BÀI ĐĂNG MỚI

Cuộc thi ảnh nghệ thuật “Huế - Những góc nhìn mới” lần III - 2017
...

 

Rừng che bộ đội - Sơn dầu của Quốc Thái

 

Hoa công nghiệp - Ảnh Nguyễn Viết Rừng

 

Cánh tay công nghiệp - Ảnh Vương Khánh Hồng

 

ẢNh Vũ Thành Chung

Chăn vịt - Ảnh Vũ Thành Chung

 

Mùa gặt - Ảnh Đức Biên

 

Đôi mắt cô gái H’mông - Ảnh Vũ Dũng


Hiện có 38 khách Trực tuyến
Nguyễn Thanh Tuyên - một nhân cách sống

23h15’ ngày 28/9/2016 tôi đang lơ mơ ngủ, thì giật mình bởi chuông điện thoại đổ dồn. Đầu đằng kia Vũ Quốc Văn (người bạn tri kỉ với nhà thơ Nguyễn Thanh Tuyên) sau vài câu thăm  sức khoẻ và hỏi có sáng tác nào mới không. Tôi bảo “Không, bận lắm”. Một thoáng hoài nghi, tại sao Văn lại gọi điện lúc nửa đêm hỏi thăm sức khỏe...  Sau giây lát Vũ Quốc Văn ngập ngừng “Tôi đắn đo mãi vì Tuyên không muốn ai biết”. Tôi cuống quýt “Tuyên làm sao? Ông nói nhanh lên”. Văn chậm rãi “Tuyên bị K, Hà Nội xét nghiệm chính xác rồi. Đã thôi làm việc tại Trung tâm Y cao Hà Nội. Về Hải Phòng nửa tháng nay rồi”. Tôi choáng váng “Sao khổ thế Tuyên ơi”. Có lẽ giờ này Tuyên đã ngủ. Kệ! Tôi cứ gọi xem cụ thể ra sao. Hóa ra Tuyên vẫn thức. Sau cơn ho dữ dội Tuyên bảo “Ông Văn nói đúng đấy. Tôi bị K phổi”. Giọng Tuyên vẫn tỉnh táo pha chút giễu cợt. “Đành phải sống chung với lũ vậy thôi. Khốn nạn nhất mình bị u loại tế bào vẩy, đường kính đã 5,2cm, nó ở đỉnh phổi trái, tai ương là bám sát quai động mạch chủ nên hết cơ may phẫu thuật, nên đành phải bó tay .com thôi. Bao nhiêu dang dở! Tôi đang cố chạy nước rút với thời gian đây”. Tiếng ho khan kéo dài.

- “Thôi ông nghỉ đi, mai tôi đến”.

Tắt đèn đi nằm mà trằn trọc mãi. Tôi tự vấn. Có Trời thật không? Có Phật thật không? Có Bồ Tát cứu độ chúng sinh thật không? Có số phận thật không? Tại sao người  tốt  như Tuyên mà nỡ nào lại mang trọng bệnh. Chẳng nhìn đồng hồ, tôi liền gọi báo tin cho nhà văn Bão Vũ, nhà biên kịch Nguyễn Long Khánh và nhà thơ Nguyễn Lâm Cẩn, Thúy Ngoan biết. Mọi người đều giật mình và bàng hoàng.

Xâu chuỗi quá khứ từ ngày biết nhau. Làm thơ in chung với nhau đã hơn 20 năm rồi. Tôi “yêu” Tuyên chân tình, thật lòng, Tuyên giầu lòng vị tha, hiền lành, độ lượng và khiêm tốn. Bạn bè văn chương mắc mớ sức khoẻ đến với Tuyên, được Tuyên tận tình ngay cả khi anh đã về hưu. Tôi cũng vài lần đến khám ở bệnh viện tư nhân nơi Tuyên làm thuê. Bao giờ Tuyên cũng ghi ở dưới phiếu khám bệnh: Không thu lệ phí. Chuyện ấy, đâu phải chỉ riêng tôi. Tôi ái ngại, Tuyên chỉ cười “Lương hưu tôi cao hơn ông, lại có lương làm ở đây nữa. Cứ về đi”. Thậm chí sau khi được nhờ sự tư vấn sức khỏe, Tuyên còn nhắn tin các loại thuốc vào điện thoại cho đỡ phải đi bệnh viện. Lĩnh hộ tiền nhuận bút cầm xuống nhà cho Tuyên. Tuyên rủ đi uống bia. Vì nhiều lần quá tôi phải mặc cả “Nếu lần này ông không để tôi trả tiền. Tôi không đi”. Thế rồi nửa chừng Tuyên lấy lý do đi vệ sinh, Tuyên lẻn ra quầy trả tiền trước...

