Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 66 khách Trực tuyến
Nhân vật
Mối rung cảm từ hiện thực cuộc sống

Về một người mẹ, về một người con và dòng sông Trà Lý” là tập thơ của nhà thơ Kim Chuông (NXB Hội Nhà văn, tháng 2/2017). Với 54 bài thơ dài ngắn viết về hình ảnh cao đẹp, sự hy sinh thầm lặng, cao cả của người mẹ- người vợ- người lính từ quê hương đến chiến trường trận mạc. Là người từng mặc áo lính, làm phóng viên mặt trận ở một tờ báo Quân khu, bằng cảm rung chân thực, nhà thơ - người lính Kim Chuông đã truyền tới tâm hồn người đọc sống động hình ảnh “người mẹ”, “người lính”, “ người vợ” chịu nhiều hy sinh mất mát cho dân tộc ở một thời đánh giặc và dựng xây đất nước. Lời đề từ “Làng quê nào chả từ một dòng sông bồi đắp/ trái cây nào chả chín lên từ mao mạch đất” là điểm sáng của triết lý nhân sinh mà Kim Chuông muốn lấy đó làm cái trục, xoay quanh những gì về “con người”,“cuộc đời” trước nhiều mối liên quan ràng buộc.

Đi giữa thời chiến tranh, trận mạc, vì quê hương, đất nước, người “Mẹ thấy thân thể xẻ đôi/  Gửi vào người con tới những phương trời bừng bừng lửa cháy” Rồi, “Mẹ nối góc sân nhà với đất nước trăm miền qua những bước chân con”( Người mẹ). Phải nói, bằng những hình ảnh cô đọng, Kim Chuông đã khai thác tới tận đáy nỗi đau trái tim người mẹ, khi mẹ sẵn sàng tiễn những đứa con “ rứt ruột đẻ đau” gửi vào mặt trận với lý tưởng lớn lao là đánh giặc, bảo vệ quê hương, Tổ quốc trường tồn.

Xuyên suốt hình tượng “Người mẹ”, “Người con” là nghệ thuật tái tạo và sáng tạo những cảnh huống, những tâm trạng nỗi niềm, những nghĩ suy, chiêm nghiệm. Làm nổi bật giá trị phản ánh, với một phía là giá trị phát hiện, kiến giải mang chiều sâu, được kết tinh trong những câu thơ thật điển hình và gợi : “Với mẹ - Con không còn hoàn toàn là một đứa con riêng. Khi ngọn rau khoai lang mẹ hái ven đê sông Trà/ hạt lúa gieo trên đồng Dô, đồng Khuốc…cũng là của Việt Nam giành được/ thì chúng ta là những tế bào/ Đất nước - Con người là cơ thể lớn lao”( Người con). Với Người lính, người con trai, thì: “Đất nước có nỗi đau lâu dài nhất - Chiến tranh!/ Nên cuộc đời anh có mảnh đời chiến sĩ/ anh hy sinh một phần cơ thể/ lẽ đương nhiên là thế/ khi anh hiểu giá từng thước đất quê nhà đi qua tọa độ bom”. Bởi vậy mà “ Khẩu súng của anh tì vào hướng nào/ cũng giống như đang tựa vào sông Trà, tựa vào cây đa làng thân thuộc”( Độc thoại của một người thương binh về làng quê yêu dấu).

Có thể nói, bài thơ “Độc thoại của một người thương binh về làng quê yêu dấu” với bài thơ dài mang tên tập thơ, cùng trên 50 bài thơ khác được tập hợp, chọn lựa đã thực sự làm nên dòng chảy vọng vang và xoáy xiết, gây ấn tượng và ám ảnh khá mạnh về cuộc chiến anh dũng của dân tộc, về những người mẹ, người vợ, người lính, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của đất nước, quê hương “một thời đánh giặc”.

Bằng cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách khai thác khác nhau, mỗi bài thơ trước đề tài được tập trung, ngỡ như “bất biến”, nhưng Kim Chuông đã thể hiện khá thành công khả năng tung hoành, “văng xa” tạo nên sự phong phú, sinh động ở hiện thực rộng lớn, ở thi liệu, ở cảm xúc, ở “tứ thơ”, ở sức lay động, tạo nên vệt loang thấm chảy dài. Có thể nhìn khá rõ ở nhiều bài thơ hay, câu thơ hay, khi người viết đã điển hình hóa, khái quát hóa. Tác giả viết về một người vợ liệt sĩ dệt thảm dày xuất khẩu: “Tám ngàn nút mỗi ngày em buộc/ Đâu buổi chiều tin sét đánh – Người xa/ Ngàn tiếng nổ nén dồn trong nút buộc/ Ngàn chiến trường thương tích giữa hồn ta” (Bàn tay em buộc). Viết tặng “Mẹ Việt Nam anh hùng”: “Một đời thờ chồng/ Côi quạnh thời son/ Bốn nấm mộ trong lòng vùi sâu khuất/ Có người mẹ cả một đời là mất/ Chỉ cái còn nằm ở dáng quê hương”

Từ hình ảnh núi Voi nơi mảnh đất đi qua hai cuộc chiến: “Núi Voi đó đã hàng nghìn trận đánh/ Thật khó tin ở giữa động hang này/ Bóng người lính vời cao hơn núi/ Còn trường tồn trong tia nắng, chùm mây” (Núi Voi) đến mỗi mảnh đất, mỗi làng quê anh hùng :“Đây lối bến trông theo/ Những chuyến đò xuôi ngược/ Một thưở bao cuộc đời/ Còn chưa lên bờ được/ Còn bom vùi mười lượt/ Làng cháy trong tro tàn/ Mười mẹ già góa bụa/ Sông mười lần máu loang”

