Rừng che bộ đội - Sơn dầu của Quốc Thái

 

Hoa công nghiệp - Ảnh Nguyễn Viết Rừng

 

Cánh tay công nghiệp - Ảnh Vương Khánh Hồng

 

ẢNh Vũ Thành Chung

Chăn vịt - Ảnh Vũ Thành Chung

 

Mùa gặt - Ảnh Đức Biên

 

Đôi mắt cô gái H’mông - Ảnh Vũ Dũng


Hiện có 97 khách Trực tuyến
Giọt tình cửa biển

Vợ Hùng đặt đĩa sò huyết trần nóng còn đang bốc khói xuống bàn, đẩy chai rượu nút lá chuối sát vào tay chồng, miệng đon đả:

- Mời các anh xơi !

Rồi chị lặng lẽ xuống gian bếp trong căn nhà bè, ở đó nồi cháo cá đang sôi. Mùi thơm đặc sản biển lan tỏa không gian.

Sự xuất hiện của chị vợ không mảy may làm bớt đi cơn cao hứng của chồng. Anh say sưa kể quãng đời hậu chiến, niềm vui xen lẫn nỗi buồn. Chuyện trận mưa lớn đầu mùa bất chợt đổ xuống, tức thời loãng độ mặn của biển. Gần ba tạ cá giống phơi bụng, mất đứt nửa tỷ đồng. Vùng biển này chuyển dịch sang làm kinh tế du lịch, dân làng chài khấm khá hơn.

Căn nhà bè lắc lư trên ngọn sóng, gió Nam thổi nhẹ từng cơn mát rượi. Tôi chỉ tay lên đỉnh một ngọn núi cao gần đó, cắt ngang lời Hùng:

- Kia có phải hòn Vân Trụ không nhỉ?

Hùng hướng mắt nhìn theo. Anh đưa chén rượu lên miệng hồi lâu không uống, đặt xuống trầm tư suy nghĩ giây lát:

- Đúng! Hồi năm bảy mươi hai, vạ đá ấy là doanh trại của bọn mình.

Kỉ niệm những trận chiến đấu thầm lặng của những người chiến sĩ công binh rà phá bom mìn dưới nước, dần dà tái hiện. Đầu năm 1972, bị thua to ở chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ mở chiến dịch leo thang bắn phá miền Bắc. Chúng dùng thủy lôi phong tỏa cửa biển, hòng cắt đứt mối quan hệ của ta với bầu bạn quốc tế. Năm ấy tôi và Hùng cùng lên đường nhập ngũ và được bổ sung vào một đơn vị huấn luyện quân đi B, ở mãi vùng rừng Yên Tử. Đơn vị luyện lính thiện chiến, đến mức kẻ địch khiếp sợ, mệnh danh là con báo chúa vùng Đông Bắc. Chúng tôi đang hăm hở tập “bách bộ”, học sử dụng vũ khí bộ binh để vượt Trường Sơn thì ngờ đâu cả hai đều bị  điều về Tiểu đoàn công binh nước. Công binh trên cạn đã khốn, dưới nước còn khốn hơn. Ngày đầu nản chí, sau dần thành quen.

- Nồi cháo cá nguội tanh nguội ngắt cả rồi! Uống vừa rượu thôi, ăn đi cho ấm bụng, chả mấy khi bác Tám đến chơi, ông để bác ấy vác cái bụng đói meo về nhà là không được!

Vợ Hùng tay vá lưới, miệng mắng yêu chồng. Hùng như không để ý lời vợ, tay vung vẩy, khẩu khí chất phác của người vùng biển:

- Mẹ kiếp! Đất nước nó giàu, binh lính nó được trang bị vũ khí hiện đại, nhưng tinh thần chiến đấu đếch bằng mình.

