Home Chân dung văn nghệ sĩ
Chân dung văn nghệ sỹ
Người lữ hành không mỏi qua những trang bút ký PDF. In Email
nha_van_nguyen_bac_son Tôi phải lòng Nguyễn Bắc Sơn nhờ tiểu thuyết Luật đời và cha con rồi đến Lửa đắng của anh. Cuốn sau đồ sộ hơn, già dặn hơn cuốn trước mà chỉ viết sau cuốn trước có một năm (tuy năm rưỡi sau, qua 7 nhà xuất bản từ Bắc vào Nam mới được in). Hình như không mấy người viết khỏe đến thế, và điều đáng nói là anh là người duy nhất trong 245 tác giả có hai tác phẩm vào chung khảo trong đó Lửa đắng được giải C cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 3 của Hội Nhà văn Việt Nam và cũng đang rục rịch làm phim truyền hình như cuốn trước.

Đến lúc anh tặng mấy quyển ký mới giật mình, hóa ra Nguyễn Bắc Sơn viết ký, có nhẽ còn hay hơn viết tiểu thuyết. Tám tập ký viết về đất và người cho thấy anh đã đặt chân lên khắp chốn cùng nơi. Đi đâu viết đấy. Viết đâu được đấy. Những việc chán vạn người viết rồi mà vẫn viết hay, vẫn có những phát hiện độc đáo. Tôi là người Hải Phòng đương nhiên là rất mê chọi trâu, đã đọc không biết bao nhiêu người viết về chọi trâu, nhưng không ai tìm hiểu ngọn nguồn lễ hội này, cũng không ai viết về trâu chọi sâu và kỹ như anh. Lại càng không ai gặp Chủ tịch thành phố Hải Phòng mà dám nói thẳng (đã đăng trên báo Du lịch) rằng Hải Phòng không biết làm du lịch, vì không biết khai thác thế mạnh của chọi trâu. Anh đã đề xuất giải pháp hoàn toàn khả thi, rất đúng quy luật phát triển cho chọi trâu: Từ điều lệ giải, đến việc chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa chọi trâu, để ai đến Việt Nam mà không xem chọi trâu thì cũng như đến Tây Ban Nha mà không xem đấu bò tót.

Tôi đã ra Quan Lạn (huyện đảo Vân Đồn) Quảng Ninh, nhưng đọc Lang thang với cảng Vân Đồn của anh mới biết vì sao ngày xưa Vân Đồn lại là nơi giao thương nhộn nhịp với nước ngoài như một đặc khu hành chính kiểu Hồng Kông. Chả thế thời nhà Lê có quy định: “Quan chức vô cớ đi riêng ra Vân Đồn thì xử đồ lưu. Người cáo giác được thưởng tước một tư. Người ở Vân Đồn chở hàng hóa Trung Quốc nhập vào Vân Đồn phải được cấp bằng (phép), đi qua các trạm đều phải trình báo, lúc về cũng phải trình báo. Nếu không “đều bị xử biếm một tư, phạt 100 quan tiền. Người tố giác được thưởng một phần ba số tiền đó”. Rằng “Tháng 9 năm Giáp Dần (1434) hai quan lại là Lê Dao và Nguyễn Tông Tư đã bị bãi chức vì việc mua bán và đổi chác gian lận với khách buôn nước Trảo Oa (Đảo Gia va, Indonesia) ở Vân Đồn”. Ông luận giải vì sao nó tàn lụi. Đó là một bài khảo cứu lịch sử, một cuộc khảo sát thuộc địa mà cũng là bút ký về Vân Đồn đương đại đã đọc không thể không muốn đến tận nơi chiêm nghiệm.

Là người cũng ham đi, ham chơi khi đọc cả trăm bài anh viết về các địa danh trong nước và ngoài nước, nhất là Trung Quốc, đều là những nơi mình đã đi qua mới thấy tiếc hùi hụi. Giá mình được đọc anh trước khi đến đó. Ngay cả những chỗ đã đi hàng chục lần như Tam Đảo cũng vẫn phải nể phục sự hiểu biết, óc quan sát và trí tò mò của anh, theo đúng cẩm nang của người viết: Đọc, đi, nghĩ, viết. Nhờ anh tôi mới biết cách tiêu thổ kháng chiến ở Tam Đảo, mới biết cây ổi cổ thụ chỗ nhà Rông bây giờ, chính là do Bác Hồ trồng khi Người đến thăm nhà trẻ của chuyên gia Liên Xô ở đây. Đến Củ Chi đất thép không thấy ai giải thích Củ Chi nghĩa đen là gì, mặc dù ai cũng biết câu đối nói lái về nó: Cô du kích chỉ cu hỏi củ chi... Chỉ khi đọc Nguyễn Bắc Sơn mới biết đó là tên một cây thuốc nam thuộc họ mã tiền, có tác dụng chữa vết thương tụ máu. Nguyễn Bắc Sơn đã từng trả lời trên ti vi, sở dĩ mình trở thành nhà văn vì cái tính tò mò, cố hữu là vì thế. Nhiều người viết về thủy điện Sơn La, anh cũng viết về sự hoành tráng của công trình thế kỷ này nhưng không ai tìm ra nguyên mẫu em bé Mường La trong một ca khúc thời kháng chiến chống Pháp. Ngồi với anh em văn nghệ sĩ tỉnh, trong đó có ông nhạc sĩ Phó Chủ tịch Hội vậy mà ai cũng ngạc nhiên vì chưa bao giờ được nghe một bài hát thời chống Pháp về đúng quê hương mình khi anh cất tiếng: Quyết chiến thắng quân thù, giết hết lũ tham ô cùng thi đua mau tiến lên đường phản công...