Trên cái nền của cuộc chiến tranh cách mạng, khi trực tiếp, thơ Kim Chuông viết nhiều về người lính, người thương binh, người anh hùng, liệt sĩ khi gián tiếp, khi tự sự hay có thể tìm một cách biểu cảm, đồng hiện nào khác. Những bài thơ với cảm rung chân thành, tâm huyết. Những câu thơ với những lấp lánh của chi tiết, ảnh hình, của sự bất ngờ trong phát hiện, kiến giải. Thơ vươn tới giá trị đích thực và hữu ích, tạo sự đồng cảm, sẻ chia trước tháng năm, đời sống, với cảm quan lớn, với xã hội - con người.

Đời người cầm bút, với gần 30 tập sách đã xuất bản, đây là tập thơ thứ 20 của nhà thơ Kim Chuông, tác phẩm vừa được trao giải Ba trong cuộc vận động 70 năm viết về đề tài Thương binh liệt sĩ do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng. Thêm một lần khẳng định thành công của Kim Chuông trên con đường lao động sáng tạo nghệ thuật./.

Cù Thị Thương

 
Vĩnh biệt nhà thơ Trần Quốc Minh

 

TIN BUỒN


 

Nhà thơ TRẦN QUỐC MINH, hội viên Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng (1966), Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (2005), sinh ngày 23/8/1943 tại Hải Phòng, đã qua đời lúc 20 giờ 15 phút ngày 19/8 (tức ngày 27/6 âm lịch) tại nhà riêng lô A6, cầu thang 4, tầng 2, đường vòng Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, Tp Hải Phòng, hưởng thọ 75 tuổi.

Nhà thơ Trần Quốc Minh bị tật nguyền từ nhỏ. Học xong cấp III, anh là một trong ba thí sinh khu vực Duyên Hải phía Bắc trúng tuyển khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Do vấn đề sức khỏe, anh phải bỏ dở giấc mơ văn chương để trở về Hải Phòng học nghề kế toán. Những năm Mỹ ném bom miền Bắc, vừa làm kế toán trưởng một Hợp tác xã may mặc, anh còn là một Bí thư Chi đoàn khu phố năng nổ nhiệt tình. Năm 1992, Hợp tác xã may mặc giải thể, cũng là thời điểm Trần Quốc Minh nghỉ hưu.

Nhà thơ Trần Quốc Minh đã xuất bản 2 tập thơ, 2 tập truyện ngắn (in chung); 4 tập thơ, trường ca (in riêng) và sở hữu 7 giải thưởng về thơ, 2 giải thưởng về truyện ngắn của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, UBND thành phố Hải Phòng, Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng, Tạp chí Tài hoa trẻ, Đài Truyền hình NHK Nhật Bản....

Trần Quốc Minh nổi tiếng với bài thơ Bắc cầu. Bài thơ chuyển tài thông điệp có tính toàn cầu “Một trái tim, một thế giới” và đã đoạt giải cao nhất trong một cuộc thi thơ ở thành phố Hoa phượng đỏ; đồng thời được triển lãm trong số 100 bài thơ của 6 nước Mỹ, Pháp, Brazin, úc, Nhật Bản, Việt Nam.

Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng, Tạp chí Cửa Biển xin gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia đình nhà thơ Trần Quốc Minh.

 

Bắc cầu

 

Bắc cầu bằng phong thư

Như tên bay bằn bặt


Bắc cầu bằng câu hát

Người ơi, người có nghe

Bắc cầu bằng cơn mưa

Mịt mù cò lạc lối

Bắc cầu bằng dây nói

Chuông reo, người vắng nhà

Thôi tìm lại người xưa

Bắc cầu bằng giải yếm...

6/1999

 

Tôi yêu Hải Phòng


Mẹ sinh tôi một ngày bão ngớt

Tiếng khóc tôi ngằn ngặt

Như dự báo điều gì

Mẹ ru niềm hạnh phúc đắng cay…

Tôi yêu Hải Phòng

Mối tình đầu không được nở

Vẫn tụ hương

Còn em như nỗi buồn định mệnh

Lời ca lênh đênh vượt sóng một mình

Tôi yêu Hải Phòng

Bạn bè đọc thơ nơi phố vắng

Thuộc từng hơi thở của nhau

Một thời chúng tôi giàu có

Những câu thơ như đứa trẻ tập đi

Cũng đã vào đại lộ

Thấm vào tôi vị biển màu mây

Những con sóng chở hy vọng một đời

Những thân phận giàu bản sắc

Nên con chữ có hồn

 

Kính dâng hương hồn nhà thơ Trần Quốc Minh

 

