Rừng che bộ đội - Sơn dầu của Quốc Thái

 

Hoa công nghiệp - Ảnh Nguyễn Viết Rừng

 

Cánh tay công nghiệp - Ảnh Vương Khánh Hồng

 

ẢNh Vũ Thành Chung

Chăn vịt - Ảnh Vũ Thành Chung

 

Mùa gặt - Ảnh Đức Biên

 

Đôi mắt cô gái H’mông - Ảnh Vũ Dũng


Hiện có 13 khách Trực tuyến
Nước mắt Biển Hồ

Khởi hành từ Siem Reap, qua 17 km, trước mặt là muôn trùng sóng nước và cây xanh lúp xúp, đó là hồ nước ngọt Tonle Sap (Biển Hồ), chiều dài trên 100 km, diện tích hơn 10.000 km2. Tháng 8 chưa phải là mùa nước nổi cao nhất. Theo cô hướng dẫn viên Linna của công ty Caravan Angkor, thì vào khoảng tháng 10 - 11 Biển Hồ sẽ mênh mông nước và độ sâu sẽ là từ 9 -14m.  

Thuyền máy lao ra Biển Hồ, chừng 20 phút thì thấy đằng xa có những chấm nhạt mờ…rồi một khu nhà thuyền hiện ra to dần như hàng trăm tổ chim nổi nênh trên mặt nước. Đó là làng người Việt, xã Chang Khnia thuộc Tonle Sap, với 364 hộ người Việt. Trong tiếng gió quật rầm rập vào những mái tôn hoen rỉ, tiếng sóng đẩy các mạn bè, mạn thuyền lịch bịch…người làng hiện ra với những bộ mặt bơ phờ, tóc tai xơ xớp và làn da uống sạm nắng cời mốc, hàng trăm đôi mắt như vương mờ hơi nước ngả màu chì. Những người mê tiểu thuyết nhìn khung cảnh này dễ liên tưởng đến hình ảnh của những bộ lạc thời quá vãng. Cư dân ở đây sinh đẻ tự do và gần như phó thác cho tự nhiên chọn lọc. Có gia đình đẻ tới hàng chục đứa con, nếu chết bệnh hoặc đuối nước lại đẻ tiếp. Dân làng Việt đều sống trong những căn nhà thuyền. Hầu hết nhà được neo lại, và di chuyển tản mạn khắp hồ trong mùa nước. Tuy nhiên cũng có một số nhà chôn cọc gỗ xuống lòng hồ. Những ngôi nhà kiểu này thường chỉ cần 4 thanh niên là có thể khiêng di dời dễ dàng khi nước lên. Nếu không chạy kịp, người dân buộc đá để ghìm nó xuống lòng hồ đợi năm sau mùa nước cạn lại về trục vớt lên để sinh sống tiếp. Cộng đồng người Việt quần cư trong làng chừng trên 2000 người. Không có giá trị văn hóa nào lưu tồn trong họ. Hỏi có biết Việt Nam không? Trả lời: Có! Việt Nam có những gì nổi tiếng? Trả lời: Không biết đâu!  Hỏi có biết rằm tháng bảy không? Tất cả chỉ cười…

Lớp học cho trẻ người Việt nghèo giữa Biển Hồ
Ảnh: Tác giả cung cấp

Làng Việt sống chủ yếu bằng đánh cá trên Biển Hồ. Thường thì chập tối, từng đàn thuyền rời làng lao vào mênh mông Biển Hồ săn bắt cá, đến 4h sáng trở về. Sau khi trao đổi hàng hóa với thương lái, những người đàn ông lăn ra ngủ. Những đàn ông không vợ thì tự nấu nướng rồi cũng ngủ vùi trên sóng. Người đàn bà ngồi bán hàng trên thuyền, mắt ngó lơ vào trời xanh, tay gõ nhịp và cất một bài ca nghe não lòng bằng tiếng Khme “Anh ơi có thương thì đến với em/ em như cơm nguội thôi/ nhưng cơm nguội thì vẫn là cơm/Anh ơi mau đến với em”…  Tôi chợt hiểu, những người đàn bà nơi đây vì sao đôi mắt cứ cháy lên những ánh man dại dù thân hình tòng teo khô quắt như thanh củi mục. Và vì sao có cả chục chiếc thuyền chất đầy đồ “thủ dâm” dành cho nữ, sản xuất tại Trung Quốc bày bán công khai!
Làng Việt còn sống bằng nghề…ăn xin khách du lịch! Chiếc thuyền máy chở chúng tôi đi trên luồng phải liên tục tránh vì  vài chục chiếc thuyền lao ra bám sát. Trên thuyền những người đàn bà mặt héo quắt và những đứa trẻ nhem nhuốc ngồi vẫy tay xin tiền. Duy nhất có một chiếc xuồng do anh Tú lái, chiếc xuồng có đàn ông duy nhất ấy lại cụt một cánh tay. Anh kể “Em bị cánh quạt xuồng máy chém khi đi đánh cá vô tình rớt xuống”. Nhìn cảnh cha con anh, một bé gái vắt qua cổ con trăn và bé trai cởi truồng phơi mình dưới nắng xin tiền, ai cũng ứa nước mắt. Tôi chạnh lòng khi thấy khách du lịch châu Âu quay phim, chụp ảnh liên tục. ánh mắt của họ xoáy vào người Việt như soi những sinh vật lạ.

