BÀI ĐĂNG MỚI

Cuộc thi ảnh nghệ thuật “Huế - Những góc nhìn mới” lần III - 2017
...

 

Rừng che bộ đội - Sơn dầu của Quốc Thái

 

Hoa công nghiệp - Ảnh Nguyễn Viết Rừng

 

Cánh tay công nghiệp - Ảnh Vương Khánh Hồng

 

ẢNh Vũ Thành Chung

Chăn vịt - Ảnh Vũ Thành Chung

 

Mùa gặt - Ảnh Đức Biên

 

Đôi mắt cô gái H’mông - Ảnh Vũ Dũng


Hiện có 84 khách Trực tuyến
Nhân vật
Ngàn năm áo mũ - cuốn sử về trang phục Việt thời phong kiến

Cha ông ta từng xây dựng được một nền văn hiến, văn vật rực rỡ, trong đó có văn hóa trang phục. Sách “Ngàn năm áo mũ” mang lại cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh, khách quan về lịch sử trang phục Việt Nam suốt chiều dài thời phong kiến nước nhà. Hơn thế nữa, như nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn (TP Hồ Chí Minh) nhận xét: Ngàn năm áo mũ không chỉ khảo về áo mũ ngàn năm, mà còn là những dữ liệu minh chứng về tinh thần tự chủ của dân tộc”.

Các nhà làm phim lịch sử Việt Nam, các nghệ sỹ điêu khắc, các họa sỹ gặp một khó khăn rất lớn trong sáng tác là không biết rõ về trang phục của cha ông ta trong tiến trình lịch sử (bao gồm trang phục cung đình, trang phục dân gian, trang phục các vùng miền), do vậy có bộ phim cổ trang đầu tư hơn trăm tỷ đồng xong nhưng không được trình chiếu vì lý do trang phục các nhân vật trong phim lai căng, không mang bản sắc Việt, có bức tượng dựng lên hoành tráng nhưng bị phê bình là trang phục không đúng niên đại v.v... Đã có một số học giả đi vào nghiên cứu lĩnh vực văn hóa trang phục Việt Nam như tiến sỹ Đoàn Thị Tình, họa sỹ Trịnh Quang Vũ, giáo sư Ngô Đức Thịnh... tuy có những đóng góp nhất định nhưng chưa có tác phẩm nào khái quát được toàn diện văn hóa trang phục Việt thời phong kiến, nội dung một số tác phẩm có phần còn mang tính suy luận, cảm tính, tài liệu tham khảo hạn chế.

Năm 2013, một tin vui đối với những người quan tâm đến truyền thống văn hóa nước nhà: Nhà nghiên cứu trẻ Trần Quang Đức khi đó mới 28 tuổi cho ra mắt cuốn “Ngàn năm áo mũ” (Lịch sử trang phục Việt Nam giai đoạn 1009 - 1945), sách được Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam phối hợp Nhà xuất bản Thế giới xuất bản, phát hành, nội dung hấp dẫn, hình thức trình bày đẹp, minh họa công phu, liên tục được tái bản, bán hết. Nhà nghiên cứu về trang phục Trịnh Bách nhận xét: “Có lẽ đây là một trong những tập tài liệu văn hóa, lịch sử trang phục được nghiên cứu sâu và được biên soạn kỹ nhất ở Việt Nam, nếu không nói là quốc tế cho đến nay”.

Trong cuốn sách của mình, Trần Quang Đức bộc bạch: “Được xác định giới hạn nghiên cứu nằm trong giai đoạn 1009 - 1945, giai đoạn ít nhiều còn sử liệu, hiện vật ấn chứng, “Ngàn năm áo mũ”  thể hiện một góc nhìn lịch sử, tư tưởng mỹ thuật Việt Nam thông qua dòng chảy biến thiên của văn hóa trang phục; đồng thời làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa trang phục Việt Nam so với trang phục của các nước đồng văn, đặc biệt là Trung Quốc. Từ kết quả nghiên cứu này, cách ăn mặc, lối sống của người Việt trong khoảng 1000 năm trở lại đây đã bước đầu sáng tỏ. Đây sẽ là tiền đề cho việc nghiên cứu phong tục, lối sống của người Việt trong quá khứ xa xưa hơn, nhằm từng bước tìm ra cốt lõi “bản sắc” trong văn hóa Việt Nam.”