Anh về với cõi vĩnh hằng

Heo may lất phất gió dằng dụa trôi

Phong trần trời bắt tội người

Chân mềm tay yếu một đời chẳng than

Bao nhiêu cay đắng đa đoan

Bấy nhiêu trang giấy viết ngàn nỗi đau

Trần gian một kiếp bể dâu

Anh theo cái nghiệp bạc màu như vôi

Cày đồng chữ toát mồ hôi

Nghẹn ngào câu đứng, câu ngồi sẻ chia

Khoảng trời mấy mét vuông thừa

Nào ô nào giá xếp vừa, cũng xong

Chị nhà cơm áo long đong

Gánh đậu phụ chạy lòng vòng nắng mưa

Anh ngồi mài bút đếm trưa

Chờ đồng nhuận bút báo đưa hững hờ

Đời người dài dãi giấc mơ

Anh về cõi ấy làm thơ với trời

Tây phương mây trắng thảnh thơi

Rũ tung toan tính đầy vơi mặc lòng…

20/8/2017

Nguyễn Thị Thúy Ngoan

 

 

Anh vẫn tỏa sáng trong tôi

 

Dẫu tỏa sáng suốt đêm

Những ngôi sao vẫn phải lặn về trời

Cuộc chia ly giản dị

Nhưng là quy luật muôn đời.

Mỗi bình minh tôi lại day dứt gọi

Trần Quốc Minh – Nhà thơ tật nguyền

Nhà thơ đích thực

Ngôi sao lặng lẽ tỏa sáng trong góc tối

Anh đã bay theo dàn sao ấy

Mặt trời nghẹn ngào đứng đợi

Nhưng mặt trời chưa bao giờ có nước mắt

Chưa bao giờ có cuộc chia ly như tôi

Chẳng có cuộc chạy trốn nào của các vì tinh tú

Đó là lúc mặt trời mang lại ánh sáng cho ban ngày

Bạn tôi cuối con đường định mệnh

Nhường lại mùa xuân cho bao người

Anh sẽ gặp mặt trời – giọt máu của vũ trụ

Mặt trời cũng có lúc cần chữa bệnh

Khi anh chữa bệnh bằng thơ

Mấy chục năm vịn tường, lê gót, liệt gân cơ

Nhưng thơ thì không thể liệt

Anh là cây xuân của tạo hóa

Thời khắc tạo hóa rung cây

Chiếc lá rơi về cội

Hóa thân vào trái ngọt hương thơm

Hóa thân vào tình yêu tìm đến trái tim người

Minh ơi,

Anh vẫn tỏa sáng trong tôi

Nơi anh đến

Anh mang thơ đến

Tôi vẫn tin có một ngôi sao văn chương tuyệt vời.

 

Hải Phòng, 8/2017

Hồ Anh Tuấn

 

 

Một nhân cách, một tâm hồn

Trong cuộc đời, dẫu không ít lần ta phải chứng kiến sự ra đi của người thân thích, bạn bè và cả người chưa quen biết, để tự nhủ lòng rằng, cái gì đến rồi sẽ đến, nhưng khi nhận được tin dữ về nhà thơ Trần Quốc Minh, người bạn thân thiết đã từ giã cõi trần, tôi vẫn không khỏi bàng hoàng. Sao cuộc đời thật lắm điều cay nghiệt, khi những người lương thiện chân tình và ngay thẳng lại cứ lần lượt lìa xa, dẫu tuổi tác đã xế chiều và sức khỏe từng dự báo điều chẳng lành.

Như có linh tính mách bảo, cách đây chừng vài ba tuần, sau thời gian im lặng khác thường cùng đôi ba lần gọi điện, nhắn tin tới nhà thơ Trần Quốc Minh mà không nhận được hồi âm, tôi vội đến tư gia nhà thơ thăm ông. Sức khỏe của ông rất yếu, không ngồi dậy được, nằm lâu người lở loét nhiều chỗ, nói năng khó khăn và hơi lẫn. Chăm sóc ông chủ yếu là bà Dậu, một người vợ luống tuổi, mộc mạc, thật thà, vất vả lận đận lâu nay. Tôi ngồi hỏi han nhắc nhở bà vợ ông hồi lâu, kể cả  việc dặn bà cách sử dụng điện thoại di động của ông Minh phòng khi cần liên lạc, việc mà từ trước tới nay bà chưa bao giờ đụng đến. Trở về nhà, tôi vội gọi điện cùng báo tin cho bạn bè trong giới văn chương về tình trạng nguy kịch của nhà thơ Trần Quốc Minh, dẫu vẫn biết từ trước đến nay anh chị em cũng rất quan tâm trong việc thăm hỏi. Trước mỗi sự mất mát, người ta hay nghĩ quẩn quanh không đâu, về số mệnh, về thân phận, kể cả nỗi giận buồn vô cớ, cùng cả sự bất lực của mình khi phải chứng kiến, phải chịu đựng trước tình cảnh mỗi lúc một đuối dần, như ngọn đèn dầu lụi bấc của người thân thiết.

Cuộc đời nhà thơ Trần Quốc Minh là cả chuỗi ngày nối tiếp nhau của sự vất vả, từ tấm bé đến khi qua đời. Ông bị dị tật bẩm sinh, đi lại khó khăn, phải dùng đến chiếc nạng. Hồi học ở trường cấp 3 Ngô Quyền (Khóa 1959- 1962), tôi và ông Minh cùng khóa nhưng khác lớp, biết nhau có lẽ do cùng yêu thích văn chương. Sau khi tôi tốt nghiệp Khoa Văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cùng một thời gian dài công tác giảng dạy ở tỉnh Hải Hưng, kể từ năm 1973 tôi chuyển công tác về Hải Phòng mới thực sự gần gũi nhà thơ Trần Quốc Minh và trở nên thân thiết. Mến ông trước hết ở đức độ cùng nghị lực vượt qua hạn chế về sức khỏe, hoàn cảnh gia đình để sống, làm việc và làm thơ.

