Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 38 khách Trực tuyến
Giấc chiêm bao trong thơ Nguyễn Đình Di

Ở nơi ấy

Cái hạt mở ra hai bàn tay

N.Đ.D

 

Có tiếng rì rầm dưới trăng

Lời của người được đất ru

Ai đấy

Hát chậm cho tôi học lời.

 

Đó là khổ thơ được nhà thơ Nguyễn Đình Di viết riêng, không thuộc bài thơ nào, dùng làm đề từ tập thơ đầu tay của ông, mang tên Giấc mơ cây (Nxb Hải Phòng, 2001). Những câu thơ thật hồn nhiên, như mê đắm trong chiêm bao, mộng du. Đến độ, cảm thấy như khi ấy, có ai cố ý đến bên ông đánh thức hoặc lay gọi, thì nhà thơ cũng khó mà nhận ra thật-ảo của một đời sống hiện hữu lam lũ cùng cực nhưng rất đáng yêu đang bám đuổi, vây quanh ông. Những cơn chiêm bao như vậy đã nâng đỡ, che chở, giúp ông vượt thoát qua mọi khó khăn hiểm nghèo để đến được xứ đẹp.

Sau Giấc mơ cây, nhà thơ Nguyễn Đình Di xuất bản thêm 4 tập thơ: Cỏ khát (2006), Trường ca Lộ trình (2008), Tín chấp (2011), Vườn gió mặn (2015) đều do NXB Hải Phòng thực hiện. Tôi không muốn gọi những tập thơ này là cuộc hành trình của nhà thơ. Bởi hành trình thường có điểm xuất phát, rồi có thể gặp những khúc cua, lúc tăng tốc, và đích đến. Tôi đọc thơ Nguyễn Đình Di và cảm nhận các tập thơ của ông, tuy viết trong các thời điểm khác nhau, nhưng có cùng một đời sống, cùng một tâm trạng, một thân phận trong một cảnh giới.

Thơ Nguyễn Đình Di trước sau vẫn trung thành với hệ hình thi pháp truyền thống, nền tảng là hiện thực và lãng mạn. Đây là một khuynh hướng sáng tác mà gần như cả thế hệ ông chịu ảnh hưởng đến tận bây giờ. Sau mỗi tập thơ, cảnh giới thơ Nguyễn Đình Di được mở rộng, thêm phong phú. Nhưng những sự kiện, sự vật, những ước mơ, khao khát trong đó thường được lặp đi lặp lại trong những tình huống, tâm trạng khá giống nhau ở nhiều thời điểm. Người đọc gần như quen thuộc từng bóng dáng thi ảnh, nhịp điệu, ngôn ngữ thơ của ông. Từ vầng trăng, con sóng, cái cây, con cá, con công cống, vạt cỏ, cái chợ, giọt mưa, con thuyền, bình rượu… Đến bàn tay, đôi mắt, lời ru, tiếng khóc, sợi tóc, trái tim, hồn mình... Những hành động của con người, như đi câu, hát, vung rìu, rũ bụi, buột mồm, nhập đồng… Những tâm trạng, như nhớ, sự đa mang, thương đồng đội, lẩn thẩn, lỡ thì… Hầu như những hiện hữu, chuyển động trong đời sống thường nhật kia, tựa những con lắc đơn, cứ trở đi trở lại trong thơ ông như ngày tiếp ngày, mùa nối mùa. Ấy vậy mà đọc thơ Nguyễn Đình Di vẫn thấy hấp dẫn và bị mê dụ. Bí quyết của sự hấp dẫn ấy chính là cách ông chiêm bao và bản năng chiêm bao thông qua một số bài thơ thành công của ông.

Phải nói thêm về chiêm bao để rõ hơn trạng thái này trong thơ Nguyễn Đình Di. Đây vốn là một hiện tượng tâm lý, sinh lý và đôi khi cả bệnh lý xuất hiện trong giấc ngủ, một hoạt động thường nhật của đời sống con người. Từng có nhiều nhà khoa học, triết gia đã lý giải những hiện tượng chiêm bao bí ẩn và diễn ra ngẫu nhiên này. Trang Tử (~365 – 290 trước CN), một triết gia và tác gia Đạo giáo cho rằng: “Giấc mơ là tính của khí dương. Vui, giận đều từ tính khí”. Còn theo thuyết Phân tâm học của nhà khoa học thần kinh và tâm lý người Áo Sigmund Schlomo Freud (1856 – 1939), những  tưởng tượng, ẩn ức, khát vọng chính là những nguyên nhân dẫn đến những xung đột vô thức để nảy sinh những giấc mơ. Với thơ của Nguyễn Đình Di, tôi gọi một số bài thơ của ông là những giấc chiêm bao có thật. Người đọc có thể nhìn thấy giấc chiêm bao ấy của nhà thơ, rồi nhanh chóng bị chúng ám thị, thôi miên... Và trong tâm thế đồng sáng tạo, những câu thơ của Nguyễn Đình Di vẫy gọi, dẫn dụ người đọc tới cảnh giới mà nhà thơ đã thăng hoa khi sáng tạo.

