BÀI ĐĂNG MỚI

Cuộc thi ảnh nghệ thuật “Huế - Những góc nhìn mới” lần III - 2017
...

 

Rừng che bộ đội - Sơn dầu của Quốc Thái

 

Hoa công nghiệp - Ảnh Nguyễn Viết Rừng

 

Cánh tay công nghiệp - Ảnh Vương Khánh Hồng

 

ẢNh Vũ Thành Chung

Chăn vịt - Ảnh Vũ Thành Chung

 

Mùa gặt - Ảnh Đức Biên

 

Đôi mắt cô gái H’mông - Ảnh Vũ Dũng


Hiện có 88 khách Trực tuyến
Đi bộ về núi xa

ánh trăng soi trên những trái quýt chín vàng, phía sau cổng phụ chùa Hoa Yên mờ khói sương. Một đêm gõ cửa hỏi thăm sư cụ trong chùa, chú tiểu chắp tay thưa lại với tôi: “Tháng trước vào tuần sương giáng, Người đã đi bộ về núi xa, không thấy hẹn cữ nào trở lại!”. Sư cụ chùa Hoa Yên mà tôi quen gọi bằng Thầy thường đi bộ một mình qua những dãy núi Đông Bắc, sang đến tận Vân Nam (Trung Quốc), rồi lại trở về. Chuyến đi cuối cùng của Thầy cách đây đã hơn 50 năm, Thầy tôi không trở lại. Tôi không biết vì lẽ gì mà Thầy tôi thường phải đi bộ một mình về những dãy núi xa xăm như vậy. Nhớ lại một đêm trăng, dưới chân Tháp Độ Nhân phía sau chùa, Thầy tôi nói: “Đời người ai cũng có những đỉnh núi xa ở cõi lòng mà suốt đời hướng tới. Kết thúc đời sống, nghĩ cho cùng cũng chỉ là một lần đi bộ về núi xa thôi con ạ!”.

Nhà văn Sơn Tùng, người được Trời cho những cơ duyên biết nhiều chuyện chưa mấy au biết về Bác Hồ, có lần nói: “Trên thế gian này, có lẽ chỉ có Bác Hồ là người đi bộ nhiều nhất trong suốt cuộc đời, từ khi còn nhỏ lên năm tuổi đã theo cha mẹ vượt Đèo Ngang vào Huế. Đến khi sắp từ giã cõi đời, Người vẫn mơ ước được đi bộ vượt Trường Sơn vào với đồng bào miền Nam. Mỗi lần nhớ đến đồng bào, Bác Hồ lại khóc!”.

Mùa hè năm 1950, Sơn Tùng được nghe cụ Cả Khiêm, anh ruột Bác Hồ kể: “Quãng năm 1895, hai anh em Bác Hồ, thuở ấy còn mang tên Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung, theo bố mẹ đi bộ từ Nam Đàn vào kinh đô Huế, cứ dọc đường cái quan mà đi, mỗi người mang một đôi dép mo cau, lúc nào rách lại thay đôi khác”.

Quãng đường này, khoảng năm 1833-1834, hơn 60 năm trước chuyến đi của gia đình Bác, nhà thơ Cao Bá Quát cũng đã cuốc bộ vào kinh đi thi. Đường dài vắng vẻ “úy nộ man man trước lữ hoài”. Mênh mang dặm khách rợn lòng ta!). Đường qua những trảng cát dài “Trường Sa phục trường sa. Nhất bộ nhất hồi khước. Nhật nhập hành vĩ dĩ. Khách tử lệ giao lạc” (Bãi cát dài lại bãi cát dài! Đi một bước lại lùi một bước! Mặt trời đã lặn mà vẫn còn đi. Khách trên đường nước mắt rơi lã chã!).

Đền Đèo Ngang, đứng trên núi Hoành Sơn nhìn ra bể, nhà thơ họ Cao kinh hoàng trước cảnh thiên nhiên dữ dội, vội vã lên đường: “Hải thượng bạch ba như bạch đầu. Nộ phong hãm phá vạn hộc châu... Sơn Bắc, sơn Nam thiên vạn lý. Công danh nhất lộ kỷ nhân nhàn? Quan cái phân phân ngã hành hỹ!” (Sóng trên mặt bể trắng xóa như đầu bạc. Gió táp xô vỡ chiếc thuyền lớn hàng muôn hộc... Phía Bắc núi, phía Nam núi, suốt nghìn muôn dặm. Trên đường công danh, đã mấy ai nhàn? Mũ lọng nhộn nhịp, ta cũng đi đây!).