Chắc không mấy người có những trang bút ký làm ta phải rưng rưng nước mắt như Nguyễn Bắc Sơn. Anh viết về mảnh đất Quảng Trị trộn biết bao xương máu đạn bom, về những người mẹ ngoài Bắc đi tay không về tay không vì không tìm thấy hài cốt con làm ta rưng rưng đã đành (Tiếng bìm bịp bên thành cổ Quảng Trị). Viết về những người đã đổ mồ hôi sôi nước mắt và cả xương máu trong suốt 24 năm để xây dựng nhà máy thủy điện Hòa Bình mà cũng làm ta rưng rưng thì quả là lạ (Sông Đà, nước mắt trời, nước mắt người).
Nhiều bút ký trường thiên của tác giả về đất rất hay, nhưng theo tôi, hai bút ký về sông Hồng và cầu Long Biên là một đỉnh cao trong mặt bằng bút ký đương đại. Nói vậy không phải vì tổng kết cuộc thi dài nhất trong lịch sử nước ta 10 năm (2001 - 2011) “Cả nước viết về Thăng Long - Hà Nội” do báo Hà Nội mới tổ chức, có rất nhiều nhà văn chuyên nghiệp tham gia, Nguyễn Bắc Sơn đã đoạt tới 4 giải, chiếm ngôi vị đầu bảng gồm 2 giải Nhất, 1 giải Nhì, 1 giải Khuyến khích trong đó có bút ký Hà Nội có cầu Long Biên (bút ký này còn được giải Ba viết về giao thông vận tải do Bộ Giao thông vận tải và Hội Nhà văn Việt Nam  tổ chức). Không phải vì dịp Thăng Long ngàn tuổi trong bộ ký và tản văn từ xưa đến nay có cả hai thiên bút ký ấy. Trong 2 cuốn khác là Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long, Cây đa ngàn tuổi và ba đứa trẻ, mỗi cuốn in một thiên. Ông còn viết hàng chục bút ký, tùy bút về Hà Nội, đến mức nhà văn Hoàng Minh Tường khi viết về ông đã gọi ông là một nhà Hà Nội học.
Có đọc bút ký Nguyễn Bắc Sơn mới biết vốn sống, sự đọc của ông thế nào. Cứ như ông đã từng lần mò từ cửa Ba Lạt (Nam Định) ngược Sông Hồng đi mãi lên qua 556km trên đất Việt Nam, lại vượt 609km trên đất Trung Quốc đến tận dãy Nguy Sơn (1776m) ở cao nguyên Vân Nam. Ông miêu tả những cuộc úp cá chép vật đẻ trên mạn ngược đến việc vớt cá bột dưới xuôi ngay trên đất Hà Nội, cảnh những người phụ nữ cứ đuồn đưỡn cái lưng, ngay người ra, lấy hết gân cốt lừng lững, lầm lũi đi trên những tấm ván cầu chênh vênh với thúng cát đội trên đầu, như những đàn kiến cần mẫn theo những lối mòn ngoằn ngoèo trên thân đê. Ông tả những “bà Nữ Oa” ngày ngày đội cát ấy đến nỗi bàn chân cứ bạnh ra, ngón chân cứ tòe ra, người thẳng đơ như cái cột nhà, mất hết cả cái dáng thon thả thắt đáy lưng ong... ông gọi sông Hồng là Sông đời của lam lũ vất vả nhọc nhằn. Ông tả những con thuyền căng buồm chạy vát ngược sông, khi lặng gió thì người trên bờ dòng dây qua vai kéo, người dưới thuyền chống sào vào vai đi trên mui thuyền ngược từ phía đuôi lên mũi... và những cuộc huyết chiến trên sông trong những cuộc chống ngoại xâm phương Bắc, phương Tây. Nhà văn Ma Văn Kháng đã nhận xét rất đúng về ông: Có cảm tưởng nhà văn là một tác giả bách khoa. Đọc bút ký này tôi gọi ông là Hà bá sông Hồng.
Khả năng quan sát và vốn hiểu biết của ông về cầu Long Biên thật đáng nể trọng. Vốn hiểu biết từ đào bới trong sử sách thì nhiều người có, nhưng vốn hiểu biết thực tế thì khó ai được như ông. Nhờ ông tôi mới biết, hơn trăm năm trước bãi giữa sông Hồng, dưới gầm cầu này có hẳn một nghĩa địa chôn cất những người thợ cầu xấu số trong mấy năm thi công. Không tài liệu nào của người Pháp nói về chuyện này. Chỉ có lân la trò chuyện với các bô lão ở xã Trung Hà mấy chục năm trước (khi chưa giải tỏa di dời sang quận Long Biên bây giờ) mới biết điều ấy. Lại cũng không mấy người biết khi cầu Long Biên còn là duy nhất, trên cầu không chỉ có thợ sắt, thợ sơn duy tu bảo dưỡng mà còn có một đội thợ... rèn, một đội thợ... mộc làm việc. Cũng không ai nói tới việc còn tai hại cho cây cầu hơn cả nước mưa cưa trời là nước tiểu, phân người từ trên tàu hỏa xả xuống các dầm ngang. Mãi đến lúc nghĩ ra được cách làm “mái” tôn ốp che lên trên thì hệ giầm này đã bị gỉ ăn sâu nham nhở, nhiều cái phải ốp hai tấm thép hai bên để gia cố. Cũng không mấy ai biết chuyện khi bị bom Mỹ đánh gục mấy nhịp ta đã làm cầu cáp cho xe ô tô đi tạm, và người lái  chiếc xe thử nghiệm đã bị cầu lắc ngang văng cả người lẫn xe xuống sông thế nào.

Bút ký về đất, về việc của Nguyễn Bắc Sơn khiến tôi kinh ngạc về vốn hiểu biết về lịch sử và đời sống nhưng vấn thấm đẫm tính nhân văn về những thân phận con người. Nó hấp dẫn, lôi cuốn làm tôi đọc say sưa như khám phá lại những miền đất lạ, tưởng đã rất quen mà vẫn chưa biết đến tận cùng. Chẳng hạn ông có hẳn một cuốn sách với những hiểu biết hết sức kỹ càng về lao động đặc thù của những người phi công, điều khiển không lưu, thợ máy, tiếp viên, sân bãi (Đi mây về gió). Bút ký của ông tràn đầy những trang tươi rói sống động, đằm thắm tình đất, tình người cho ta thấy một người lữ hành mải miết đi, mải miết khám phá, mải miết viết làm tôi thấy thẹn vì sự lười biếng của mình.
Nhà văn Nguyễn Bắc Sơn bắt đầu sự nghiệp văn chương từ những bài báo, bút ký rồi mới thành danh với tiểu thuyết. Đến lúc nhà tiểu thuyết viết ký chân dung về người mới thấy hết đẳng cấp của cây bút ký này. Ông phát hiện ra nhiều con người dung dị, bình thường nhưng rất đỗi phi thường. Lần đầu tiên ở Côn Đảo có hai người ruột thịt cùng bị lưu đầy: Hai chị em ruột Thiều Thị Tạo và Thiều Thị Tân. Chị 19, em mới 16. Ông đã bỏ tiền túi ra Côn Đảo (vì vợ ông bảo chưa ra Côn Đảo thì... chưa là gì), lần tìm bằng được một xà lim, trên tường sát bệ nằm có một hàng chữ viết bằng tiếng Pháp: “Còn đế quốc Mỹ thì ta còn chiến đấu. Tân + Tạo ra đảo ngày 29/11/1969”.
Ông viết về chị Nguyễn Thu Thảo (sinh năm 1978) trưởng quỹ Cựu chiến binh Mỹ tại Hà Nội, người đã đóng góp không nhỏ cho việc hàn gắn và phát triển mối quan hệ Việt - Mỹ. Và nếu không có sự năng động và những mối quan hệ cá nhân của chị thì không tài nào đưa được một chiếc máy bay y tế chuyên dụng từ Thụy Sĩ bay sang Hà Nội chở Giáo sư Papert về Mỹ. (Ông là người Mỹ gốc Nam Phi, một trong những nhà toán học hàng đầu thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, sang Việt Nam dự Hội nghị toán học do Trường đại học Bách Khoa Hà Nội tổ chức. Ông đi theo đúng làn đường dành cho người đi bộ lúc đèn xanh mà vẫn bị xe máy đâm gây chấn thương sọ não, bị hôn mê sâu). Ông viết về hai ông cháu, người già nhất, người trẻ nhất cùng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ là cụ Hoàng Đạo Thúy và đại tá Lưu Anh Tuấn, viết về thiếu tướng Nguyễn Chuông, thiếu tướng Lê Thế Trung, về nhà văn Hòa Vang, nhà thơ Bế Kiến Quốc v.v...