Hai chục năm trước, nhà thơ Nguyễn Đình Kiên bị tai biến lần hai, Thanh Tuyên trực tiếp vào khoa cấp cứu nhờ đồng nghiệp tận tình giúp đỡ. Kiên ngày ấy sống một mình vất vưởng, các con ở xa, vợ chồng chia tay. 30 Tết nào Tuyên cũng chia đôi nhờ tôi cầm nửa chiếc giò và một cái bánh chưng cho Kiên (vì Tuyên phải về quê). Bởi Kiên không có lương hưu, sau này Kiên có “tập hai” thì thôi.

Tuyên là người thủy chung, nhân hậu nhất mực. Đã có lần Tuyên thổ lộ: “Hoàn cảnh bà xã tôi buồn lắm. Bố mẹ ly tán. Ông ngoại đón về nuôi từ tấm bé. Lam lũ với bùn ruộng, con trâu và sách vở... Hai người học cùng Trường thuộc Viện Sốt rét. Chúng tôi yêu nhau từ cuối 1969. Đến tháng 9/1971 tôi có lệnh đi B, gia đình và nhiều bạn giục cưới, nhưng tôi đã khước từ. Chiến tranh biết thế nào! Lỡ mình hy sinh, cô ấy thành đàn bà góa thì cái khổ sẽ đeo bám trọn đời ư? Sau khi kí kết Hiệp định Pa ri, vào dịp ra Bắc công tác, tôi mới xây dựng gia đình. Vợ làm trong bệnh viện Việt - Tiệp, còn tôi  sau khi học 6 năm đại học chính quy được chọn về Ban Bảo vệ sức khỏe thành phố công tác”.

Thời ấy, cái “chuồng”  tập thể thời bao cấp là  nhà giấy dầu vách liếp rộng 7m2, ra vào vạng đầu. Diện tích ấy “nhốt” 4 người, gồm một cặp vợ chồng và hai đứa con, chen chúc. Mùa đông thì rét mướt, mùa hè hầm hập ngột ngạt, có lẽ khí thở cũng phải dè sẻn . Với đồng lương eo hẹp, vợ chồng làm đủ các nghề để tồn tại và nuôi con. Chụp ảnh đám cưới. Kẻ vẽ. Thuộc da. Làm men rượu. Nuôi lợn. Móc cước, Đêm đêm xay đậu nành bán cho chợ Sắt... Thượng vàng hạ cám, miễn là làm ra tiền để cùng cả nước đợi chờ giai đoạn “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”… Đến giờ vẫn đang mất hút.