 

Người dân làng Việt lênh đênh trên Biển Hồ
`        Ảnh: Tác giả cung cấp

Đêm ấy, anh Hào (không nhớ được họ của mình là gì), tình nguyện làm người hướng dẫn tìm hiểu kiêm phiên dịch mời riêng tôi ở lại Biển Hồ và dự một đám ma. Chúng tôi ngồi trên mũi thuyền giữa vũng trăng mờ, gió gai gai thổi. Hào tâm sự: “Chúng tôi đến đây từ nhiều con đường, có người tồn tại từ lâu đời trên đất Cam, có người thì đi làm ăn rồi lạc bước về tá túc tại đây, lại có cả loại người thua lỗ di dân tự nhiên qua biên giới tìm gặp người Việt rồi ở lại. Riêng tôi quê Tây Ninh, sang đây 13 năm dạt vào Biển Hồ rồi lấy vợ ở lại luôn. Tôi muốn về lắm, nhưng không có tiền. Có ông đại gia người Việt bảo cho tiền nhưng lại không có giấy tờ gì nên chẳng thể về được”. Câu chuyện anh kể như đùa, nhưng thực sự là vậy. Khu vực làng Việt cách Siem Reap (cố đô cũ của Campuchia) có trên 20 km nhưng phần lớn chưa ai đến. Có những em bé 5 tuổi mà chưa một lần chạm chân đến …đất!”.  

Chợt có tiếng chiêng nổi lên nghe gai người, anh Hào cúi xuống bật chiếc đèn ắc quy và bảo “Đến giờ rồi, đi thôi!”. Chạy một lúc thì gặp một đám thuyền bu lại, thuyền nào cũng có đèn ắc quy cháy xanh lét. Tất cả im lặng. Một ông lão khoác chiếc áo vàng nhàu nát và đọc một bài kinh gì đó bằng tiếng Khơme nghe câu được câu mất, những người đứng xung quanh cầm một nén nhang vung vẩy khói phả mùi tanh tanh, trong đêm, trông giống như một đàn đom đóm bu quanh xác chết. Gió ù ù thổi, vài chục cái bóng quần áo phập phồng như những con bù nhìn chao đảo trên mặt sóng. Giữa khung cảnh hư thực ảo mờ rùng rợn ấy, người xấu số được gói vào một tấm lưới và ném xuống dòng nước mênh mông…

Trở về thuyền anh Hào, tôi không sao ngủ được. Hình ảnh đám ma kia vẫn cứ hiện dậy tiếp diễn như một đoạn phim quay chầm chậm, cứa vào tim tôi xót buốt... “Không ngủ được à?”- giọng anh Hào hỏi với sang, và không đợi tôi trả lời anh tự nói  bằng giọng ngái ngủ khê nồng nhưng nội dung lại rất rõ, nó như điều bình thường đã lặp lại ngàn lần, khắc tự nhiên vào tâm trí, da thịt, xương cốt anh vậy. Anh như đọc thuộc lòng, khô khốc vô cảm, nhưng chính sự khô khốc vô cảm ấy tạo ra âm điệu một bài ai điếu thê thảm: “Những người dân ở đây khi chết đều vùi mồ trong những gò đất. Mùa nước, không chôn cất được thì bó vào lưới buộc đá dìm xuống nước, đóng cọc làm dấu. Rồi mùa cạn quay về tìm hài cốt làm ma lại. Cũng chỉ còn lại ít xương thôi vì lũ cá đói rỉa hết… nhưng thế vẫn còn may, nhiều năm lũ dâng bất chợt, nhiều nhà thuyền bị lật, nhà tổ chim bị chìm, cả gia đình chết hết. Sáng hôm sau ai khỏe được gọi đi tìm, nhưng họa mới thấy một xác người trương phình như con cá  chết…”.