Hùng độc thoại, thi thoảng có đưa ra câu hỏi, thuận miệng lại tự diễn: Ông đọc sách báo nhiều, có lính nước nào dũng cảm lặn xuống nước sâu tìm thủy lôi, tháo kíp rồi đẩy khối thuốc nổ chứa trong quả cầu sắt khổng lồ ấy vào bờ không? Vậy mà bọn mình làm được. Tay anh khua một vòng tròn: Năm ấy những mỏm núi kia là tai mắt của lính phá bom. Mỗi đỉnh cao là một điểm chốt quan trắc, đếm số bom rơi và xác định điểm rơi từng quả. Ngớt tiếng súng, người lính thân trần lặn xuống vô hiệu hóa hung khí giết người ấy. Hùng sinh ra và lớn lên ở vùng biển, anh rất tài bơi lội. Đồng đội gọi là Hùng rái cá. Anh có thể bơi vo hàng ngày trời. Hùng xuất chinh là chiến thắng. Có lần trinh sát báo ở tọa độ X máy bay Mỹ thả xuống 8 quả, phân đội 6 chà đi, chà lại chỉ được 6 quả, còn 2 quả kia lẩn đi đâu mất. Vào tay Hùng, anh không những tìm ra tung tích của hai quả cầu thép sót lại ấy, tháo kíp nổ hẳn hoi mà còn mang về cả xâu cá tóm được từ đáy biển.

- Anh có tin tức về bố con ông Tỵ không? Tôi hỏi.

- Không! Sau năm 1975 gia đình ông ấy chuyển vào Nam, từ đó làng chài không ai gặp lại.

- Tôi ngược xuôi bao lần tìm kiếm không ra…Chẳng lẽ, chẳng lẽ…

- ở giữa túi bom không chết, chẳng lẽ cái của khỉ. Có thể ông lão về già, cô Nụ nay ngoài 50 tốt mái còn đẻ, chắc theo chồng ở vùng quê nào đó!

- Mình nghĩa nặng tình sâu với cha con ông ấy!

Tôi nói vừa đủ nghe. Ai dè Hùng hắng giọng:

-Dối trá! Dối trá …

Hùng bức xúc trách người qua cầu bỏ bạn. Khiến cổ họng tôi nghèn nghẹn,  “bĩ cực” xưa hiện về: khi bụng đói, cật rét đùm bọc thương nhau. Vùng biển ấm áp như một nhà. Bố con ông Tỵ cởi mở ruột gan chỉ bảo từng hòn cồn, vựng nông sâu, dòng nước ngầm lành dữ ở cửa biển này. Tôi với Nụ, cô con gái độc nhất của ông Tỵ có nhiều kỷ niệm. Chiến tranh ác liệt, bố con ông không ra khơi. Ngày ngày thu nhặt hải sản bị bom Mỹ giết sau những trận không kích, phơi khô bán cho thợ cảng. Nụ rất hào hứng khi được bộ đội trưng dụng cô cùng chiếc thuyền nan nhỏ kéo những quả thủy lôi đã tháo kíp vào bờ.

- Lần Nụ cứu tôi thoát chết ông còn nhớ không?

Khoảnh khắc trôi vào quá khứ, Hùng rầu rầu: Cái đêm tháng cô hồn ấy, nghĩ lại bọn mình có lỗi. Biết rõ ông là dân phố xá không thông thạo sông nước, vậy mà đơn vị vẫn giao một mình một mũi, tìm kiếm những quả thủy lôi bị dòng nước xiết cuốn ra xa. Sức ông sao chịu nổi! Nếu không gặp Nụ bơi thuyền vắt qua, thì ông đã làm ma dưới đáy biển này. Hùng gợi, tôi nhớ: đêm ấy tháo kíp được quả bom thứ nhất, đặt phao tiêu đánh dấu vị trí cẩn thận, rồi bơi ra xa đánh dấu vết tích quả thứ hai. Ngâm mình dưới nước nhiều giờ vừa mệt, vừa đói lại bơi ngược dòng hải lưu, tôi lả đi và từ từ chìm xuống…