Ông Sắc cõng Sinh Cung trên lưng rảo bước. Bà Loan gồng gánh đồ đoàn dắt tay Sinh Khiêm cặm cụi theo sau. Chú bé Sinh Cung 5 tuổi được cha cõng trên lưng nhìn thấy Hoành Sơn có con đường mòn đất đỏ vắt qua đẹp quá, đã reo lên thành thơ: “Núi cõng con đường mòn. Cha thì cõng theo con. Núi nằm ì một chỗ. Cha đi cúi lom khom. Đường bám lì lưng núi. Con tập chạy lon ton. Cha siêng hơn hòn nùi. Cnn đường lười hơn con! ”. Bài thơ được cụ Cả Khiêm chép lại trong tập “Tất Đạt tự ngôn”. Năm 1950, cụ đem cho nhà văn Sơn Tùng vài tháng trước khi cụ mất.

Sau 6 năm ở Huế, tháng 2/1901, mẹ qua đời, hai anh em lại theo cha đi bộ về Kim Liên, Nam Đàn. Đường xuyên Việt những năm đầu thế kỷ xuyên qua truông rậm, núi cao. Chiều tối đến những chặng đường hoang vắng, thú dữ rình người.

Tháng 6/1906, ba cha con lại đi bộ từ Nam Đàn vào Huế một lần nữa, đường xa đến vài bốn trăm cây số, đi bộ mãi cũng thành quen, cũng trở nên gần, người đi không còn thấy ngại!

Năm 1908, Bác Hồ lúc này có tên là Nguyễn Tất Thành bị buộc phải thôi học ở trường Quốc học Huế vì đã tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân. Tháng 7/1909, để tránh bị chính quyền theo dõi, Nguyễn Tất Thành một mình đi bộ về phương Nam, tới Sài Gòn, hy vọng tìm đường ra nước ngoài. Từ Huế đến Bình Khê tỉnh Bình Định, nơi ông Bảng Sắc làm tri huyện, khoảng 300 cây số, Tất Thành có ghé thăm cha rồi lại đi tiếp vào Phan Rang, giữa lúc một cơn bão lớn ngoài khơi tràn vào Cảng.

Sau này, khi đi làm những bộ phim về đất nước, tôi đã nhiều lần đi dọc miền Trung. Phong cảnh khiến tôi mường tượng thấy hình bóng của Bác cặm cụi một mình đi ở giữa, nơi có con đường vượt qua những đỉnh đèo cao. Tháng 7, vào mùa nắng dữ, những bụi tre gai bên đường vào Phan Rang hàng trăm cây số hoang dã, khô cháy một màu chết chóc, không một bóng người. Toàn thân chết khát, hai bàn chân bỏng rộp, lê bước trên đường, mười chín tuổi, Người một mình đi bộ đến được Sài Gòn!

Đầu năm 1990, ở Trung Quốc, tôi có dịp đi từ Nam Ninh về Tĩnh Tây với ý định thăm nơi Bác và hoạt động cách mạng quãng năm 1942, khởi đầu cho chuyến đi bộ gian nan cực khổ nhất trong đời hoạt động của Bác, chuyến đi “Nhật ký trong tù” .

Ô tô chạy suốt đêm, đường dài thăm thẳm, đồi núi chập chùng. Chòm xóm dưới thung xa, thấp thoáng ánh đèn như những ánh sao mờ. Uống một ấm trà ở quán trà nhỏ có cái tên thơ mộng “Lô Sơn Vân Vụ” (Sương mờ trên đỉnh Lô Sơn). Tôi đi về xóm Pà Mông - Xóm nhỏ xưa cũ, có chiếc cầu gạch cổ bắc qua con suối nhỏ cạn trơ sỏi đá. Nắng vàng hiu hắt trên những mái ngõ cũ rêu xanh.

Ngồi trò chuyện với bà con trong xóm sang chơi nhà cụ Từ Vĩ Tam, anh em kết nghĩa với cụ Hồ từ năm 1940. Cụ ông đã qua đời, chỉ còn cụ bà tuổi ngoài 80. Nhắc tới chuyện cụ Hồ, cụ bà vừa khóc, vừa lấy vạt áo bông xanh lau nước mắt. Cụ Hoàng Tài Hán, hàng xóm của cụ Tam dẫn tôi đi thăm núi Phong Nham. Trên núi có hang Thông Phong xuyên qua núi, sương khói mờ ảo, ẩn hiện mấy bài thơ viết trên vách đá. Cụ Hán trân trọng nói với tôi: “Đó là bài thơ của cụ Hồ. Cụ ở trong hang với tôi hồi năm 1941”. Độ ấy, cụ Hán sinh nhai bằng nghề nấu rượu. Cụ Hồ thường giúp cụ Hán nhóm lửa, nếm rượu. Hai cụ ngồi canh nồi rượu, rù rì trò chuyện suốt đêm, cùng lắng nghe tiếng gà gáy vọng lên dưới xóm Pà Mông mịt mùng.

