Rừng che bộ đội - Sơn dầu của Quốc Thái

 

Hoa công nghiệp - Ảnh Nguyễn Viết Rừng

 

Cánh tay công nghiệp - Ảnh Vương Khánh Hồng

 

ẢNh Vũ Thành Chung

Chăn vịt - Ảnh Vũ Thành Chung

 

Mùa gặt - Ảnh Đức Biên

 

Đôi mắt cô gái H’mông - Ảnh Vũ Dũng


Hiện có 46 khách Trực tuyến
Nhân vật
Nhà văn Nguyễn Quang Thân

Tin buồn

Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng, Tạp chí Cửa Biển vô cùng thương tiếc báo tin:  Nhà văn Nguyễn Quang Thân, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng, sinh ngày 15/4/1935 tại xã Sơn Lễ, huyện Hương  Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, sau một cơn đột quỵ qua đời vào 3 giờ 15 phút ngày 4 /3/ 2017 tại nhà riêng ( P225, Lô II Cư xá Thanh Đa, phường 27, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.


Từ 1950 là thiếu  sinh quân Trường Quân chính Liên khu 4. Năm 1953 tốt nghiệp PTTH, rồi học Trung cấp Kỹ thuật Thủy lợi. Từ 1959- 1962: Cán bộ kỹ thuật Sở Thủy lợi Hải Phòng. Từ 1963- 1964 học Trường Bồi dưỡng viết văn Hội Nhà văn Việt Nam, sau đó thi đua tuyên truyền tại Sở Thủy lợi. Từ 1972 - 1995 ông về công tác ở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng, làm biên tập viên, Trưởng Ban Văn xuôi, ủy viên Thường vụ Hội, rồi Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cửa Biển. Nghỉ hưu, ông về sống và làm việc tại Hà Nội vào định cư tại thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyễn Quang Thân là nhà văn, nhà báo, nhà biên kịch điện ảnh. Ông là tác giả của hàng chục tiểu thuyết, truyện ngắn, hàng ngàn bài báo và một số kịch bản có giá trị được trao giải thưởng cao.

Di quan, hỏa táng tại Phúc An Viên, quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh.

 

Nhà văn Nguyễn Quang Thân: Gai góc đấy nhưng chân tình

Vậy là tôi đã mất một nhà văn đàn anh, hơn thế, tôi coi như người thầy: Nhà văn Nguyễn Quang Thân. Ông sinh vào một ngày chớm hè, 15/4/1936 và mất cũng lại vào một ngày sắp sửa sang hè, 4/3/2017. Chiều nào ông cũng đi bơi nhưng chuyến đi bơi trước đó hai ngày đã làm ông đột quỵ và chỉ cố cầm cự được với đời trong trạng thái hôn mê rồi ra đi vào hồi 3h15. Ông vốn bị huyết áp cao.

Về hưu năm 1996 Nguyễn Quang Thân rời Hải Phòng lên sống ở Hà Nội khoảng chục năm, chờ tới năm 2008 khi nhà văn Dạ Ngân, vợ ông ở báo Văn nghệ nghỉ hưu thì cùng vào Thành phố Hồ Chí Minh. Phượng nơi Sài thành không nhiều nhưng trên một vài đường phố vẫn thấy cây nọ cây kia nối nhau cả một hàng, tôi tin Nguyễn Quang Thân mỗi lần qua đấy vào những ngày hè thể nào cũng nhớ Hải Phòng bởi ông yêu thành phố Cảng. Ông bảo: “Hải Phòng là một thành phố kỳ lạ, ít nhất đối với tôi. Tôi đã sống ở đây 30 năm, đã kinh ngạc vì những ngõ ngách mê cung của nó, vì cái vẻ bấp bênh trong cảnh sắc và hồn người, vì cuộc sống tưng bừng, khổ cực của người lao động bên cạnh những người đục khoét mồ hôi của họ và bọn hãnh tiến, bọn trọc phú rởm. Nếu không yêu thì tôi không sống ở đó 30 năm. Khi có quyết định về công tác ở Hội Nhà văn, tôi đã từ chối”(1). Yêu và gắn bó với Hải Phòng đến vậy nên cả khi đã ở Hà Nội thỉnh thoảng ông vẫn về Hải Phòng, áo phông quần bò, bước những bước mạnh mẽ như thanh niên, không có nơi ở, ông ở với Phùng Văn Ong; chỉ khi ông chuyển hẳn vào thành phố Hồ Chí Minh tôi mới không được gặp.

Nguyễn Quang Thân nói với Vũ Quốc Văn, thực ra ông sinh năm 1935 nhưng năm sau cha mẹ mới đi khai sinh nên tuổi công tác “dôi ra” một năm. Thời của ông chuyện ấy chẳng lạ, nhất là ông lại chào đời ở “rú” Sơn Lễ, bên sông Ngàn Phố, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh: Cả một dãy địa danh thấy toàn những rừng những núi, chả một tên nào gợi tới đồng bằng, biển cả!

Ngay khi còn học trung học, Nguyễn Quang Thân đã tập tành viết lách, nhưng khi đỗ vào Đại học Tổng hợp ông lại chỉ học có đúng một tuần thì bỏ; sau này xem ông tâm sự mới rõ nguồn cơn: “Việc học tập của một người muốn trở thành nhà văn là một vấn đề nan giải, thường người ta không biết nên học như thế nào khi ở tuổi học sinh trung học đã bắt đầu viết rồi. Tôi quyết định không tiếp tục học đại học văn ở Trường Đại học Tổng hợp sau khi lên giảng đường nghe Giáo sư Nguyễn Lương Ngọc giảng một tuần. Tôi thấy mình không thể thành giáo viên hay người nghiên cứu văn học. Bản chất tôi không muốn lệ thuộc vào những tín điều sẵn có. Tôi nghĩ với một nhà văn tốt nhất là nên tự học, việc học của anh ta không được phép giới hạn trong một môn học nào. Anh ta cần một kiến thức không phải để đi dạy, để làm quan mà để trở thành nhà văn”.

Tôi cho rằng suy nghĩ này của Nguyễn Quang Thân có phần lệch lạc, xuất phát từ bản tính và hơn thế từ bản lĩnh của ông, hoặc ông cốt biện hộ cho việc sau đó đi học Trung cấp Thủy lợi, một nghề mà khi chọn chắc chắn ông không nhằm để viết văn; nhưng trớ trêu, nó vẫn có “nguy cơ” đưa ông vào con đường dạy học, thậm chí “làm quan” vì bất cứ nghề nào cũng có thể như thế chứ chẳng riêng khoa Văn Đại học Tổng hợp! Nguyễn Quang Thân chỉ đúng khi cho rằng với nhà văn tốt nhất là tự học. Tuy nhiên dẫu sao thì cái ngành gắn bó với sông nước và ruộng đồng cũng giúp ông có một số truyện ngắn liên quan đến nghề nghiệp. Từ đó ông được chú ý và được dự Hội nghị Những người viết văn trẻ lần thứ nhất (1959) tại ấp Thái Hà, Hà Nội. Lúc này ông là cán bộ Sở Thuỷ lợi Hải Phòng.