Minh họa: Quốc Thái

Cơn mê làm mắt tôi khi mờ khi tỏ, nhìn người phụ nữ trước mặt mình khi chụm vào, lúc tỏa ra như ảo ảnh Phật Bà độ thế. Hồi lâu mới nhận ra Nụ. Em đang quạt hơi nồi cháo nóng vào tôi. Tôi tỉnh lại dần, Nụ vui lắm. Em lấy sữa hộp pha loãng bón cho tôi từng thìa, từng thìa một. Đằng lái, bố Nụ rít vội hơi thuốc lào hút dở, rảo chân đến bên tôi phe phẩy chiếc quạt nan. Làn gió đưa hơi hồ từ nồi cháo nóng tưới ấm khắp cơ thể, tay chân tôi từ từ cử động, miệng có cảm giác khát. Mẹo hồi sinh đuối nước của người vùng biển kỳ diệu. Con thuyền nhỏ áp mạn vào vách núi đá, ban mai nắng ấm lên dần. Tôi được làm con ông lão đánh cá một ngày. Được là gì của Nụ chưa rõ, bàn tay Nụ chăm tôi như bàn tay người mẹ nâng niu khúc ruột mình, mắt nhìn tôi âu yếm yêu thương. Nụ cũng có nét lương y. Tôi nghĩ: Nếu như cái ngày ấy kéo dài ra bằng ngày cổ tích trên tiên giới thì tuyệt.

- Đêm ấy cả đơn vị tìm kiếm ông khắp nơi, không thấy tăm hơi. Và đã tính đến khả năng phải truy điệu ông theo nghi lễ lính thủy tử trận! Nếu trận ấy mà ông hy sinh thì cả đơn vị ân hận.

- Ngày ấy tình thế là vậy! Đơn vị có bấy nhiêu người mà nhiệm vụ đặt ra: Địch thả quả thủy lôi nào, ta phá ngay quả đó. Giữ mạch máu giao thông từ Hải cảng này, đến các nước bạn.

Mặt nước nay không thay đổi, vẫn hiền hòa trong xanh như ngày nào nhưng vắng những cánh buồm màu nâu sẫm và vắng người con gái ấy. Nụ sinh ra trên ngọn sóng, con cá con tôm nuôi em khôn lớn. Mẹ em bị cột sóng dữ cuốn đi trong cơn bão biển và đi mãi khi em còn ở tuổi học vần. Bố ở vậy, gà trống nuôi con. Cha con trên chiếc thuyền nhỏ vừa là nhà ở, vừa là phương tiện sản xuất. Ông thương con thất học, phần vì không có đồng tiền gửi nó theo trường ẩn trú mãi tít rừng sâu. Phần vì có bố, có con bầu bạn trên sông nước. Nụ nhỏ người nhưng tháo vát, thay mẹ lo bữa cơm cho bố, rồi đan vá lưới, đặt mồi câu, đăng đó như lao động chính trong nhà. Mới hay, người ta sinh ra hoàn cảnh nào, thích nghi với môi trường sống đó. Lam lũ không làm mất đi nét đẹp bẩm sinh của gái vùng biển, Nụ càng lớn càng xinh đẹp. Cô tươi tắn, làn da nâu, má hây hây lại hồn nhiên làm bao anh lính trẻ xiêu lòng. Với tôi, nàng là ân nhân và như người một nhà. Những ngày ngớt tiếng súng, đơn vị rảnh rang, tôi dạy chữ cho Nụ. Lớp học độc một thầy một trò. Phòng học là một thạch động nhỏ, gần nơi con thuyền bố con em neo đậu. Nụ học hành chăm chỉ, nắn nót viết từng con chữ, tính nhẩm nhanh chẳng mấy hơn cả thầy. Giờ học đậm đặc kỷ niệm nhất là vào một đêm trời không trăng sao, mặt biển đen sẫm không một ánh đèn. Cây đèn bão trên tay Nụ phao đầy ắp dầu tây nhưng không thắp sáng, tránh cặp mắt cú vọ của giặc lái Mỹ. Thầy trò lách người qua những tảng đá hầu hà ký sinh sắc nhọn, chân bước theo cảm giác quen thuộc, qua mấy phiến đá ghép vội thành đường đến cửa hang. Ngoài trời tối, trong hang còn tối hơn. Bạn của thầy trò duy chỉ có đàn dơi chao muỗi. Nụ đặt chiếc đèn bão lên bàn học bằng ba mảnh ván con thuyền cũ đóng đanh ghép lại. Em không đánh diêm đốt đèn mà ngả người vào nhũ đá.