Để có được cuốn sách 400 trang này, tác giả đã phải tìm kiếm, sử dụng tới hàng trăm cuốn sử, sách của Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và tư liệu phương Tây nói về Việt Nam trong quá khứ; phải đi trực quan các di tích, đền chùa, thành quách, nhà thờ họ, bảo tàng... trên khắp đất nước; rồi đi thực tế ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc để sưu tầm tài liệu, nghiên cứu, đối chiếu với hành trang là kiến thức chuyên môn chắc chắn, cách làm khoa học. Anh tâm sự với báo chí: “Sử liệu có đến đâu tôi làm đến đó chứ không hề suy diễn”.

Với công phu, tâm huyết như vậy, “Ngàn năm áo mũ” đã mang lại cho công chúng nhiều điều bổ ích, lý thú sau:

1. Vén bức màn bí ẩn về văn hóa trang phục Việt Nam:

Tái hiện toàn cảnh trang phục Việt Nam từ triều Lý đến triều Nguyễn, trên cơ sở tài liệu sử sách và hiện vật đối chứng (thể hiện trên phù điêu, tranh, tượng, kết quả khảo cổ học), đồng thời có so sánh, đối chiếu với trang phục của các nước á Đông gần gũi văn hóa chúng ta như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc trong từng thời kỳ.

Khi bức màn này được vén lên, chúng ta mới biết rằng từ trước tới nay con cháu đã ngộ nhận rất nhiều về trang phục, phong tục của cha ông. Ta cứ hình dung cha ông ta thời phong kiến phổ biến là đội khăn xếp, mặc áo the, nhưng thực chất, phong tục mặc áo the, đội khăn xếp chỉ hình thành từ thời nhà Nguyễn gần đây mà thôi, còn các triều đại trước đó, cha ông ta ăn mặc khác: Trang phục cung đình thì phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của triều đình, còn trang phục dân gian tuy có bị điều chỉnh bởi các quy định của nhà cầm quyền nhưng biến động không nhiều, phổ biến là kiểu áo giao lĩnh, tứ thân, hay cởi trần đóng khố của đàn ông và yếm, váy của đàn bà.

Mỗi thời đại, cha ông ta ăn mặc không hoàn toàn giống nhau, mặc dù có kế thừa, nhưng trang phục, phong tục mỗi thời lại có đặc trưng riêng, song nét đặc trưng xuyên suốt ngàn năm từ triều Lý đến triều Nguyễn không thay đổi là phong tục nhuộm răng đen và đi chân đất (không chỉ dân thường mà cả quan lại, thậm chí cả vua một số triều đại cũng đi chân đất, tác giả trích dẫn các sách Trung Quốc như “Lĩnh ngoại đại đáp” của Chu Khứ Phi và “An Nam kỷ lược của Trịnh Tủng thời Tống, “Văn hiến thông khảo” của Mã Đoan Lâm thời Nguyên đều chép: “Người Giao không phân sang hèn, đều búi tóc chuy kế, đi chân đất, vua ngày thường cũng vậy, song cài trâm vàng, trên mặc áo Sam vàng, dưới mặc quần tía).

2. Nghiên cứu về trang phục để làm rõ nền văn hiến rực rỡ của nước ta:

Trần Quang Đức tìm tòi, trích dẫn, cung cấp cho chúng ta nhiều cứ liệu để chứng minh nền văn hiến của Việt Nam như dẫn lời Khâm sứ nhà Thanh là Lao Sùng Quang công nhận: “Gần gũi Trung Hạ, tôn sùng Nho giáo, yêu chuộng thi thư, cùng được coi là đất thanh danh văn vật, ắt phải nói đến hai nước Triều Tiên và Việt Nam...” (trong văn vật này có trang phục, áo mũ). Còn sách “Cương mục” chép vua Tống Hiếu Tông khi “thấy người nước Việt ôn hòa, áo mũ nhã nhặn, đã rất vui mừng khen ngợi”.