Năm 1963 Nguyễn Quang Thân được cử đi học Trường bồi dưỡng viết văn. Hai năm rưỡi học hành ông đã được nghe các nhà văn, nhà nghiên cứu văn học mà “từ lâu chỉ là những tên tuổi để thờ”, như Đặng Thai Mai, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu, Chế Lan Viên; rồi nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật, các nghệ nhân Năm Ngũ, Trùm Thịnh và cả chính khách, bộ trưởng; “không thiếu bộ mặt tinh thần nào của đất nước đến giảng dạy và nói chuyện”. Lúc này lại chả thấy Nguyễn Quang Thân nghĩ đến chuyện bỏ học mặc dù tôi tin rằng “các bộ mặt tinh thần” hầu hết “lệ thuộc vào những tín điều sẵn có”. Bởi thời ấy là vậy, chẳng mấy ai trệch khỏi niềm tin, minh chứng là chính Nguyễn Quang Thân đã nói: “lần đầu tiên tôi được nghe nhà thơ Xuân Diệu khen và sau đó trở lại để cải chính lời khen bài thơ Tây tiến”.

Học xong Trường bồi dưỡng viết văn, trở lại Hải Phòng Nguyễn Quang Thân không làm cán bộ kỹ thuật mà chuyển sang công tác tuyên truyền của Sở Thủy lợi. Được đi nhiều nơi và có điều kiện để viết nên Nguyễn Quang Thân liên tiếp cho ra đời nhiều truyện ngắn, được tập hợp thành các tập Hương đất (1964), Cô gái Triều Dương (1967), Nước về (1975) mà hầu hết đều phản ánh con người và công việc của ngành nghề ông gắn bó. Chỉ khi được bầu vào Thường vụ Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng, Trưởng ban Văn xuôi nhiệm kỳ II (1972-1987) và chuyển công tác về cơ quan Hội, Nguyễn Quang Thân mới xa dần đề tài thủy lợi để mở rộng sang các đề tài khác mà tiểu thuyết Lựa chọn là dấu mốc, bắt đầu thể hiện sáng tạo thực sự của ông, mặc dù sau này nghĩ lại, tác phẩm này chưa làm ông hài lòng vì ở đó ông còn chưa “đi tới cùng”: “Năm 1977, Lựa chọn (NXB Phụ nữ), cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi được xuất bản. Cũng những vấn đề để tôi quan tâm, nhưng tôi đã không đi đến cùng, chắc những ai đã viết và in trong thời kỳ đó đều dễ hiểu vì sao ít nhà văn đi tới cùng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã thắng lợi nhưng kỷ luật tư tưởng vẫn nghiêm khắc”.

Tôi không tường lý lịch Nguyễn Quang Thân, chỉ nghe nói, chẳng hiểu có đúng không, thân phụ ông từng là Huyện ủy viên huyện nào đó ở Hà Tĩnh, nhạc phụ người vợ trước của ông cũng “là gì đấy” ở Thanh Hoá; bản thân ông là đảng viên. Và chính ông nói: “Ba tôi đi hoạt động cách mạng xa. Mẹ tôi cũng hăng hái trong phong trào phụ nữ, làm “ mẹ chiến sĩ” mặc dù hồi đó mẹ còn rất trẻ. Mấy mẫu ruộng ông bà để lại cho người ta cấy rẽ không đủ sống. Tôi có nguy cơ thất học nếu không vào trường Thiếu sinh quân Liên khu 4”. Là con nhà nòi nhưng tác phẩm của Nguyễn Quang Thân hầu hết lại “gai góc”, nói đúng hơn, chỉ sau Lựa chọn mới thực sự gai góc. Ông không bằng lòng với cách nhìn đời xuôi chiều mà ra sức lật xới, lục lọi bên trong nó những gì khiến ông phải lên tiếng. Tiến sĩ Mai Hương trên Nghệ Tĩnh, gương mặt nhà văn hiện đại (NXB Văn hoá, 1990) nhận định, hầu hết các truyện của Nguyễn Quang Thân “đều có cốt lõi chung: cuộc tìm kiếm tự do của những người bị kiềm chế”. Chỉ cần nhắc đến truyện ngắn Người không đi cùng chuyến tàu của ông trên báo Văn nghệ số 13/1980, bạn đọc đã nhớ đến một Nguyễn Quang Thân từng gây chấn động văn đàn khiến chính ông bị lao đao. Nhưng ông vẫn không chịu dừng lại, năm 1991 một lần nữa lại viết Vũ điệu của cái bô, kể về một trí thức có học vị hẳn hoi phải đi trông trẻ và đổ bô cho nó! Kể cả những quá khứ rất xa ông cũng không từ, đó là trường hợp tiểu thuyết Hội thề (NXB Phụ nữ, 2009) khi các nhân vật Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ, các tướng giặc như Vương Thông, Thái Phúc được miêu tả khác với tâm niệm bấy nay của dân tộc. Thực ra sẽ “không có gì ầm ĩ” nếu Hội thề không được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam; do được giải nên nhiều người tìm đọc và nổ ra cuộc tranh luận trái chiều gây xáo động văn đàn, từ cái lớn là tư tưởng của tác phẩm nhiều người bới lông tìm vết lôi ra cả những sai sót vặt về thời gian và địa điểm diễn ra sự kiện. Truyện Vé vớt của Nguyễn Quang Thân trên Tạp chí Cửa Biển tháng 12/2016 cũng vẫn cái mạch quen thuộc ấy, truyện kể về một phụ nữ làm ôsin cho nhà nọ chẳng may làm vỡ cái lư hương cổ nên bị chủ trừ toàn bộ tiền công 20 tháng lương, vì vậy Tết không có tiền về quê. Thực ra chị bị nhà chủ lừa vì cái lư hương chỉ là đồ giả cổ. Chuyện lừa lọc như vậy không lạ, nhưng tác giả vẫn gài vào đó sự “gai góc”: người có cái lư hương “đáng giá 10 cây vàng” ấy là Phó Chủ tịch phụ trách nhà đất ở một quận! Nguyễn Quang Thân hay dựng chuyện để bêu riếu người ta, tôi nhớ có một truyện, nội dung thì quên nhưng lại nhớ một dòng, ở đó ông “bêu” ngành văn hoá ra quy định về áo con phụ nữ!

Cứ như Nguyễn Quang Thân nói thì chính trường Thiếu sinh quân học hồi nhỏ đã gieo vào ông khí chất ấy: “Và đây là sự thật, trường Thiếu sinh quân Liên khu 4 được tồn tại trong sự bao bọc và ảnh hưởng của vị tướng huyền thoại Nguyễn Sơn với cảm hứng tự do, tác phong ngang tàng, nhân bản pha chút lãng mạn thời chiến. Điều đó rất có lợi với tôi; một nhà văn trong tương lai”. Tôi chỉ tin chút ít vào điều ông nói, bằng chứng là thuở mới cầm bút ông viết cũng hiền.

Nhưng chính những “gai góc” trong tác phẩm của Nguyễn Quang Thân lại tạo cho ông thành một nhà văn không giống ai mà đã là nghệ sĩ thì rất cần điều đó. Nhà văn có quyền và cần biết cách, cần phải sáng tạo một thế giới khác tồn tại bên cạnh thế giới hiện hữu. Bởi vậy tôi coi Nguyễn Quang Thân là thầy vì qua con người và tác phẩm của ông, tôi hiểu mình phải lao động và sáng tạo thực sự và nhất là phải tạo cho được cái riêng ở ngòi bút.