Xa xa một ánh chớp lạnh lùng, một tiếng nổ ùng ục vọng lại. Có thể một quả bom nổ chậm đến giờ phát hỏa. Cũng có thể một con thuyền xấu số va vào thủy lôi mà máy bay Mỹ ném xuống chiều nay, đơn vị bạn đằng ấy chưa rà phá kịp. Chắc chắn ở đó có chết chóc, nhưng ở đây sự sống vẫn nảy mầm. Nụ đã tuổi trăng tròn, vẫn tự tin bắt đầu con chữ ê-a… Tôi vẫn nuôi mộng: Hết chiến tranh về với bến cảng, xây dựng tổ ấm gia đình, có căn nhà nhỏ ngoại thành, một vuông đất trồng mấy luống rau xanh, vợ đảm con ngoan.

ánh chớp không mong muốn ấy lọt vào thạch động, gặp nhũ đá đa sắc lung linh khúc xạ huyền ảo xuống lòng hang. Toàn thân Nụ giát màu ánh bạc, thiên thần sắc đẹp là đây. Hình ảnh ấy lóe lên rồi vụt tắt, mơ lặp lại chẳng được. Khoảnh khắc hiếm hoi ấy, tôi sững sờ bên trong chiếc áo nâu non cổ hình trái tim Nụ vận chiều nay, gồ lên hai trái ngực trắng hồng, mái tóc thề ngang vai quyến rũ. Rồi cửa hang lại đong đầy bóng tối, không gian như hũ nút. Và yên tĩnh đến mức nghe rõ con muỗi nhỏ sa lưới đàn dơi đói mồi. Hơi thở thổn thức từ con tim của người con gái chạm tuổi yêu đương. Tôi định bụng đánh liều một phen…

- Anh ơi! Đèn đâu sáng nhất?

Một âm thanh phát ra bất ngờ. Câu hỏi bất ngờ! Tôi khựng lại, không rướn người về phía Nụ như cỗ máy bất ưng quá tải, toàn thân nóng ran. Tiết đầu thu se lạnh mà mồ hôi trán tía ra. Giây lát định thần:

- Em hỏi gì? Anh chưa hiểu?

- Em hỏi đèn đâu sáng nhất?

- Đèn cao áp sáng nhất em ạ! Hết chiến tranh anh đưa em đi thăm lại bến Sáu Kho, cầu tàu mới xây dựng, đèn nước bạn Liên Xô giúp ta bốc xếp hàng hóa trên bến cảng sáng lắm, không lù mù như cây đèn bão này.

- Anh có đánh cuộc đèn cao áp sáng nhất không?

- Vậy còn đèn nào sáng hơn đèn cao áp! Anh đánh cuộc đấy.

- Ván cuộc này búng tai, hay nhọ nồi vẽ râu? Anh thua to rồi! Anh xem con đom đóm kia có sáng không nào?

Nụ kéo dịch tôi về phía mình, hai thân như chập một. Theo hướng tay Nụ: con đóm đóm nhấp nháy, bóng đen đặc quánh như rã ra. Đúng là trước mắt tôi nơi tối, là nơi đèn sáng nhất. Tôi thoáng nhớ huyền thoại cụ Mạc Đĩnh Chi đời Trần bắt đom đóm làm đèn học rồi thi đỗ Trạng nguyên. Biết đâu cây đèn bão trong hang tối này sẽ chắp cánh cho một tài năng. Nay Nụ biết đọc biết viết, mai đây vào trường Bổ túc công nông, thành đạt làm cán bộ làng chài này.

- Đốt đèn lên học nhá!

Miệng nói, tay tôi với bao diêm cạnh chiếc đèn bão. Nụ nhanh hơn chộp lấy. Hai bàn tay úp thìa vào nhau, cùng đè lên bao diêm. Bàn tay nhỏ nhắn, mềm mại, ấm áp lạ lùng. Rồi như một luồng điện sinh học lan tỏa trong cơ thể người lính đương rừng rực sức xuân. Ba tuổi quân rồi mà tôi chưa một lần có được cảm giác ngây ngất ấy.

- ứ ừ… Em chẳng học nữa đâu!