Có những người nổi tiếng đã có không biết bao nhiêu người viết, vậy mà Nguyễn Bắc Sơn vẫn viết rất hay, có những phát hiện riêng gây ấn tượng làm người đọc đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Nhờ ông tôi mới hiểu cuộc sống đời thường của Xuân Diệu thời tem phiếu thế nào, mới biết nhà thơ lấy vợ ra sao và khi ông mất người vợ ấy đã dâng vòng hoa kết hình một chiếc lá với triệu triệu bông hồng trắng và băng tang “vô cùng thương tiếc anh” đến viếng.
Ông kể với tôi hôm đi cùng nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên và mấy nhà báo Sài Gòn ra thăm nhà thơ Hữu Loan, ngoài lời chào hỏi, ông không nói một câu, không hỏi một lời, không ghi âm Hữu Loan đọc thuộc lòng Màu tím hoa sim, hoa lúa đãi khách. Cũng không ghi chép gì, mặc cho các bạn hỏi han, trò chuyện, trêu chòng ông già móm mém, chỉ lặng lẽ ngồi nghe, lặng lẽ nhìn, lặng lẽ ngắm nhà thơ và lặng lẽ ...khóc. Vì ông cũng chẳng định viết lách gì. Vậy mà về, càng nghĩ càng ngấm, càng không cầm lòng được. Phải viết như một lời tạ ơn, một lời chia sẻ đăng đến 5 kỳ báo Tiền Phong Chủ nhật. Tôi đoán chắc chưa một ai thấu hiểu Hữu Loan đến thế, chưa ai viết sâu về Hữu Loan đến thế. Nhà thơ Phạm Xuân Trường - cây lục bát tài hoa ở Hải Phòng và cả tôi vừa đọc, vừa khóc. Nhà văn Nguyễn Khắc Phê thì xui “Viết thành tiểu thuyết được đấy Nguyễn  Bắc Sơn ạ”.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một chân dung nữa khẳng định văn tài cây bút ký này. Chưa bao giờ được trò chuyện, được bắt tay, mới chỉ một lần được một giờ bên Đại tướng, chỉ hai lần nói chuyện với thầy giáo dạy mình thời sinh viên, là Giáo sư Đặng Bích Hà phu nhân Đại tướng, vậy mà anh viết được một thiên bút ký nổi tiếng (đăng liền 3 kỳ trên báo Tiền Phong đúng vào dịp Đại tướng vào tuổi 100) được dư luận, cả trong giới quân nhân cao tuổi từng được gần gụi Đại tướng đánh giá cao. Ông quyết làm bằng được việc này: Những gì của Đại tướng phải trả lại cho Đại tướng. Tác giả đã kỳ công lần tìm lại tư liệu từ các chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp. Có chiến dịch thành công nhiều, thành công ít, thậm chí có 3 chiến dịch không thành công, 1 chiến dịch thất bại và 1 chiến dịch bỏ dở không đánh tiếp và dừng lại rất kỹ ở chiến dịch Điện Biên Phủ, điểm quyết chiến chiến lược của cuộc kháng chiến chống Pháp và sau đó là đại thắng mùa Xuân năm 1975, để khẳng định vai trò cá nhân của thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp. Nếu Đại tướng không cân nhắc thận trọng, suy xét toàn diện, phải vượt qua được chính mình “để đưa ra quyết định khó khăn nhất trong đời chỉ huy quân sự của mình” là lùi ngày nổ súng lại 1 tháng rưỡi và thay đổi phương châm, từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc tiến chắc thì không có chiến thắng Điện Biên Phủ.

Tác giả còn chứng minh rằng lịch sử kháng chiến Việt Nam có nhiều lần lặp lại. Ba lần đánh thắng quân Nguyên đều nhờ cùng một cách đánh là dùng trận địa cọc và cùng một địa điểm là sông Bạch Đằng. Điện Biên Phủ và đại thắng mùa Xuân 1975 cùng diễn ra đúng 55 ngày, cùng vào mùa Đông Xuân, cùng một vị Tổng tư lệnh chỉ huy.
Bây giờ làm gì người ta cũng xem ngày, tác giả chứng minh rằng cả ngày dự kiến nổ súng và ngày nổ súng thật ở ĐBP đều là ngày lẻ theo âm lịch (lịch vạn niên 1910 – 2030) còn trong 55 ngày (tính từ 7/3, diệt cứ điểm Chư Sê, bắt đầu hình thành chiến lược bao vây chia cắt cô lập Buôn Ma Thuột đến ngày 30/04/1975) đối với Đại tướng thì không có ngày nào là ngày xấu. Nếu chuẩn bị tốt thì ngày nào cũng là ngày tốt. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, thời gian là lực lượng, thế mới có mệnh lệnh lịch sử: Thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa... Những nét chấm phá chân dung đời thường mà tác giả quan sát được về Đại tướng, những giai thoại về
vị tướng huyền thoại mới thú vị làm sao, nhiều chi tiết nhỏ nhặt, những câu nói hóm hỉnh của Đại tướng đã làm nên chân dung một thiên tài quân sự Việt Nam và thế giới.

Nếu tôi nói Nguyễn Bắc Sơn là một nhà văn lớn, có lẽ không nên. Việc đó để thời gian đánh giá. Nhưng quả thật ông có những thiên bút ký đặc sắc, xúc động người đọc. Các bạn sẽ đồng ý với tôi khi đọc 2 cuốn “Người trong tôi” và “Gót thời gian”, cùng ra với một tuyển truyện ngắn mà báo Tiền Phong đã giật tít: Nhà văn Nguyễn Bắc Sơn sinh 3.

Nguyễn Bắc Sơn người lữ hành không mỏi mang trái tim Đanko rực cháy nặng tình trọn nghĩa với nhân dân, đất nước bằng những trang bút kí sâu sắc tuyệt vời của mình…Tin rằng anh sẽ có nhiều tác phẩm hay hơn nữa để đáp ứng sự kì vọng của bạn bè và người đọc cả nước.

Nguyễn Long
 
Đoàn Lê - Một nữ sĩ đa tài PDF. In Email
doan_le_1 Nghe danh, biết tiếng chị Đoàn Lê đã hơn một thập niên nay nhưng tôi chưa có dịp may nào được hầu chuyện riêng cùng chị, bởi dù đã về hưu nhưng chị lúc nào cũng bận. Chị bận viết truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim. Chị bận vẽ tranh, làm đạo diễn, đi thực tế, dự  trại sáng tác nơi này nơi kia. Có khi chị nhận lời mời của một tổ chức hay bạn bè ở nước ngoài, du ngoạn một chuyến dài dài vài ba tháng mới trở về cố hương.

Mấy năm lại đây chị lãnh thêm cái chức Giám đốc Trung tâm Văn hóa nghệ thuật thành phố Cảng, tập hợp anh chị em văn nghệ sĩ tâm huyết yêu nghề, tự lo kinh phí làm một vài bộ phim do chính mình vừa biên kịch vừa đạo diễn. Công việc cứ cuốn chị đi như thế, tôi chẳng có cơ hội nào gặp gỡ, tìm hiểu cuộc hành trình hiến thân cho văn chương nghệ thuật của chị, một người, một tên tuổi mà tôi hằng ngưỡng mộ. Hẹn mãi, đợi mãi đến một buổi sáng giữa Thu
năm con Mèo này tôi cũng hạnh ngộ được ngồi đối ẩm, “ phỏng vấn” chị tại nhà riêng tọa trong khu vườn nhỏ rợp bóng cây và rộn tiếng chim nơi xóm núi Đồ Sơn.

Nhớ lần đầu tiên gặp chị, nom vóc dáng mảnh mai sang trọng, nghe  thanh điệu nói cười nhẹ mềm lịch lãm của chị, tôi cứ ngỡ chị là người Hà Nội. Một người Hà Nội gốc, cấm cung lâu ngày nơi lầu son gác tía nay về xứ biển để hóng gió, đón nắng cho tươi nhuận con người. Nhưng sau thì tôi biết mình đã nhầm. Chị không phải là dân Hà Thành nhàn tản đi đến chốn thanh tĩnh trong lành để kiếm liều thuốc trường sinh bất lão, mà chị trở về sống, làm việc ở Hải Phòng nơi chị sinh ra, lớn lên và xa biệt từ ngày tuổi mới hoa niên.

Đoàn Lê là con gái một cụ đồ nho đất Cảng. Gia đình có nghề thuốc gia truyền. Cụ đồ có ý hướng cho cô con gái yêu thông thái nối nghiệp nhà. Nhưng khi ấy cô hoa khôi phố biển Đoàn Lê đang thì mộng mơ bay nhảy nên không vâng theo ý phụ thân, mà thi vào học Khoa Điện ảnh, Trường Sân khấu Điện ảnh Hà Nội.