Thực ra thì Nguyễn Quang Thân đã lên lớp với tôi. Ông dạy: “Phải viết cho sang trọng!”. Chỉ thế, không phải một lần mà khá nhiều lần với bọn trẻ chúng tôi lúc mới mon men đến ngôi đền văn chương. Viết thế nào là sang trọng? Tôi cứ tự hỏi như vậy. Rồi đọc “Suy nghĩ về nghề văn” của Nguyễn Quang Thân trong Nhà văn Việt Nam hiện đại (NXB Hội Nhà văn, 2010) mới hay là thế này: “Văn chương tự cổ vô bằng cớ. Nhưng nhờ công nghệ tin học, văn sách thời hiện đại còn bền hơn cả bia miệng. Viết ra một câu bẩn thỉu thì dù có vạn pho sách hào nhoáng cũng không chữa nổi. Người đời luôn nghĩ, đống sách kia chẳng qua cũng chỉ để che đậy cái tâm địa thật của anh trong câu văn bẩn kia mà thôi”. Nghe mà rợn hết cả người! Và tôi lại phải nghĩ, viết thế nào là “bẩn thỉu”, là “hào nhoáng”, là “che đậy cái tâm địa thật”?!

Lần đầu dự trại sáng tác của Hội, tôi còn chưa biết Nguyễn Quang Thân là ai thì được một người chỉ cho. Trong khi anh em người này người khác vui vẻ trò chuyện thì ông ngồi yên một chỗ, trầm ngâm như đang đeo đuổi một ý nghĩ, như người ngoài cuộc. Tôi khẽ đến bên rụt rè hỏi: “Anh là Nguyễn Quang Thân ạ?”. Ông vẫn đăm chiêu, không nhìn tôi, chỉ đáp: “ừ!”. “Em là Lưu Văn Khuê”. Ông vẫn không buồn nhìn tôi: “Vậy hả?”. Tôi chẳng biết nói gì nữa, chào ông rồi đi, ông vẫn lặng yên, không bảo sao! Sau này biết nhau, ông cởi mở hơn, thậm chí có lúc còn bông đùa, nhưng tôi vẫn coi ông là người mình không dám sánh với.

Một người làm thơ đã lâu và có tên tuổi ở Hải Phòng phản đối chuyện coi mình là học trò của nhà văn Nguyên Hồng và nhà thơ Nguyễn Viết Lãm, “các ông ấy chẳng dạy tôi cái gì cả. Tất cả là tự tôi. Tôi viết hay thì các ông ấy in, có chăng là chữa vài ba chữ, nhưng không phải chữ nào chữa cũng hay hơn; còn không vừa mắt thì các ông ấy không in. Vậy thôi.”. Tôi về Hải Phòng muộn nên chỉ gặp Nguyên Hồng mỗi một lần, khi ấy Nguyễn Viết Lãm cũng đã nghỉ hưu. Nên tôi coi Nguyễn Quang Thân là thầy. Nhưng ông khuất rồi tôi mới dám gọi thế, chứ lúc ông còn, gọi vậy thể nào ông cũng cho là cạnh khóe ông. Bởi ông chẳng những không muốn làm thầy mà còn kỳ thị những ai là giáo viên lại chuyển nghề sang biên tập văn chương. Cứ như ông nghĩ, có thể suy ra: Trần Tự gốc gác là công nhân, Vũ Hữu ái là thanh niên xung phong, Chu Văn Mười là bộ đội, Nguyễn Văn Chuông thì nông dân và ông là cán bộ trung cấp thủy lợi, tất cả chuyển sang làm biên tập đều được, trừ… giáo viên (!) Tôi từng bị ông coi như vậy. Đó là năm 1984 khi tôi từ Trường Cao đẳng Sư phạm chuyển sang Nhà xuất bản Hải Phòng, ông hỏi trước ở đâu, tôi cứ thành thực nói. Ông ngán ra mặt và chát chúa: “Hừ, giáo viên!”. Sau đó có đến hai nhà giáo chuyển tới Nhà xuất bản Hải Phòng, ông thở dài: “Lại mấy đứa giáo viên!”. Bởi ông coi biên tập không phải là chuyện chấm bài. Giáo viên mà ra tay bút, câu cú chấm phảy phải đúng ngữ pháp, nhất là lập trường tư tưởng phải vững vàng thì chỉ làm hỏng văn chương! Chả trách ông chỉ học Khoa Văn Đại học Tổng hợp có một tuần thì bỏ vì không chịu được khi phải nghe những “tín điều có sẵn”! Ông nghĩ thế không sai nhưng cũng chẳng đúng.

Tôi trân trọng Nguyễn Quang Thân vì ông sống thật với mình, không hề che đậy, gai góc đấy nhưng chân tình. Người Nghệ Tĩnh cứng cỏi, lam làm và giỏi chịu khổ, ai chẳng biết chứ Nguyễn Quang Thân thì rất rõ. Tôi đã đến căn hộ trên tầng hai của ông ở khu tập thể ngành xây dựng phố Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng. Vừa vào cửa đã thấy ngay chuồng lợn; chưa kịp khen con lợn béo tròn béo trục thì ông đã xoè bàn tay chai sạn: “Xem này, tao suốt ngày băm rau lợn!”. Kể cả khi vợ chồng chia tay nhau, ông tới Hội Văn học nghệ thuật ở tại căn phòng, nay là phòng vi tính tạp chí Cửa Biển. Giường, bàn, máy chữ, sách báo cùng bếp dầu, xô chậu, nồi niêu bát đĩa tất cả trong căn phòng bé tí. Một bát canh, một đĩa thịt kho và cơm; có khi chỉ cơm gạo lứt với muối vừng, muối lạc. Vậy mà ông rất khoẻ. Tôi chưa thấy ông ốm bao giờ. Ông bảo cơm gạo lứt hơi khó nuốt nhưng rất tốt.

Cuối năm 1990 Nguyễn Quang Thân xin nghỉ công việc ở Tạp chí Cửa Biển để tập trung cho sáng tác, chỉ trong bốn năm từ 1991 đến 1993, ông đã tạo một khối lượng tác phẩm khó ai bì kịp: 32 truyện ngắn, bút ký và kịch bản phim, trong đó 7 tác phẩm được giải thưởng của các cuộc thi.

Nguyễn Quang Thân viết đủ các thể loại và để lại một tài sản chữ nghĩa gồm 6 tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn cho người lớn và thiếu nhi, 2 kịch bản phim, nhiều ký sự, chút ít dịch thuật, đã in cả thơ. Tạp chí Cửa Biển thiếu nhi xuất bản những năm 1980 là do sáng kiến của ông và cũng chính ông tả xung hữu đột, từ viết lời cho hoạ sĩ Thọ Vân vẽ truyện tranh đến tuyên truyền để bán được nhiều. Tuy cốt kiếm thêm thu nhập cho anh em cơ quan Hội trong thời buổi khó khăn, nhưng từ đó đã tạo nên đội ngũ tác giả viết cho thiếu nhi đông đảo chưa từng thấy ở Hải Phòng.

Có thể khẳng định những năm ở Hải Phòng là những năm Nguyễn Quang Thân viết sung sức nhất. Bởi, như ông nói, ông yêu Hải Phòng và đau khổ vì nó. Xin mượn thơ ý Nhi, người từng sống ở Hải Phòng những năm đầu tập kết ra Bắc để nói về tình yêu ấy: “Maia viết: Người sẽ yêu Pari hơn tất cả/ Nếu trên đời không có Mạc Tư Khoa/ Tôi chưa biết có nơi nào sánh cùng đất Cảng/ Trong lòng tôi: như nỗi đau, hạnh phúc, lời ca” (Hải Phòng ơi!)

