Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 68 khách Trực tuyến
Làm phim về NSND Hoàng Lan

Cùng với những anh chị em bạn nghề, cộng sự và học trò của chị…chúng tôi  tri ân chị bằng bài viết thay nén tâm hương gợi nhớ những kỷ niệm sâu sắc về NSND Hoàng Lan –một người “sinh ư nghệ, tử ư nghệ” đã có nhiều vai diễn để đời.

Cuối năm 1990 với lòng yêu mến và cảm phục nghệ sĩ ưu tú chèo Hoàng Lan, nhà báo Đào Hướng (Giám đốc Đài PTTH Hải Phòng) đã chấp thuận đề nghị của nhà báo Tô Hoàng Vũ - Trưởng ban Biên tập Văn nghệ (nay là Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng )làm phim tài liệu nghệ thuật về NSUT Hoàng Lan để tham dự Liên hoan Phim phóng sự, tài liệu truyền hình toàn quốc tại Huế hè 1991. Anh Đào Hướng nói với Tô Hoàng Vũ và tôi “Để tớ viết kịch bản cho các cậu nhé”.


Là người quen biết chị Hoàng Lan từ lâu lại vừa đạo diễn phim tài liệu nghệ thuật chân dung họa sĩ La Viết Sinh (Huy chương Bạc tại Cần Thơ) nên tôi được phân công đạo diễn; Tô Hoàng Vũ làm biên tập và viết lời bình; Hùng Thắng quay phim; Văn Vĩnh, Hoàng Việt dựng phim.


Hồi đó, thiết bị kỹ thuật của Đài PTTH Hải Phòng còn rất thô sơ. Chúng tôi được ưu tiên một camera M7 mới. Duy nhất hôm đi Hà Nội và về quê chị ở Hưng Yên thì được Đài cho mượn xe ô tô 7 chỗ Đatsu, còn khi làm ở nội thành phải đi bằng xe máy Ba bét ta và cả xe đạp. Kinh phí làm phim thì... rất khiêm tốn (mà mới được duyệt trên giấy). Để kịp triển khai công việc, Tô Hoàng Vũ về mượn của mẹ một chỉ vàng bán đi lấy tiền làm phim. Chúng tôi làm phim dự thi với sự say mê nghề nghiệp và lòng yêu mến, cảm phục người nghệ sĩ chèo đã dành cả cuộc đời mình, cả hạnh phúc gia đình cho nghệ thật chèo. Đó cũng là lý do Tô Hoàng Vũ quyết định lấy tên của bộ phim là “Với cả cuộc đời”.

Nghệ sĩ Hoàng Lan trong vai mụ Mối vở “Cây tre trăm đốt” 1983
Ảnh: Gia đình cung cấp


Đường 39 về xã Ngô Quyền, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đang trong thời kỳ đại tu. Mặc dù có xe ô tô mà cả đoàn phải cuốc bộ vì sợ xe nổ lốp giữa đường. Đến đầu làng,  chị Hoàng Lan chỉ cho chúng tôi cây đa mà thuở thiếu thời chị hay vui đùa cùng bè bạn. Từ năm 1948 chị đã tham gia đội du kích Hoàng Ngân nổi tiếng vùng quê nhãn. Thích ca hát từ hồi còn nhỏ, nhưng tính chị nhút nhát, hay xấu hổ. Căn nhà xưa (nay em trai chị là ông Phức ở) tuy đã được tu sửa nhưng vẫn khiêm tốn nằm nép mình dưới gốc nhãn xum xuê. Chị chỉ cho chúng tôi con đường bờ ruộng gồ ghề nơi chị ôm gói quần áo trốn nhà lội tắt đường cuốc bộ lên Hải Dương tìm đến Đoàn Văn công Tả ngạn sông Hồng” để xin tuyển. Đó là ngày mới hòa bình – năm 1954 (năm 1961 Đoàn chuyển về Hải Phòng và đổi tên thành Đoàn chèo Hải Phòng)