Sau vài năm rèn nghiệp, ra trường Đoàn Lê được điều về Hãng Phim truyện Việt Nam. Những ngày đầu làm diễn viên ở Hãng phim, chị có tham gia đóng một vài vai, rồi lấy chồng, sinh con, bận bịu và cũng thấy mình không hợp với nghề diễn viên nên xin chuyển sang thiết kế mỹ thuật, vẽ cảnh giả. Làm công việc này nhiều khi chị phải buộc dây vào người treo mình trên giàn dáo cao, cầm panhxô để vẽ mây trời. Lao động vất vả cực nhọc như một phu hồ như vậy nhưng chị vẫn dành thời gian đi học hội họa. Quyền năng của người họa sỹ được cầm cọ thả hồn mình phiêu du biến hóa cùng màu sắc, hình khối, đường nét, sáng tối huyền ảo luôn rủ rê, mê hoặc chị. Sư phụ truyền nghề cho chị ngày đó là hai danh họa Dương Bích Liên và Bùi Xuân Phái. Hai người thày lớn và vô cùng khả kính ấy hết lòng nâng đỡ, chỉ dẫn cho cô trò nhỏ say nghề. Niềm đam mê hội họa của các ông đã ngấm thấm vào tâm thức chị, được chị giữ gìn ủ cất trong tâm hồn cho đến tận tháng năm này, để mỗi lúc buông bút rời bàn viết chị lại cầm cọ vẽ tranh. Chị đã vẽ được hàng trăm bức tranh sơn dầu khổ lớn. Tranh của chị đủ triển lãm riêng mấy cuộc và  góp mặt trưng bày cùng các họa sỹ khác ở các Galery sang trọng ở Hải Phòng và Hà Nội. Những họa phẩm của chị mang đến cho người chiêm ngưỡng niềm xúc cảm tươi mới, cùng rất nhiều ngẫm ngợi bởi vẻ đẹp tao nhã, đằm thắm và cả hút cuốn mê hoặc của nó nữa.

Tình yêu của Đoàn Lê dành cho hội họa và thành công của những bức tranh kia mới chỉ là một phần trong mối tình lớn và trong gia tài sáng tạo phong phú mà chị đã dâng hiến cho văn học nghệ thuật những năm tháng đã qua của đời mình.

Từ ngày đang còn là một nữ sinh lớp chín Trường cấp ba Phan Chu Trinh ở Hải Phòng, Đoàn Lê đã có thơ đăng báo. Năm mười tám tuổi, Đoàn Lê viết bài thơ Bói hoa được bạn yêu thơ hồ hởi đón nhận. Thi phẩm Bói hoa đến  giờ vẫn còn nhiều người đọc nhắc nhớ.

Sau “dư ba của Bói hoa” năm 1959, Đoàn Lê chuyển sang viết văn xuôi. Và thật bất ngờ ngay từ các truyện ngắn đầu tiên: Đôi mắt hoa nhài, Trương Viên, Cây xoan non của Đoàn Lê đã lần lượt được in trên hai tờ báo danh tiếng: Văn nghệ và Đại đoàn kết. Thành công này giúp chị có thêm tự tin dấn bước vào nghề văn nghiệp chữ.

Bước sang những năm bảy mươi, tám mươi, Đoàn Lê lại thử sức viết kịch bản phim truyện. Và lần này Đoàn Lê không chỉ thành công mà còn thành danh là một biên kịch vững tay với những phim: Bình minh xôn xao, Cha và con, Làng Vũ Đại ngày ấy nổi tiếng một thời.

Trong cuộc đời lao động văn học nghệ thuật, Đoàn Lê là người không chịu ngồi yên, không bằng lòng ngắm nhấm hả hê với cái mình đã có. Chị luôn tự  “hành mình”, chấp nhận đối mặt với nhọc nhằn thành bại, tìm mọi cách khai mở địa hạt, loại thể mình chưa từng kinh qua để sáng tạo, mong góp được chút ít ích lợi nào đó cho cuộc đời, và cho mỗi phận người mà chị hết lòng yêu quý. Chị làm thơ, làm diễn viên, chị làm thiết kế mỹ thuật điện ảnh, chị vẽ tranh, làm biên kịch, làm đạo diễn rồi cầm bút viết văn, luôn chung thủy với lý tưởng này và bù lại, dường như ở lĩnh vực nào Đoàn Lê cũng giành được ít nhiều thành công nhất là văn xuôi.

Sau gần hai mươi năm có chùm truyện ngắn xuất hiện trên văn đàn, năm 1988 Đoàn Lê mới lại công bố thiên tiểu thuyết đầu tay Cuốn gia phả để lại. Khoảng thời gian lặng lẽ này đã giúp chị có thêm trải nghiệm và vốn sống để thai nghén xây dựng nên một tác phẩm dài hơi theo ý mình. Và cũng chính cái sự chậm chắc, không vội vàng sinh non, nở ép đó đã đem lại vinh quang cho chị. Tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng; một giải thưởng văn chương danh giá mà mỗi người cầm bút yêu nghề đều mơ ước.

Thành công của tiểu thuyết này là một cú hích thúc giục Đoàn Lê hăm hở lao vào tác thành các tác phẩm mới. Không lâu sau là những tiểu thuyết Người đẹp và đức vua 1991; Thành hoàng làng xổ số, tập truyện ngắn 1992; Lão già tâm thần, tiểu thuyết1993 lần lượt ra đời.
Đoàn Lê  có sức làm việc rất đáng nể. Cùng một lúc chị có thể làm nhiều công việc khác nhau mà không bị sự ôm đam chi phối. Nhiều lúc tôi đã toan hỏi chị có bí quyết nào chăng mà một người thân hình mảnh như cây dương, cây liễu, ngày ngày phải đối mặt trước cả một đống công việc vẽ tranh, biên kịch, đạo diễn phim, điều hành Trung tâm Văn hóa nghệ thuật, trí lực, cảm xúc tiêu hao luôn ở mức “ quá tải” là thế mà chị vẫn hoàn thành ngon lành tất tật là nghĩa làm sao? Là tôi mới định, chứ biết chắc chị chẳng trả lời. Mà nếu trả lời, chị cũng cười trừ mà nói: “ Mình chẳng có bí quyết, bí kíp siêu đẳng gì đâu mà cứ mê thích cái gì là làm tới thôi chú ạ”.
Trong vài lần gặp chị Đoàn Lê vồi vội, thường khi tôi khen chị, cũng chỉ  thấy chị cười rồi nói lảng sang chuyện khác. Nhưng lần mục sở thị cùng với cật vấn này tôi nhẩm tính và quyết làm phép thống kê về chị trong mười năm đầu qua thiên kỷ này chị đã kịp “ thích” rồi kịp viết được đến bốn tập truyện ngắn: Nghĩa địa xóm Chùa, Trinh tiết xóm Chùa, Người khách đêm giao thừa, Và Sex, cộng lại có dư cả một ngàn trang, chưa nói tập tiểu thuyết Tiền định mới in năm 2010 ba bốn trăm trang nữa thì thật đáng phục vô cùng.
Chị Đoàn Lê chưa phải là nhà văn thuộc hàng kiện tướng viết nhiều, in nhiều trong làng văn Việt, nhưng tôi nghĩ chị là một người may mắn gặt hái được nhiều niềm vui trong các nhà văn đương đại thời đổi mới. Bởi cứ mỗi lần chị có thêm một tác phẩm đến với bạn đọc là y như rằng người ta không chỉ hào hứng đón nhận mà còn nhớ luôn, mến luôn tác giả nữa.
Tiểu thuyết là một phần thành công trong nhiều thành công khác trong sự nghiệp lao động văn học nghệ thuật “ đa năng” của Đoàn Lê, nhưng phải đến khi những thiên truyện ngắn, những tập truyện ngắn đặc sắc của chị xuất hiện trên văn đàn mới mang lại niềm vinh quang hạnh phúc nhất trong đời văn của chị. Truyện ngắn đã dựng khắc, xác lập đẳng cấp tên tuổi văn chương của Đoàn Lê. Đoàn Lê được nhiều người biết đến là một người đa tài, đa danh nhưng hơn hết sáng tác văn chương và chỉ danh xưng Nhà văn mới là tiêu biểu nhất, mới là cách suy tôn, xướng gọi đúng nhất về chị. Đó cũng là sự đánh giá xứng đáng giá trị nghệ thuật của các tác phẩm văn chương mà Đoàn Lê đã cống hiến cho văn học.