Tôi lấy làm tiếc không ghi lại được bài thơ Bác viết trên vách đá, ánh sáng mập mờ, chỉ đọc được có ba chữ: “ẩn cư hoạt lộ” (ở ẩn đề tìm đường hoạt động). Mong ước có được một dịp nào đó, trở lại đây với máy quay phim, ghi lại những bài thơ của Bác.

Hạ tuần tháng 8/1942, cụ Hồ từ Pắc Bó sang Tĩnh Tây, dừng chân ở Pà Mông, nhờ một người anh em trong xóm là Dương Thao dẫn đường đi Trùng Khánh tìm gặp Chu Ân Lai và phái đoàn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Không may, đi đến chợ Túc Vinh huyện Đức Bảo, hai thày trò bị bọn hương dũng Quốc dân Đảng bắt giam. Từ nhà giam chuyên khu Tĩnh Tây, ngày 29/8/1942 cụ Hồ bị áp giải qua các huyện và thành phố: Điền Đông, Thiên Đằng, Long An,  Ung Ninh, Nam Ninh, Vũ Minh, Tân Dương, Liễu Châu, Quế Lâm... Trải qua mười mấy nhà giam, đến ngày 10/9/1943 mới được trả tự do ở Liễu Châu, tính ra vừa hết một năm mười hai ngày. Có thể nói đây là chuyến đi bộ cực khổ tột cùng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của cụ Hồ. Đường dài sỏi đá gập ghềnh, vượt qua núi cao vực thẳm, Mùa hè những cánh đồng khô cháy, nắng như đội lửa, mùa đông gió như cắt thịt da, đường sá mêng mang không một bóng người. Chỉ có người tù và toán lính áp giải lê bước trên đường: “Dạ như hắc ám dĩ đăng trình. Lộ hựu khi khu thậm bất bình” (Còn tối như bưng đã phải đi. Đường đi khúc khuỷu lại gồ ghề); “Nhật hành ngũ thập tam công lý. Thấp tận y quan phá tận hài” (Năm mươi ba cây số một ngày. áo mũ dầm mưa rách hết giày). Bụng đói, cật rét, tay bị trói, cổ bị xiềng, run rẩy trên suốt lộ trình dằng dặc như vậy, dù là người thép cũng không chịu nổi! Vậy mà Người đã vượt qua để rồi bao nhiêu gian lao, khổ hận, núi thẳm, non cao cuối cùng chỉ còn đọng lại trong một tứ thơ, một tư tưởng Hồ Chí Minh thanh thản, tận cùng:

“Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan. Tùng sơn chi ngoại hựu trùng sơn. Trùng sơn đăng đáo cao phong hậu. Vạn lý dư đồ cố phán gian” (Đi đường mới biết gian nan. Núi cao rồi lại núi cao trập trùng. Núi cao lên đến tận cùng. Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non).

Tháng 10/1944, Bác Hồ qua biên giới Việt - Trung, đi bộ về Pắc Bó, Cao Bằng. Đồng chí Dương Đại Lâm được tin báo chạy ra đón Bác ở chợ Cọt Mà, bàng hoàng nhìn thấy “Ông cụ người cao gầy, đôi mắt sâu quầng, đầu đội chiếc nón sơn, mặc bộ quần áo đã bạc màu, chân đi hài xảo bằng mo tre, dây cứa đứt cả mu bàn chân, còn gót chân thì loét máu”. Bác đã yếu đi nhiều, vừa leo núi vừa thở. Đại Lâm mấy lần xin mang hộ hành lý của Bác, nhưng ông cụ gạt đi bảo “Chú cứ lo lấy cái phần của chú!”. Đi từ sáng đến chiều tối về tới Khum Đắc. Các đồng chí được gần Bác ở Cao Bằng kể lại: “ở Pắc Bó, Bác thường hay đi chơi núi. Núi cao như một niềm ham mê của Bác. Con đường mòn lên núi nhiều gai góc, dây leo chằng chịt, đá nhọn chắn đường, những bụi lau già trổ cờ trắng bạc ngả sang hai bên lấp mất lối đi. Bác leo tít lên đỉnh núi cao, có khi lại xuống thật sâu dưới thung lũng. Cả người Bác, cả tâm hồn Bác như hòa vào với núi”.

