Rừng che bộ đội - Sơn dầu của Quốc Thái

 

Hoa công nghiệp - Ảnh Nguyễn Viết Rừng

 

Cánh tay công nghiệp - Ảnh Vương Khánh Hồng

 

ẢNh Vũ Thành Chung

Chăn vịt - Ảnh Vũ Thành Chung

 

Mùa gặt - Ảnh Đức Biên

 

Đôi mắt cô gái H’mông - Ảnh Vũ Dũng


Hiện có 91 khách Trực tuyến
Một hiện thân của sức bền văn chương

Có thể nói Đại hội lần thứ nhất thành lập Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng (ngày 4 và 5/1/1964) là một đại hội trẻ trung - trẻ từ không khí đại hội đến con người. Nhà văn Phùng Văn Ong có lần nói, mỗi khi Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tổ chức đại hội hay lễ kỷ niệm ở Nhà hát lớn thành phố, ông lại như trở về ngày Đại hội thành lập, một không khí thật vui mừng, phấn khởi, ai cũng xúc động với lời khai mạc của nhà văn Nguyên Hồng, giọng ông hồ hởi cuồn cuộn “rung chuyển như búa đe và máy chạy, tiếng sóng tiếng gió của biển khơi, tiếng cựa mình nảy nở của ngô khoai lúa đỗ, tiếng ca hát của một thành phố tưng bừng sản xuất...”, hệt như con người và văn chương ông. Sau lời khai mạc là tràng vỗ tay kéo dài vang động nhà hát. Niềm vui còn lân lan rạo rực mãi sau này khi được biết Chi hội VHNT Hải Phòng ra đời chỉ sau Chi hội Văn nghệ Việt Bắc (thành lập trong kháng chiến chống Pháp) và Chi hội Văn nghệ Quảng Bình - Vĩnh Linh (trực thuộc Ty Văn hóa Quảng Bình)(1). Tuổi đời văn nghệ sĩ ngày ấy hầu hết đều dưới 30, hơn chỉ có nhà thơ Lê Đại Thanh 57 tuổi, nhà văn Nguyên Hồng 46, nhà thơ Nguyễn Viết Lãm 45 và nhà văn Phùng Văn Ong 38. Vâng, ít ai nghĩ ngày đó Phùng Văn Ong đã tuổi ấy, còn hơn Trần Hoàn hai tuổi, mãi khi ông nằm xuống mới hay ông sống thật bền(2) và chỉ chịu ra đi khi ở tuổi 91.

Sống bền đã quý, làm việc bền còn quý hơn và càng quý khi lại luôn luôn bền bỉ một cách trẻ trung. Thật khó ai được như nhà văn Phùng Văn Ong khi năm 2005, ở tuổi 80 vẫn còn được giải nhất Cuộc thi thơ và truyện ngắn trên tạp chí Cửa Biển, mà lại là truyện nội dung yêu đương: Một chuyện tình! Ban chung khảo cuộc thi ấy là những nhà văn hàng đầu của cả nước nên việc đánh giá chắc chắn không nhầm: Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Vũ Quần Phương, Nguyễn Đức Mậu, Chu Lai, Khuất Quang Thụy. Mà đâu phải nhà văn của chúng ta chỉ có “một chuyện tình”, tạm kể sơ sơ: Chuyện tình của tôi, Giờ này em ở đâu, Hạnh phúc mỏng manh, Muộn mằn... Một hôm đến thăm ông, tôi nói đùa bảo bác gái phải xem lại thời trẻ bác giai thế nào, chứ nhiều nhân tình lắm, ông ấy lại chẳng giấu gì cả, viết ráo thành truyện. Cả ông bà đều cười: “Phải thế chứ!”. Rồi ông lại cười nữa, bảo: “Còn thua ông Mai Vui!” và nói thêm: “Thế mới gọi là truyện! Bịa mà thật, thật mà bịa! Toàn những con người tốt đẹp và mối tình đẹp nhưng dang dở nên đau khổ, tiếc nuối và ân hận, không dang dở thì cũng muộn màng!”. Ông bà Phùng Văn Ong sống rất hạnh phúc và tình cảm, khoảng những năm 1980 tôi đến thăm ông, vô tình gặp bà làm chuyên gia y tế ở Algeria vừa về, bà ôm lấy tay ông, bảo bà đi được là do ông động viên, ở nhà mọi việc lớn nhỏ ông gánh vác  “mà ông ấy lại còn bận sáng tác nữa chứ!”.  