Truyện ngắn là một thể loại mà Đoàn Lê  từng tiên lượng, yêu thích từ lâu. Có lần chị tâm sự: “Tôi đặc biệt rất thích viết truyện ngắn. Chỉ những gì không thể viết ngắn được thì tôi đành chịu. Truyện ngắn là sự tinh lọc của ngôn ngữ nên đòi hỏi phải công phu, không thể đùa được. Khi viết tôi quan tâm đến số phận con người…Cái kết trong truyện ngắn là cực kỳ quan trọng, nếu bỏ nó đi coi như truyện không còn nữa. Còn như đón nhận của người đọc với tác phẩm thì bao giờ cũng là điều bí ẩn, ít ra là đối với tôi”. (Theo Dũng Nguyên: Có một Đoàn Lê, Báo Phụ nữ Hà Nội, số ngày 27- 7- 1991).

Nhưng có lẽ ngoài cái tài văn chương như trời đất đã mặc định vào Đoàn Lê, tôi mạo muội hẳn chị còn có mối nhân duyên với truyện ngắn nữa chăng? Tôi nghĩ vậy là vì khi đọc các truyện ngắn Trinh tiết xóm Chùa (Giải thưởng Báo Văn nghệ) cùng loạt truyện cũng về xóm Chùa: Người đẹp xóm Chùa, Giường đôi xóm Chùa, Nghĩa địa xóm Chùa tôi thấy chị viết “ rất nhàn”. Chị viết cứ như không, cứ như câu chuyện cuộc đời, sự vật, thân phận con người- nhân vật nó vốn thế, chị chẳng cần sáng tác hư cấu gì. Nhưng sau khi đọc xong truyện rồi gấp sách lại thì các chi tiết, ngữ cảnh, nhân vật từ các trang chữ ấy bỗng hiện lên thành hồn cốt, tinh vía, nó  ám ảnh người ta mãi. Nó như gió, như nước, hư thực, hữu hình, vô ảnh cuốn người ta, mê hoặc người ta khôn cưỡng lại sự cười, buồn, thương, xót xa rồi mở mắt ra mà thức ngộ, mà nhận chân cuộc sống.

Thường nhật, nom dung nhan nhà văn Đoàn Lê thật dịu dàng, tươi hiền, nhưng văn chị thì khoát hoạt, hài hước, hóm hỉnh, ám ảnh cuốn hút đến mức ma diệu. Chẳng trách sách chị viết ra không chỉ được phát hành tơi tới ở trong nước mà còn được các dịch giả chuyển ngữ “ xuất khẩu”“ ra tận nước ngoài.

Nắng giữa trưa mùa Thu vàng như mật ong, lọc qua các tán lá cây vườn xanh xùm xòa quanh ngôi nhà xinh xắn của chị Đoàn Lê như nhắc tôi trời đã vào độ trưa rồi. Tôi xin phép chị  ra về thì  em gái chị - nhà thơ Đoàn Thị Tảo từ đâu về rổn rảng thêm câu chuyện nên chưa thể nào cáo biệt.

Đoàn Thị Tảo là người đã viết bài thơ Cho một ngày sinh tặng chị gái Đoàn Lê của mình. Và bài thơ đó cũng là phần lời của bài hát Chị tôi do nhạc sĩ Trọng Đài phổ nhạc.

Tôi không biết hát mà chỉ nhớ ca từ và giai điệu tha thiết yêu thương ắp đầy xúc động của bài hát ấy thôi. Thế là chị ơi… Rụng bông hoa gạo… Ô hay, trời không nín gió cho ngày chị sinh…Ngày chị sinh trời cho làm  thơ…Cho nết buồn vui bốn mùa trăn trở…

Tôi nhẩm nhớ bài hát Chị tôi rồi nhìn chị Đoàn Lê và bỗng nhiên tôi tự hỏi tôi rồi lại tự đáp lời mình: Chị Đoàn Lê đúng là nhân vật được vận vào những ca từ của bài hát ấy? Thế nên chị mới có số sắp đặt của ông Giời. Và ông Giời đã dõi giúp, trợ lực thì chắc chắn cái danh tài văn chương nghệ thuật của chị mới được như nay và sẽ còn là sáng láng đầy cơi thêm nữa./.   
Kiến An, Ngày lập đông năm 2011
Vũ Quốc Văn
 
Tết của nhà văn Nguyên Hồng PDF. In Email
Hơn hai phần ba thế kỷ đã trôi qua kể từ khi ông nội tôi- nhà văn Nguyên Hồng và các văn nghệ sỹ cùng thời: Nhà văn  Ngô Tất Tố,  nhà văn Kim Lân, hoạ sỹ Tạ thúc Bình,  hoạ sỹ Trần Văn Cẩn, nhạc sỹ Đỗ Nhuận về ấp Đồi Cháy  (nay là xóm Cầu Đen, xã Quang Tiến, huyện Tân Yên) sinh cư lập ấp.  Ông tôi cùng các văn nghệ sỹ lão làng ấy giờ chẳng còn ai. Mỗi dịp Tết, về thăm bố mẹ, được sống trong nếp nhà  cũ,  dạo quanh mảnh vườn rợp bóng cây cổ thụ, bách bộ qua cây cầu nhỏ vắt qua con suối quanh co để ra thắp hương trên mộ ông bà nội, những ký ức thiêng liêng về quê quán, ông bà, cha mẹ lại trỗi dậy trong tôi.

Vốn quanh năm nghèo khó, túng thiếu, nhưng tết đến, bao giờ ông tôi cũng cố gắng lo toan, chuẩn bị cho gia đình có cái tết tươm tất hơn ngày thường. Bố tôi kể, trong số vợ các văn nghệ sỹ sống quây quần ở ấp Đồi Cháy, chỉ có bà Kim Lân biết đi xe đạp, còn lại các bà đều chỉ biết “đi bộ”.  Thế nên, ngày thường, nhất là ngày tTết, ông nội tôi thường đạp chiếc xe “cún” nhỏ xíu, thấp tè của Liên Xô ra chợ Nhã Nam cách nhà mấy cây số mua sắm đủ thứ cho gia đình. Khi về, bao giờ xe của ông  cũng chằng buộc lỉnh kỉnh đủ thứ, nào gạo, dầu, mắm muối, thịt thà, hoa quả, su hào, bắp cải, rau lang,...Bố mẹ tôi ở cùng ông bà nội, song bận con mọn và công việc cơ quan năm nào cũng sát 30 tết mới được nghỉ nên ông nội tôi thường dành phần đi chợ để mua sắm tết cho cả nhà. Lo lắng, chăm sóc cho mọi người từng li từng tí - vừa là bản tính, vừa là thú vui của ông tôi. Không chỉ thích đi chợ tết, ông nội tôi thường cho cả vợ con và các cháu cùng đi chơi chợ Tết. Với ông tôi, đi chợ tết không chỉ để mua sắm mà còn để ngắm  nhìn hàng hoá, cảnh vật, mọi người chào hỏi, mời mọc, cười nói, mặc cả, chen chân mua bán, rồi vội vã ra về.
Nhà văn Nguyên Hồng (thứ hai từ phải sang) cùng gia đình tiếp bạn văn quốc tế
tại nhà riêng ở ấp Cầu Đen (tỉnh Bắc Giang) năm 1971
Có lẽ không khí tết quê đông vui,  náo nhiệt đều tập trung ở phiên chợ áp tết. Sau khi đã  mua sắm đủ đồ tết cho nhà, bao giờ, ông tôi cũng phải ghé vào hàng lòng lợn, tiết canh điểm tâm món “khoái khẩu” quen thuộc cùng vài chén rượu quê. Vừa ăn, uống, ông tôi vừa thích thú ngắm nhìn, lắng nghe không khí tết. Sự ồn ào náo nhiệt, bề bộn của tết quê cùng những nét mặt phấn chấn, lo toan của đủ hạng người là cảm hứng cho những trang viết của ông tôi. Bà chủ quán đã quá quen với ông lão nhà quê xuề xoà, giản dị nên bao giờ cũng chọn cho ông tôi chỗ ngồi thích hợp và lựa cỗ lòng còn nóng hổi, cắt những miếng ngon nhất để đãi ông khách đặc biệt. Vừa nhâm nhi món ăn dân dã, ông tôi vừa vồn vã trò chuyện, hỏi thăm những người xung quanh. Chút thời gian hiếm hoi cho riêng mình giữa chợ quê ngày tết, với ông tôi có lẽ là khoảnh khắc tết hạnh phúc nhất.