Hai thân hình từ từ đổ xuống…

Nụ đưa tôi về đơn vị, con thuyền nan lướt nhẹ trên mặt nước. Đằng sau mái chèo những hạt lân tinh nhấp nháy như dải Ngân Hà trong đêm sao sáng. Có lẽ vùng biển Cát Bà độ mặn cao, nên mới tạo được hình ảnh thần tiên ấy. Nếu rơi vào mục kỉnh nghệ sĩ, hẳn nên thơ. Còn tôi chỉ mường tượng truyền thuyết đôi bờ sông Ngân Hà với mối tình Ngưu Lang - Chúc Nữ. Một mối tình ngàn năm son sắt, rất gần và rất xa. Điềm lành hay dữ đây, đời lính chiến nay đây mai đó, sống chết trong “kẽ tóc”. Phận mình lại hẩm hiu, mười hai tuổi mẹ chết, bố bỏ rơi đàn con dại chạy theo mối tình trẻ ở mãi Thủ đô. Sáu anh chị em dắt díu nuôi nhau, lớn lên bằng những đồng tiền thu nhặt phế thải, bằng chim sa cá nhảy. Chẳng bù cho bố Nụ, vợ chết năm ông ba hai tuổi, bao đám mối lái, mặc nhiên ông vẫn ở vậy nuôi con. Tay chèo, tay lái, ông còn “khéo vá vai, tài vá nách” thay mẹ lo cho Nụ lành manh áo. Giá như mình có một người cha như vậy…!

- Anh ơi! Sao đêm nay anh buồn thế? Em sợ…!

Tôi giật thót như ăn vụng bị người nom thấy:

- Anh đang nhìn trời, nhìn nước đấy! Vùng biển lặng sóng này đẹp quá.

Đầu óc bung lung so sánh đức độ hai người cha, nhưng tôi giả bộ như đang thả hồn vào cảnh quan ban đêm trên mặt vịnh. Chậm rãi diễn đạt lại sự cảm nhận của mình cho Nụ nghe: Em có nom thấy đàn cá ăn nổi, nheo nheo đớp mặt nước không? Còn đàn chim biển di cư cuối thu nữa! Chúng có bao con đực, bao con cái anh biết cả.

- Trời ơi! Chưa có ai đánh thuế người nói khoác.

- Giờ thì anh trả nợ được keo búng tai, vẽ hề trên mặt rồi đấy!

Tôi quả quyết vậy và phân tích rành rọt cho Nụ nghe: đàn chim vừa bay qua  hai âm thanh gọi bầy khác nhau. Tiếng rin rít là của chim cái, tiếng oạc oạc là của chim đực, rành rành tiếng chim cái nhiều hơn chim đực. Và kể: ngày chưa đi lính, anh từng là sát thủ chim rừng. Sáng đi bẫy chim xanh, chiều cắp sách đến trường. Nhờ lồng chim ra chợ mà có tiền ăn học. Anh thuộc hết tiếng chim vùng rừng này. Bắt chước nó hót, dụ nó vào lưới. Mùa nào chim ấy, giao xong lồng chim cho chị gái mới rảo bước đến trường. Chị anh thương các em lắm. Bán xong lồng chim, khó khăn mấy chị cũng mua đủ năm cái bánh quấn thừng, chia cho mỗi em một cái. Hỏi phần chị, chị bảo ăn ở chợ rồi. Thực bụng chị nhịn miệng đấy, đồng tiền bàn tay nhỏ làm ra thấm thía gì so với năm miệng ăn. Còn bao thứ đặt lên vai người chị thay mẹ gánh vác việc gia đình. Nếu chị anh biết em cùng cảnh mồ côi, chị thương lắm. Bây giờ mình làm người lớn rồi, hết chiến tranh mời em về nhà anh, anh bẫy chim cho vào nồi tuốt, không phải bán lấy tiền đong gạo nữa. Anh đãi em túy lúy: cháo chim xanh, chim xanh nấu miến ăn ngon quắt tai.

- Anh ơi! Bao giờ hết chiến tranh?