3. Nghiên cứu trang phục để biết được tinh thần độc lập tự chủ của cha ông:

Thời phong kiến, ăn mặc đều phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt để phân biệt vua - tôi, quan lại, quý tộc - dân thường, thiên tử - chư hầu, nước lớn - nước nhỏ v.v, chứ không phải thích mặc gì thì mặc, nhưng cha ông ta luôn tự hào về nền văn hiến thi thư của đất nước, tự hào về truyền thống anh hùng bất khuất, tự hào về quốc thổ, nên luôn đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu (sự yên vui lớn), Đại Nam. Tác giả đã dày công trích dẫn, dịch những đoạn văn quan trọng trong thư viện Hán Nôm minh chứng trong quá khứ nước ta từng là một nước lớn “sừng sững trong thiên hạ”:

“Thường, coi là thị tộc, các đời sau là Giao Chỉ, coi là quận huyện, chưa bao giờ gọi là di cả. Huống hồ, từ thời Trần, Lê, quốc thổ An Nam ngày càng mở rộng, đến nay đã gấp bội lần, phía Bắc giáp ba tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam của Trung châu; phía Tây khống chế các tộc man di, tiếp với các nước Nam Chưởng, Miến Điện; phía Đông trông ra bể lớn, ôm bọc các đảo; phía Nam cũng chạm tới biển, vòng qua phía Tây Nam sát vách Xiêm La, các thuộc quốc còn lại và tộc man di khác nhau nội phụ đều đủ cả, thật là một đại quốc sừng sững giữa trời đất” (Trích Biện di luận, chép trong Chu nguyên tạp vịnh thảo, của tác giả Khắc Trai Lý Văn Phức 1785 - 1849, danh thần triều Nguyễn, đồng thời là nhà thơ).

Do vậy ngay trong trang phục cha ông ta cũng không kiêng dè, thể hiện ý chí độc lập làm “Thiên triều” phương Bắc rất khó chịu. Trong tờ chiếu nhà Minh soạn kể tội Hồ Quý Ly, lấy cớ để đánh nhà Hồ, xâm lược nước ta có đoạn viết:

“Tự cho là thánh triết hơn Tam hoàng, đức cao hơn Ngũ đế; coi Văn vương, Võ vương không đủ làm phép tắc, khinh Chu công, Khổng tử không đủ làm bậc thầy; hủy báng Mạnh Tử là đạo Nho (nhà Nho ăn trộm), Trình - Chu thạo cóp nhặt. Dối thánh dối trời, không ngôi không thứ. Tiếm quốc hiệu gọi là Đại Ngu, trộm kỷ nguyên gọi là Thiệu Thánh. Xưng là Lưỡng cung hoàng đế, dám dùng nghi lễ triều đình. Chẳng phải chỉ ngang tàng ở cõi xa, mà kỳ thực muốn chống chọi ngang hàng cùng Trung Quốc. ”

Đến tận đời nhà Thanh, người Thanh là Chử Nhân Hoạch, vẫn nhận xét về Việt Nam như vậy: “Nước An Nam cách Trung Quốc mấy ngàn dặm, mang tiếng giữ gìn thanh giáo, nhưng kỳ thực tự làm hoàng đế một nước. Đặt niên hiệu, định quy chế đều không kiêng dè” (theo “Kiên hồ dư tập”).

Trần Quang Đức trong buổi giao lưu với độc giả thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/9/2013 đã khẳng định: “Trong bối cảnh lịch sử 10 thế kỷ đó, các nước sử dụng chữ tượng hình, thuần phục Trung Hoa chỉ dám xưng Vương thì Đại Việt từ thời Lý - Trần - Lê - Nguyễn luôn xưng đế. Thời đó, thiên tử Trung Hoa mặc hoàng bào, vua các nước chư hầu chỉ mặc màu đỏ thì đời vua nào của Việt Nam cũng mặc áo bào màu vàng, thể hiện sự ngang hàng, đối đẳng. “(trích bài “Ngàn năm áo mũ” không chỉ là lịch sử trang phục Việt Nam” trên Báo Phụ nữ online).