Tôi không ngại nói lên điều này: Văn xuôi Hải Phòng từ ngày giải phóng đến nay sau nhà văn lớn Nguyên Hồng thì là Nguyễn Quang Thân, cho dù có thể mãi mãi ông không bao giờ được giải thưởng của Nhà nước, đơn giản bởi văn chương ông không chịu “hào nhoáng”!

LƯU VĂN KHUÊ

(1): Nhà văn Hải Phòng, chân dung và tác phẩm, NXB Hội Nhà văn 2000


 

Người tôn thờ trách nhiệm nhà văn


Người đàn ông ấy đã già rồi, nhưng khuôn mặt mới vương một vài nếp nhăn mờ thoáng, miệng luôn đậu nụ cười hồn hậu, chân thành không hề cố diễn. Đã thế ông còn sở thích đóng bộ áo pull, quần jin, một loại y phục dân dã độc chiếm của tuổi thanh xuân, vì thế nó như càng tôn thêm vẻ trẻ trung của ông.

Ta thử đoán xem người đàn ông tôi vừa phác tả trên kia bao nhiêu tuổi? Năm mươi?  Sáu mươi? Hay là sáu mươi lăm? Hay…

Nếu chỉ nhìn dung mạo, hình vóc hoặc dựa vào linh cảm mà ước đoán dịch định tuổi tác, nghề nghiệp của con  người này là khó lắm. Bởi năm nay ông đã bước qua tuổi tám mươi vài khắc rồi mà nom còn vâm chắc chẳng khác một vận động viên võ thuật hay bơi lội tuổi sồn sồn đang kỳ ép cân chờ ngày đi thi thố một giải thể thao phong trào nào đó. Nhưng ngoài cái hình hài khoẻ mạnh ấy, ai đó tinh ý bỏ qua bộ vỏ bình dân hơi bùi bụi của ông thì vẫn thấy bên trong con người này dung chứa phong thái hào hoa của một nghệ sĩ  hơi kiêu kiêu nữa.

Tôi vốn là bạn vong niên lâu năm của ông, xin khẳng định rằng ông chưa từng bao giờ bén mảng thử sức các môn thể thao mang tính vận hành cơ bắp nọ. Có chăng, ông chỉ là  một người ham chuộng mỗi môn đi bộ “nhất cử lưỡng tiện” và bơi,  vừa  rèn luyện bồi bổ các cơ quan lục phủ ngũ tạng vừa để xả “trét”, thư giãn đầu óc sau nhiều giờ hành xác cật lực trên lap top với mê trận chữ nghĩa tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản hay những bài báo luận thuyết, lạm bàn thế sự nhân tình trả bài các bản báo đã đặt bài, thế thôi.

Vòng vo dông dài vậy là vì tôi hiện còn đang xao xuyến nhớ về một ngày tháng  bảy năm Sửu đã xa rồi tình cờ gặp ông mãi tận đất trời phương Nam xa ngái. Lần tái ngộ có thể nói là hữu duyên này không phải ở Kim Giang, Hà Nội như mọi khi, mà tôi với ông ngồi đối ẩm “nổ” chuyện trên giời dưới bể ngay trong căn hộ xinh xắn toạ cư xá Thanh Đa bên bờ sông Sài Gòn  gió y như quạt hầu. Có lẽ ông và người vợ yêu đã quyết chọn nơi này làm bến đậu cuối, quyết xây tổ uyên ương để giữ gìn, lưu cất mối thiên tình đẹp như mộng một thời của hai người.

Người đàn ông tôi vừa sắm cái mào đầu bài viết có hơi dài dòng diệu vợi này là ai vậy? Xin được thưa ngay danh tính cũng là nghệ danh của con người nhất quyết “trẻ mãi không chịu già” này là ông nhà văn đa tài và có dư bản ngã Nguyễn Quang Thân.

Từ trước đến nay chưa bao giờ Nguyễn Quang Thân nói với tôi về những thăng trầm nếm trải của đời ông, về cái nghiệp chữ nghĩa ông mê đắm phụng sự và hiến thân như một tín đồ. Chính sự lặng thinh hay là vô tư mặc nhiên ấy của Nguyễn Quang Thân và cả những gì tôi cảm biết về ông suốt mấy chục năm qua khiến tôi càng thêm nể trọng và muốn tìm cách giải nghĩa về con người tài hoa, tình nguyện buộc đời mình vào nghiệp chữ nghĩa văn chương này.

Nguyễn Quang Thân là con trai đầu của một viên chức yêu nước, cụ thân sinh của ông từng bỏ mặc suất lương bổng lộc hậu hĩnh của chế độ cai trị Pháp đi hoạt động thời đầu cách mạng. Từ khi cha thoát ly, chỉ còn một mình mẹ lo liệu đảm đương cuộc sinh nhai, cuộc sống gia đình ông không tránh khỏi cảnh neo bần. Để được tiếp tục học hành, 14 tuổi Nguyễn Quang Thân đã sung vào Thiếu sinh quân học trường Quân chính Liên khu 4. Thời gian ở trường bán quân sự này là một may mắn có tính định mệnh đối với cuộc đời ông. Sau này Nguyễn Quang Thân đã từng ghi những dòng tri ân trong cuốn Nhà văn Hải Phòng- Chân dung và tác phẩm. “ở trường quân sự này tôi thực sự bước vào đời. Tôi biết thế nào là hành quân đêm, là đói khát của đời lính, là kỷ luật nhà binh”. Cũng tại ngôi trường này Nguyễn Quang Thân còn có thêm một cái duyên kỳ ngộ là ông “được tiếp xúc với những người nổi tiếng và học những người thày quá giỏi”. Đó là vị tướng huyền thoại Nguyễn Sơn hiệu trưởng, ngoài tài ba về quân sự ông tướng này còn biết bình giảng Truyện Kiều cả một ngày ròng. Rồi Nguyễn Quang Thân được nghe nhà văn Trương Tửu giảng Truyện Kiều, nhà thơ Xuân Diệu nói về bài thơ Tây Tiến, nhà thơ Chế Lan Viên nói về  Màu tím hoa sim…

Người xưa có câu “ Phúc bất trùng lai”. Cổ nhân dạy thế nhưng với riêng nhà văn Nguyễn Quang Thân có lẽ là một ngoại lệ chăng? Bởi đời ông có đến hai lần may mắn hạnh phúc được đằm mình, được dung dưỡng trong một môi trường đầy ắp không khí văn hoá tinh túy. Lần thứ nhất là ở Trường Quân chính Liên khu 4. Ngày ngày được nhìn, được nghe những lời thuyết giảng mà ông có lần quá sung sướng thốt lên, đó là “những vị thần linh từ trên núi xuống”. Còn lần thứ hai, Nguyễn Quang Thân được dự một khóa học vào đầu thập niên 60 hồi thế kỷ trước tại Trường Bồi dưỡng viết văn Quảng Bá của Hội Nhà văn Việt Nam.