*
Sáng hôm sau, Hào chở tôi len lỏi giữa các nhà thuyền rồi cập vào một “trường học”. Đây là ngôi nhà thuyền khang trang nhất làng Việt, với một tấm biển to “Trường học dành cho trẻ em nghèo Việt Nam”. Trường có từ những năm 1990, do ông Võ Văn Đầy (Sáu Đầy), nguyên là Chủ tịch Hội Việt kiều ấp 7, là người vận động xây dựng. Nhưng sau những biến động xã hội ở nước bạn và đời sống khó khăn, đặc biệt là nhận thức của dân Làng Việt “Học cũng chả làm gì”... lớp học tan. Năm 1997, Tổng lãnh sự Việt Nam tại Siem Reap tặng  2.000USD để phục hồi lại trường học, và  Công ty Xi măng Hà Tiên hỗ trợ kinh phí thêm, mới có được lớp học như bây giờ..

Một tấm biển lớn treo một thông điệp gửi đến mọi người: “Tất cả gia đình Việt Nam hiện đang sinh sống tại Biển Hồ Vương quốc Campuchia, các gia đình có con em từ 6 tuổi trở lên hãy đưa đến trường, sẽ được Ban lãnh đạo nhà trường nhận nuôi dạy, được ăn ở tại trường miễn phí - Giúp cho các em học hành để trở thành người tốt - Giúp ích cho xã hội sau này, đừng để các em đi ăn xin trôi dạt bên ngoài”.
Tất cả học sinh ngồi học trên sàn thuyền hỗn độn đủ mọi gương mặt, cao thấp khác nhau, áo quần đủ loại. Khi khách đến tất cả đứng dậy không chào hỏi mà chỉ nhìn như ngây dại ngơ ngác. Nhà trường có 140 học sinh, chia thành 2 lớp học ghép. Lớp thứ nhất gồm các em học chương trình từ  lớp 1 đến lớp 3, lớp thứ hai gồm học sinh lớp 4 và 5.  Theo ông Phạm Văn Tư, 68 tuổi - hiệu trưởng nhà trường cho biết nhà trường có 14 thầy cô giáo, trong đó gia đình ông có 3 người, vợ chồng ông và người con trai 23 tuổi. Từ năm 1979 đến năm 1989, ông Tư là bộ đội tình nguyện Việt Nam chiến đấu tại Campuchia. Sau khi xuất ngũ, về Việt Nam nhưng ông vẫn thường sang đây buôn bán. Khi trường học được mở lại trên Biển Hồ, ông xung phong sang đây làm giáo viên. Ông tâm sự “Mình chẳng có nghề, nói đúng chỉ là được tập huấn dạy học qua hồi trong quân ngũ. Những năm qua đây làm ăn, hỏi trẻ em có biết Việt Nam không, chúng bảo chỉ nghe nói chứ không biết ở đâu, thấy tội quá. Mình quyết định chuyển cả gia đình sang đây dạy học từ thiện,  chỉ mong con em  người Việt  biết về nguồn gốc của cha ông”. Lặn lội bơi thuyền đến từng nhà vận động, có nhà cảm thông chia sẻ, có nhà ủng hộ cho con đến lớp, nhưng có những chủ nhà đuổi thẳng ra khỏi thuyền. Ông vẫn kiên nhẫn cùng những giáo viên trước đây thay nhau đi động viên, và nhờ các gia đình có chút hiểu biết vận động… Lớp học nhờ thế đông dần.

Giáo viên và học sinh chủ yếu sống bằng lòng hảo tâm của các tổ chức, các đoàn tham quan người Việt hỗ trợ, thi thoảng cũng có đoàn khách nước ngoài cho chút ít. Hầu hết các gia đình không đóng góp gì, nếu có họ chỉ góp cá tôm làm bữa ăn cho con họ mà thôi. Lương giáo viên căn cứ vào lượng tiền hàng hỗ trợ mà chia nhau, mỗi tháng được khoảng trên một triệu tiền Việt, có khi còn được thêm vài thùng mỳ tôm, ít nước ngọt… Các giáo viên vẫn phải đi đánh cá, buôn bán thêm mới đủ sống. Hàng năm, ông cũng được chính quyền mời lên báo cáo qua loa. Có năm khá hơn thì được mời về du lịch thủ đô Phnom Penh 2 ngày.