Những cái tết của văn nghệ sỹ nghèo tươm tất hơn ngày thường bởi có bánh chưng, thịt gà, thịt lợn. Ngày đó, thường mấy nhà đụng nhau một con lợn nuôi thả rông ăn cám, nước gạo, rau lang, bèo, rong rêu, cả năm mới được bốn năm chục cân. Chia ra mỗi nhà một suất được chừng chục cân đủ cả thịt nạc, thịt mỡ, xương,... Riêng cỗ lòng để đánh tiết canh và nấu cháo, mỗi nhà một người tham gia thịt lợn tập trung lại một nơi cùng ăn bữa tất niên. Quanh năm đói kém, thiếu thốn, đó là bữa ăn tết ngon nhất của người dân quê.  Vừa ăn uống mọi người vừa hỏi thăm nhau xem năm nay ăn tết có to không, con cháu, người thân đi bộ đội, học tập, làm ăn xa đã kịp về ăn tết chưa,... Tết quê nghèo nhưng thật đầm ấm, tình nghĩa. Suất thịt đụng ấy, các gia đình đem về gói bánh chưng, áp chảo, gói giò, xương ninh măng,... Để có củi  luộc bánh chưng và đun nấu trong mấy ngày tết, năm nào ông nội và bố tôi cũng phải hì hụi cuốc, đào những gộc tre già, gốc bạch đàn, xoan  trong vườn, rồi phơi khô trước đó hàng tháng để dành. Nhà tôi thường gói bánh vào hai tám, hai chín tết. Năm nào cô út  học đại học ở Hà Nội được nghỉ tết cũng về  cùng bố mẹ tôi rửa lá, gói bánh và đêm giao thừa thức trông bánh chưng được luộc trong một chiếc nồi quân dụng to. Tôi loanh quanh ra vào xem nồi bánh sôi sùng sục, khói toả nghi ngút, mùi bánh chưng thơm lừng. Thỉnh thoảng tôi lại đút thêm củi vào rồi thích thú nhìn những gộc tre, gốc bạch đàn cháy đỏ rực, nổ lách tách khiến không gian những ngày cuối đông giá buốt trên đỉnh quả đồi hoang cằn thông thốc gió ấm áp hẳn lên.

Ngày tết ông tôi rất quan tâm trang trí ban thờ. Đi chợ tết, ông tôi thường mua mấy cành bồng bồng, quả bưởi, nải chuối, mấy túm quất và ít hoa tươi về cắm. Riêng hoa đào, hoa mận vườn nhà tôi trồng rất nhiều, toàn đào phai, ông tôi xin giống ở khắp nơi về trồng. Ông nội tôi tự hào về vườn đào của  mình và thường ví  khu vườn nhà mình như “Đào gia trang”.  Trong ký ức tuổi thơ tôi, còn  in đậm hình ảnh khu vườn xanh mát đủ thứ cây nào khế, me, mít, bòng, ổi, nhãn, những cây đào phai, những cây mận hoa trắng muốt đua nhau khoe sắc mỗi độ xuân về.  Ông tôi thường tự tay chọn những cành đào phai đẹp nhất cắt cắm trong chiếc độc bình hoặc chiếc non đất bày trên ban thờ ngày tết bên hai lọ bồng bồng xanh ngắt khiến ban thờ sang hẳn lên.
Các bác, các cô tôi lập gia đình ở xa nhưng ngày tết đều về thăm bố mẹ và ăn tết cùng ông bà nội. Bữa cơm sum họp đại gia đình con cháu tíu tít thật đông vui. Ông tôi thường mừng tuổi cụ nội- người cao tuổi nhất trong nhà và các cháu. Ngày thường ông ăn mặc xuề xoà, giản dị  với bộ quần áo nâu như những lão nông. Gấu quần ông tôi hay xắn hoặc kẹp lại cho tiện đi xe đạp, nhưng ngày tết thi thoảng ông cũng “diện” bộ veston sờn cũ đi chúc tết quanh xóm. Ông tôi thường đến chúc tết ông Văn, ông Mai- là những bạn tâm giao và là thầy dạy các con mình cùng các cụ cao tuổi trong xóm. Mặc dù gia cảnh rất khó khăn song dịp tết, ông nội tôi hay đem tiền biếu những gia đình nghèo khó và mừng tuổi các cụ cao niên và trẻ con trong xóm. Có hoa quả, bánh kẹo ông hay gọi cho bọn trẻ trong xóm nên đứa trẻ nào cũng rất quý mến, nhìn thấy ông từ xa chúng đã gọi ầm ĩ, chào hỏi. Tính ông tôi xởi lởi, dễ gần, thương quý mọi người nên đi đến đâu cũng được mọi người quý mến.

Ngày tết, các bạn văn chương hay về thăm và chúc tết ông bà tôi. Các nhà văn Kim Lân, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi tết thường về chơi và ở lại nhà tôi một hai ngày. Thể nào ông nội tôi  cũng lại rủ mọi người ra chợ Nhã Nam hay lên vùng đồi Yên Thế để thăm thú cảnh vật, con người và thưởng thức món lòng lợn, tiết canh quen thuộc. Nhà tôi hay nuôi gà và chim bồ câu để cải thiện và đãi khách quý. Bữa cơm thường lai rai vài tiếng, ông tôi và các bạn văn trò chuyện, đàm đạo văn thơ, đọc cho nhau nghe  những áng văn, thơ hay. Trước bữa cơm ông tôi thường kê sẵn chăn gối quanh chiếu, để khi say các khách quý có thể ngả lưng ngon giấc luôn tại chỗ.

Dẫu bận mọn, song ngày tết, ông nội tôi vẫn duy trì thói quen khai bút đầu xuân. Ông thường kê chiếc bàn gỗ nhỏ trước khung cửa sổ tre trong gian nhà ngang thấp tè, tường trình đắp bằng đất sét trộn rơm rạ. Trước bàn viết  là nậm rượu nhỏ và chiếc chén hạt mít.  Ông ngồi đăm chiêu suy nghĩ, mắt dõi ra khu vườn sum xuê cây trái, lảnh lót tiếng chim trời và cảm nhận cái se sắt của đất trời vào xuân. Ông tôi thích thú nhìn những lộc non mơn man khắp những vạt đồi hoang cằn mỗi ngày chật thêm những nóc nhà, xanh thêm những đồi bãi ven suối. Vừa trầm ngâm suy nghĩ, tay ông vừa vuốt ve cho phẳng phiu những trang bản thảo được tận dụng từ những hoá đơn tem phiếu, giấy nháp của con cháu. Từ những tờ giấy mỏng tang, màu xám xịt, xù xì ấy, bao tác phẩm đã  ra đời như: Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu, Sóng gầm, Thời kỳ đen tối, Khi đứa con ra đời, Núi rừng Yên Thế, Chuyện ở xóm cửa rừng,... Xuề xoà, đơn giản trong ăn uống, sinh hoạt, nhưng trước các trang viết bao giờ ông tôi cũng chuẩn bị rất cẩn thận với thái độ trân trọng, thành kính với nghề văn như một tín đồ trước Chúa.  Biết tính ông vậy nên khi ông tôi ngồi viết, mọi người trong gia đình đều biết ý không quấy rầy ông, để ông yên tĩnh làm việc. Khi gặp các bạn văn chương tâm giao, ông tôi dễ cao hứng đọc cho nghe những bài thơ, đoạn văn vừa sáng tác. Có khi ông vừa cười nói vui vẻ với mọi người, đã lại khóc rưng rức ngay được khi ông đọc đến đoạn văn, thơ cảm động hay chứng kiến những sự việc đau lòng.