Công việc của người sáng tác khó mà thành nền nếp được, bận không ra bận, nghỉ ngơi cũng không ra nghỉ ngơi, cảm hứng tưởng dào dạt nhưng ngồi vào bàn cả ngày lại chẳng được chữ nào, người cứ bần thần vơ vẩn nên có tài mà không kiên tâm và bền bỉ thì dễ nản và bỏ “nghề”. Đấy là chưa nói tới những tác động đến tư tưởng khiến nhà văn có thể giã từ nghiệp bút. Nhìn vào danh sách Ban Chấp hành Chi hội VHNT Hải Phòng nhiệm kỳ I và các nhà văn được kết nạp năm 1964 - những người được đặt nhiều kỳ vọng thì giờ đây chỉ lưu lại trong trí nhớ người đọc vài ba cái tên, trong đó có Phùng Văn Ong. Nhưng chính Phùng Văn Ong cũng từng giữa chừng bỏ cuộc. Năm 1955 ông sớm có truyện ngắn đăng báo Văn nghệ(3), năm 1962 truyện Người em gái được giải nhì (không có giải nhất) cuộc thi truyện ngắn của báo Hải Phòng kiến thiết; cùng năm 1962 tập truyện Cha và con do NXB Lao Động ấn hành được dư luận chú ý. Vào năm ấy có tập truyện là rất hiếm. Đang đà bỗng dưng Phùng Văn Ong buông bút! Mãi 40 năm sau trong kỷ yếu Hội viên  Hội Văn học (NXB Hải Phòng, 2001) ông mới có dịp bày tỏ, ấy là “thấy con đường văn chương vô cùng cực nhọc và cũng “rất lắm chuyện”. Nhưng đã mang lấy nghiệp vào thân, sau đó lại viết, âm thầm, lặng lẽ. 22 năm sau, 1984 xuất bản tập truyện ngắn thứ hai: Chuyện gia đình.

Phải lần lại quá khứ mới thấy cái nghiệp văn chương ở Phùng Văn Ong chập chờn dọa bỏ không chỉ một lần, nhưng sau mỗi lần như thế nó lại quấn quýt và càng bám riết hơn: Mầm mống từ những năm học tiểu học, lặng đi suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bật dậy vào những năm 1954-1962 rồi chìm nghỉm suốt hơn 20 năm tới mức tưởng như tắt hẳn thì bừng trở lại hết sức mạnh mẽ và sáng chói đến tận cuối đời. Bảo cái nghiệp văn chương ở Phùng Văn Ong mầm mống từ thuở còn là học  sinh tiểu học thật khó tinnhưng đúng là như vậy. Học sinh hồi đó lớn chứ không như bây giờ. Trong hồi ức Thầy giáo, nhà thơ Lê Đại Thanh và học trò (đăng Cửa Biển số 92 - tháng 8+9/2007) Phùng Văn Ong kể, những năm trước Cách mạng phong trào yêu nước đánh Pháp đuổi Nhật sôi nổi khắp nơi. Ông học lớp cuối trường tiểu học Hàng Kênh huyện Hải An, trường ngay sát nội thành nên học sinh rất nhạy cảm, họ cho ra đời tập san Vừng đông và trương hẳn tên “chủ bút” cùng các “văn nhân”, “thi sĩ”. Chỉ đến khi thầy giáo dạy tiếng Pháp là nhà thơ Lê Đại Thanh tịch thu tập san, phạt quỳ các tác giả, trong đó có Phùng Văn Ong, (chủ bút Trường Giang nhảy qua cửa sổ thoát được), tập san mới chịu đình bản. Một tuần sau, vào giờ ra chơi thầy bảo cả lớp ngồi lại và nói: “Vừa qua chắc các con oán thầy lắm. Các con đều biết con đường tiến tới độc lập, tự do của đất nước đang mở ra trước mắt. Bọn đế quốc và tay sai không dễ để yên cho chúng ta đào huyệt chôn chúng. Mật thám nhan nhản khắp nơi. Tập san của các con tuy chỉ là trò chơi văn hóa nhưng nếu rơi vào tay chúng, với những bài như Lên đường, Học sinh và tương lai chúng sẽ coi đấy là lò đào tạo thanh niên yêu nước. Khi ấy điều gì xảy ra chắc các con cũng hiểu...”.  