Vài người bạn thơ lên nhà ngồi chơi thì vợ Tuyên lo cho một hai chai bia hơi với đĩa lạc rang cả vỏ. Rồi lấy lý do lặng lẽ ra khỏi nhà để chồng tiếp khách. Có lẽ cái lam lũ và thiếu thốn tình mẫu tử từ tấm bé, cộng với sự vật lộn áo cơm của một thời đói và đói, mà Đông (vợ Tuyên) ngay cả ngày cưới của các con dẫu tươi cười đón khách mà nét mặt vẫn chẳng tươi hơn được là bao. Chứ nói gì đến bây giờ lại nhận được hung tin căn bệnh của chồng. Tôi thương Tuyên và thương cả Đông. Lần vợ chồng Tuyên mời tôi và Vũ Quốc Văn về quê ăn giỗ, đứng ở góc vườn, Đông kể hết cho tôi nghe hoàn cảnh của vợ chồng làm con trưởng còn bố mẹ già mà phải sống xa quê. Tuyên 8 lần phóng về cứu mẹ, nhưng thoát chết được có 7 lần. Nước mắt Đông rân rấn, mí mắt đỏ lựng. Tôi cũng không cầm được. “Có những lần nhận tin ở quê điện ra, vì tất cả đều trông cậy vào ông anh bác sĩ. Tuyên thương mẹ thương cha khóc như đứa trẻ con. Tiếng khóc ồ ồ của người đàn ông thương lắm. Em cũng nức nở. Nhưng cố gượng dùng những lời an ủi nhau. Số chúng mình như thế thì phải chịu” (những chi tiết ấy tôi không tiện viết ra đây). Thì ra trông Tuyên bề ngoài có vẻ an nhiên, tự tại, mặt lúc nào cũng tươi. Kể cả khi tranh luận về một vài chữ trong thơ. Tuyên vẫn cười, trình bày một cách khúc triết, điềm đạm.

Có lần chắc là bế tắc lắm, không biết giải quyết sự việc thế nào cho vẹn toàn, tình nghĩa, về chuyện của con gái. Gặp tôi Tuyên kể “tiết kiệm ki cóp được 600 triệu để cuối năm vợ chồng cháu xây nhà. Tin họ hàng, nó cho vay... rồi mất trắng” (Vàng ngày ấy khoảng 500 ngàn đồng một chỉ). Tất cả con tôi định lôi lũ ấy ra Tòa. Cho đi tù vì chiếm dụng tài sản. Nhưng vì tình ruột rà máu mủ, Tuyên đã khuyên can. Nhưng khó thuyết phục. Đến lúc Tuyên  xây xong nhà của mình. Ông chú ruột mang tặng hai chậu vạn tuế rồi về? Một buổi tối ăn cơm, Tuyên hỏi “ Vạn tuế” là gì? Cả nhà không ai trả lời được. Tuyên nói: Đó là vái vạn lần. Chú cũng như cha. Ông biếu cây ấy tức là “ Phụ bái tử. “Cha bái con đấy. Ông xin tha tội cho con gái. Tuyên bảo: Tôi bịa chuyện lý giải ý nghĩa về hai cây vạn tuế của ông chú ruột biếu để an lòng các con.

Bởi mất của thì khó bề lấy lại, nhưng cần phải giữ được cái tình. Điều đó đến bây giờ cả họ hàng ít người biết (kể cả nhà ông chú ruột)

Rồi lần được Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng cử đi dự Trại sáng tác của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam tháng 5/2016 ở Mộc Châu, Vũ Quốc Văn còn cho biết thêm một chuyện buồn của Tuyên đến nẫu ruột. Thật đau đớn và xót xa, những sự việc tưởng chừng như chỉ có trong cổ tích. Tuyên là người chu đáo, ân tình với mọi người. Có bạn đồng nghiệp bỏ Tuyên về với trời xanh mây thẳm. Dẫu 19 năm rồi nhưng không giỗ nào vợ chồng Tuyên “giả quên”... và Tết nào cũng mang rượu, bánh đến thắp hương ông bạn vong niên. Gia đình bạn bè văn chương ở Hải Phòng có chuyện buồn, dù biết muộn, Tuyên cũng đến chia buồn thắp một nén nhang. Chứ tuyệt đối không giả vờ coi như mình không biết.

Sau cuộc điện thoại đêm của Vũ Quốc Văn báo tin, sáng sớm hôm sau tôi đạp xe xuống nhà Tuyên. Vóc dáng đã gầy, đôi mắt đã sâu hơn. Suốt hai tháng trời tôi lo giúp con gái ở Hà Nội, cứ đi đi về về như con thoi. Có lần ở Hà Nội buổi tối viết được vài câu thơ thấy hay hay. Gọi điện thoại đọc cho Tuyên nghe, thì Tuyên bảo “Tôi đã về Hải Phòng rồi, không làm ở Hà Nội nữa”. Thì ra Tuyên giấu tôi. Bệnh viện nơi Tuyên làm thuê khi chia tay nhiều người cảm động sụt sùi tiễn Tuyên lên xe. Bạn bè ở Hà Nội là những y bác sỹ cùng khóa hầu hết đều đến với Tuyên, động viên an ủi. Nhiều người khuyên Tuyên đi Singapore để kiểm tra. Nhưng là bác sỹ và biết được bệnh của mình Tuyên không đi. Mặc dù các con dâu, rể cũng động viên. Nhưng Tuyên một mực từ chối...