Sống chân thành, trải nghiệm và sáng tạo trong những giấc mơ là lẽ sống còn, đương nhiên, có lúc khá dễ dàng với nhà thơ Nguyễn Đình Di. Dễ dàng, bởi lúc ấy ông viết như vui chơi, như say, như hít thở… Tôi linh cảm rằng, dường như nhà thơ có được nhãn quan và nhãn lực để nhìn thấy cái vong cái vía của vạn vật mà trò chuyện, tỏ bầy: Ở miền không còn đêm/ Thấy ban ngày ngồi khóc/ Triền sông hoang gió mọc/ Cỏ se vàng chân mây (Nỗi chiêm bao). Giọt nước mắt vỡ/ Thả những hạt cỏ/ Vào cơn gió khô/ Trên cánh đồng đời (Trầm cảm). Em trốn ở đâu mà thơm quá/ Chiếc lá bùa mê ơi/ Những câu thơ ngẩn ngơ tôi chôn dưới móng nhà/ Như chiếc neo đang đòi được nhổ/ Để ngôi nhà trôi…” (Lãng du). “Cái vong cái vía” ấy có lúc ông thấy nó “mờ mờ nhân ảnh” và nhiều khi cũng chỉ thấy được một phần. Do vậy, nếu tác giả không dồn đẩy được cảm xúc tới ngưỡng cần thiết, thì những hình ảnh đặt lên mặt giấy kia chỉ là những cái xác không hồn. Nhưng sự chân thành gan ruột và tình yêu mãnh liệt đã giúp nhà thơ neo giữ được những hình ảnh vốn đã quen thuộc với bạn đọc làm chúng trở nên sống động trong một thế giới thơ mộng mị, kỳ ảo: Đêm đêm khi em đã ngủ/ Bàn tay giấu em ủ những câu thơ/ Thay lời hát ru/ Vỗ về giấc ngủ của em thật sâu/ Và sau đấy giấc ngủ của anh cũng sâu (Nói hộ bàn tay chai).

Sự chân thành của câu thơ Và sau đấy giấc ngủ của anh cũng sâu đã vượt qua mọi thủ pháp, thi pháp. Chữ “cũng sâu” được tác giả viết lặp lại chữ “thật sâu” nằm ở ngay cuối câu thơ trên. Thông thường khi viết, đây là những từ đồng âm cùng nghĩa mà nhà thơ cần tránh dùng lại, bởi bạn đọc sẽ cho là tác giả bí từ. Nhưng trong trường hợp này, nhà thơ Nguyễn Đình Di đã cố ý dùng lại một chữ mà ông vừa dùng. Sự lặp lại này phù hợp với chuyển động “chậm dần đều” của giấc ngủ. Nó giống như một viên sỏi đang rơi vào miệng giếng, rồi liệng dần xuống đáy sâu. Nếu không có câu thơ này, cả bài thơ “Nói hộ bàn tay chai” sẽ đưa người đọc rơi vào cảm giác nhàm chán, cũ mòn (cliché). Câu thơ độc đáo trên có thể ví như cái “huyệt” trên “cơ thể” thơ đang ủ rũ, ngái ngủ…, bất ngờ được tác giả “bấm” vào thật đúng lúc, làm “toàn thân” bài thơ trở nên ấm nóng và vận động hoàn toàn khỏe mạnh.

Sự nồng mặn, thổn thức của tình yêu luôn là mạch sữa nguồn nuôi dưỡng cảm xúc sáng tạo của nhà thơ Nguyễn Đình Di. Trong trường hợp người thơ này, chỉ có tình yêu thương mãnh liệt và trọn vẹn mới đủ lực kéo ông từ sự trần trụi, thô nhám của thực tại đời thường về với cảnh giới thơ chiêm bao lung linh, u mặc của riêng ông: Tôi lạy hoa trặc trìu đừng thơm day dứt nữa/ Anh sẽ nói được lời chưa kịp nói em nghe/ Trong hương trặc trìu tóc bạc đã như mê (Hoa trặc trìu). Trong cảnh giới huyền hoặc và tuyệt đẹp ấy, nhà thơ đã thức nhận được bản chất của chân giá trị. Nó không xa vời, khó tìm kiếm, mà chính là những điều bình dị và rất gần gũi với mỗi con người: Chỉ có mỗi điều giản dị/ Cỏ xanh… mình cũng xanh đi (Cỏ ở phố).