Sau này, suốt chín năm kháng chiến chống Pháp, ở chiến khu Việt Bắc, Bác vẫn thường đi bộ. Những thước phim tư liệu ghi hình ảnh Bác chống gậy xuyên rừng, lội suối, đôi khi thấy Bác đi ngựa qua đèo hay ngồi trên chiếc xe Jep cũ, có khi Bác đẩy xe, quay “maniven” giúp lái xe khi xe chết máy. Nhưng thường xuyên chỉ thấy Người đi bộ, dép lốp, gậy tre, mũ cát, khăn mặt vắt vai. Tuổi cao, chân mỏi, lúc nghỉ Bác dùng nước giải tự bóp chân cho mình theo cái cách chữa bệnh của các cụ truyền lại. Chỉ nhờ có bài thuốc tự sinh này mà đôi chân dẻo dai đã giúp Bác đi bộ hàng ngàn cây số suốt 9 năm kháng chiến trường lỳ cho đến ngày Bác cùng Trung ương Đảng và Chính phủ trở về Hà Nội.

Những năm cuối đời của Bác, chiến trường miền Nam ngày càng ác liệt. Bác không ngày nào không lo lắng, theo dõi tin tức của chiến sĩ và đồng bào ở trong Nam. Bác yêu cầu khi nào có các đoàn ở trong Nam ra phải báo cáo ngay cho Bác để Bác gặp. Nay xem lại những thước phim tư liệu ghi rõ những cuộc gặp của Bác với cán bộ và chiến sĩ miền Nam, càng thêm thương Bác! Lần nào Bác cũng hỏi thăm cặn kẽ đường đi vào Nam như thế nào, dọc Trường Sơn phải qua những đâu?... Trong lòng Bác phải tha thiết một ước mong đi bộ dọc Trường Sơn vào Nam thăm đồng bào, chiến sĩ. Bác chính thức nêu vấn đề này với Bộ Chính trị và đề nghị tổ chức cho Bác một chuyến đi. Bác hăng hái chuẩn bị. Biết mình sức khỏe đã yếu, hằng ngày Bác cùng với ông Tam, bảo vệ của Bác, người Nghệ Tĩnh, nay đã qua đời, hai bác cháu đeo ba lô, tập đi bộ trong khu vườn cây rộng lớn của Phủ Chủ tịch. Bác không đi theo những lối đi quen thuộc mà tự vạch ra đường đi riêng, xuyên qua cả những bụi cây rậm trong vườn. Bác nói với ông Tam: “Chú muốn vượt Trường Sơn với Bác thì phải biết vạch đường mà đi”. Tháng 8/1969, Bác nằm trên giường  bệnh thấy mình không thể tiếp tục đi bộ được nữa rồi! Lòng Bác vẫn không nguôi nhớ về miền Nam, nhớ những rặng núi xa...

Nhiều năm sau, khi Bác đã qua đời, trên đường vào Nam làm phim, một đêm  trên đỉnh Trường Sơn tôi nghe các chiến sĩ hát “Đêm Trường Sơn nhớ Bác”, nhìn lên đỉnh núi cao, chợt thấy lạnh người. Bác vừa đi qua đỉnh núi?... Hay ánh trăng xanh mờ nhạt... Có ai nói: Hồn thiêng của Bác trên đường về Nam đã nhập vào dãy Trường Sơn!

Trong suốt cuộc đời, Bác là người khiêm tốn, giản gị, Bác không muốn mọi người coi Bác là Người vĩ đại! Rất ít khi Bác nói về bản thân mình. Bởi vậy, còn biết bao những chuyện về cuộc đời của Bác, đối với chúng ta mãi mãi là một điều bí ẩn.

Tôi nhớ một hôm sớm mùa đông, đứng với Thầy tôi trên chùa Đồng Yên Tử, ngắm những đỉnh non cao rực rỡ những tia nắng vàng, xung quanh tôi những mảng mây trắng xốp, bồng bềnh lúc nổi lên cao, lúc là đà xuống thấp. Một hồi chuông dưới chùa Vân Tiêu bất chợt vọng lên, dội vào vách núi. Thoáng chốc, mây ùn ùn kéo đến, đỉnh núi cao sáng rực lặng lẽ chìm sau những làn mây trắng. Thầy tôi nói với tôi: “Núi là niềm ngưỡng mộ của con người, vì Núi chứa đựng những điều bí ẩn. Mà con có thấy không, Núi Lớn đang chìm trong mây... Bởi Núi cũng không muốn người đời thấy mình là Núi”./.

Tùy bút: NSND Đào Trọng Khánh

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)

 

 

Cầu Thượng Lỹ - Tranh Nguyễn Văn Trường

Cầu Thượng Lý - Tranh sơn khắc của Nguyễn Văn Trường

 

Chiến thắng Bạch Đằng - Tranh khắc gỗ của Đặng Hướng

 

Chân dung nhà thơ Nguyễn Viết Lãm - Tượng đồng của Khắc Nghi

 

Buổi trưa vắng - Sơn dầu của Đặng Tiến

 

Sông Cấm - Tranh của Sơn Trúc

 

Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Trung thu trên đảo - Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

 

Tranh của Lê Viết Sử

Carnaval Hải Phòng - Tranh Lê Viết Sử

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...