Một lần nữa được tiếp xúc với những trí thức uyên thâm, những văn nghệ sĩ lớn mà tài năng của họ có một lực hấp dẫn siêu tuyệt cuốn hút và cảm biến một tâm hồn nhiều mơ mộng, và một trái tim dễ rung động trước những điều mới mẻ của nhà văn trẻ đang kỳ phát lộ. Những ngày ở Quảng Bá, Nguyễn Quang Thân ví ông như “ được dự bữa tiệc tinh thần no nê kéo dài hai năm rưỡi trời giữa thày và bạn”. Nguyễn Quang Thân được nghe Giáo sư Đặng Thai Mai giảng một tháng rưỡi về văn học cổ điển Pháp mà giáo sư không cần một mảnh giấy nhỏ. Được các nhà văn Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Kim Lân, Bùi Huy Phồn, các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, cùng với các nhạc sĩ, nghệ sĩ Nguyễn Xuân Khoát, Tạ Mỹ Duật, Năm Ngũ, Trùm Thịnh … tất cả những con người ấy đều là những bậc thày, những nghệ sĩ lớn có nhiều đóng góp cho lịch sử văn học nghệ thuật dân tộc trực tiếp truyền “lửa”, kinh nghiệm nghề nghiệp cho ông. Ngoài giờ thỉnh giáo những người thày đáng kính, ông còn được giao du với những người bạn viết có tài mà sau này rất nhiều người trong số họ là những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng.

Phải chăng môi trường và những mối quan hệ đó là chất xúc tác góp phần khơi gợi cho nhà văn trẻ Nguyễn Quang Thân ngày ấy nảy sinh ý tưởng, thai nghén rồi viết ra được nhiều văn phẩm trong buổi đầu dấn thân vào nghiệp chữ của ông? Nguyễn Quang Thân cũng nói rằng: “Sau Quảng Bá tôi viết khá nhiều vì được không khí của thày và bạn cổ vũ”.

Trước đó Nguyễn Quang Thân mới chỉ có tập truyện ngắn Đêm phương tây in chung với một tác giả khác. Nhưng sau ngày rời Quảng Bá, Nguyễn Quang Thân về sống và làm việc ở Hải Phòng, thành phố của bến cảng và nhà máy, đông đúc thợ thuyền cần lao này dù không phải quê hương ông, nhưng ông  đã sống và đã viết được hàng chục tác phẩm trong những năm tháng ở đây.

Nhà văn, như ai đó nói “hãy sống đã rồi hãy viết”. Với Nguyễn QuangThân cũng không là ngoại lệ, ông đã sống ở Hải Phòng 30 năm. Nguyễn Quang Thân đã  “thuộc” đất và người xứ ấy. Ông đã “kinh ngạc vì những ngõ ngách mê cung của nó, vì cái vẻ bấp bênh trong cảnh sắc và hồn người, vì cuộc sống tưng bừng, khổ cực của người lao động bên cạnh những người đục khoét mồ hôi của họ và bọn hãnh tiến, bọn trọc phú rởm”.

Nguyễn Quang Thân đúng là người đã đằm mình trong môi trường cuộc sống xã hội ở thành phố biển Hải Phòng, ông buồn vui gắn bó cùng với những người lao động bươn chải tồn tại ở vùng đất ấy. Ông thấu hiểu nhân tình, nhìn rõ mảng sáng, tối, ông thấu hiểu nỗi khát vọng của họ nên mới viết được những trang đầy ắp chất  sống và tạc vẽ mỗi thân phận người sống động đến vậy. Và hơn thế, ông là người có tấm lòng nhân hậu, dám yêu ghét rạch ròi, dám “thật lòng” biểu lộ chính kiến, cảm xúc gửi qua các trang viết sắc sảo vị tình, đằm ngọt mà cũng đắng đót xiết bao. Nguyễn Quang Thân dám đối mặt với cái xấu, cái ác, chỉ với một ước muốn cuộc đời và mỗi con người có một cuộc sống bình đẳng tốt đẹp hơn, nhân bản hơn.

Nếu ai đã đọc những tác phẩm Nguyễn Quang Thân viết và xuất bản từ giữa thập niên 60 đến cuối thập niên 90 thế kỷ 20, và thập niên đầu thế kỷ này chắc sẽ chia sẻ được điều này. Chúng ta hãy đọc Hương đất, truyện ngắn; Cô gái Triệu dương, truyện; Ba người bạn, truyện ngắn; Lựa chọn, tiểu thuyết; Nếp gấp, … Và những năm trước và sau đất nước đổi mới Nguyễn Quang Thân được biết đến với những tác phẩm gây được sự chú ý đón đợi của bạn đọc cả nước như thiên truyện ngắn  Người không đi cùng chuyến tàu; Vũ điệu của cái bô (Giải Nhì cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ) và các tiểu thuyết Ngoài khơi miền đất hứa; Con ngựa mãn châu; rồi ấn tượng nhất là tiểu thuyết Hội thề... đã làm nên “thương hiệu” nhà văn Nguyễn Quang Thân.

Công bằng mà nói, những tác phẩm của Nguyễn Quang Thân không hề bị giới hạn hay bị khuôn lại trong một không gian hẹp nào đó. Tác giả không hề bị nệ thực  hoàn cảnh hay con người quanh ông chi phối.  Nhưng hình như cái hiện hữu cuộc sống thường nhật đã giúp tâm hồn người nghệ sĩ trong Nguyễn Quang Thân nhận chân rồi chưng cất ra những tác phẩm ngồn ngộn chất đời sống mà nhiều khi còn mang tính dự báo và để lại dư ba như  những thiên trường khúc của thơ nữa.

Tôi thực sự trân trọng và chia sẻ với T.S Mai Hương về những ý kiến nhận định của chị về Nguyễn Quang Thân: “Từ đầu những năm 60, Nguyễn Quang Thân chia tay với những trang viết bằng phẳng ban đầu, đi theo hướng mổ xẻ cuộc sống, gắng thấy cho được sự vận động căng thẳng và phức tạp của nó với mục tiêu: loại trừ được cái xấu, cái ác, góp phần hoàn thiện cuộc sống và con người”. “Anh đằm lại trong cảm hứng ngợi ca sôi nổi của một thời văn chương. Anh đem đến cái vị tuy đắng, nhưng lạ, bên cạnh vị ngọt  ngào thơm thoảng như những “ hương cỏ mật” quen thuộc”. Cũng trong nhận xét của Mai Hương: “ Mười năm sau tiểu thuyết đầu tay Lựa chọn, Một thời hoa mẫu đơn ra đời, với một phong cách viết hoàn toàn mới. Nguyễn Quang Thân đã chạm tới những vấn đề nhức nhối của đất nước, với những so lệch xót xa giữa ý tưởng và hiện thực. Nhuần nhị hơn, Ngoài khơi miền đất hứa ra đời một năm sau đó, đã đáp ứng được mong đợi của bạn đọc và khẳng định được đóng góp của Nguyễn Quang Thân ở thể loại tiểu thuyết”. Cũng trong bài viết này chị đã biểu dương: “Nguyễn Quang Thân đã viết bằng cả lương tâm và trách nhiệm. Có thể nói, đến tiểu thuyết này (Ngoài khơi miền đất hứa) Nguyễn Quang Thân đã có thể gửi gắm trọn vẹn ý tưởng nhân văn anh từng kiên trì phấn đấu trong cả đời cầm bút”.

Đối với một người dám từ bỏ mọi cơ hội mưu cầu danh lợi để rồi tự buộc đời mình vào nghề văn nghiệp chữ như Nguyễn Quang Thân, thiết nghĩ còn hạnh phúc nào hơn khi được một người đồng nghiệp nói về mình như thế. Phần thưởng ấy là quá đủ với đời một người viết. Vậy mà Nguyễn Quang Thân không ngồi nhấm nháp những thành quả như đã có, ông còn thử sức ở một vài lĩnh vực thể tài khác và cũng rất thành công. Ngoài mảng tác phẩm dành cho người lớn, Nguyễn Quang Thân còn viết nhiều tác phẩm cho thiếu nhi. Các thế hệ bạn đọc nhỏ tuổi những năm 80, 90 chắc còn nhớ những thiên truyện mơ mộng, ngộ nghĩnh, kỳ bí, hấp dẫn của Chú bé có tài mở khoá (tái bản nhiều lần); Bức thư nhặt được, Khoảng trống trong rừng, Vương quốc những người kiêu ngạo… Không chỉ viết văn, Nguyễn Quang Thân còn viết kịch bản phim Cây bạch đàn vô danh (Giải thưởng kịch bản phim Tuần báo Văn nghệ); Hội thề (Giải thưởng kịch bản kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội).  Và ông còn dịch một số tác phẩm thơ, văn xuôi từ tiếng Anh, Pháp, Nga ra tiếng Việt.