Không được làm diễn viên, chị năn nỉ xin ở lại làm cấp dưỡng. Từ đó, ngoài việc lo “cơm nóng, canh ngọt” cho cả đoàn, Hoàng Lan còn mò mẫm học nghề. Cứ ngơi tay bếp núc là chị bám lấy sàn tập. Chị âm thầm “học mót” các anh chị. Rỗi lúc nào là lại nhẩm lời hát, học cách đi, điệu múa. Chị vừa đun bếp, vừa gõ nhịp hát thầm, múa vụng vì sợ có người nhìn thì xấu hổ. Lòng yêu nghề đến mức say mê chính là động lực để Hoàng Lan vượt qua mọi sự mặc cảm và ánh mắt ngờ vực của anh chị em trong đoàn. Trong một buổi diễn có sự cố, diễn viên đóng vai chính bị ốm đột ngột. Khán giả đến rất đông, lịch diễn đã lên kế hoạch không thể thay đổi. Trong lúc nước sôi, lửa bỏng ấy, Hoàng Lan mạnh dạn gặp Trưởng đoàn xin được diễn thay. Rất ngạc nhiên và ít nhiều ngờ vực nhưng trước sự tự tin của Hoàng Lan và trong tình thế bắt buộc, ông Trưởng đoàn miễn cưỡng gật đầu, Cả đoàn được lệnh sẵn sàng “ứng cứu” để diễn cho qua đêm. Ai ngờ, đêm diễn “bất đắc dĩ” ấy đã chứng minh khả năng diễn xuất “thiên bẩm” của Hoàng Lan. Bạn diễn vui mừng, lãnh đạo thở phào, còn khán giả thì vỗ tay không ngớt. Thế là từ cô cấp dưỡng “nhọ nhem”, Hoàng Lan chững chạc có mặt trên sàn diễn sánh vai cùng các anh chị trong đoàn mang lời ca tiếng hát đi khắp nơi phục vụ bộ đội, nhân dân. Chị cùng các tốp xung kịch đi hát vận động bà con bị địch dụ dỗ vào Nam. Chị đến với công nhân các nhà máy, khi dạy múa, dạy hát, khi biểu diễn phục vụ. Phòng truyền thống Sư đoàn Phòng không Không quân 363 còn lưu trữ bức ảnh chị Hoàng Lan và tốp nữ múa hát phục vụ bộ đội ngoài trận địa và khi có máy bay Mỹ bắn phá, các chị trở thành những chiến sĩ tiếp đạn  cho bộ đội bắn trả kẻ thù.


Qua diễn xuất của cháu Hải (con gái chị) chúng tôi đã “phục hiện” được quá trình lao động miệt mài để từ cô cấp dưỡng trở thành một diễn viên xuất sắc. Những cảnh chị trốn nhà, cảnh vừa đun bếp vừa tập hát, cảnh phục vụ bà con di cư ở bến đò “ông Vằng” (thôn Vĩnh Khê, xã An Đồng, huyện An Dương, Hải Phòng) được chúng tôi “mô ni phê” thành những thước phim tư liệu lịch sử đã gây cảm xúc tốt cho người xem.

 

Nghệ sĩ Hoàng Lan (bên trái) với chị Ba Định - Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam.
Ảnh: Gia đình cung cấp

Trong thời kỳ bao cấp, nhiều diễn viên nữ phải nhờ mẹ đẻ hay mẹ chồng đi bế con giúp. Đẻ được 2 tháng phải đi tập, đi diễn. Phía sau sân khấu hoặc dưới gầm sàn diễn là những chiếc võng đặt con. Ai không lên diễn bế con hộ người có vai diễn. Nhiều khi đang cho con bú, đến vai diễn phải dứt vội con ra. Bú dở miệng, đứa trẻ khóc ngằn ngặt. Chỉ 4, 5 tháng nhiều người đã phải cai sữa, gửi con ở nhà để theo đoàn lưu diễn các nơi. Hoàng Lan vất vả hơn vì chồng chị người miền Nam vì thế nội, ngoại chẳng có mẹ nào mà nhờ. Cháu Hải được mấy tháng tuổi phải gửi về nhờ cậu mợ Phức nuôi hộ. Đồng lương ít ỏi, chồng công tác xa nên mọi việc trong nhà một tay chị vun vén. May sao, ông trời thương cho chị cái sức khỏe bền bỉ, ít bị đau ốm. Nhiều khi trở trời yếu đau, chị cũng cứ bám sàn diễn. Sân khấu thành thánh đường tiếp thêm sức mạnh cho chị vượt mọi khó khăn.