Vẻ đẹp thơ Nguyễn Đình Di trong cõi chiêm bao khá đa dạng. Lúc tinh tế, mỏng manh như cánh ong bay: Sau gương/ Có tiếng cánh vỗ/ Có tiếng gọi nhỏ (Gương thu). Khi sâu lắng, quấn quyện, rồi vụt sáng ở cuối bài thơ như ngọn nến: Câu thơ váng vất nguồn cơn/ Đắng vào rễ cỏ cuối đường gọi hoa (Bâng quơ chiều). Lại có bài, ông viết như sự mặc khải, mặc định ngẫu nhiên: Hào hển vít gió khoe/ Nghe hạt hát đây này (Tiếng cây).

Tôi đọc trọn vẹn 5 tập thơ của Nguyễn Đình Di một cách mê mải. Không ngắt quãng. Để thấy mình bị mê dụ trong những giấc chiêm bao. Khi huyền hoặc, khi đột ngột trở về thực tại. Khi như tan chảy ra hoặc bị vo tròn lại. Trong 5 tập thơ ấy, tôi ấn tượng nhất với bài thơ “Khấn gọi cây”. Bài thơ này in trong tập thơ Giấc mơ cây, không biết chính xác tác giả viết thời gian nào. Song tôi chắc chắn đó là khoảng thời gian trước năm 2001.

KHẤN GỌI CÂY

Cây quéo cửa nhà tôi

Của ông nội tôi trồng

Tôi đã đeo khăn tang cho nó ngày bố tôi mất

Bây giờ tôi nói gì khi phải chặt nó đây

Cây ơi!

Mày bằng tuổi em tao

Mày đã cho tao tiếng chim trong phố

Cho tao bóng xanh dịu đi nắng lửa

Cho tao quả ngọt để đẩy cái đắng khỏi lưỡi

Cho tao thao thức nghe lá rụng và

gửi được vào trong trang thơ một loài lá

chỉ chịu rơi khi nõn đã xanh đầy

Cây ơi

Ta bầy lễ ra đây

Thắp hương

Khấn gọi

Mày hãy về mọc trong trang thơ này

Hãy tỏa bóng mày che mát vết bỏng đêm của tao

Hãy gọi chim về hát trong nỗi nhớ của tao

Và mang quả chín của mày đặt vào tay ông nội

Cây ơi

Tao bẻ lưỡi cưa rồi vì sợ sẽ ngã cùng với mày

Khi nghe hồn cây đang nói lời của người sắp bị chặt.

Bài thơ đạt tới sự thành công toàn bích. Từ cấu tứ, tạo vỉa ngầm, huyền ảo kết hợp với tự sự, mê và tỉnh… Cho đến ngôn ngữ thơ giản dị, tự nhiên… Sau khi công bố, bài thơ “Khấn gọi cây” cùng với 2 bài thơ “Lãng du” và “Những con chữ” đoạt Giải thưởng thơ hay tháng 11 năm 2011 của tuần báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn VN). Nét độc đáo ở đây là, tác giả dành hẳn 2 khổ thơ đầu chỉ để liệt kê “lịch sử” của cây đã gắn với “lịch sử” người viết - nhân vật xưng “Tao” ra sao. Với giọng điệu bông lơn nhưng thân thiết và gần gũi, ông nói cho cây nghe thấy: Mày bằng tuổi em tao/ Mày đã cho…/ Mày đã cho… Và, đây là câu thơ đặc sắc, mang thần khí vực dậy hồn vía của tất cả những sự kiện tưởng chừng khô khan, đơn điệu vừa kể: Cho tao thao thức nghe lá rụng và/ gửi được vào trong trang thơ một loài lá/ chỉ chịu rơi khi nõn đã xanh đầy. Khổ thơ tiếp theo là những khát vọng của cây xanh, của diệp lục, khát vọng sống của mọi sinh linh trên mặt đất. Tao bẻ lưỡi cưa rồi vì sợ sẽ ngã cùng với mày/ Khi nghe hồn cây đang nói lời của người sắp bị chặt. Câu kết bài thơ là sự hóa thân, đổi ngôi…, nói khác đi, chính là sự hóa giải cho tội lỗi phá hoại thiên nhiên của con người. Bài thơ “Khấn gọi cây” của Nguyễn Đình Di là một gợi ý cho chúng ta liên tưởng tới mối quan hệ sống còn giữa sinh thể và môi trường sống quanh ta. Mọi quan hệ giữa cơ thể con người với thế giới bên ngoài được ví như một cơ thể hoàn chỉnh. Tiểu vũ trụ người luôn cần hòa đồng, vận động song hành cùng với nhịp điệu của đại vũ trụ. Con người không chỉ là thực thể tự nhiên mà là một thức thể tự nhiên - xã hội. Những hành động phá hủy cây xanh, hủy hoại môi trường sống đều có nguy cơ làm mất sự cân bằng sinh thái, xâm hại trực tiếp vào đời sống con người và của vạn vật trên hành tinh này. Hành động của nhân vật “Tao” “bẻ lưỡi cưa” trong câu thơ kết là quyết định đúng đắn, cương quyết để bảo vệ những giá trị sinh tồn của thiên nhiên, vì sự sống của loài người trên trái đất.