Về chương trình giảng dạy, trường dạy cả chương trình Cam và Việt theo cách giáo viên tự biên soạn. Thầy Tư nói: “Chỉ  biết dạy theo sách giáo khoa đến hết lớp 5, chứ chả có ai công nhận cả. Sách giáo khoa Cam thì mua ở Siem Reap, còn sách giáo khoa Việt do một đoàn khách đến từ thành phố Hồ Chí Minh tặng”.  Chúng tôi hỏi một cậu bé khoảng 13 tuổi “Cháu tên gì?”, thằng bé cười và xả ra một tràng tiếng Cam. Có một cậu bé khác tên Lượng láu lỉnh bảo “Thằng này bập bẹ tiếng Việt thôi, tên nó là Lợi”. Sao cháu nói tiếng Việt giỏi vậy? Dạ cháu mới theo ba má sang đây 3 năm. Và như để chứng tỏ nó là người Việt chính hiệu, thằng bé ra lệnh: Nào, tất cả hát bài “Như có Bác Hồ…” hai…ba!  Những giọng trẻ thơ cất lên chao đảo vô hồn, ngọng líu ngọng lô. Nhưng mắt tôi tự nhiên ứa nước. Lũ trẻ có tội gì đâu? Chúng như cây cỏ, như cánh bèo giữa Biển Hồ đất khách mà thôi.

Điều kiện để đến trường thầy Tư thật đơn giản “Chỉ cần học trò biết bơi là được”, nhưng cũng không mấy trẻ đến trường. Sự giản đơn tới mức hoang sơ của một nhà trường như thế này liệu có được ghi vào kỷ lục Ghinet thế giới? Trường đi xin, thầy không nghiệp vụ, trò lộ cộ, sách tạp nham, không chương trình, không kiểm định, không quản lý…

Chiếc quạt đập vào một mảng lục bình, những cánh bèo nát ra dạt tứ tung vào dòng nước. Tôi chợt nghĩ, những đứa trẻ này dù có học đến hết “lớp 5 của thầy Tư” thì sớm muộn cũng mù lại; bởi phía trước tương lai của chúng chỉ mịt mù trời nước. Xuồng chạy, tôi nhìn đến hút tầm vào cái lớp học, xa dần nhỏ lại như chiếc vỏ trấu nổi nênh trên đầu sóng.

Biển Hồ, nơi cung cấp 70% sản lượng cá tiêu dùng cho Campuchia, nơi cho những cư dân người Việt tồn tại rồi lại đòi đi tất cả. Không Tổ quốc, không văn hóa; Con người nơi đây hoang dại gần như cây cỏ, tự sinh tự diệt. Những sinh vật biết nói này, nếu không có sự giúp đỡ của nhà nước Việt Nam và Campuchia, các tổ chức quốc tế thì  tương lai sẽ về đâu?  Tháng 8 năm 2011 tôi đã qua đây và  đúng 5 năm sau trở lại. Tất cả không có gì thay đổi, trừ tình hình kiểm tra an ninh  bắt những người Việt  cư trú bất hợp pháp theo luật Campuchia gia tăng và Biển Hồ đang cạn nước, vơi bớt cá tôm vì những con đập thủy điện trên đất Trung Quốc ngăn dòng chảy từ thượng nguồn.

Chẳng lẽ số kiếp những người dân làng Việt nơi đây lại như những đám lục bình hoang dại vật vờ hết đời này sang đời khác giữa vô định sóng nước Biển Hồ?

Siem Reap 2016

Bút ký: Nguyễn Đình Minh

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)

 

 

Cầu Thượng Lỹ - Tranh Nguyễn Văn Trường

Cầu Thượng Lý - Tranh sơn khắc của Nguyễn Văn Trường

 

Chiến thắng Bạch Đằng - Tranh khắc gỗ của Đặng Hướng

 

Chân dung nhà thơ Nguyễn Viết Lãm - Tượng đồng của Khắc Nghi

 

Buổi trưa vắng - Sơn dầu của Đặng Tiến

 

Sông Cấm - Tranh của Sơn Trúc

 

Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Trung thu trên đảo - Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

 

Tranh của Lê Viết Sử

Carnaval Hải Phòng - Tranh Lê Viết Sử

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...