Kiểm tra sức khỏe biết mình trọng bệnh. Tuyên giấu vợ con, lặng lẽ những ngày nghỉ ở nhà sửa chữa lại toàn bộ điện đóm, chỗ dột trên mái. Lợp lại tôn nhựa sáng dọc hành lang cho vợ con có chỗ để xe không bị nắng mưa đầy đọa. Tuyên muốn phòng khách đàng hoàng, mắc bệnh rồi mà vẫn đi mua tranh tứ quý bằng men nổi tận  Bát Tràng lặng lẽ về treo ở phòng khách nguyện vọng “cho bền”.

Chuyện lộ ra, do Tuyên nhập Viện U bướu Hà Nội, không có người nhà đi kèm. Bệnh viện đã điện cho con trai lên kí cam đoan chọc sinh thiết (họ lấy điện thoại từ mục Khi cần báo tin cho ai). Vợ Tuyên lập tức cho gọi dâu, rể và các cháu nội ngoại về hết, thông báo bệnh tình của bố. Các con bàng hoàng sợ hãi, Tuyên bình tĩnh động viên an ủi  “Sống thế này là lãi rồi. Bao nhiêu người bạn của bố nằm lại chiến trường ở độ tuổi 18-20. Mình sống sót thêm 42 năm, có nhà có của, có vợ có con, có nghề có nghiệp. Bao nhiêu ngừời bị bệnh nan y qua tay bố cũng phải ra đi. Đời ai chả chết một lần. Cứ vui vẻ làm ăn, lạc quan chữa bệnh bình thường. Nếu phải ra đi “vẫn chào thân ái…”. Cần giữ không khí gia đình thật bình thường.

Sáng Chủ Nhật 4/12 ngồi uống cà phê tại Quán Vườn ở Văn Cao cùng với vợ chồng nhà biên kịch, nhà báo Tô Hoàng Vũ (Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng, Tổng Biên tập Tạp chí Cửa Biển) cùng vài người bạn, tôi thấy tóc Tuyên đã thưa nhiều. Để lộ ra lớp sọ đầu cũng mai mái như nước da trên khuôn mặt. Tuyên đọc cho mọi nghe bài thơ “Đừng để vàng rơi”  mới sáng tác. Bài thơ buồn nhưng nhân hậu. Chân thật như lời nhắn nhủ. Là con người hãy thương lấy nhau. Thời gian một đi không trở lại. Những gì bong tróc gắng bả trát cho hoàn hảo. Tuyên có biểu hiện chạy đua với thời gian, viết thơ, bình thơ trước cả truyền hóa chất ở bệnh viện. Đêm ngày chợt nghĩ được tứ thơ nào mới là vội vàng ghi chép lại. Nghe xong bài thơ, cảm thức trong tôi nhoi nhói. Bài thơ khác nào câu nói của cổ nhân “con chim sắp chết cất tiếng kêu thương, con người sắp chết nói lời chân thật”. Lặng đi khá lâu, nửa cốc cà phê không ai nhấp môi. Phá tan bầu không khí nặng nề, nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ có một nhận xét làm mọi người giật mình “Có ông nhận được quyết định về hưu mà ốm cả tháng trời. Đang hoành tráng, bỗng xẹp lép như quả bóng bay, mảnh mai vóc hạc. Lại còn lạy lục xin ở lại làm cố vấn, bởi lo đàn em còn “non nớt”. Còn ông Tuyên nhà mình chấp nhận trọng bệnh vẫn thanh thản cười tươi. Lạ thật!”...