Thi đỗ vào Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp, do không đủ sức khỏe, ông trở về làm việc tại một Hợp tác xã may mặc ở phố Hoàng Văn Thụ. Công việc kế toán đòi hỏi sự tỉ mẩn chỉn chu, có thể phần nào ảnh hưởng đến sáng tác thơ ca của ông. Hằng ngày, ông lê bước chân cùng chiếc nạng từ nhà đến nơi làm việc, nhọc nhằn và kiên nhẫn. Căn phòng nhỏ của gia đình ông trong ngách hẻm ở phố Trần Hưng Đạo, gần trụ sở Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng. Nhà ông cũng là nơi thường lui tới của nhiều anh chị em văn nghệ sĩ ở địa phương, kể cả ở nơi xa. Đôi lúc có thời gian rảnh rỗi, tôi tới cùng ông đàm đạo thơ ca cùng chuyện đời. Có khi, tôi còn dùng xe đạp đèo ông đi dạo quanh phố, đến công viên gần nhà ông, ngồi ghế đá đọc cho nhau một đôi bài thơ mới viết. Cái thời hồn nhiên say mê pha chút lãng mạn ấy đã lùi xa, đi vào trong ký ức của thế hệ ngày ấy, trở thành kỷ niệm một đi không trở lại, đến bây giờ đã có nhiều đổi khác.

Là người sống chí tình với bạn bè, ông để lại nhiều tình cảm tốt đẹp trong lòng mọi người.

Sau này khi gia đình ông chuyển đến căn phòng trên gác hai khu tập thể Vạn Mỹ, Hải Phòng, thì dường như ít khi ông ra khỏi nơi ở. Có lẽ chỉ có lần ông ra ngoài là hôm bạn bè đặt ông trên chiếc xe lăn khiêng xuống đường sang khách sạn đối diện khu nhà ở bữa tổ chức lễ cưới cho cậu con trai duy nhất của ông là cháu Việt. Đời cũng làm sự trớ trêu, đúng giây phút nâng cốc chúc mừng hạnh phúc của con trai cùng con dâu ông, thì tôi nhận được cú điện thoại từ gia đình cũng của một người bạn thân làm giáo viên là Đặng Thông, báo tin ông Thông đang hấp hối, điều mà chúng tôi nín thở theo dõi từng ngày. Thế là tôi vội mừng sớm cho gia đình ông Minh, bày tỏ sự thông cảm để quay về tiễn biệt ông bạn lần cuối. Cả ngày ông quẩn quanh một mình trong căn phòng. Người vợ đảm đang  bán hàng vặt ở chợ. Con trai đi tàu biển, thỉnh thoảng về nhà, cả đến khi có con dâu cùng đứa cháu nội thì cuộc sống của ông cũng không bớt được là bao ở sự vất vả, nhất là đơn độc. Có ai đó nói rằng, sự cô đơn, có khi còn sợ hơn cả sự nghèo khổ. Vậy mà ông như bị vây hãm giữa hai điều đó, dẫu quanh ông còn có gia đình, nhưng khoảnh khắc ấy, ông chẳng thể làm gì, ngoài làm…thơ. Để đến thăm ông, chỉ có thể vào buổi chiều chạng vạng tối, khi có người nhà trở về mở cửa đón khách. Có lần ông trượt ngã, va đập đau đớn một mình trong nhà chẳng ai hay mà cũng chẳng thể gọi ai. Liên lạc với người thân, bạn bè là chiếc điện thoại cùng bộ máy tính. Ông là người hay quan tâm đến những biến diễn trong đời sống văn chương cũng như đời thường. Thỉnh thoảng , ông lại gửi cho tôi một vài tin tức bè bạn chuyển đến, mà ngay chính tôi cũng chưa được biết, kể cả liên quan đến bản thân mình như có bài in trong tuyển tập này nọ. Hay như cái lần được bạn bè tặng ông chiếc Laptop, ông cũng gọi điện báo tin vui cho tôi. Bạn bè ít giấu diếm nhau, mà thường chia sẻ, kể cả chuyện riêng tư. Có khi ông còn là chiếc cầu nối chuyển những tín hiệu gần xa đến tôi bởi sự tế nhị nào đó.

Đã có lúc, tôi tự hỏi, ví thử không có thơ ca, ông sẽ sống ra sao? Thơ ca vừa là niềm vui, vừa là chỗ vịn tựa tinh thần của ông, là người bạn đồng hành trong suốt cuộc đời. Thơ ông hiền lành, giản dị, trong trẻo tình người. Giữa vòng xoáy nghiệt ngã của thời cuộc, khi còn không ít sự lầm lẫn giữa cái thật giả, hay dở mà người lương thiện chân chính còn có được chỗ đứng, được ghi nhận, thậm chí tôn vinh, thì cũng còn là điều đáng mừng. Chật vật là thế, nhưng ông vẫn kiên trì, lặng lẽ sáng tác, bù đắp lại sự vắng hụt trong cuộc sống đời thực. Ông viết bằng cái tâm và cái tình, những gì gần gũi quanh mình cùng sách vở. Ngoài thơ ca thường lệ, ông còn viết thơ trào phúng, một dạo, dạng thơ này được sử dụng khá cởi mở với cái tên Trần Quốc Minh xuất hiện tương đối quen thuộc. Ông còn làm thơ cho thiếu nhi, và viết cả truyện mini nữa.