Đất nước thống nhất, chồng chị vận động chị bỏ đoàn về Nam. Cái “ma lực” của ánh đèn sân khấu và các vai diễn đã không cho chị ra đi. Níu kéo chồng không được, anh chị đành chia tay kẻ Bắc, người Nam. Một mình chị nuôi hai con thơ. Nhiều lúc gió mưa, vất vả… cái nỗi nhớ chồng thương con làm lòng chị quặn đau. Tình cảnh ấy được chúng tôi đưa lên bằng hình ảnh cảnh trời mưa bão, một con thuyền cũ neo bến đợi chờ. Cảnh một con gà mẹ lúi cúi bới mồi nuôi lũ gà con… Cháu Hải diễn thành công cảnh đêm mưa, nhà dột, chị Hoàng Lan vừa ru con vừa học vai. Nước mắt chị thấm ướt quyền sổ ghi bài hát và bức ảnh vợ chồng chị chụp cùng hai cháu Hải-Long. Đó là những điểm nhấn nổi bật sự hy sinh vì nghệ thuật và lòng yêu nghề, yêu đến si mê của Hoàng Lan với “nghiệp chèo” mà qua màn ảnh nhỏ chúng tôi đã truyền tải đến khán giả cả nước.


Chính lòng yêu nghề đã tạo cho chị một cách “nhập vai” rất khác người. Trong mỗi đêm diễn, sau khi hóa trang, thay trang phục, chuẩn bị đạo cụ chu tất, chị Hoàng Lan chọn một chỗ ngồi vắng vẻ để suy nghĩ về vai diễn và cách diễn. Lúc này chị tập trung toàn bộ trí lực vào việc nhập vai nên đừng có ai dại gì mà làm ngắt mạch suy tư của chị. Chị sẵn sàng “chan tương, đổ mẻ” vào “kẻ phá ngang” làm đứt đoạn dòng suy nghĩ của chị. Có lẽ ít có diễn viên nào chú tâm với vai diễn như chị.


Cùng Đoàn chèo Hải Phòng về xã Trung Lập (huyện Vĩnh Bảo), tổ làm phim đã “thực mục sở thị” nỗi vất vả của cánh “văn công lưu động”. Đêm diễn đang cuốn hút khán giả thì bất chợt mưa giông kéo đến. Khán giả chạy nháo nhào tìm chỗ trú mưa. Anh em trong đoàn kẻ che phông cảnh, người thu đạo cụ, trang phục, người che dàn âm thanh, ánh sáng…Tất cả chui xuống dưới sàn sân khấu trú mưa. Nhiều diễn viên ngấm nước rét run cầm cập. Chị Hoàng Lan vẫn tỏ ra bình tĩnh. Chị bảo: “Mưa tạnh mà còn sớm bà con không về đâu, phải diễn tiếp đấy cậu ạ”. Đúng thế, mưa ngớt, bà con lại ùa ra vây quanh sân khấu. Đêm diễn lại tiếp tục. Những năm ấy bà con “khát” văn công lắm.


Khi đã về nghỉ hưu, nhiều khi có chương trình truyền hình, tôi mời chị tham gia. Có lần chị bị sốt, cháu Long lo cho sức khỏe của chị nên khi tôi đến đón, cháu có ý xin cho mẹ nghỉ. Chị Hoàng Lan vội xua tay: “Long ơi. Mẹ khỏe rồi. Để mẹ đi với cậu Tiến kẻo nhỡ việc chung”. Nể tôi, cháu Long để mẹ đi. Cả buổi quay, tôi vẫn lo sức khỏe cho chị. Nhiều lúc, mệt quá, tôi phải tạm dừng mời chị ngồi uống nước. Nghỉ không lâu, chị lại giục quay cho kịp. Khi về nhà, chị nói như reo: “Long ơi, mẹ khỏe hẳn rồi con ạ”. Được tham gia biểu diễn chính là liều “thuốc thánh” đã giúp chị khỏe thật.