Chỉ thư thả, sum vầy cùng con cháu được mấy ngày tết, sau đó, ông tôi lại tất bật trên những chặng đường lê thê từ Bắc Giang về Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh,.. trên chiếc xe cún Liên Xô cũ để làm việc, gặp gỡ giao lưu với bạn bè, thăm con cháu, người thân và tìm tư liệu, gặp gỡ các nhân vật để viết. Điều ông tôi đau đáu nhất là mong viết trả món nợ tinh thần lớn lao với mảnh đất và con người  Tân Yên, Yên Thế- quê hương thứ hai đã cưu mang đùm bọc ông và cả đại gia đình trong  những năm tháng gian khó trong kháng chiến chống Pháp và hoà bình lập lại. Ông tôi đã đọc và cất công sưu tầm rất  nhiều tư liệu và tìm gặp những nhân chứng, vật chứng còn sót lại của vị anh hùng áo nâu, chân đất Đề Thám cùng  nghĩa quân Yên Thế để viết bộ tiểu thuyết Núi rừng Yên Thế. Tập một của bộ tiểu thuyết lịch sử này đã hoàn thành và ông tôi đang chuẩn bị viết tập hai. Mặc dù mới đang thai nghén tác phẩm, song ông rất tâm đắc với đứa con tinh thần này và tin rằng sau khi hoàn thành tác phẩm sẽ rất hấp dẫn. Mọi người sẽ được biết về một vị lãnh tụ nông dân tài ba nông dân Yên Thế vừa đánh giặc, vừa cày cuốc làm ruộng, vừa chiêu binh, luyện võ và sống với những người nông dân chân lấm tay bùn tình nghĩa thế nào.

Vậy mà cuộc đời ngắn  ngủi đã không cho phép ông tôi hoàn thành được tác phẩm đầy tâm huyết ấy và bao dự định khác. Tất cả trở thành dang dở khi ông tôi đột ngột ra đi ở tuổi 64 vào một trưa hè oi nồng, khi ông đang giúp vợ con nhào đất, trít trát lại chuồng gà bị lũ chuột quái quỷ đào khoét vào bắt gà nhà. Với sự giúp đỡ của tỉnh Hà Bắc, tập một của tiểu thuyết Núi rừng Yên Thế đã được in ra mắt bạn đọc. Sau này, nhiều bạn văn chương, độc giả về thăm nhà tôi và di cảo của ông hay thắc mắc: Tại  sao trong số con cháu của ông không có ai theo nghiệp văn chương và giúp ông viết nốt cuốn tiểu thuyết Núi rừng Yên Thế.  Quả vậy, trong số con cháu của ông nội tôi mỗi người một nghiệp,  chưa ai thực sự theo nghiệp văn chương, song hầu hết mọi người đều rất yêu thích văn chương, quý trọng sách vở như: bác Hà (bác cả đã mất), bố tôi, chú Sơn, cô Thư, cô Nhã, cô Thế, cô Diệu,...Tôi nhớ, bố tôi có lần đã trả lời một khách văn chương câu hỏi: Tại sao anh không giúp cụ nhà viết tiếp Núi rừng Yên Thế, rằng: Nếu cố gắng có thể tôi cũng viết được tác phẩm, song tôi tôn trọng bố mình. Vì chỉ khi chính cụ viết ra đó mới là sản phẩm tinh thần của cụ, còn với bất cứ ai đặt bút viết tiếp sẽ trở thành tác phẩm khác mất rồi.Vậy chăng cứ để tác phẩm dang dở lại hay, cũng như cuộc đời này có bao giờ hoàn thiện?!

Thấm thoắt đã hai chục năm rồi tôi không được ăn tết cùng ông nội. Ông tôi mất năm 1982. Mỗi dịp tết về thăm bố mẹ, thăm quê nội, tôi thường thắp mấy nén hương lên ban thờ gia tiên và thầm cầu mong ông, bà phù hộ độ trì cho tôi và người thân. Nhìn ánh mắt hiền từ, thăm thẳm của ông bà nội toạ trên ban thờ nghi ngút hương hoa, ngoài kia là khu vườn cổ thụ  sum xuê những cây khế, me, mít, ổi do chính ông bà trồng,...tất cả gợi cho tôi cảm giác gần gụi, thân thiết vô cùng, như thể ông bà vừa mới xa tôi hay vẫn phảng phất quanh đâu đó. Lòng tôi bỗng nhẹ nhõm, thanh thản vô cùng. Mọi lo toan, buồn phiền của năm cũ như tan biến, chỉ còn những người thân, tình cảm gia đình thiêng liêng và hương vị tết quê đầm ấm ngự trị trong lòng./.

Nguyễn Hải Yến
(Bắc Giang)
 
Phó Giáo sư, Họa sĩ Vũ Giáng Hương - một tấm gương PDF. In Email

vu_giang_huong

Phó Giáo sư, họa sĩ (PGS, HS) Vũ Giáng Hương đã từ biệt những người thân và các văn nghệ sĩ, họa sĩ đồng nghiệp cả nước để về với tiên tổ ngày 20/8/2011.

Họa sĩ Vũ Giáng Hương từng giữ các chức vụ: Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam, Phó Hiệu trưởng Đại học Mỹ thuật Việt Nam... Nhưng từ một năm nay, họa sĩ chỉ giữ lại cho mình cái danh vị Phó giáo sư, họa sĩ và cảm thấy thoải mái được trở lại cầm bút vẽ.

Điều dễ nhận thấy là dù khi còn hay thôi làm “quan”, họa sĩ luôn nhận được sự tín nhiệm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và sự tôn vinh của giới văn học nghệ thuật.

Lễ tang của họa sĩ được tổ chức theo nghi thức dành cho cán bộ cấp cao của Nhà nước. Chủ lễ là Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, các nhân vật VIP của Đảng và Nhà nước đến viếng: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, ủy viên Bộ Chính trị , Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc... hoặc gửi vòng hoa viếng: Nguyên các Tổng Bí thư Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Những người làm văn nghệ cả nước thường gọi PGS, HS Vũ Giáng Hương bằng cái tên ngắn gọn và thân mật: Cô Hương.

Trong những dòng người xếp hàng dài đến viếng cô Hương gần như có đủ các văn nghệ sĩ của trung ương, của Hà Nội và nhiều tỉnh thành phố. Ai cũng bàng hoàng, sững sờ, đau thắt vì mới hôm qua..., hôm kia thôi... cô còn chuyện trò, còn hẹn về thăm phòng tranh nơi này, đến với trại sáng tác nơi kia và còn bao dự định sẽ làm sau khi thôi công việc quản lý văn nghệ.

 

trien_lam_xuan_nhi

PGS, HS Vũ Giáng Hương phát biểu chào mừng Triển lãm của hoạ sĩ Lương Xuân Nhị năm 2011

 

Với các họa sĩ khu vực đồng bằng sông Hồng và các văn nghệ sĩ đất Cảng, lẽ ra cô đã đến dự khai mạc và trao giải thưởng Triển lãm Mỹ thuật đồng bằng sông Hồng. Nhưng cô đã vội ra đi 8 ngày trước đó (3 giờ 30 ngày 20/8). Trong ngày khai mạc Triển lãm, các họa sĩ 9 tỉnh, thành phố đồng bằng sông Hồng và đông đảo người yêu mỹ thuật thành phố Hoa phượng đỏ đã dành một phút mặc niệm để tỏ lòng thương tiếc PGS,HS Vũ Giáng Hương.