Thế rồi, sức khỏe của ông ngày một giảm sút. Gian phòng nhỏ hẹp nằm khuất phía sau chỉ vừa đủ chiếc giường một nơi ông nằm cùng vài thứ vặt cho người ốm. Vậy mà ông vẫn tỉnh táo trò chuyện cùng gia đình, bạn bè cho đến ngày sức lực cạn kiêt. Nhớ lại ngày đầu năm đến thăm ông, thấy tôi ngồi cạnh cả vật dụng bất tiện, bà Dậu, vợ ông cứ nhắc tôi ngồi tránh ra ngoài. Người vợ ấy có biết đâu rằng, bây giờ tôi chỉ ao ước lại ngồi cạnh giường ông nằm, để tâm sự, cho dù môi trường ấy có bất tiện thế nào chăng nữa.

Mới đó mà bây giờ ông đã ra người thiên cổ. Vẫn biết sinh lão bệnh tử  là luật đời, nhưng sao lại là lúc này, sao lại ở đây, sao lại là ông, người bạn tâm giao mà đôi lúc ông buột miệng bảo tôi rằng, ông ấy chưa nói hết câu mà tôi đã hiểu ý ông? Là bởi vì lời nói ra đâu chỉ là vỏ bọc ngôn ngữ thông thường, đó là sự ký thác tâm tư tận đáy lòng, là sự giao hòa của những suy cảm, chưng cất qua bao năm tháng của đời người, một giác quan  không thể gọi tên, bí ẩn thiêng liêng và mãi trường tồn.

19/8/2017

Phạm Ngà

 


Anh quyết lấy văn chương mà vững bước với đời

Tôi bị đánh thức bởi điện thoại có tin nhắn. 23 giờ 9 phút! Chỉ chuyện đặc biệt và cần kíp người nhắn mới gửi tin vào lúc này. Và đúng thế, tin nhắn làm tôi bàng hoàng: “Gia đình báo tin ông Trần Quốc Minh từ trần lúc 20h15 ngày 27/8…”. Nhưng sao lại 27/8? Đang ngày 18/8 cơ mà. Sau đó nghĩ ra, đấy là ngày âm lịch. Song tháng 6 chứ không phải tháng 8. Tang gia bối rối đã làm gia đình nhà thơ nhầm lẫn! Sáng hôm sau Nguyễn Tất Hanh gọi điện báo tin buồn. Ngày trước gần gũi nhất với Trần Quốc Minh là nhà thơ Vân Long, nay đã ở Hà Nội; còn hiện nay là nhà thơ Phạm Ngà, bạn học thời phổ thông và nhà thơ Tất Hanh, như người em thân thiết.

Trần Quốc Minh bị tật từ nhỏ, hồi trẻ còn chống gậy đi được, sau này chỉ ngồi một chỗ; ngày trước khi còn ở trong ngõ gần Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, bạn bè thường lui tới, khoảng 20 năm nay chuyển đến tầng 2 nhà A6 khu tập thể Vạn Mỹ, người đến với anh thưa dần. Không trách ai được vì dẫu có khỏe chân mạnh tay hơn anh thì bạn bè cũng đã sàn sàn tuổi anh, sức lực chẳng còn như trước, “đường xa ngẫm nỗi thân mình mà kinh”! Người viết bài này cũng thế, cách đây mấy năm còn đôi ba lần tới thăm anh ở Vạn Mỹ, nay vừa ló ra đường, thấy ô tô, xe máy lao ầm ầm là đã hết muốn đi đâu, xin anh có thiêng hãy thứ lỗi. Nhưng anh thấy đấy, hôm viếng anh, không chỉ bạn bè mà cả lớp đàn em, cả lứa tuổi con tuổi cháu anh, nhiều người có mặt, trong đó cả những người từ trước tới nay chỉ nghe tên anh chứ chưa hề biết mặt. Hầu hết là những người cầm bút, cùng chung đam mê, nay vì mến mộ, cảm phục và thương tiếc đã đến tiễn đưa anh.

Trần Quốc Minh đưa vào tập thơ Cây đèn biển (NXB Hải Phòng, 2010) của mình bài đăng trên báo Thể thao Văn hóa số 291, Chủ Nhật 18/10/2009. Đó là những gì anh kể cho nhà báo Yên Khương nghe: “Cha tôi có hai người vợ. Tôi là con bà hai, trên tôi là hai bà chị, dưới tôi là ba cô em. Mẹ tôi vốn là cô gái nhan sắc. Bà yêu bố tôi vì thương ông không có con trai khi chia tay với mẹ cả. Cha tôi vô cùng hạnh phúc khi tôi hiện diện trên đời. Nhưng niềm vui chưa được bao lâu, năm tôi chưa tròn một tuổi, sau một cơn sốt ác tính đã bị liệt hai chân, teo cơ tay! Cha mẹ tôi bàng hoàng. Ông cụ là người trầm tính, tuy không hoảng hốt như mẹ tôi, nhưng tôi biết ông vô cùng đau đớn.”.

