâm (tác giả tiểu thuyết Vùng mỏ) nói một cách hóm hỉnh: Trông mình như hành khất/ Trộm cướp nó sẽ tha. Có nhà thơ cho cả hai cô con gái học võ, với lí do: Đâu cũng có cướp giật/ Biết cậy nhờ vào ai? Trần Nhuận Minh thốt lên chua chát: Đất nước có một thời/ Kẻ gian nhiều như nấm/ Không ngờ một nhà thơ/ Lại sống bằng… nắm đấm. Bên cạnh nạn trộm cướp là tệ nạn tham nhũng, nghiện ngập, cờ bạc, vàng thau lẫn lộn: Đứa viết gì cũng giả/ Lại được đài, báo khen (Nhà thơ áp tải).


Trong mảng thơ tự sự của Trần Nhuận Minh, tôi đặc biết chú ý những bài thơ anh đề cập đến những cảnh ngộ đau lòng thời hậu chiến. Nhân vật trong bài Bạn cũ từng đánh bộc phá, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, sau 10 năm gặp lại thì: vợ bỏ, con vượt biên, nhà đã bán, anh ta chỉ còn trơ hai bàn tay trắng.. Tác giả hỏi: Bây giờ bác muốn gì? Người bạn cũ trả lời: Tớ muốn làm liệt sĩ! Câu trả lời vừa hài hước vừa xót xa này có lẽ nằm ngoài sức tượng tượng của nhiều người. Một người bạn khác của nhà thơ thuộc diện gia đình chính sách nên vợ anh ta mới được chọn đi làm ôsin nước ngoài (bởi ngành than đang lúc giảm biên chế). Anh ta động viên vợ: Thôi vui mà đi mình nhé/ Dùng dằng người khác sẽ thay/ Lương tám trăm đô, mỗi tháng/ Ơn giời còn một cơ may…/ Anh sẽ bỏ bồ, chừa rượu/ Tảo tần nuôi mẹ, dạy con/ Vài năm nhớ về, mình nhé/ Trông mình như vẫn còn son… Chẳng lẽ cha anh hy sinh xương máu để con cháu được “ưu tiên” đi làm ôsin ư? Lời của người chồng động viên vợ “nghe ra ngậm đắng, nuốt cay thế nào”. Trong những bài thơ tự sự  viết về thời hậu chiến, có lẽ bài Thím Hai Vui là đáng để chúng ta suy ngẫm hơn cả: Những năm chú ra trận/ Thím buồn vui một mình/ Thím bảo những ngày ấy/ Là những năm hòa bình/ Có tin đồn chú mất/ Thím thầm cắn chặt môi/ Nuôi hai con ăn học/ Cấy cày đến quắt người/ Bỗng đột nhiên chú về/ Tung huân chương đầy chiếu/ Thím cười mà như mếu/ Nước mắt chả buồn lau/ Thế rồi… biết vì đâu/ Yên lành không chịu được/ Vợ con chú đánh trước/ Xóm giềng chú đánh sau/ Chớ dại mà can chú/ Chú nhất cả huyện rồi/ Giặc nào chú cũng thắng/ Có thua, thua ông trời!/  Chỉ thương thím Hai Vui/ Mặt mũi luôn thâm tím/ Đến bây giờ chiến tranh/ Mới đến thật với thím… Tất cả “gan ruột” nhà thơ đều đã được “phơi bày” trong từng câu chữ. Bao nhiêu nghịch lí chất chồng: tên thím là Vui nhưng đời lại buồn; thời chiến tranh, xa chồng tuy cực khổ, vất vả mà cuộc sống bình yên. Hết chiến tranh, chồng trở về thì tai họa lại giáng xuống gia đình chị. Thơ viết gan ruột đến như thế làm sao mà không xúc động lòng người cho được.


Với sự thành công của mảng thơ tự sự, nhiều người gọi Trần Nhuận Minh là nhà thơ hiện thực. Anh biết đi sâu tìm hiểu đời sống thực tế; phát hiện những ngõ ngách trong  tâm hồn con người; cảm thông, chia sẻ với những số phận bất hạnh; cùng đau với nỗi đau đất nước trước tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống; dũng cảm bày tỏ chủ kiến của mình… bằng giọng kể mộc mạc, chân chất, bình dị như lời ăn tiếng nói hàng ngày. Tôi rất đồng tình với nhận xét sau đây của nhà thơ Vũ Quần Phương: “Trần Nhuận Minh đủ độ từng trải và đủ tài thơ, để cảm nhận thời thế, nhân tâm, để giải bày nó lên trang giấy, gọn, chắc, xúc động lòng người”


(Lời giới thiệu tập Trần Nhuận Minh - Thơ, Nxb Kim Đồng, 2003).

Huế, tháng 9-2015

Mai Văn Hoan (Thừa Thiên Huế)

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)

 

 

Cầu Thượng Lỹ - Tranh Nguyễn Văn Trường

Cầu Thượng Lý - Tranh sơn khắc của Nguyễn Văn Trường

 

Chiến thắng Bạch Đằng - Tranh khắc gỗ của Đặng Hướng

 

Chân dung nhà thơ Nguyễn Viết Lãm - Tượng đồng của Khắc Nghi

 

Buổi trưa vắng - Sơn dầu của Đặng Tiến

 

Sông Cấm - Tranh của Sơn Trúc

 

Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Trung thu trên đảo - Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

 

Tranh của Lê Viết Sử

Carnaval Hải Phòng - Tranh Lê Viết Sử

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...