Sinh ra trong một gia đình trí thức, có cha là nhà văn Vũ Ngọc Phan (tác giả của 2 bộ sách lớn Nhà văn hiện đại 5 tập vàTục ngữ ca dao, dân ca Việt Nam 1000 trang), mẹ là nhà thơ Hằng Phương. Vũ Giáng Hương là con gái trưởng, cả 7 chị em đều là giáo sư, tiến sĩ chuyên gia hàng đầu nhiều ngành khoa học, trong đó GS, VS Vũ Tuyên Hoàng là Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, được Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật. Người chồng của cô là GS, TS Lê Cao Đài, anh hùng lực lượng vũ trang.

Tốt nghiệp khoá I (1957 - 1962) Trường Mỹ thuật Việt Nam, cô được giữ lại trường và cũng các sinh viên đi thực tế sáng tác tại tuyến lửa khu 4.

Trong những năm sống và làm việc tại các binh trại trên tuyến đường Trường Sơn, cô đã hoàn thành nhiều ký họa với các chất liệu khác nhau, phản ánh chân thực cuộc chiến gian khổ hy sinh nhưng cũng đầy chất lạc quan, cách mạng của những người lính vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước qua các tác phẩm: Bếp lửa Trường Sơn, Tổ thông tin Trường Sơn, Dốc núi Trường Sơn...

buoi_sang_tren_bien

Buổi sáng trên bờ biển - Tranh khắc gỗ: Vũ Giáng Hương


Trong nghề, cô là người tận tâm, tận lực và có nhiều thành công ở cả mảng tranh lụa, đồ họa, khắc gỗ với các tác phẩm: Bếp lửa rừng chiều, Em gái người Thái, Đánh cá về, Chùa Thầy, Cầu Hàm Rồng, Bến phà đêm v.v... Ghi nhận những thành công đó, cô Hương được nhận giải thưởng của các Triển lãm mỹ thuật toàn quốc, đặc biệt cô là một trong ba nữ họa sĩ được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt 1 (năm 2011).

Cùng với thời gian, ngoài công việc sáng tác, Cô Hương còn đảm nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một nhà giáo, của người quản lý, lãnh đạo Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, của Hội Mỹ thuật Việt Nam và Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam. Cô đã góp phần đào tạo nhiều lớp họa sĩ  và bồi dưỡng nhiều lứa cán bộ quản lý nghệ thuật trẻ, mà nay họ đã trưởng thành và đang giữ vai trò chủ chốt của nền mỹ thuật nước nhà từ trung ương đến các địa phương.

PGS, HS Vũ Giáng Hương là tấm gương về nhân cách và sự đam mê, tận tụy vì nghề của một nhà giáo, một nghệ sĩ và một nhà quản lý nghệ thuật.

Cô Hương như vẫn còn đây trên cõi đời này./.

Tô Hoàng Vũ

 
Làm chú rể ở tuổi 80 PDF. In Email

Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm sinh năm 1919, là một trong hai nhà thơ cao niên nhất Hội Nhà văn Việt Nam hiện nay với tuổi 92 (Nguyễn Xuân Sanh 90 tuổi).

Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm sinh tại Quảng Ngãi, quê gốc của ông là Dạ Lê - Hương Thuỷ - Thừa Thiên Huế, hiện ông ở nhà số 41/63 ngõ 36 Vạn Mỹ - TP Hải Phòng. Từng tham gia hoạt động văn hoá, văn nghệ, cách mạng ở Quảng Ngãi, đến năm 1954 ông tập kết ra Bắc. Từ năm 1957-1960 ông là Chánh Văn phòng Hội Nhà văn Việt Nam, Biên tập viên tạp chí Văn nghệ. Năm 1962, ông chuyển về Hải Phòng tham gia thành lập và được bầu làm Phó Thư ký Chi hội Văn nghệ thành phố (năm 1964) và định cư ở thành phố Cảng cho đến nay. Nhà thơ đã xuất bản 19 tập sách, trong đó 11 tập thơ. Nhiều tác phẩm nổi tiếng thế giới ông đều dịch qua tiếng Pháp như: Truyện cổ Anđecxen, Thơ Aragông, Thơ Tago...

 

Cuộc đời của nhà thơ Nguyễn Viết Lãm vui là vậy, song cũng có cái buồn - từ cái buồn mất người vợ thứ nhất để nhà thơ của chúng ta “bắt buộc” làm chú rể ở tuổi 80. Lần ấy Nguyễn Viết Lãm vận bộ comlê chững chạc, có phần trẻ lại vài tuổi khi trao nhẫn cưới cho cô dâu ở tuổi 65 - ấy là bà Phan Thị Đoan Trang, một tiến sĩ  khảo cổ học quê ở Nha Trang (Khánh Hoà). Cuộc hôn nhân này là do mai mối của người con trưởng là Nguyễn Viết Duệ. Anh Duệ chơi thân với Nguyễn Anh Thái con trai bà Trang. Năm 1996, anh Duệ cho Thái biết, bà Trí mẹ anh ốm nặng. Từ Nha Trang, bà Trang ra thăm bà Trí, tại bệnh viện K Hà Nội. Bà Trí có con là bạn của con mình là một lẽ, còn một lẽ khác nữa, bà Trí vốn là cô nuôi dạy trẻ ở trường miền Nam số 6 Hà Đông, nơi những năm 60 bà Trang từng đến trường này dạy học và gửi con ở đó. Bà Trang ly hôn chồng từ năm 1991. Khi bà Trí mất, bà Trang gửi thư ra Hải Phòng chia buồn với nhà thơ Nguyễn Viết Lãm, nhà thơ phúc đáp cảm ơn bà Trang. Cuối năm 1998, Nguyễn Viết Lãm vào thăm con trai ở Nha Trang. Từ đó, qua thư từ hai người chuyển sang làm thơ tặng nhau.

 

Từ giao lưu bằng thư - đến thơ - rồi đến hôn nhân. Nhà thơ đã ở tuổi 80, lúc này như hồi xuân, cảm xúc dâng trào, ông làm bài thơ “Giờ thiền” rồi dịch sang tiếng Pháp cho bà Trang đọc: Giờ hẹn đến rồi!/ Ta nhập thiền, thầm gọi tên nhau.../ Tiếng gọi của tình yêu, cách cảm thần giao/ Vòng sóng vô hình nối hai đầu thương nhớ.

Ông đau khổ, thông cảm, chia sẻ những lo toan vất vả của bà trước đây: Chỉ một phần đời em kể anh nghe/ Đủ cho anh những phút giây kinh ngạc./ Sao có thể như thế được/ Hàng núi đau thương đổ xuống vai em...

Và như trên đã nói, Nguyễn Viết Lãm đã tục huyền với tiến sĩ Đoan Trang vào năm 1999, khi “chàng” ở tuổi 80 và “nàng” ở tuổi 65.

Hơn 10 năm nay, ông bà sống bên nhau cùng nhau làm thơ, riêng bà còn sáng tác cả nhạc. Lúc nào bà cũng gần ông như hình với bóng, chăm sóc sức khoẻ cho ông là mục tiêu, trách nhiệm số 1, ngoài ra bà còn gom nhặt bản thảo của ông để lưu giữ, sử dụng khi cần thiết. Cả hai vừa là tình yêu vừa là số phận. Trong một bài thơ bà viết về ông có câu: Lòng vui náo nức như thuở nhỏ/ Em tựa vai anh quên tuổi già.

Chắc hiếm có mối tình nào tuổi càng cao sống càng đẹp, đẹp cả tình duyên và tình đời, tình thơ như thi sĩ Nguyễn Viết Lãm và tiến sĩ Đoan Trang./.

 

Lê Hồng Thiện

(Hưng Yên)

 

 
«Bắt đầuLùi1234Tiếp theoCuối»

Trang 1 của 4
 

Video

Liên kết

bao_hp

 

cung_vntt_thanh_nien_hp
dang_cong_san_vn
thanh_pho_hp

 

Số người online

Hiện có 1 khách Trực tuyến
mod_vvisit_counterHôm nay94
mod_vvisit_counterHôm qua110
mod_vvisit_counterTrong tuần94
mod_vvisit_counterTrong tháng589
mod_vvisit_counterBạn là lượt truy cập44101