Năm 1958, học hết cấp II Trần Quốc Minh phải ở nhà một năm vì thi vào lớp 8 (như lớp 10 ngày nay) bị trượt, trượt ở môn Văn vì nhầm nghị luận sang trần thuật! Đề bài yêu cầu bằng thơ văn hãy chứng minh tình cảm mẹ con thì anh lại kể mẹ anh đã thương anh thế nào! Một năm ở nhà, Trần Quốc Minh suốt ngày tới thư viện thành phố, đọc hầu hết các truyện nổi tiếng và thuộc rất nhiều bài thơ hay. Hồi đó Trường Ngô Quyền là trường cấp III duy nhất của thành phố(*). Năm sau thi, Trần Quốc Minh được điểm tối đa: 5, không những thế còn 5+. Anh sẽ không biết được điều này nếu như người chấm không phải là thầy Hà Thúc Chỉ (nhà thơ Thúc Hà). Máu nghệ sĩ quen tính bốc đồng không kìm giữ nổi, thầy đã tiết lộ với học trò của mình. Trần Quốc Minh kể: “ấn tượng về môn Văn thời đi học thật lạ lùng. Thầy luôn “cháy giáo án” còn trò thì nghe say mê đến quên cả giờ ra chơi! Người truyền lửa văn chương cho chúng tôi thời đó chính là nhà thơ Thúc Hà. Cách giảng của thầy luôn gợi mở, không áp đặt, vì thế ai đã yêu văn chương là yêu suốt đời…”. Từ mái trường Ngô Quyền ấy, từ những giờ “truyền lửa văn chương” của thầy Thúc Hà, sau này nhiều người đã trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, như Phạm Đức, Nguyễn Thị Ngọc Hải, Phạm Ngà, Nguyễn Thụy Kha và chính Trần Quốc Minh.

Trần Quốc Minh kể: ba năm cấp III anh học Văn rất giỏi nên là một trong ba học sinh của cả miền duyên hải thi đỗ vào khoa Văn Đại học Tổng hợp năm 1962. Hai người kia là Nguyễn An Định, giải Nhất cuộc Thi học sinh giỏi văn toàn miền Bắc năm 1961 và Đinh Tiếp ở Hải Phòng. Nhưng vì sức khỏe yếu, Trần Quốc Minh phải bỏ dở và quay về Hải Phòng.

Cũng cần phải kể tới thầy giáo dạy toán của Trường Ngô Quyền ngày ấy: Thầy Hồ Ngọc Đại, sau là giáo sư tiến sĩ, người đã mở trường thể nghiệm cách dạy, cách học mới. Nếu thầy Hà Thúc Chỉ có tài truyền cảm hứng cho học trò, từ giọng nói, ánh mắt, cử chỉ đều cuốn hút, thì thầy Hồ Ngọc Đại lại rành mạch, khúc chiết; các thầy đã gieo cậu học trò Trần Quốc Minh niềm say mê môn Văn và tình yêu môn Toán nên sau khi rời khoa Văn Đại học Tổng hợp, anh đã học nghề kế toán rồi trở thành kế toán trưởng một hợp tác xã may mặc cho đến khi nghỉ hưu, 1993.

Sổ sách kế toán và những con số không làm Trần Quốc Minh rời bỏ văn chương. Anh bắt đầu làm thơ từ năm 1962, hay đúng hơn là “những bài ca dao vần vè” như chính anh tự nhận. Năm 1965 may mắn đến với anh là được gặp nhà thơ Vân Long. Vân Long coi Trần Quốc Minh như em, thường đèo anh trên xe đạp đi khắp thành phố và dẫn dắt anh đến với thơ, khuyến khích động viên để anh tự tin bước vào nghiệp văn chương.

Lương hợp tác xã chẳng bao nhiêu vậy mà Trần Quốc Minh vẫn cố dành dụm để có tiền mua sách. Căn nhà trong ngõ của anh đã chật lại chất đầy những sách. Riêng tủ sách đã chiếm hẳn một mảng tường. Đã nghèo, anh lại càng nghèo vì sách. Là người hiểu Trần Quốc Minh hơn ai hết, Vân Long viết trong hồi ức Đôi dòng kỷ niệm (Tạp chí Cửa Biển số 40 năm 1998): “Những năm ở Hải Phòng tôi vẫn coi nhà anh như một thư viện, anh như một thủ thư tin cậy. Cần tài liệu gì chỉ nháy mắt anh đã rút ngay ra, hoặc rút từ trí nhớ đáng nể của anh. Anh giữ sách cẩn thận và khó cho mượn, cá tính đáng thông cảm với người không thể tự mình đi đòi sách được”. Người viết bài này hồi công tác ở Hội VHNT và làm tạp chí Cửa Biển từng nhiều lần đến nhờ cậy Trần Quốc Minh. Đúng là khó mà mượn được sách của anh. Lần nào cũng chỉ nhận được ở anh ngày hẹn trả lời. Đúng hẹn, những gì cần hỏi đều được anh đáp ứng, được anh viết ra giấy hết sức tỉ mỉ và cụ thể đến từng ngày tháng. Có nó anh phải mất mấy ngày trời đi lại khó nhọc trên đôi chân yếu ớt để lục lọi quyển nọ quyển kia, lần tìm từng trang từng dòng và ngồi viết. Tôi đoán thế chứ anh không bao giờ kể công. Thấy anh quá nhiệt tình và vất vả, nhà thơ Thi Hoàng có lần bảo tôi hãy tìm cách trả thù lao hay bồi dưỡng cho anh.

