|
Hồi còn học cấp 3, ấy là vào năm 1973. Những hôm được nghỉ, lũ choai choai chúng tôi rủ nhau sang rạp Lê Văn Tám xếp hàng mua vé xem phim. Dạo ấy, có được vé xem phim buổi tối là rất oách - nhất là rạp lại đang công chiếu phim: “Ruồi trâu” … Giá vé chỉ hai hào rưỡi, lại còn được xem 25 phút phim tài liệu chiến tranh: “Hải Phòng 16 tháng 4”.
Khán giả khi đó rất hào hứng với điện ảnh, nhất là với phim Việt Nam. Các địa danh quen thuộc xuất hiện trên màn ảnh là họ reo lên: “Ơ! Quán hoa này…”, “Ơ! Đường Cầu Đất đấy!...” tiếng đế của khán giả xen lẫn tiếng thuyết minh khiến cho không khí của rạp sôi nổi hẳn lên, nhưng có lúc tôi còn nghe được cả tiếng tích tắc đồng hồ của người ngồi bên cạnh. Đó là lúc những hình ảnh: Nhà máy Xi Măng hố bom chồng lên hố bom, cảnh bộ đội pháo cao xạ dũng cảm bắn máy bay Mỹ… Rồi cảnh các chú bộ đội lái ca nô rà phá thủy lôi ở cửa sông.
Tự hào, rất tự hào. Đó là cảm giác chung của chúng tôi mà mãi sau này tôi mới được biết, tác giả của những thước phim đó là người Hải Phòng. Đó là đạo diễn, nhà quay phim Bùi Viên.
Con ngõ nhỏ ở phố Cấm, nhỏ như không còn nhỏ hơn được nữa, nơi dẫn vào nhà ông- một căn nhà cấp 4, bài trí giản dị nhưng ngăn nắp. Cái mà ta cảm nhận đầu tiên là chữ “Tâm” được treo trang trọng trên tường; Gọi là đại tự thì không phải, là bức tranh cũng không, vì nó không có khung. Thôi, gọi là gì thì tùy - nhưng theo tôi: Nghệ sĩ Bùi Viên rất coi trọng chữ “Tâm”.
Bùi Viên sinh ra trong một gia đình công chức tại xóm thợ Lạc Viên - con đường mà bây giờ ta gọi là ngõ Lạc Xuân Đài, ngày xưa có một rạp hát tọa lạc. Cùng với những người anh em là Lạc Mộng Đài( trụ sở Đoàn Cải lương hiện nay) và Trần Mỹ Ngọc (trụ sở Đoàn Múa rối). Ngay từ nhỏ, Bùi Viên thường cùng các bạn trốn vào xem các nghệ sĩ biểu diễn… Những tích tuồng như: “Lã Bố hý Điêu Thuyền”; “Quan Công vượt cửa ải chém bảy tướng”… khiến cậu bé quên ăn, quên ngủ. Sự say mê thái quá ấy đôi khi khiến cậu bị cha mẹ mắng mỏ… Đó là ngọn lửa đầu đời cho tình yêu sân khấu và điện ảnh của ông sau này.
Toàn quốc kháng chiến, cậu cùng gia đình tản cư về quê ở xã Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam- nơi tìm thấy chiếc trống đồng đầu tiên của Việt Nam. Người già của làng kể lại: Trong lần đào mương khơi thông dòng chảy, cụ Bùi Văn Lợi( ông nội Bùi Viên) là người tìm thấy, cụ đã cùng mọi người khiêng về đặt ở đình làng. Chiếc trống đó hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam với tên gọi Trống đồng Ngọc Lũ.
Năm 1948, mới 13 tuổi, theo chân hai người anh, Bùi Viên tình nguyện vào bộ đội - Trung đoàn 48, đoàn Thăng Long. Ba năm sau được gửi đi học trường Thiếu sinh quân Việt Nam. Sau này, nhiều học viên cùng khóa với ông đã giữ những cương vị cao trong quân đội cũng như trong chính phủ. Tháng 10 năm 1954, ông được cử đi học Trường Cao đẳng Ngôn ngữ ở Mátxcơva (Liên Xô ). Năm 1958, tốt nghiệp về nước, ông công tác tại Vụ Nghệ thuật – Bộ Văn hóa.