Câu hỏi cắt ngang dòng Cinema miệng, quãng đời niên thiếu buồn tủi của tôi. Nụ không đồng cảm chân dung một người chị tội nghiệp, chưa đến tuổi lao động đã phải thủ vai xơ bảo mẫu, nuôi năm đứa em thơ dại. Họa chăng là dò hỏi: mẹ chết, người cha làm cán bộ. Bóng cả vậy? Sao lại khổ. Nụ cũng chẳng hào hứng với món ẩm thực chim quay. Đến khi xa rồi, tôi càng hiểu câu hỏi tưởng như thoảng qua, ai mà chẳng mong hết chiến tranh. Nó ẩn chứa nỗi lòng em. Em thầm trách tôi: Chờ đợi… bao giờ cho hết chiến tranh! Nếu chiến tranh kéo dài thì tôi có phải của Nụ không? Gái có thì. Sao tôi đoảng thế? Không nói lời hẹn ước để mà yêu, mà nhớ, mà chờ đợi. Vô tình đến mức ngây ngô: Anh cũng chẳng rõ bao giờ hết chiến tranh. Nụ buông mái chèo, con thuyền bất ưng mất lái nó xoay tròn một vòng. Tôi thẫn thờ nhìn Nụ. Màn đêm về sáng tuy không rõ như ban ngày, cũng nhìn thấy nét buồn hiển hiện trên gương mặt em. Từ khi gặp cha con người đánh cá, tôi chưa nhìn thấy Nụ ủ ê như vậy. Mặt nước vẫn yên nặng. Hòn Vân Trụ, trên vịnh Lan Hạ đây rồi, đồng đội lúc này yên trong giấc ngủ. Con thuyền nhỏ chòng chành theo lực quán tính của cơ thể tôi, cố ngả người về đằng lái. ở đó Nụ ngồi bó gối. Hai bóng hình chưa chập một, chưa đặt vào đâu đó một cử chỉ hối lỗi. Nụ bất thần đẩy tôi ngược trở lại. Con thuyền đang chòng chành, thêm sự mất thăng bằng từ thân hình tôi liêu xiêu, nghiêng chao đầy khoang nước, rồi lật úp ngay phút chốc. Cả tôi và Nụ cùng rơi tõm xuống nước. Loay hoay mãi hai đứa mới lật lại được con thuyền. Rồi cùng bì bõm tát nước, con thuyền nổi dần trên lớp sóng nhẹ. Hai đứa không nói một lời, Nụ ngồi trên thuyền vẻ ân hận. Tôi không leo lên thuyền nữa, chia tay em bơi về đơn vị. Vào bờ ngoái lại, con thuyền nhỏ vẫn như cắm sào đứng đợi. Nụ toàn thân sũng nước, trời cuối thu se lạnh, thương Nụ quá là thương. Giờ này chẳng còn bao lâu tiếng kẻng báo sáng vang lên, doanh trại điểm danh không có mặt mình thì nguy. Tôi đành giơ cao chiếc áo ướt, đánh tín hiệu chào tạm biệt Nụ ra về.

Không ngờ cú lật thuyền đêm ấy là điềm chia ly tôi với nàng. Và manh áo màu cỏ úa sũng nước giơ lên là cuộc chia tay vùng biển này. Ngay sáng hôm sau thủ trưởng đơn vị gọi tôi lên trao quyết định của Tư lệnh vùng cử sang Liên Xô học kĩ thuật phá bom từ trường thế hệ mới. Quân lệnh đột xuất tôi không gặp được Nụ chia tay ân nhân, chia tay người con gái gieo trong tôi mối tình đầu, và chia tay ông lão đánh cá, người đáng kính hơn cả bố mình.

- Sao ông lặn một hơi dài vậy?

- Trời! Ông còn vặn tôi câu ấy nữa?