Nhìn lại hơn nửa thế kỷ hành nghiệp văn chương của Nguyễn Quang Thân, đến nay ông đã chiềng làng, chiềng nước dư 20 đầu sách với vài chục ngàn trang in rồi mà xem ra ông vẫn chưa chịu ngồi ngắm hoa, câu cá. Vài năm lại đây, dù tuổi đã cao nhưng sức lực ông vẫn dồi dào, hoành tráng lắm. Ông vẫn “ cày” hăng hơn cả tuổi đang xoan. Nhà văn Dạ Ngân, người vợ yêu của ông bảo rằng ông vẫn miệt mài múa tay trên lap top cả mười mấy tiếng một ngày. Nom gia tài tác phẩm chất ngất chật cứng trong tủ đứng, tủ ngồi nhà ông, tôi nể cái sự lao động hành trí, hành xác của ông vô cùng.

Nhớ lại buổi chiều mùa hè năm 2015 ở cư xá Thanh Đa nơi vợ chồng ông đang sum vầy, ông hỏi tuổi tôi. Tôi nói tuổi mình. Và ông à lên: “Thế ra mình hơn cậu khối tuổi đấy nhỉ”. Rồi ông cười, vẫn nụ cười hồn hậu chân thành không cố diễn, nói: “Vậy mà  chẳng bao giờ mình nghĩ mình đã già, đã bát tuần xuân cơ đấy. Và ông giơ thẳng cánh tay lên muốn khoe “cái bắp chuột” vẫn còn cuồn cuộn. “Ông còn vâm lắm”- Tôi trầm trồ.

Vậy mà…không thể tin được một con người còn khỏe mạnh, tinh anh như Nguyễn Quang Thân đã đột ngột theo tiên tổ về trời. Ông ra đi âu cũng là tử sinh sinh tử vô thường của mỗi kiếp người lưu nơi cõi tạm. Tôi nghĩ rằng ông đã có thể yên lòng với những gì đời ông ghi dấu và để lại chốn phàm trần.

Xin cầu chúc cho linh hồn ông về miền cực lạc được an bình./.

Kiến An, Ngày mãn Xuân năm Dậu

Vũ Quốc Văn

 
Người kể chuyện cổ tích hiện đại

Nhà văn Bão Vũ xuất hiện trên văn đàn muộn, năm 1998 anh mới xuất bản tập truyện ngắn đầu tay “Cánh đồng mơ mộng” và ngay lập tức được coi là hiện tượng văn chương lúc bấy giờ… Sau đó liên tiếp từ năm 1999 đến năm 2007 Bão Vũ cho ra đời 3 tập truyện ngắn: Biển nổi giận; Mây núi Thái Hoàng, Hoang đường. 2 truyện vừa Vườn thuốc, Thị trấn Mỵ Giang và 2 tiểu thuyết Vĩnh biệt vườn địa đàng, Bài hát cỏ vi. Một số truyện ngắn, truyện vừa của ông được chuyển thể thành kịch bản phim truyện truyền hình, phim truyện nhựa, kịch truyền thanh như: Trầu têm cánh phượng, Chuyến taxi cuối cùng, Người muôn năm cũ, Cây bạch đàn xào xạc, Niệm khúc, Rau cải đắng, Chuyện có thể, Trò đùa của Thiên Lôi v.v… Tác phẩm của ông còn được dịch ra tiếng Anh: truyện ngắn Cô gái không biết khóc, Vết thương trong không gian. Ông được tặng giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Báo Văn nghệ, giải thưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, giải thưởng Văn học nghệ thuật Hải Phòng, Tạp chí Cửa Biển v.v…

Ông nổi tiếng nhanh, tạo được ấn tượng mạnh mẽ với đông đảo người đọc đến mức một nhà văn  phải thốt lên ngạc nhiên: “Sao cái ông kiến trúc sư này cuối đời lại hứng lên lấn sang lĩnh vực văn chương để làm gì?”. Thực ra, Vũ Bá Bão (tên thật của nhà văn) viết văn từ  sớm: những năm 60 ông đã viết truyện khá hay, nhưng cứ sửa đi sửa lại, bận công việc chuyên môn nên ông ngại gửi đi như truyện ngắn Những đám mây  viết từ 1961, sửa lại lần cuối  năm 2001 mới gửi đi.

Bão Vũ là người sống khép kín, kiệm lời, khiêm tốn. Việc anh chậm xuất bản những gì mình viết có nguyên nhân của nó: vì khi làm công việc của  một kiến trúc sư anh hết lòng, luôn có trách nhiệm với những đồ án, bản vẽ hàng trăm công trình của mình. Chỉ đến khi chuẩn bị nghỉ hưu anh mới cầm bút thường xuyên hơn. Những tác phẩm nối tiếp nhau ra đời từ năm 1998 đến năm 2014 đã minh chứng tài năng, vốn sống, bút pháp văn chương, khẳng định vị trí của anh trong văn học Việt Nam.

Ngoài nhận những giải thưởng văn học, anh được cử vào Hội đồng Văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam khoá 7 và là Chi hội phó Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng.

Đọc Bão Vũ, ta có cảm tưởng anh mới chỉ nói 50% những điều anh biết, anh cảm nhận. Hai cuốn tiểu thuyết, hai truyện vừa, sáu tập truyện ngắn và những kịch bản phim làm ta giật mình khi đọc anh… Đọc Bão Vũ không thể vội, mà phải chậm rãi, nhẩn nha, nhiều khi phải dừng lại bỏ vài ngày cho ngấm rồi mới đọc , mới thấm được cái hay trong những câu chuyện có vẻ cũ kĩ, cổ xưa nhưng hiện đại, lôgic, như thời chúng ta đang sống. Đó là những chuyện cổ tích mang dáng dấp liêu trai, hoài cổ về cuộc đời.

Tôi mê truyện ngắn của Bão Vũ vì cùng một cách viết, cách nghĩ nhưng đọc anh tôi thấy thú vị hơn đọc Nguyễn Khải, Tô Hoài. Đó là suy nghĩ của  tôi khi đọc những truyện ngắn tiêu biểu của anh trong tập Thung lũng ngàn sương (2013). Truyện ngắn đầu tay Những đám mây Bão Vũ viết ở Hà Đông từ năm 1961 khi còn là sinh viên kiến trúc đi thực tập: một câu chuyện buồn trong veo đượm màu cổ tích về thằng bé Vũ được bố gửi lại ở với anh khi đi cùng con tàu Hải quân ra biển  sáng tác rồi hy sinh. Thằng bé chỉ có một mình, đói và buồn. Những buổi chiều nó thường ngồi bất động trước nhà ngửa cổ nhìn những đám mây bay trên trời mà tưởng tượng ra các chuyện cổ tích về những con ngựa, con gấu bay, những vị tướng,  dũng sĩ và cả những con quỷ mà mẹ Vũ khi còn sống đã kể cho nó nghe. Những câu chuyện thần tiên từ hình thù của những đám mây ấy, trong  những giấc mơ  bao giờ mẹ nó cũng hiện về nói với nó những lời âu yếm, ngọt ngào. Anh (tác giả) thương xót Vũ, luôn giúp thằng bé tưởng tượng những câu chuyện thần tiên từ những đám mây ấy vì có hôm giông gió bầu trời vần vũ đen ngòm...