Lúc này, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta của đế quốc Mỹ ngày càng lộ rõ. Bộ máy tuyên truyền chống phá miền Bắc của chế độ Ngô Đình Diệm đang ở đỉnh cao. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã cho xây dựng một trạm truyền thanh với hàng trăm loa công suất lớn ở bờ Bắc sông Bến Hải, với trung tâm truyền tin tại thị trấn Hồ Xá. Hàng ngày người dân Vĩnh Linh thường thấy những chiếc xe Commăngca bịt kín đi đi lại lại- trong đó có ông, với cương vị là phiên dịch cho trưởng đoàn Grokop. Hai tháng sau, người dân Hồ Xá rất hào hứng khi nghe thấy tiếng nói của đồng bào miền Bắc phát sang bờ Nam để nhân dân phía Nam sông Bến Hải nghe và hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng và sự đổi mới của miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Cũng năm đó, Bộ Văn hóa Liên Xô cử đạo diễn Vaxiliep sang Việt Nam dàn dựng một vở kịch nói cho Đoàn Kịch nói Trung ương (nay là Nhà Hát kịch Việt Nam). Sau khi làm việc, hai bên thống nhất chọn vở “Lưu Ba” tác giả Trinhiép. Đây là một bước ngoặt mang tính lịch sử của sân khấu Việt Nam, bởi lẽ miền Bắc vừa thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Sân khấu nước nhà đã có những bước phát triển với những tên tuổi như: Thế Lữ, Vi Huyền Đắc, Nguyễn Đình Thi, Chu Ngọc, Lê Đại Thanh… nhưng chưa có một hệ thống lý luận cơ bản. Các diễn viên chưa được đào tạo chính quy. Đây là dịp để diễn viên chúng ta học hỏi thực tế, tiếp cận phương pháp biểu diễn hiện thực tâm lí xã hội chủ nghĩa của Xtanilapxiky- thông qua đạo diễn Vaxilyep.
Bùi Viên được phân công dịch kịch bản “Lưu Ba” sang tiếng Việt. Thế là những ai thường uống cà phê ở số 19 đường Huyền Trân Công chúa (Hà Nội) được chứng kiến ngày ngày một chàng thanh niên cao lêu nghêu ôm chiếc cặp da căng phồng cà phê thì gọi một cốc, nhưng ngồi hí hoáy ghi ghi chép chép từ sáng đến trưa rồi đến chiều, thậm chí cả tối nữa. Chủ quán có hôm còn phải đi mua hộ lúc thì cái bánh mỳ pate, lúc thì nắm xôi bắp nếp. Cứ thế, chỉ trong một tuần, bản dịch kịch bản “Lưu Ba” trực tiếp từ tiếng Nga hoàn thành. Sau đó ông còn kiêm luôn vai trò phiên dịch giữa đạo diễn Liên Xô với diễn viên Việt Nam.
Đến nay vở kịch “Lưu Ba” vẫn được xem là một vở diễn mẫu mực của dàn kịch mục Nhà hát Kịch Việt Nam, cũng như của sân khấu cả nước.
Tháng 8 năm 1959 ông chuyển công tác về Trường Điện ảnh Việt Nam. ở đây, cánh cửa nghệ thuật đã mở rộng để ông được thỏa sức học hỏi, sáng tạo. Nó đáp ứng đúng khát vọng mà tuổi thơ ông ao ước.
Ông kể: “Vào một chiều Thu, ông cùng đạo diễn Đỗ Thụy đi lang thang trên đường Thanh Niên… chuyện thì nhiều, nhưng tựu trung vẫn là cái Tâm của anh làm nghệ thuật như thế nào? Nhất là người làm điện ảnh. Cứ thế, cho đến khi họ chợt nhận ra, thì trời đã sang canh tự lúc nào…
Bỗng Đỗ Thụy nói: “Ông Viên ơi, từ hồi nào đến giờ mình cứ ngồi quay mặt ra đường nói chuyện đấy à!”
ừ nhỉ! Bùi Viên trả lời: Sao cái anh công viên lại quay ghế ra đường mà không quay ra phía mặt hồ nhỉ? Ngồi tâm sự với người yêu mà nhìn ra hồ thì nên thơ biết bao. Này, có khi tôi với ông xoay ghế lại đi.
Và thế là hai ông hì hục khiêng tất cả những chiếc ghế bằng bê tông quay ra mặt hồ. Xong việc thì trời đã sáng, để cho những hạt nắng tự do nhảy múa trên dải lụa vàng vắt ngang mặt nước. Câu thơ xưa: “ Nhịp chày Yên Thế, mặt gương Tây Hồ” như từ trong sâu thẳm tâm hồn họ chợt rung lên ngân mãi… ngân mãi.
Năm 1964, ông học lớp đạo diễn phim tài liệu . Tốt nghiệp, được giữ lại trường làm giảng viên.
Năm 1970, Bùi Viên được phân công về đội quay phim thuộc Sở Văn hóa Thông tin Hải Phòng.
Bà Dung vợ ông kể : Tiếng là về Hải Phòng, nhưng ông ấy đi suốt ngày. Một mình chị, vừa đi làm vừa phải chăm sóc hai cháu nhỏ. Gia đình khó khăn chị còn nhận len về đan áo để có thêm tiền rau, mắm… Đúng thế, sống đạm bạc nhưng luôn tin yêu cuộc sống là suy nghĩ chung của tất cả mọi người trong thời điểm ấy.