Khoác ba lô lên đường khẩn đến mức Tiểu đội chẳng kịp liên hoan chia tay, vì chuyến công tác tối mật. Đoàn học viên dã ngoại đến biên giới Việt - Trung, lên xe lửa chạy ròng rã hàng tháng trời qua đất nước rộng lớn này đến một quân cảng, xuống tầu thủy vượt biển sang Liên Xô. Tôi định khi nhập học sẽ viết thư về chào đơn vị cũ và nhờ các anh gửi một lá thư riêng cho Nụ. Ngờ đâu con tầu không cập bến Liên Xô, mà đi suốt nửa vòng trái đất. Lên bến cảng lính Tây ra đón, họ xì xồ đưa lên xe nhà binh mui bịt kín. Xe chạy hai ngày đường đến một nơi bề ngoài nom như một khu công nghiệp, bên trong là một trường đào tạo kỹ thuật quân sự. Nhờ bức ảnh của người Chủ tịch nước để râu mặc quân phục treo trên tường, chúng tôi mới biết nơi đây. Bên cạnh lớp học rà phá bom từ trường thế hệ mới là lớp học sử dụng khí tài điều khiểu tên lửa thế hệ mới. Từ lớp học này và những giàn tên lửa “khủng” ở nơi đất nước mía đường này kín đáo đến Việt Nam mà CIA có mắt cũng như mù để cho cuộc không kích mười hai ngày đêm bất ngờ bị đòn đau, những giàn tên lửa có khả năng chống nhiễu, những quả đạn tốc độ khủng, tầm bắn không tưởng quật ngã B52 mà trước đó chúng vênh váo với thế giới rằng: pháo đài bay này đến rải thảm thành phố cửa biển, gần trăm quả Sam II bắn lên đều vô hiệu. Khi ấy KGB và Hoa Nam tình báo còn bán tín bán nghi: ta cải tiến Sam II nâng tính năng tác chiến.

Chính sự tuyệt mật ấy, hai năm trời ẩn tức về nước, đơn vị mới lại đóng chốt ở sông Gianh, giữa hai đầu Nam Bắc. Vài lá thư về đơn vị cũ, không thấy trả lời. Sau mới hay bạn cũ chẳng còn ai, hòm thư cũng thay đổi. Ngay anh cũng chuyển về Lạch Trường từ 2 năm trước rồi. Vạn chài ngư dân du cư trên sóng, đẻ không khai sinh, chết không báo tử… tìm đâu địa chỉ mà trang thư nối lời hò hẹn! Giờ đây Nụ về bên tay người, quên hẳn bóng hình tôi. Và có thể hoài tưởng người lính nằm lại ở đâu đó, xuôi tay chưa biết mùi đời.

- Ông đã để lại sản phẩm cho cô ấy chưa?

Vợ Hùng giả bộ không tò mò chuyện đàn ông, tay đan lưới dưới khoang thuyền, nhưng vẫn kín đáo đánh mắt đến Hùng chén tạc chén thù. Hóng chồng rượu vào lời ra, hở chuyện đào hoa thời trẻ. Nếu gửi gắm ở đâu mà qua mặt chị là không xong. Tôi thoáng đoán ra “tai” đàn bà, hở chuyện này chẳng hay ho gì. Ghé sát tai Hùng thì thầm:

- Chưa tìm ra cổng chợ đã hết tiền!

- Ông nói sao?

Hùng chẳng hiểu ý, bô bô hỏi. Tôi phải hạ giọng thật khẽ giải thích cho bạn: Đêm ấy tôi ghì chặt vòng eo Nụ, hai người đổ vật xuống chiếc chõng tre kê trong hang đá. Cái chõng tre êm buổi trưa ông Tỵ ngả lưng, buổi tối Nụ ngồi học bài. Thanh vắng, âm thanh dồn nén trong cơ thể Nụ không thoát ra miệng líu ríu ở thanh quản, nghe bồn chồn sung sướng làm sao. Cả thạch động im lặng, đàn dơi như ngừng chao muỗi để hai người yêu nhau. Nhưng quả thực chưa tìm được cổng chợ đã ra hết tiền. Hùng cười sằng sặc: đúng đấy lần đầu tôi “trót dại” cũng vậy! Hình như vợ Hùng nghe lỏm được, cô đỏ chín mặt quay đi.

Vèo cái đã non bốn chục năm, vùng biển lặng sóng vẫn còn đây, tình xưa lắng đọng, bạn cũ người còn kẻ mất. Tôi rưng rưng xâu ngược thời gian, tay phẩy nhẹ về phía chân ngọn sóng: Cửa biển năm ấy đầy rẫy bom mìn, thuyền bè vắng vẻ, nay trên bến dưới thuyền. Nghe đến đây, Hùng thở dài thườn thượt, rồi chỉ tay vào con tàu chở khách du lịch đang lướt trên mặt vịnh, bực dọc:

- Những con tàu chở khách du lịch lớn nhỏ kia, có ngày đưa tới vạn lượt khách ra thăm vịnh, tàu thuyền thoi đưa rời cảng an toàn, không vướng phải hòn tên mũi đạn mà chiến tranh rơi rớt lại, phải kể đến công lao của những người lính công binh bọn mình.