Nhưng đến anh hùng còn chẳng qua nổi ải mỹ nhân nữa là nhà thơ, cho dù có là người giữ sách như thần giữ ấn Trần Quốc Minh nên vẫn có người mượn được sách của anh, đó là… các cô gái (!). Vân Long kể tiếp: “Tủ sách ấy hấp dẫn các cô gái yêu sách, khiến “thủ thư” đôi lúc không phân định được các cô ấy đến vì mình hay vì sách. Nhưng rõ ràng nói chuyện với một người đọc nhiều nhớ nhiều như anh cũng có điều thú vị. Tôi bằng vào sự anh chịu cho mượn sách để đánh giá tình cảm của anh với các cô bạn đã đến giai đoạn nào. Cô nào chỉ mượn được những cuốn sách ẩm ương, mất không tiếc là tình cảm mới chờn vờn ngoài cửa. Cô nào mượn được đến Con đường đau khổ, Chiến tranh và hoà bình là cục diện “cuộc chiến” đã đến hồi “quyết liệt”! Nhưng họ chỉ đem đến cho Trần Quốc Minh nỗi buồn hơn là niềm vui, bởi “những cô gái yêu sách, hoặc có khi yêu cả “thủ thư” nữa đã lần lượt ra đi, chỉ để lại cho nhà thơ tật nguyền hai câu thơ, cái giá của hai câu thơ đó không phải là rẻ: Vẫn biết người đi không trở lại/ Đàn một dây ngân lấy một mình!”.

Vậy mà khi biết Hội VHNT không giữ được đầy đủ các số tạp chí Cửa Biển, Trần Quốc Minh đã tình nguyện tặng lại Hội tất cả các cuốn anh có. Một tuần rồi hai tuần trôi qua, đúng hẹn, người của cơ quan Hội đến thì thấy anh ngồi thượt ra, dưới đất là đám tạp chí tã tượi, cuốn bị mối xông nham nhở, cuốn mốc meo ẩm ướt bìa gáy tơi tả, các trang dính bết vào nhau. Hội VHNT thất vọng còn Trần Quốc Minh thì ân hận và xót xa. Căn nhà nghèo khó ngang dọc mỗi chiều chưa đầy dăm bước chân của anh rất ít khi nhận được ánh nắng là nguyên nhân gây ra tất cả!

Ơi, những cô gái yêu sách ngày nào liệu có biết, trải bao nhiêu năm người thủ thư hồi đó vẫn chẳng thể nào quên người “Hương sắc thơm hoa sữa/ Thấm vào áo đỏ” (Em về), người “có nụ cười chết điếng” (Em), vẫn nhớ ai “mỏng manh tà áo ngày xưa lạc màu”; nhớ và thiết tha nhờ nắng gió trời mây nói giùm: “Nhớ thì về lối cũ/ Quên thì hoá mây bay…” (Miền ký ức).

*

Trần Quốc Minh lớn lên trong những năm tháng gian khó nhưng hào hùng của đất nước thời kỳ chống Mỹ, cứu nước - những năm tháng “Không ai có thể ngủ yên trong đời chật” như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết nên tôi tin nếu lành lặn như mọi người, như các bạn bè văn chương thì rất có thể anh đã súng trên vai vượt Trường Sơn như Thi Hoàng hoặc ngoài hải đảo, trên hạm tàu như Chu Văn Mười, Phạm Hữu Khẩu, Đình Kính, chí ít cũng trực chiến trên tầng thượng những ngôi nhà cao tầng;  bởi đi đứng xiêu vẹo ật ưỡng trên đôi chân dị tật cùng chiếc gậy ở bàn tay co gập, với cương vị Bí thư Chi Đoàn khu phố anh đã không quản ngày đêm, mưa nắng cùng các đoàn viên thanh niên giải quyết hậu quả sau những trận bom Mỹ, săn tìm các quả bom nổ chậm còn nằm sâu dưới đống gạch vụn.

 

Trần Quốc Minh là hiện thân của nghị lực vượt lên số phận, anh quyết lấy văn chương làm điểm tựa mà vững bước với đời, nói như Phùng Quán là “vịn câu thơ mà đứng dậy”. Anh có thơ in từ năm 1965, trở thành hội viên Chi hội VHNT Hải Phòng (nay là Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng) từ rất sớm - năm 1966; năm 2005 được vào Hội Nhà văn Việt Nam.

Trần Quốc Minh làm thơ về nhiều đề tài. Về mùa xuân: “Mùa xuân đi dọc phố này/ áo dài như dáng mây bay giữa mùa/ Dịu dàng trời rắc bụi mưa/ Tóc em lóng lánh sương vừa ban mai…” (Phố hoa), về mùa thu: “… Đột nhiên trong nắng/ Mưa rơi/ Nối trời với đất/ Ướt lời hẹn xưa” (Thơ mùa thu); về sông Cấm, trường Ngô Quyền, cầu Rào… Không hiểu có tới biển không mà anh lại có thơ về biển, chỉ dám chắc anh không thể tới được Thôn Vĩ của Hàn Mặc Tử mà chỉ đến trong tưởng tượng. Ngay cả phố Văn Cao ở Hải Phòng hẳn anh cũng chưa đến bởi gọi là viết về phố ấy nhưng thực ra anh lại nói về Văn Cao: “Hình như quán vắng/ Dáng ông đang ngồi/ Hoàng hôn chát đắng/ Rót đầy vào ly” (Phố Văn Cao). Không đi được đâu, Trần Quốc Minh nhìn đời qua cửa sổ, ngẫm nghĩ sự đời trên xe lăn: “Tôi ngồi trên chiếc xe lăn/ Hai chân bị liệt tìm  vần thơ rơi/ Xe không mui đội nắng trời/ Bụi cay trong mắt, nụ cười rát môi” (Xe lăn). Nhớ bạn, anh làm thơ về bạn, gọi điện thoại cho bạn. Và anh kết bạn với chiếc tivi. Nhờ tivi anh có những bài thơ vào loại hiếm trên thi đàn: Cầu truyền hình năm 2000, Sự cố Y2K.