Nghiệp văn quay trở lại, khẳng định bằng tập Chuyện gia đình đã giúp nhà văn Phùng Văn Ong tự tin và từ đây một lòng gắn bó với văn chương, ông không ngừng viết và liên tiếp xuất bản các tập truyện ngắn Chị gái tôi (1996), Nỗi ám ảnh khôn nguôi (1997), Vùng sâu (2004), Cây phượng già (2010), tiểu thuyết Số phận nghiệt ngã (2009).

Mỗi khi có sách mới, nhà văn Phùng Văn Ong đều mang đến tận nhà tặng tôi, từ khi tôi chuyển nhà mà ông thì đã yếu, lúc có sách ông gọi điện nhắn tôi đến. Cuối năm 2014 ông gọi điện, bảo có rỗi đến góp ý giúp ông một việc. Thì ra ông định ra tuyển tập, dự kiến khoảng hơn 1000 trang, bìa cáctông, đang tính in 500 hay 1000 cuốn, “tay Quyết ở Nhà xuất bản Hải Phòng là cháu gọi tôi bằng chú, nhưng tôi không muốn in ở đấy. Anh tính hộ mất độ bao nhiêu tiền”. Tôi bảo cũng tùy loại giấy. “Giấy tốt.” - ông nói. “Vậy ít ra phải ba, bốn chục triệu”. “Thế thì được. Các con tôi bảo bố cứ in, tiền nong chúng con lo, cuốn sách để đời nên bố phải in thật đẹp, dưới 100 triệu là chúng con chịu đựng được!”. “Vậy thì vác lên Hà Nội, tội gì in ở Hải Phòng. Thế cụ chuẩn bị đến đâu rồi?”. “Con nó vi tính sắp xong. Tôi đã gọi điện cho Nguyễn Quang Thân ở Sài Gòn viết cho Lời giới thiệu”... Mấy tháng sau ông gọi điện bảo sách đã ra, nhà ở đâu để cho con mang đến tặng, con ông đã mang đến tận nhà tặng Vũ Hoàng Lâm. Tôi bảo không cần thế, tôi sẽ đến.  

Cầm nặng tay Phùng Văn Ong tuyển tập (NXB Văn học, 7/2015) những 1040 trang, tôi không khỏi trầm trồ. Văn xuôi Hải Phòng cho đến lúc này sau nhà văn Nguyên Hồng và Mai Vui, ông là người thứ ba có được tuyển tập. 62 truyện ngắn, 4 truyện dài và tiểu thuyết. Hầu hết tác phẩm của ông tôi đều biết nên không khỏi ngạc nhiên khi lần đầu được thấy trong tuyển có truyện dài Chiến hào và hai tiểu thuyết Giữa lòng thành phố, Chuyện ở xã. Nhìn vào danh mục sách được xuất bản ở bìa 4 thì đúng là chúng được in lần đầu. Hóa ra nhà văn của chúng ta chục năm nay (2005-2015) vẫn viết, không những thế còn viết đến “khủng khiếp” khi tất cả đều nghĩ ông đã nghỉ ngơi và “có quyền” nghỉ ngơi khi đã sang tuổi 80. Ông quả là hiện thân hiếm thấy của sức bền văn chương. Năm 2005, nhân ông được giải truyện ngắn Một chuyện tình, nhà báo Anh Thơ đã tới phỏng vấn, ông bảo: “Tôi không từ bỏ được thói quen đọc sách mỗi ngày. Và cũng chưa có ý định ngừng viết. Tôi vừa xong hai truyện ngắn Con chó đá góc vườn, Giọt nước mắt muộn màng và đang hoàn thành tiểu thuyết Huệ”. Huệ chỉ là tên tạm đặt, sau này là tiểu thuyết Số phận nghiệt ngã mà Huệ là nhân vật chính.

Nhà văn Phùng Văn Ong sống thế nào thì truyện của ông cũng thế, ông hiền lành, sống có tình, không cầu kỳ, hình thức nên truyện của ông đôn hậu, đậm đà, nhân ái, văn chương giản dị, trong sáng và mực thước, thủ thỉ như lời tâm sự. Phùng Văn Ong viết không nhằm trở thành “nhà nọ nhà kia” mà viết như một sự ám ảnh, niềm ‘“Ám ảnh khôn nguôi”. Ông không tô hồng bất cứ điều gì mà chỉ bày tỏ niềm yêu bằng tất cả sự chân thành, trung thực; cũng không lên án điều gì mà chỉ nói lên nỗi day dứt về những cảnh đời ngang trái. Ông tin vào nhân cách con người và đề cao nhân cách trong tác phẩm.