4. Nghiên cứu trang phục để biết được sự phát triển kinh tế - xã hội của từng thời kỳ:

Trong phần “Tổng quan” của cuốn sách, trong đó nêu rõ những tư tưởng ảnh hưởng đến văn hóa trang phục cung đình Việt Nam:

“Chế độ trang phục cung đình Việt Nam đã mô phỏng chế độ của Trung Quốc để có được sự uy nghiêm, chuẩn mực tương tự. Tuy nhiên, theo quy luật sáng tạo văn hóa, lại trên tinh thần tự chủ, chủ động xây dựng đất nước theo mô hình Trung Hoa, triều đình Việt Nam trong hơn một ngàn năm phong kiến quân chủ dù nhiều lần mô phỏng chế độ áo mũ, lễ nhạc, khoa cử của các triều đại Trung Quốc, vẫn luôn tạo nên những nét biến dị độc đáo, làm tôn thêm vẻ uy nghi, sang trọng của vua quan nước Việt”.

Tác giả trích dẫn qua những sách sử của Trung Quốc (“Tống hội yếu tập cảo”, “Văn hiến thông khảo”, “Lĩnh ngoại đại đáp”) và tài liệu của nước ta (“Đại Việt sử lược”, “Cương mục”) cho chúng ta biết được: do nước Đại Việt thời nhà Lý có nhiều tài nguyên, sản vật quý, mỏ vàng nên trang phục của vua quan, tầng lớp trung lưu, thượng lưu rất sang trọng. Hay các trang phục một số triều đại có sử dụng nguyên liệu, vải vóc, trang sức nhập ngoại, thể hiện sự giao thương, phát triển kinh tế - xã hội của các thời kỳ này.

5. Cuốn sách này còn là tư liệu cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực:

Đây là cuốn sách mà những người hoạt động trong lĩnh vực điện ảnh, mỹ thuật, khảo cổ, nghiên cứu Hán Nôm nói riêng, nghiên cứu văn hóa truyền thống nói chung có thể tham khảo, tìm hiểu và thu lượm được nhiều điều bổ ích cho công việc của mình.

Những tưởng những ông đồ Nho ngày xưa sẽ mãi mãi chỉ còn trong hoài niệm, nhưng với sự xuất hiện của “ông đồ 8x”, “cụ Đức 8x”, “chàng trai đi suốt ngàn năm” (như một số bài báo đặt biệt hiệu vui cho Trần Quang Đức), tác giả “Ngàn năm áo mũ” đã mang lại niềm tin về việc giới trẻ vẫn rất tha thiết đối với văn hóa dân tộc. Đồng thời cũng góp phần khích lệ những người trẻ khác có ưu thế về công nghệ thông tin, trí thông minh, tính nhạy bén, trên cơ sở thừa hưởng những thành quả nghiên cứu của lớp người đi trước để tiếp cận, giải mã những bí ẩn ngàn đời của cha ông để lại, rồi tiếp tục lưu giữ, phát huy trong tương lai.

Trong bối cảnh hiện nay, có được cuốn sách nghiên cứu về văn hóa cổ nghiêm túc, bổ ích, chuẩn mực, hình thức lại đẹp như “Ngàn năm áo mũ” là không nhiều.

Được biết Trần Quang Đức sinh năm 1985, là người con Hải Phòng, anh nguyên là sinh viên giỏi tiếng Hán của Đại học Ngoại ngữ (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), được học bổng du học và tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh - Trung Quốc năm 2009, về nước từng có thời gian công tác tại Viện Nghiên cứu Văn học Việt Nam, hiện nay anh là nhà nghiên cứu, dịch giả tự do. Anh có nhiều tên hiệu, trong đó có tên hiệu gắn với vùng đất Hải Phòng quê hương là “An Biên cư sĩ”./.

Khánh Toàn

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)

 

 

Cầu Thượng Lỹ - Tranh Nguyễn Văn Trường

Cầu Thượng Lý - Tranh sơn khắc của Nguyễn Văn Trường

 

Chiến thắng Bạch Đằng - Tranh khắc gỗ của Đặng Hướng

 

Chân dung nhà thơ Nguyễn Viết Lãm - Tượng đồng của Khắc Nghi

 

Buổi trưa vắng - Sơn dầu của Đặng Tiến

 

Sông Cấm - Tranh của Sơn Trúc

 

Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Trung thu trên đảo - Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

 

Tranh của Lê Viết Sử

Carnaval Hải Phòng - Tranh Lê Viết Sử

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...