Tuy là NSưT rồi NSND nhưng chị rất chịu khó trao đổi và học tập mọi người. Có lần quay hoạt cảnh chèo “Lời vàng dựng nước” (Kịch bản: Tuấn Tiến –Mạnh Thu), có đoạn hát điệu Đào liễu: “…Bác đã bôn ba khắp bốn phương trời/ Tìm đường cứu dân. Tìm đường cứu nước/ Tóc bạc da mồi Người vẫn xông pha/ Tấm lòng yêu nước thiết tha…”. Ghi âm, ghi hình xong, với tư cách đạo diễn, tôi đề nghị chị hát và diễn lại theo cách hát khác cho đúng với diễn biến tình cảm của nhân vật bà già nông thôn ghi nhớ công đức Bác Hồ. Chị vui vẻ thực hiện, đoạn ghi hình và tiếng khi hát lại đúng là hay hơn trước.


Khi làm kịch bản sân khấu truyền hình vở “Ngôi đình làng Hạ” tôi mời chị đóng vai Cụ Thủ. Đây là một nữ du kích có chồng bị địch bắn chết ngay dưới gốc đa đình làng. Người làng không gọi tên tục của cụ mà chỉ biết cụ nhận làm thủ từ trông coi đình và phần mộ các liệt sĩ nên dân làng gọi cụ là “Cụ Thủ”. Ban đầu, cụ Thủ không đồng ý việc chuyển đình làm khu chế xuất. Sau khi hiểu ra đây là yêu cầu phát triển của đất nước trên con đường hội nhập. Cụ Thủ hăng hái đi tiên phong. Thật bất ngờ, khi diễn cảnh chuyển đình, chị Hoàng Lan tự chuẩn bị trang phục. Chị bỏ tiền mua một bát hương sứ to, đốt nhiều hương lấy chân cắm vào bát hương. Chị cẩn thận làm bát hương cũ đi. Bát hương ấy chính là biểu tượng của lòng dân với các vị thành hoàng có công với dân, với nước. Đó cũng là tình cảm của những người còn sống với đồng đội đã anh dũng hy sinh. Đoạn diễn đầy cảm xúc với giọng hát nghẹn, với đôi mắt già nua ngân ngấn nước mắt. Bàn tay gân guốc run run trân trọng ôm chặt bát hương vào lòng… đã gây xúc động cho người xem. NSƯT Trọng Dũng (cố vấn nghệ thuật cho chương trình) phải thốt lên: “ …Đoạn diễn quá tuyệt vời, đến tôi cũng không cầm nổi nước mắt…”


Khi làm phim ngắn “Nọc độc” NSƯT  Lê Đức Tiến lại làm cố vấn. Anh bàn với tôi mời  NSND Hoàng Lan tham gia. Vai diễn ngắn thôi. Chỉ một đoạn bà nội đến đồn công an nhận cháu về. Khi biết cháu sử dụng ma túy. Bà không quát nạt mà ôm lấy cháu ân cần động viên, khuyên nhủ cháu từ bỏ con đường ma túy. Bà chậm rãi đưa đôi mắt già nua nhìn về nơi xa xăm tưởng như nơi đó có con trai, con dâu cụ đang sinh sống phía trời Tây mà nhắn nhủ: “Các con ơi, các con mải mê làm giàu nơi đất khách quê người làm gì nữa chứ. Về thôi, nếu không, con mày hỏng mất rồi”. Dòng nước mắt chảy dài trên gò má nhăn nheo đã làm cháu bé thức tỉnh. Cháu ôm lấy bà:  “Bà ơi. Cháu biết lỗi rồi. Cháu xin bà”.


NSƯT Lê Đức Tiến đề nghị chúng tôi chi “cát xê” cho chị Hoàng Lan cao hơn các diễn viên khác. Tuy chỉ được mấy trăm ngàn bồi dưỡng, chị bảo: “Sao nhiều thế cậu? Thế các diễn viên khác thì sao?”. Chưa bao giờ chị phàn nàn về tiền bồi dưỡng nhiều hay ít. Chị tâm sự với tôi. “Cứ có vai, cậu cho chị tham gia là tốt lắm rồi. Chị không nghĩ đến tiền thù lao đâu cậu ạ” . Thậm chí nhiều khi chị đạp xe đến trường quay chứ không cần xe đến đón. Chị bảo đạp xe cho khỏe người.


Sân khấu chèo thường có vai “đào thương” (như Thị Kính, Thị Phương, cô Tấm..), vai “đào lệch” (như Thị Màu, cô Cám, mụ Quán…), Nhiều diễn viên chỉ quen đóng một loại vai có “mô tuýp” na ná như nhau. Điều đặc biệt là NSND Hoàng Lan biểu diễn được cả hai loại vai này.