 

 

Từ sự xuất hiện được đánh dấu với tập thơ đầu tay, Giấc mơ cây năm 2001, phải khẳng định rằng, thơ Nguyễn Đình Di đã đem đến cho thơ đương đại, đặc biệt cho thơ Hải Phòng một giọng nói đằm mặn và ám gợi. Chỉ tiếc rằng, những bài thơ có nền tảng vững chắc, có vỉa tầng chồng lấn, có ngôn ngữ tự sự hồn nhiên như “Khấn gọi cây” lại không nhiều. Thêm vào đó, về sau này, thơ ông có phần nào phai nhạt sự đắm mê, ngơ ngẩn và hồn hậu so với tập thơ đầu. Tuy cấu tứ bài thơ và câu chữ một số tập thơ gần đây có chặt chẽ hơn trước, nhưng chính điều đó lại làm thưa vắng cái dại khờ, vụng dại rất đáng yêu trong thuở sáng tạo ban đầu.

Nhà thơ William Wordsworth (người Anh) quan niệm, cuộc đời chỉ là một giấc mơ và chúng ta sẽ tỉnh thức khi không còn hiện hữu trên cõi đời này nữa. Cõi chiêm bao trong thơ Nguyễn Đình Di dẫn người đọc đến những miền trong veo tuyệt đẹp và níu giữ chúng ta ở đó mãi. Nơi ấy là địa chỉ tin cậy, một cõi sống thật, cõi yêu thương và đắm mê.

Nhà thơ Nguyễn Đình Di sinh năm 1947, tại tỉnh Hưng Yên, hiện sống và sáng tác tại thành phố Hải Phòng. Ông từng đoạt một số giải thưởng văn học, tiêu biểu: Giải thưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hải Phòng, 1997), Giải thưởng Văn học của Bộ Quốc phòng (2004 – 2009), Giải thưởng Cuộc thi thơ của tạp chí Cửa Biển (2006), Giải thưởng đề tài “”Đây biển Việt Nam” do báo Viẹtnam.net và Hội Nhà văn VN trao tặng (2012), Giải thưởng cuộc thi thơ “Hoa phượng” do Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng trao tặng (2012)…

Những bài thơ hay trong 5 tập thơ đã đến với nhà thơ Nguyễn Đình Di bằng nhiều nẻo của tư duy và cảm xúc, đôi khi bằng cả sự vô thức, bất ngờ trong quá trình sáng tạo. Chắc gì thơ tôi biết nghĩ/ Chắc gì hồn tôi biết nhìn (Khiếm thị). Đó là lời tác giả nói với một “bé gái mù”. Cách ông luôn cật vấn, phản tỉnh, chính là thái độ sống, trách nhiệm sống của ông, với tư cách người cầm bút trước cuộc đời đầy âu lo, thổn thức chờ đợi này. Ông cũng đã nhìn thấy con đường xa tít trước mặt mà quỹ thời gian có thể không còn nhiều. Gánh số phận mình/ Con chữ mơ mọc cánh bay giữa khoảng đặc giữa trời và đất (Những con chữ). Hình ảnh con chữ “mơ mọc cánh”, dù phải bay “giữa khoảng đặc…” là giấc mơ đẹp nhất của một nhà thơ suốt đời trăn trở, khao khát sự vươn vượt, bứt phá để mong đến với những giá trị đích thực, mới mẻ.

Tôi viết những dòng cuối của bài viết nhỏ này khi biết nhà thơ Nguyễn Đình Di đang phải vật lộn với căn bệnh hiểm nghèo. Xin được cầu mong cho ông được mau bình phục. Bạn đọc cũng đang lần theo từng câu thơ còn in dấu vân tay nhà thơ để chúc phúc an lành cho ông: Trong mỗi ngón tay/ Có một trái tim đang dịu dàng nói (Nói hộ bàn tay chai).

Hải Phòng, 24/1/2016

Mai Văn Phấn

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)