Cái kết của truyện ngắn thật buồn thảm: bố Vũ chết, bác ruột đến đón nó về quê ở vùng núi nào đó để chăn trâu cắt cỏ. Hình ảnh thằng bé trọc đầu, gầy gò, ngơ ngác, mặc chiếc áo thụng quá gối, cầm món đồ chơi con ngựa của bố làm từ ống tiêm theo người đàn bà thấp bé, còm nhom mặc bộ đồ đen dắt nhau rời ngôi nhà nơi nó đã tá túc hàng năm  ngồi ngắm những đám mây thật buồn, khiến trái tim người đọc  rưng rưng. Đó chính là tài năng thiên bẩm của Bão Vũ trong các câu chuyện cổ tích hiện đại của mình. Những câu chuyện hoài cổ long lanh thoảng mùi hương tinh khiết, thanh tao dành cho những  tâm hồn tinh tế chia sẻ cùng anh.

Hai truyện ngắn Thung lũng ngàn sương, Liễu Chương Đài là những chuyện kiểu liêu trai hư ảo, nửa thực nửa mơ, như xảy ra từ trăm năm trước mà vẫn đậm chất đời thường hôm nay. Tình yêu của chàng sinh viên trường Y với nàng  Mai Thi xinh đẹp vợ hoàng tử vua Mèo ở thung lũng Ngàn Sương kia có thật hay do Bão Vũ tưởng tượng ra có lẽ chỉ nhà văn biết? Cũng như chuyện chàng thi sĩ đói khát Hàn Hoành với nàng kĩ nữ Liễu Thị ở Trường An có phố Chương Đài bên dòng sông Lam Thắng có những hàng liễu xanh mướt, chảy dài  như dòng suối xanh, như mái tóc của người thiếu phụ vẫy gọi chồng: Chương Đài liễu trước xanh xanh/ Còn nguyên hay đã bẻ cành cho ai.

Và khi Liễu Thị kĩ nữ bỏ Hàn Hoành đi theo tiếng gọi tình yêu xác thịt của viên tướng AsáLợi… Hàn Hoành bán hết nhà cửa đồ đạc lang thang  làm thơ, hát khúc Liễu Chương Đài bất hủ làm dân khắp thiên hạ gặp Hàn Hoành thi sĩ đều khóc, hát cùng anh khúc “Liễu Chương Đài”: Ngày trước xanh xanh/ Hầy a/ Liễu Chương Đài/ Ngày trước xanh xanh/ Hầy à/ Hỏi có còn không/ Hầy ! Liễu Chương Đài.

Câu chuyện cổ xưa “Liễu Chương Đài” như sống lại với Sinh từ chiến trận trở về (sau việc báo tử nhầm). Nghĩa khuyên Thục về sống với Sinh, quên chuyện cũ đi, anh bán nhà, đất đai bỏ cả nghề thợ mộc lên đầu nguồn nuôi cá lồng bè để quên Thục… Nhưng cuối cùng Thục vẫn bỏ Sinh, bỏ cuộc sống đầy đủ để tìm đến đầu nguồn nơi Nghĩa sống. Chuyện tình xưa và nay có gì thật giống nhau, đều đau đớn, xót xa, dằn vặt nhưng đậm tình người, tình đời. Đọc 2 chuyện của Bão Vũ, nhiều lúc  thức giấc trong đêm, tôi cứ ám ảnh bởi câu hỏi: liệu cô nàng Mai Thi có bỏ hoàng tử con vua Mèo để tìm đến với Linh, chàng sinh viên trường thuốc đang chờ đợi nàng suốt cả cuộc đời? Bên tai tôi vang vọng điệu hát dân dã của người dân Phúc Kiến khi hát khúc “Liễu Chương Đài” của chàng thi sĩ Hàn Hoành: Ngày trước xanh xanh/ Hầy a/ Liễu Chương Đài…

Truyện ngắn của Bão Vũ làm ta  ám ảnh, vương vấn rất lâu bởi những chi tiết độc đáo, tính cách của các nhân vật anh tạo nên như một vết chém hằn trên gỗ… không thể quên.

Tôi đặc biệt thích truyện ngắn: Cô láng giềng trở về và Rau cải đắng bởi phong vị lãng mạn, nên thơ có dư âm buồn sâu xa, chua chát, có lúc tàn nhẫn làm trái tim  đau thắt…

Truyện Cô láng giềng trở về chỉ có chục trang kể lại chuyện bà Hằng - Việt kiều ở Pháp trở về làng sau mấy chục năm... hồi tưởng lại những kỷ niệm của mối tình đầu với chàng  Vệ quốc quân, người yêu cô khi mới bước vào đời. Họ yêu nhau thơ mộng, đẹp như một bài thơ. Nhưng anh kiên quyết lên đường vào Vệ quốc quân đi cứu nước. Hằng không thể ngăn anh lại, cô yêu anh say đắm, yêu cả tiếng đàn măng-đô-lin lãng tử của anh. Hôm chia tay anh lên đường, Hằng đã chủ động hẹn anh buổi trưa đến nhà quyết hiến tấm thân trong trắng cho mối tình đầu. Cô nằm xuống ổ rơm có những sợi rơm vàng óng ánh thơm lừng, tự cởi cúc áo mình… nhưng anh đã cao thượng từ chối. Anh cầm cuốn thơ tặng cô che lên bộ ngực trần... và anh đã lên đường… Vài năm sau Hằng được tin anh  hy sinh ở mặt trận. Mấy chục năm sau, bà Hằng trở về nhà, nỗi nhớ về anh làm sống lại mối tình đầu thiêng liêng ấy. Bà Hằng muốn được nằm lại trên chiếc ổ rơm như xưa ấy chỉ một lần, dù biết bây giờ không ai còn nằm ổ rơm nữa. Một kỉ niệm buồn se sắt, ta thấy như mê đi trong tiếng đàn măng-đô-lin của anh lính Vệ quốc quân bên cô Hằng trẻ trung ngày ấy.

Câu chuyện như một giấc mơ hoài cổ, đẹp và buồn đến lạ lùng. Truyện Rau cải đắng cũng hương vị đó, nhưng câu chuyện có cái kết chua chát, cay đắng hơn: ba chàng sinh viên sơ tán về xóm Sơn Hạ, nơi có những người dân theo đạo Thiên Chúa hiền lành, cả tin mộc mạc, chân tình, họ trồng rau cải đắng. Thục, gã sinh viên thâm độc, bỉ ổi với  tài học vẹt, nhớ dai đã đóng vai một thày dòng giảng kinh thánh cho đám con chiên ít học ở Sơn Hạ những kiến thức về đức Chúa trời được dân quý mến, giúp đỡ cho đồ ăn, áo mặc. Và Thục đã lợi dụng điều đó để lừa gạt Anna Hạ, cô gái có chồng (đi bộ đội đã chết). Thục chiếm đoạt làm cô có mang, Thục đào tẩu đổ chuyện đó cho ông Độc bố chồng  Hạ, làm ông phải bỏ nhà đi, còn Hạ đẻ non, con chết, cô thành người ngớ ngẩn… Câu chuyện buồn nẫu ruột đó được Bão Vũ kể trên nền xanh mùa rau cải đắng ở Sơn Hạ. Những luống cải xanh rờn điểm hoa vàng rực rỡ bên nỗi đau khôn nguôi của những người dân Sơn Hạ mà những kẻ xấu xa như Thục tạo ra.