Làm thơ về nhiều đề tài, cả những bài thơ thuộc dạng hiếm nhưng Trần Quốc Minh thành công hơn cả là những bài nói về mình: “Tôi đi vất vả và đơn độc/ Định mệnh kéo lê những ngả đường dài/ Năm tháng gieo thoi/ Buồn tủi ở cùng tôi/ Tôi gánh chịu và tự vượt/ Bạn bè lên phía trước/ Tôi đứng ở phía sau/ Hưởng trọn nỗi đau/ Hoa vào tiệc cưới/ Người biển rừng rong ruổi/ Tôi quanh quẩn phố nghèo/ Những gieo neo/ Dấu nạng - mệt nhoài ngoài ngõ nhỏ” (Độc thoại). Trong Nhà văn Việt Nam hiện đại (NXB Hội Nhà văn, 2010), Trần Quốc Minh bày tỏ suy nghĩ về nghề văn: “Thơ là số phận, tôi làm thơ như một nhu cầu tự thân để giãi bày và trang trải. Nhưng thơ cần có ích, trước hết là cho mình”. Nhận thức như vậy nên anh chia sẻ với những người chung cảnh ngộ, không phải để cùng nhau than thở mà dìu nhau vượt lên số phận: “Cứ mười người có một người tàn tật/ Năm trăm triệu người trên trái đất/ Một phần mười nhân loại đau thương/ Tìm riêng ngả đường/ Người bại liệt làm thơ/ Người mù hướng về âm nhạc/ Người câm thành lực sĩ… Ngoài kia mùa đang chuyển/ Trong này bao cuộc đời/ Thêm bàn chân/ Ước cánh tay/ Mong đôi mắt/ Muốn giọng tròn/ Cha mẹ sinh con/ Định mệnh sinh bất thành/ Những đêm dài vỗ cánh giấc mơ bay…” (Giấc mơ bay).

Đề tài thứ hai ở Trần Quốc Minh cũng rất thành công là viết về mẹ, bài nào cũng lay động lòng người. Bài Ngọn gió của con sau này được đưa vào sách giáo khoa lớp 2 với đầu đề Mẹ. Những bài nói về nỗi mất mát khi không còn mẹ như Tiễn mẹ, Mẹ ơi dễ khiến người đọc không cầm nổi nước mắt: “Lúc đau con gọi mẹ ơi/ Hồn mẹ nghe thấu được lời của con/ Còn mẹ gót đỏ như son/ Bây giờ mẹ mất ai còn xót thương/ Bữa ăn, giấc ngủ ngày thường/ Con như cỏ dại, nắng sương mặc lòng/ Mênh mông gió cắt mùa đông/ Một mình con với căn phòng ngày xưa…” (Mẹ ơi).

Trần Quốc Minh làm nhiều thơ cho thiếu nhi. ở đây lại thấy sự trong trẻo, “rất trẻ con” của anh. Nhà thơ Ngô Quân Miện có lời bình đánh giá cao bài thơ Đàn kiến, ở đó Trần Quốc Minh “có con mắt quan sát rất kỹ cái xã hội bé xíu ấy và vẽ nên một bức tranh bằng những chi tiết sống động cứ như được nhìn qua một tấm kính lúp. Những chú kiến thật xinh, ngoan mà thật hóm hỉnh”: “Đàn kiến tránh cơn mưa/ Hành quân ngang cửa sổ/ Cần cù bày kiến nhỏ/ Đi dài suốt buổi trưa/ Những hạt gạo biết đi/ Vụn bánh mì biết chạy/ Những viên trứng li ti/ Ngược xuôi như nước chảy… Những đôi râu lúng liếng/ Khi hai con chụm đầu/ Ô! Kiến cũng biết chào/ Dù cả ngày bận thế”.

Cách đây khoảng 20 năm Trần Quốc Minh thêm khả năng mới ở thể truyện rất ngắn, khi ấy thường gọi là truyện mini. Truyện áo đỏ đã được Giải thưởng Văn nghệ Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hải Phòng) năm 1994 – 1995. Cho đến nay ở Hải Phòng không mấy tác giả viết loại truyện ngắn này nên “phía sau” Trần Quốc Minh dường như là một khoảng trống không dễ có người nối tiếp.

Có nối tiếp Trần Quốc Minh hay với bất kỳ nhà văn, nhà thơ hoặc văn nghệ sĩ nào chỉ là cách nói, có chăng chỉ về thể loại, vì mỗi nghệ sĩ là một cõi riêng, không ai giống ai. Mất Trần Quốc Minh nghĩa là từ đây mất một giọng thơ, một lời văn, một dòng suy tưởng. Xin mượn chính thơ Trần Quốc Minh về mẹ “Tim con gọi mẹ bao lần/ Giật mình cánh bướm một thân bay về” để nói thay tình cảm của chúng ta với anh – anh mất nhưng còn mãi trong lòng những người yêu thơ anh./.

Lưu Văn Khuê

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)