Hùng mặt đỏ hơi men lại bức xúc, hai thái dương giật giật: Nghịch lý, công nhân cứ có thâm niên công tác 5 năm trở lên trước năm bẩy nhăm là được nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến, hưởng chế độ người có công, bất luận thời chiến cơ sở của họ trú ẩn mãi tít rừng sâu, xa trận mạc. Trong khi đó bọn mình trực tiếp chiến đấu với bao Huân chương Chiến công, những chiếc Huân chương vô giá đó lại không được tính bằng Huân chương Kháng chiến, thật là vô lý. Thời hạn 5 năm công tác của mấy ông bà công nhân sao sánh được với thành tích một năm trụ vững giữa trọng điểm không quân Mỹ đánh phá ác liệt để tháo gỡ bom mìn, khơi thông luồng tàu đón bè bạn quốc tế đến giúp ta đánh Mỹ. Sự dũng cảm hi sinh của bọn mình đến kẻ địch cũng phải kiêng nể, nay dường như bị lãng quên. Tháng chạp năm 1972, đế quốc Mỹ bị thất bại thảm hại trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, phải kí Hiệp định Pa-ri rút quân về nước. Trong các điều khoản đình chiến, chúng phải tháo dỡ toàn bộ số lượng bom mìn mà chúng rải xuống cửa biển này. Chúng dùng máy bay lên thẳng lượn trên mặt nước, kéo thiết bị phóng từ trường kích nổ. Kĩ thuật phá bom hiện đại như vậy mà cả tuần không phá được một quả. Chúng không hiểu số lượng thủy lôi ném xuống đây nhiều đến vậy mà biến đi đâu hết.

- Cả dân tộc tham gia kháng chiến, giải quyết tồn đọng sau chiến tranh còn nhiều nan giải.

Bản thân day dứt, tôi vẫn nhẹ nhàng động viên bạn: Nếu so sự cống hiến của công nhân với bà con xã viên nông nghiệp, chắc ai hơn ai. Ngày ấy trên đồng ruộng toàn phụ nữ tay cày - tay súng mà: “thóc không thiếu một cân” đóng thuế nông nghiệp chi viện cho tiền tuyến. Và ngay như bố con ông Tỵ cùng bao ngư dân bỏ chài lưới, tham gia rà phá bom mìn trên cửa biển này để ngày nay chiến trường thành thị trường. Mồ hôi và máu của những người dân bình dị ở làng chài đổ xuống, rồi đây sự công bằng sẽ đến. Cái đáng giá ngàn vàng, đời ta thau rửa được  ở cửa biển này là sạch không còn vết nhọ chiến tranh.

Nghe tôi “giảng đạo” đến đây, Hùng phá lên cười. Anh cười nhưng khóe mắt lại rưng rưng hướng ra mặt biển. Biển đang mùa nắng, ánh vàng lấp lánh trên mặt biển trải rộng mênh mông. Biển đẹp mà hai người lính vẫn bâng khuâng như chưa tìm được cái đã mất. Giờ đây Nụ ở đâu nhỉ? Em còn nhớ Cửa Cấm, Bến Rừng, vịnh Lan Hạ không? Thời gian mờ đi kỷ niệm một đêm trên chõng tre êm, trong lòng thạch động. Quên đi giận hờn người lính sống không trở về. Tình xưa lắng dưới lớp sóng bạc ở vùng cửa biển này./.


Truyện ngắn dự thi: Vũ Phong Cầm (Quảng Ninh)

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)

 

 

Cầu Thượng Lỹ - Tranh Nguyễn Văn Trường

Cầu Thượng Lý - Tranh sơn khắc của Nguyễn Văn Trường

 

Chiến thắng Bạch Đằng - Tranh khắc gỗ của Đặng Hướng

 

Chân dung nhà thơ Nguyễn Viết Lãm - Tượng đồng của Khắc Nghi

 

Buổi trưa vắng - Sơn dầu của Đặng Tiến

 

Sông Cấm - Tranh của Sơn Trúc

 

Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Trung thu trên đảo - Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

 

Tranh của Lê Viết Sử

Carnaval Hải Phòng - Tranh Lê Viết Sử

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...