Nhìn đồng hồ đã 10h30’ mọi người giải tán. Tôi dắt xe định về, Tuyên khẩn khoản mời về nhà ăn cơm. “Ông có về cũng một mình một mâm, về ăn cơm với vợ chồng tôi cho vui. Vài tháng nữa muốn mời ông cũng không được”. Tôi bủn rủn vì câu nói ấy mà lặng lẽ đạp xe cùng Tuyên về nhà.

Vợ Tuyên vui lắm. Trong lúc chờ cơm chín, cả ba đều ngẫu nhiên bàn đến chuyện linh hồn, tâm linh, số phận. Tôi khoe: “Tạ Duy Anh vừa tặng tôi cuốn sách Những giấc mơ của tôi  mới xuất bản. Đọc vừa sợ, vừa tin, vừa hoài nghi”. Cái khối u của Tạ Duy Anh ở dạ dày cũng to 4cm. Đi Singapore kiểm tra rồi về. Trong những giấc mơ của Tạ Duy Anh, có người đến bắt đi thì bị các cụ tổ và mẹ gạt phắt. Cũng thuốc thang điều trị ở Việt Nam, mấy tháng sau đi kiểm tra, khối u teo lại bằng hạt đậu xanh. Các bác sĩ không tin ở mắt mình. Bây giờ trong bữa nhậu vui cũng cụng li được vài chén rượu mạnh.

Tuyên thì hoài nghi. Tôi thì cho là có. Theo ngu ý của tôi, tôi lập luận thế này: Ngày xưa trẻ con chơi trò Kim - Mộc - Thủy - Hoả - Thổ và các cụ cổ nhân lập luận cho rằng vạn vật sinh ra là do âm dương và ngũ hành. Tôi bảo là lục hành (tức 6 hành). Bởi vì các cụ cho rằng cái gì nhìn thấy, cầm được thì mới gọi là vật chất. Còn những gì không nhìn thấy, cầm được thì không cho là vật. Vạn vật sinh ra bởi 5 định dạng kia. Nhưng nếu không có khí thì có sống được không? Vậy khí là hành thứ 6. Ví như nấu quặng (kim) mà không cung cấp cưỡng bức khí (ôxi) thì quặng kia có thể chuyển hoá thành thể lỏng được không. Cây cối (mộc) không có khí có sống được không. Thủy (nước) không có khí ôxi và khí hiđrô có thành nước được không. Hỏa (lửa) ngọn nến để dưới đáy giếng cạn có cháy được không. Thổ (đất) không cày xới cho khí hoà tan vào đất liệu cây cối có sống được không. Người ta nhịn ăn, nhịn uống vài ngày chưa chết. Nhưng nhịn thở vài phút là tèo. Khí không nhìn thấy nên các cụ cho rằng vạn vật sinh ra bởi 5 hành. Cho nên bàn đến tâm linh tôi cho là có linh hồn. Có thể là dạng khí hoặc là gì thì không biết được. Tôi khẳng định là có linh hồn còn số phận thì cũng có. Giỏi như cụ Nguyễn Trãi chỉ làm thần. Tài như cụ Nguyễn Du vượt xa cả thơ của vua Tự Đức cũng chỉ là bậc công khanh. Dạy con cái hai triều vua, cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm thần cơ diệu toán khác nào Khổng Minh bên Tàu, mà cũng chỉ là bậc bề tôi của những triều đình thối nát. Nên tôi cho là có số phận. Sống, chết, giầu, nghèo, sang, hèn, công hầu, khanh tướng... là có số cả. Tuyên chỉ lên tường chỗ bàn làm việc hỏi: Tôi chụp bức ảnh kia để chuẩn bị cho ra đi đấy. Ông trông có được không... Tôi rời ghế ra ngắm... Buồn thật! Ông chu đáo quá!

Cơm dọn ra, Tuyên lấy chai rượu sâm rót cho mình tôi. Bữa cơm đạm bạc mà vợ chồng Tuyên vui. Tiễn tôi ra cổng, vợ Tuyên trầm tư “Cứ như anh nói thì em cũng tin là có linh hồn, có tâm linh và số phận”.

- “ừ, có đấy. Tôi về đây”.