Chuyện sáng tỏ sau 20 năm trở lại Sơn Hạ do chính Thục nói ra làm Lân, chàng sinh viên yêu cô Hạ ngày xưa đau đớn đến mất ngủ trước sự vô luân, đểu giả, tàn nhẫn của Thục, giờ đã trở nên giầu có. Câu chuyện hệt một bài thánh ca buồn lặng lẽ đánh vào sự vô cảm ích kỉ của con người. Cái xóm đạo nhỏ bé với mùa rau cải đắng cứ vương vấn, xao xuyến bao trái tim nhạy cảm. Bão Vũ như một ông cha đạo rửa tội cho các con chiên tội lỗi của mình.

Trong hai truyện vừa và hai tiểu thuyết anh đã xuất bản còn nhiều điều để nói nếu ta có thời gian đọc như tiểu thuyết Vĩnh biệt vườn địa đàng nói về những người Việt Nam kiếm sống ở nước ngoài . Những bi kịch của Kì, Vĩ, Di, của chị Nhu thật cực nhọc, đau xót: có người chết, người bị tù đày, người phải tìm đường trở về nước và cả những người còn ở lại sống lay lắt để tồn tại với nỗi nhớ quê hương.

Tiểu thuyết của Bão Vũ có nhiều chi tiết sống động, tái hiện cuộc sống đời thường khiến người đọc tò mò, chăm chú tìm hiểu số phận các nhân vật trong truyện. Những cái kết của tiểu thuyết thường buồn, bế tắc vì đó chính là sự thật của những người Việt tha hương trên đất nước người.

Tôi mê đắm, bị lôi cuốn khi đọc truyện vừa Miên Giang của Bão Vũ. Câu chuyện kể về một thị trấn nhỏ bị bỏ quên nằm đâu đó gần đường quốc lộ từ Đông Hải về Hà Nội, nơi còn sót lại vài ngôi nhà cổ xây từ năm 1932 có con sông Miên Giang kề thị trấn. Những dị nhân  mà anh kể trong chuyện là những nhân vật điển hình có một không hai đọc một lần không thể quên: đó là lão Thầu Khoán lấy cả hai chị em ruột và sau đó lại cưới luôn cả đứa con gái xinh đẹp của mình với lí luận “tao sinh ra nó, nó là của tao”. Lão đưa con gái sang Pháp làm lễ cưới… Rồi chuyện tay nha sĩ, chủ hiệu trồng răng lừa cưỡng hiếp một cô gái trẻ đến chữa răng, y  ra toà bị tù 1 năm, phải bồi thường rất nhiều tiền. Khi lão ra tù, vợ lão đã đoạt hết tài sản để sống với chồng mới, lão hoá điên, lẩn thẩn đi khắp thị trấn bới rác sống qua ngày. Y trầm mình chết ở sông Miên sau khi đã tự nhổ hết các răng của mình. Khi vớt được xác, người ta thấy tay lão vẫn còn ôm khư khư bọc đồ nghề trồng răng…thật kinh khủng. Và còn những nhân vật ghê gớm khác như kẻ giết người hàng loạt - thủ kho Đàm Trọng Cuốc, y giết người bất chợt chẳng có lý do gì, chỉ để thưởng thức nạn nhân bị giết giãy giụa tuyệt vọng trước khi chết. Hàng chục nạn nhân đã chết dưới bàn tay hộ pháp của y, vì y giết người chỉ bằng đôi tay của mình. Nếu y không tự nói ra thì sẽ chẳng ai điều tra được tội ác của y. Chuyện về Cuốc làm ta rùng mình về sự dửng dưng tàn bạo của cái ác, “một con thú người” như Bão Vũ đặt tên. Một dị nhân khác của Miên Giang thật ấn tượng là cô Dao, người đàn bà cao đến 1m8 xinh đẹp, hấp dẫn có hàng ria mép làm nghề bốc vác. Bao chàng trai ở thị trấn mê đắm nhưng cô Dao chỉ yêu, thờ phụng, phục vụ Củng nghiện. Cô làm việc quần quật quanh năm để nuôi Củng ăn, hút. Cô lúc nào cũng rạng rỡ sung sướng như được thờ phụng một báu vật. Củng nghiện hút quá liều, chết, cô Dao không thiết sống nữa, cô bỏ việc sống lang thang đói khát, cô đã chết vào một đêm trăng ở sông Miên. Người ta chôn cô cạnh mồ Củng nghiện. Một câu chuyện về mãnh lực của tình yêu đến kỳ lạ… Các nhân vật chính trong Miên Giang như kĩ sư Lân, ông Khoái nhân viên đo đạc lưu vong từ thời Pháp liên quan đến lịch sử nhà bánh đậu xanh Kim Phượng thật bí hiểm, hấp dẫn. Cái kết không lối thoát của các nhân vật trong cái thị trấn nhỏ bé tù túng ấy hệt những gì đang diễn ra ở các huyện, thị trấn hẻo lánh ở các tỉnh, thành phố bây giờ.

Đọc những truyện ngắn và truyện vừa Miên Giang, ta thấy tài năng đặc biệt của Bão Vũ trên cương vị nhà văn. Ông đã tạo ra những trang viết ấn tượng, những nhân vật điển hình trong tác phẩm của mình đóng góp  vào dòng văn học hiện đại Việt Nam.

Bão Vũ đã ngoài 70, ông ít giao du, vẫn lao động miệt mài. Gặp ông để chuyện trò thật khó, đôi khi  gặp được ông qua điện thoại, tôi hỏi thăm sức khoẻ và công việc của ông. Với cách nói chậm rãi, rủ rỉ, ông bảo “mọi chuyện vẫn vậy”. Ông vẫn đang viết vì còn nhiều điều thôi thúc. Còn chuyện nhà, chuyện xã hội, chuyện chức tước, danh vọng ông ít quan tâm. Có trách ông lười hoạt động xã hội, ông lại ậm ừ: “ừ, mình sẽ khắc phục dần dần”.

Chuyện về nhà văn Bão Vũ là thế, ông lặng lẽ, bình dị, miệt mài sáng tạo những tác phẩm đích thực tặng cuộc sống, cho những người đang sống hôm nay và thế hệ trẻ mai sau. Những cống hiến của ông thật đáng trân trọng, góp phần làm rạng rỡ nền văn chương Việt Nam./.

Nguyễn Long Khánh

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)

 

 

Cầu Thượng Lỹ - Tranh Nguyễn Văn Trường

Cầu Thượng Lý - Tranh sơn khắc của Nguyễn Văn Trường

 

Chiến thắng Bạch Đằng - Tranh khắc gỗ của Đặng Hướng

 

Chân dung nhà thơ Nguyễn Viết Lãm - Tượng đồng của Khắc Nghi

 

Buổi trưa vắng - Sơn dầu của Đặng Tiến

 

Sông Cấm - Tranh của Sơn Trúc

 

Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Trung thu trên đảo - Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

 

Tranh của Lê Viết Sử

Carnaval Hải Phòng - Tranh Lê Viết Sử

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...