Nói về “Đào thương”  chị đã vào vai già Đa - một già làng nhân từ, bác ái… (chèo “Tấm Cám” tác giả Lưu Quang Thuận), bà mẹ - người mẹ châu thổ sông Hồng hiền lành, chất phác…(chèo “Cô gái sông Cấm” tác giả Phan Tất Quang), Trần phu nhân – bà mẹ thương con nhưng nghiêm khắc theo phong cách của một “mệnh phụ phu nhân”… ( chèo “Tấm vóc đại hồng” tác giả Trúc Đường - Trần Đình Ngôn), Bà mẹ bất hạnh hiền lành bị chính những đứa con đẻ của mình hắt hủi, bỏ rơi… (chèo “Nỗi đau tình mẹ” tác giả Vũ Hải), cụ Thủ từ - người nữ du kích thủy chung trong sáng luôn nêu tấm gương về phẩm chất người chiến sĩ cách mạng trung kiên (chèo “Ngôi đình làng Hạ” tác giả Trần Tuấn Tiến) … rất thành công. Nhiều vai diễn “đào lệch” được chi khắc họa nhân vật một cách sáng tạo mà người xem và bạn nghề không thể nào quên như vai Sùng Bà - một bà mẹ chồng cay nghiệt, độc ác (chèo cổ “Quan Âm Thị Kính”), mụ Quán – một mụ chủ tráo trở, mưu mô, chèo kéo khách hàng bằng đủ ngón nghề… (chèo cổ “Súy Vân giả dại”), mụ Mối – thâm độc, vụ lợi và kệch cỡm… (chèo “Cây tre trăm đốt” tác giả Phan Tất Quang)… Mỗi một vai diễn chị đều có những sáng tạo bứt phá để khắc họa nên nhưng nhân vật tiêu biểu mà hiếm có nghệ sĩ nào phát hiện và tái tạo thành công. Nhiều vai diễn của chị được trao tặng Huy chương Vàng trong các Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc.


Khi làm phim “Với cả cuộc đời”, chúng tôi có phỏng vấn GS-NSND Trần Bảng về các vai diễn của Hoàng Lan. GS-NSND Trần Bảng trả lời ngay: “… Nói về yêu nghề, “sinh ư nghệ. tử ư nghệ” của Hoàng Lan thì khỏi bàn. Cả đời Hoàng Lan là dành cho sân khấu chèo. Đặc biệt Hoàng Lan đóng được đa dạng. Hoàng Lan không đi vào các  vai quen thuộc theo “mô tuýp” cổ bản mà dù là vai “đào lệch” hay “đào thương” thì Hoàng Lan đều để lại những vai diễn ấn tượng, giàu sức sáng tạo và không dễ gì làm được…”. Tôi được biết NSƯT Kim Liên và nhiều diễn viên (đoàn Chèo Hải Phòng) đã thành danh một phần nhờ sự chỉ bảo, uốn nắn của NSND Hoàng Lan.


Phim tài liệu nghệ thuật “Với cả cuộc đời” được trao Huy chương Bạc trong Liên hoan Truyền hình toàn quốc tổ chức tại Huế năm 1991.


Cho đến hôm nay, khi đứng trước bàn thờ tiễn NSND Hoàng Lan về cõi vĩnh hằng, những vai diễn “để đời” và cách làm việc trách nhiệm của chị vẫn sống mãi trong tâm tưởng của tôi và anh em bạn nghề xa gần. Dù đã cao tuổi, chúng tôi vẫn gọi chị như cách xưng hô hồi xưa, khi nghệ thuật còn thanh xuân và ai cũng muốn cho cái tuổi xuân ấy cứ kéo dài mãi mãi.


Chị Hoàng Lan ơi, khán giả yêu nghệ thuật chèo vẫn mãi nhắc đến chị qua các vai diễn đã thành “khuôn mẫu” mà bằng tình yêu nghề, sự lao động sáng tạo cần mẫn chị đã đề lại cho sân khấu chèo thành phố Cảng và nghệ thuật diễn chèo cả nước.


Chúng tôi luôn thấy như có chị đang lên sân khấu cùng tham dự các buổi biểu diễn với chúng tôi./.


Trần Tuấn Tiến

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)