Còn ông, hễ có còi báo động là ông lại vác máy quay phim (cùng Hữu Luyện) có mặt ở những điểm nóng nhất của thành phố. Một lần, ông đặt máy quay tại trận địa pháo cao xạ bảo vệ Sở Dầu (nay là Công ty Xăng dầu khu vực III). 9 giờ sáng, từng đàn máy bay Mỹ điên cuồng lao vào bắn phá – bom rơi, đạn nổ bốn xung quanh. Lúc báo yên, bỏ mũ ra mới nhìn thấy chiếc mũ sắt của mình bị một mảnh bom xé thủng một miếng. Hú vía ! ông nói : “Sao cái ngày ấy mình hăng thế. Không coi cái chết là gì!”.
Trong đời cầm máy, giây phút hạnh phúc nhất của ông là gì? Tôi hỏi. Ông đáp: “Đấy! Chính cái hôm mình ghi được hình ảnh một chiếc F4 lao xuống cắt bom. Từng quả bom đen trùi trũi rơi xuống nhà máy Xi Măng , khi hắn vừa ngóc đầu lên bị ngay đạn pháo cao xạ của trận địa bắn trúng. Nhìn trong Phiro ( kính ngắm) tớ thấy lửa bốc lên ở cánh máy bay, mình ghì máy cố theo cho đến khi nó loạng choạng bay khuất tầm nhìn.”
Cậu biết không: “Ngày ấy bọn tớ với bộ đội sống với nhau như anh em một nhà - dòng hồi ức của ông lại tiếp tục - Sướng lắm, nhưng tớ không dám biểu lộ cảm xúc ấy vì sợ máy rung. Tiếng reo hò vang trời, thế là tớ lại hướng ống kính về phía họ. Những gương mặt lấm lem bụi cát, nhưng nụ cười thì tươi roi rói - Trầm ngâm một lúc, ông nói - Không biết bây giờ họ ở đâu? Do điều kiện công việc, suốt từ đó mình chưa gặp lại họ.”
Năm 1973, ông phụ trách một mũi theo bộ đội công binh đi rà phá thủy lôi. Chiếc máy Konvat 16 ly đã cũ lại theo ông ra cửa biển Hải Phòng. 31 ngày đêm đứng trên ca nô, hướng ống kính về phía tấm tôn do ca nô kéo… những tiếng nổ chói tai, kèm theo là những cột nước cao đến 2-3 mét. Cứ thế, chiếc ca nô vòng đi, vòng lại không biết bao nhiêu lần. Có hôm, cả một cột nước cao sừng sững đổ ập xuống khiến mọi người ướt sũng.
Những thước phim đó được công chiếu khiến cho nhân dân và bạn bè thế giới hết sức khâm phục phẩm chất anh hùng và sức sáng tạo trong việc rà phá thủy lôi của bộ đội ta. Ông cho biết - những ngày đầu, lúc nào tai cũng ong ong, ù đặc. Không hiểu có phải do sức ép của thủy lôi mà sau này ông bị điếc.
- Chắc anh có thẻ thương binh? Tôi hỏi.
Ông cười buồn:
- Làm gì có. Sau lần ấy mình đi khám, bệnh viện ưu tiên phát cho mình một cái máy trợ thính. ờ ! Mà đeo vào nghe rõ ra phết.
- Sao anh không đi hỏi? Trường hợp của anh chí ít cũng được xếp loại bệnh binh…Em từng có mấy năm ở bộ đội, nhiều người họ đòi hỏi quyền lợi ghê lắm ! Tôi nói.
Ông thủng thẳng đáp:
- Là cái anh nghệ sĩ, nay đi đòi hỏi cái này, mai xin xỏ cái khác thì còn ra cái quái gì nữa. Người ta cho cái gì thì mình được cái đấy. Bộ đội người ta còn phải hy sinh cả xương máu, chứ mình… ăn thua gì !
Tháng 2 năm 1983, ông được chuyển về Đài Phát thanh Truyền hình (PTTH) Hải Phòng rồi ở đó cho tới khi về hưu. Thời kỳ này cơ sở vật chất của Đài còn rất khó khăn, nhưng ông vẫn làm việc tốt. Ngoài những phim nhựa như: Hải Phòng 16/4 ; Những người mẹ thành phố Cảng; Mùa Xuân cửa biển ; Hải Phòng mảnh đất Việt Nam (Phim màu) đã được Bằng khen của Liên hoan Phim Việt Nam, ông còn làm nhiều phim video như: Thỏ trắng mưu trí, Kỉ luật ai?, Đốm sáng, Văn nghệ mẫu giáo, Tiếng hát biển khơi Hoa cúc xanh trên đầm lầy, Lên tiên... Năm 1994, ông được tập thể Đài PTTT Hải Phòng đề nghị cấp trên xét phong tặng Nghệ sĩ ưu tú với 100% số phiếu. Nhưng không hiểu vì sao đến bây giờ ông vẫn chưa được công nhận…
Tôi nói:
- Chắc anh lại không đi hỏi rồi!
Ông lại cười… Lần này tôi mới để ý, hàm răng mới được ông trồng lại, đều và trắng bóc, khiến khuôn mặt ông tươi trẻ hơn so với tuổi 76 của ông./.
Lê Quang Long
|