Tuyên gọi với lại, tay xách can rượu hấp tấp đặt vào giỏ xe: “Đây là rượu ngâm con ngài đực của tằm. Tôi ngâm đã 6 năm từ hồi ông cụ mất. Tôi chưa uống, bây giờ không được uống, ông mang về giúp tôi. Bữa tối làm một chén. Tuyệt!”.

Vài chén rượu trong bữa cơm chừng như đã ngấm, tôi bô lô ba la. Khi đã ghếch một chân lên yên xe, tôi bá vai Tuyên “Này ông. Thi hào cuối cùng của đồng quê nước Nga S.Exenhin đã nói Trên đời này, chết là điều chẳng mới/ Nhưng sống, thực tình cũng chẳng mới gì hơn và cố thi sĩ Lê Đại Thanh của Hải Phòng có một câu xanh rờn Sống là nợ những gì vay mượn trước/ Chết là trở về với tinh thể sao trời và câu thơ Chuyến ga đời gửi lại vé quê hương đã ăn sâu vào tâm thức của không biết bao người. Mười năm trước ngày thơ Nguyên Tiêu, tôi đã đọc “Chôn dọc” rồi. Cái quán trọ của ga xép cuộc đời này người trước, kẻ sau thôi Ăn của đất uống của giời/ Chết là trả nợ một đời đã vay” mà ông”(*). Tôi về nhé. Tuyên bỗng víu vai tôi: “Tôi đã trả giá đau cho bệnh cả tin vào bè bạn, còn ông cẩn thận đấy”. Cả ba cùng cười. Nắng ngả chiều bóng chúng tôi đổ nghiêng trên mặt đường.

Và sau này dù thân xác đã tan vào với đất. Tôi tin rằng người đời sau sẽ còn nhớ đến Tuyên với bài thơ nổi tiếng của anh “Tìm lại chữ mình”: Ta đào bới nét chữ mình thời trẻ/ Trong vỏ kháng sinh chôn theo bạn cuối đồi/ Làn hương mỏng bồi hồi gọi hộ/ Sao chữ mình mà bạn mãi không “ơi” !!! (2)

Hơn hai mươi năm trời Thanh Tuyên có hai tập thơ in chung với chúng tôi và hai tập thơ in riêng “Tiếng vọng” (NXB Hội Nhà văn 2003) và “Nhịp thầm” (NXB Hội Nhà văn 2013). Anh đã được nhận 6 giải thưởng. Bài “Tiếng vọng được chọn in vào  tuyển tập “Nửa thế kỉ thơ”của Tạp chí Văn nghệ quân đội.

Nghe tin Thanh Tuyên trọng bệnh. Hầu hết bạn bè văn chương đều bàng hoàng xôn xao, xót xa tiếc cho Tuyên. Điện thoại và đến nhà thăm hỏi. Được mọi người thương yêu như thế. Là bởi ở Tuyên có nhân cách một nhà thơ. Một bác sỹ  như “Từ mẫu”. Và, hơn cả là nhân cách con người.

Cho dù ai khắt khe xét nét đến mấy, mang sợi tóc chẻ tư, tôi đủ tự tin nói rằng : Hai chữ “nhân cách”tôi viết về Tuyên không chút ân hận, nuối tiếc mảy may nào./.

Hải Phòng, ngày 9/12/2016

Phạm Xuân Trường

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)

 

 

Cầu Thượng Lỹ - Tranh Nguyễn Văn Trường

Cầu Thượng Lý - Tranh sơn khắc của Nguyễn Văn Trường

 

Chiến thắng Bạch Đằng - Tranh khắc gỗ của Đặng Hướng

 

Chân dung nhà thơ Nguyễn Viết Lãm - Tượng đồng của Khắc Nghi

 

Buổi trưa vắng - Sơn dầu của Đặng Tiến

 

Sông Cấm - Tranh của Sơn Trúc

 

Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Trung thu trên đảo - Tranh xé giấy của Vũ Đình Đạt

Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

 

Tranh của Lê Viết Sử

Carnaval Hải Phòng - Tranh Lê Viết Sử

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...