Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 22 khách Trực tuyến
Mối rung cảm từ hiện thực cuộc sống

Về một người mẹ, về một người con và dòng sông Trà Lý” là tập thơ của nhà thơ Kim Chuông (NXB Hội Nhà văn, tháng 2/2017). Với 54 bài thơ dài ngắn viết về hình ảnh cao đẹp, sự hy sinh thầm lặng, cao cả của người mẹ- người vợ- người lính từ quê hương đến chiến trường trận mạc. Là người từng mặc áo lính, làm phóng viên mặt trận ở một tờ báo Quân khu, bằng cảm rung chân thực, nhà thơ - người lính Kim Chuông đã truyền tới tâm hồn người đọc sống động hình ảnh “người mẹ”, “người lính”, “ người vợ” chịu nhiều hy sinh mất mát cho dân tộc ở một thời đánh giặc và dựng xây đất nước. Lời đề từ “Làng quê nào chả từ một dòng sông bồi đắp/ trái cây nào chả chín lên từ mao mạch đất” là điểm sáng của triết lý nhân sinh mà Kim Chuông muốn lấy đó làm cái trục, xoay quanh những gì về “con người”,“cuộc đời” trước nhiều mối liên quan ràng buộc.

Đi giữa thời chiến tranh, trận mạc, vì quê hương, đất nước, người “Mẹ thấy thân thể xẻ đôi/  Gửi vào người con tới những phương trời bừng bừng lửa cháy” Rồi, “Mẹ nối góc sân nhà với đất nước trăm miền qua những bước chân con”( Người mẹ). Phải nói, bằng những hình ảnh cô đọng, Kim Chuông đã khai thác tới tận đáy nỗi đau trái tim người mẹ, khi mẹ sẵn sàng tiễn những đứa con “ rứt ruột đẻ đau” gửi vào mặt trận với lý tưởng lớn lao là đánh giặc, bảo vệ quê hương, Tổ quốc trường tồn.

Xuyên suốt hình tượng “Người mẹ”, “Người con” là nghệ thuật tái tạo và sáng tạo những cảnh huống, những tâm trạng nỗi niềm, những nghĩ suy, chiêm nghiệm. Làm nổi bật giá trị phản ánh, với một phía là giá trị phát hiện, kiến giải mang chiều sâu, được kết tinh trong những câu thơ thật điển hình và gợi : “Với mẹ - Con không còn hoàn toàn là một đứa con riêng. Khi ngọn rau khoai lang mẹ hái ven đê sông Trà/ hạt lúa gieo trên đồng Dô, đồng Khuốc…cũng là của Việt Nam giành được/ thì chúng ta là những tế bào/ Đất nước - Con người là cơ thể lớn lao”( Người con). Với Người lính, người con trai, thì: “Đất nước có nỗi đau lâu dài nhất - Chiến tranh!/ Nên cuộc đời anh có mảnh đời chiến sĩ/ anh hy sinh một phần cơ thể/ lẽ đương nhiên là thế/ khi anh hiểu giá từng thước đất quê nhà đi qua tọa độ bom”. Bởi vậy mà “ Khẩu súng của anh tì vào hướng nào/ cũng giống như đang tựa vào sông Trà, tựa vào cây đa làng thân thuộc”( Độc thoại của một người thương binh về làng quê yêu dấu).

Có thể nói, bài thơ “Độc thoại của một người thương binh về làng quê yêu dấu” với bài thơ dài mang tên tập thơ, cùng trên 50 bài thơ khác được tập hợp, chọn lựa đã thực sự làm nên dòng chảy vọng vang và xoáy xiết, gây ấn tượng và ám ảnh khá mạnh về cuộc chiến anh dũng của dân tộc, về những người mẹ, người vợ, người lính, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của đất nước, quê hương “một thời đánh giặc”.

Bằng cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách khai thác khác nhau, mỗi bài thơ trước đề tài được tập trung, ngỡ như “bất biến”, nhưng Kim Chuông đã thể hiện khá thành công khả năng tung hoành, “văng xa” tạo nên sự phong phú, sinh động ở hiện thực rộng lớn, ở thi liệu, ở cảm xúc, ở “tứ thơ”, ở sức lay động, tạo nên vệt loang thấm chảy dài. Có thể nhìn khá rõ ở nhiều bài thơ hay, câu thơ hay, khi người viết đã điển hình hóa, khái quát hóa. Tác giả viết về một người vợ liệt sĩ dệt thảm dày xuất khẩu: “Tám ngàn nút mỗi ngày em buộc/ Đâu buổi chiều tin sét đánh – Người xa/ Ngàn tiếng nổ nén dồn trong nút buộc/ Ngàn chiến trường thương tích giữa hồn ta” (Bàn tay em buộc). Viết tặng “Mẹ Việt Nam anh hùng”: “Một đời thờ chồng/ Côi quạnh thời son/ Bốn nấm mộ trong lòng vùi sâu khuất/ Có người mẹ cả một đời là mất/ Chỉ cái còn nằm ở dáng quê hương”

Từ hình ảnh núi Voi nơi mảnh đất đi qua hai cuộc chiến: “Núi Voi đó đã hàng nghìn trận đánh/ Thật khó tin ở giữa động hang này/ Bóng người lính vời cao hơn núi/ Còn trường tồn trong tia nắng, chùm mây” (Núi Voi) đến mỗi mảnh đất, mỗi làng quê anh hùng :“Đây lối bến trông theo/ Những chuyến đò xuôi ngược/ Một thưở bao cuộc đời/ Còn chưa lên bờ được/ Còn bom vùi mười lượt/ Làng cháy trong tro tàn/ Mười mẹ già góa bụa/ Sông mười lần máu loang”

Trên cái nền của cuộc chiến tranh cách mạng, khi trực tiếp, thơ Kim Chuông viết nhiều về người lính, người thương binh, người anh hùng, liệt sĩ khi gián tiếp, khi tự sự hay có thể tìm một cách biểu cảm, đồng hiện nào khác. Những bài thơ với cảm rung chân thành, tâm huyết. Những câu thơ với những lấp lánh của chi tiết, ảnh hình, của sự bất ngờ trong phát hiện, kiến giải. Thơ vươn tới giá trị đích thực và hữu ích, tạo sự đồng cảm, sẻ chia trước tháng năm, đời sống, với cảm quan lớn, với xã hội - con người.

Đời người cầm bút, với gần 30 tập sách đã xuất bản, đây là tập thơ thứ 20 của nhà thơ Kim Chuông, tác phẩm vừa được trao giải Ba trong cuộc vận động 70 năm viết về đề tài Thương binh liệt sĩ do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng. Thêm một lần khẳng định thành công của Kim Chuông trên con đường lao động sáng tạo nghệ thuật./.

Cù Thị Thương

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)