Trong các đề tài, nhà văn Phùng Văn Ong đeo đuổi nhiều nhất là hai đề tài: Một, đề tài kháng chiến chống Pháp, như truyện dài Chiến hào, tiểu thuyết Giữa lòng thành phố và một số truyện ngắn; Hai, đề tài ngành y, như Cô y tá khoa Nhi, Cha và con, Đêm Nôen, Lanđa, Anna... Ông từng tham gia phong trào thanh niên cứu quốc trước Cách mạng tháng Tám; trong Đội tuyên truyền xung phong của Mặt trận Việt Minh; năm 1946 vào bộ đội, bị địch bắt trong một trận chiến đấu; sau khi được tự do, tiếp tục hoạt động trong đường dây bí mật của Liên hiệp Công đoàn tại Nhà thương thành phố (nay là Bệnh viện Việt Tiệp). Hòa bình lập lại làm trong ngành y tế, chuyên trách công tác thi đua tuyên truyền cho đến khi nghỉ hưu - đó là “vốn sống” để Phùng Văn Ong gắn bó với hai đề tài trên.  

Một nhân vật của Phùng Văn Ong nói: “Tuổi đã vào khung bảy mươi là mọi thứ khó rồi. Người ta cứ mất dần những người bạn, vài ba ngày có khi cả tháng mới ra khỏi nhà một vài lần và cũng chỉ đủ thời gian để trò chuyện với một người, gặp lại một đường phố”. Tình cảnh ấy ám vào tất cả mọi người nhưng với chính nhà văn Phùng Văn Ong nó chỉ đúng có một nửa, quả là khi đã “vào khung 70” ông ít ra khỏi nhà và “mất dần những người bạn” - mất Mai Vui, Bùi Ngọc Tấn, chưa mất Nguyễn Quang Thân nhưng ở xa không gặp được. Cái nửa không đúng đó là không phải “mọi thứ đều khó” - Hành trình sáng tạo của ông vẫn ầm ầm tiến về phía trước cho đến tận ga cuối cuộc đời - cái ga ít ai đến được bởi nó ngự xa tít tận cây số thứ 91!

Lưu Văn Khuê

(1) Mới đây, nhân dự Ngày thơ Việt Nam ở Hải Phòng (21/2/2016), nhà thơ Trần Nhuận Minh cho biết đáng lẽ Chi hội Văn nghệ Quảng Ninh thành lập trước hoặc ít ra cùng lúc với Chi hội Văn nghệ Hải Phòng nhưng “xảy ra sự cố” tiểu thuyết Những người thợ mỏ (1961) khiến tác giả là nhà văn Võ Huy Tâm phải xin lỗi trước công nhân nên mãi 5 năm sau, tháng 11/1969 Quảng Ninh mới tổ chức được đại hội thành lập.  
(2) “Sống bền” là cách nói của nhạc sĩ Trần Hoàn về nhà thơ Nguyễn Viết Lãm.
(3) Đúng ra nên gọi là tạp chí Văn nghệ (của Hội Văn nghệ Việt Nam), ra số đầu tháng 3/1948. Sau Đại hội I (4/1957) Hội Nhà văn Việt Nam mới ra báo Văn. Báo Văn sau đó “đi trệch đường” nên không thể tồn tại. ít lâu sau được thay thế bằng báo Văn học. Đến nhiệm kỳ II, Hội Nhà văn đổi tên báo Văn học thành báo Văn nghệ và coi số tháng 3/1948 của tạp chí Văn nghệ là số đầu tiên.

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)

 

 

Cầu Thượng Lỹ - Tranh Nguyễn Văn Trường

Cầu Thượng Lý - Tranh sơn khắc của Nguyễn Văn Trường

 

Chiến thắng Bạch Đằng - Tranh khắc gỗ của Đặng Hướng

 

Chân dung nhà thơ Nguyễn Viết Lãm - Tượng đồng của Khắc Nghi

 

Buổi trưa vắng - Sơn dầu của Đặng Tiến

 

Sông Cấm - Tranh của Sơn Trúc

 

Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Trung thu trên đảo - Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

 

Tranh của Lê Viết Sử

Carnaval Hải Phòng - Tranh Lê Viết Sử

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...