Home Chân dung văn nghệ sĩ Tết của nhà văn Nguyên Hồng
Tết của nhà văn Nguyên Hồng PDF. In Email
Hơn hai phần ba thế kỷ đã trôi qua kể từ khi ông nội tôi- nhà văn Nguyên Hồng và các văn nghệ sỹ cùng thời: Nhà văn  Ngô Tất Tố,  nhà văn Kim Lân, hoạ sỹ Tạ thúc Bình,  hoạ sỹ Trần Văn Cẩn, nhạc sỹ Đỗ Nhuận về ấp Đồi Cháy  (nay là xóm Cầu Đen, xã Quang Tiến, huyện Tân Yên) sinh cư lập ấp.  Ông tôi cùng các văn nghệ sỹ lão làng ấy giờ chẳng còn ai. Mỗi dịp Tết, về thăm bố mẹ, được sống trong nếp nhà  cũ,  dạo quanh mảnh vườn rợp bóng cây cổ thụ, bách bộ qua cây cầu nhỏ vắt qua con suối quanh co để ra thắp hương trên mộ ông bà nội, những ký ức thiêng liêng về quê quán, ông bà, cha mẹ lại trỗi dậy trong tôi.

Vốn quanh năm nghèo khó, túng thiếu, nhưng tết đến, bao giờ ông tôi cũng cố gắng lo toan, chuẩn bị cho gia đình có cái tết tươm tất hơn ngày thường. Bố tôi kể, trong số vợ các văn nghệ sỹ sống quây quần ở ấp Đồi Cháy, chỉ có bà Kim Lân biết đi xe đạp, còn lại các bà đều chỉ biết “đi bộ”.  Thế nên, ngày thường, nhất là ngày tTết, ông nội tôi thường đạp chiếc xe “cún” nhỏ xíu, thấp tè của Liên Xô ra chợ Nhã Nam cách nhà mấy cây số mua sắm đủ thứ cho gia đình. Khi về, bao giờ xe của ông  cũng chằng buộc lỉnh kỉnh đủ thứ, nào gạo, dầu, mắm muối, thịt thà, hoa quả, su hào, bắp cải, rau lang,...Bố mẹ tôi ở cùng ông bà nội, song bận con mọn và công việc cơ quan năm nào cũng sát 30 tết mới được nghỉ nên ông nội tôi thường dành phần đi chợ để mua sắm tết cho cả nhà. Lo lắng, chăm sóc cho mọi người từng li từng tí - vừa là bản tính, vừa là thú vui của ông tôi. Không chỉ thích đi chợ tết, ông nội tôi thường cho cả vợ con và các cháu cùng đi chơi chợ Tết. Với ông tôi, đi chợ tết không chỉ để mua sắm mà còn để ngắm  nhìn hàng hoá, cảnh vật, mọi người chào hỏi, mời mọc, cười nói, mặc cả, chen chân mua bán, rồi vội vã ra về.
Nhà văn Nguyên Hồng (thứ hai từ phải sang) cùng gia đình tiếp bạn văn quốc tế
tại nhà riêng ở ấp Cầu Đen (tỉnh Bắc Giang) năm 1971
Có lẽ không khí tết quê đông vui,  náo nhiệt đều tập trung ở phiên chợ áp tết. Sau khi đã  mua sắm đủ đồ tết cho nhà, bao giờ, ông tôi cũng phải ghé vào hàng lòng lợn, tiết canh điểm tâm món “khoái khẩu” quen thuộc cùng vài chén rượu quê. Vừa ăn, uống, ông tôi vừa thích thú ngắm nhìn, lắng nghe không khí tết. Sự ồn ào náo nhiệt, bề bộn của tết quê cùng những nét mặt phấn chấn, lo toan của đủ hạng người là cảm hứng cho những trang viết của ông tôi. Bà chủ quán đã quá quen với ông lão nhà quê xuề xoà, giản dị nên bao giờ cũng chọn cho ông tôi chỗ ngồi thích hợp và lựa cỗ lòng còn nóng hổi, cắt những miếng ngon nhất để đãi ông khách đặc biệt. Vừa nhâm nhi món ăn dân dã, ông tôi vừa vồn vã trò chuyện, hỏi thăm những người xung quanh. Chút thời gian hiếm hoi cho riêng mình giữa chợ quê ngày tết, với ông tôi có lẽ là khoảnh khắc tết hạnh phúc nhất.

Những cái tết của văn nghệ sỹ nghèo tươm tất hơn ngày thường bởi có bánh chưng, thịt gà, thịt lợn. Ngày đó, thường mấy nhà đụng nhau một con lợn nuôi thả rông ăn cám, nước gạo, rau lang, bèo, rong rêu, cả năm mới được bốn năm chục cân. Chia ra mỗi nhà một suất được chừng chục cân đủ cả thịt nạc, thịt mỡ, xương,... Riêng cỗ lòng để đánh tiết canh và nấu cháo, mỗi nhà một người tham gia thịt lợn tập trung lại một nơi cùng ăn bữa tất niên. Quanh năm đói kém, thiếu thốn, đó là bữa ăn tết ngon nhất của người dân quê.  Vừa ăn uống mọi người vừa hỏi thăm nhau xem năm nay ăn tết có to không, con cháu, người thân đi bộ đội, học tập, làm ăn xa đã kịp về ăn tết chưa,... Tết quê nghèo nhưng thật đầm ấm, tình nghĩa. Suất thịt đụng ấy, các gia đình đem về gói bánh chưng, áp chảo, gói giò, xương ninh măng,... Để có củi  luộc bánh chưng và đun nấu trong mấy ngày tết, năm nào ông nội và bố tôi cũng phải hì hụi cuốc, đào những gộc tre già, gốc bạch đàn, xoan  trong vườn, rồi phơi khô trước đó hàng tháng để dành. Nhà tôi thường gói bánh vào hai tám, hai chín tết. Năm nào cô út  học đại học ở Hà Nội được nghỉ tết cũng về  cùng bố mẹ tôi rửa lá, gói bánh và đêm giao thừa thức trông bánh chưng được luộc trong một chiếc nồi quân dụng to. Tôi loanh quanh ra vào xem nồi bánh sôi sùng sục, khói toả nghi ngút, mùi bánh chưng thơm lừng. Thỉnh thoảng tôi lại đút thêm củi vào rồi thích thú nhìn những gộc tre, gốc bạch đàn cháy đỏ rực, nổ lách tách khiến không gian những ngày cuối đông giá buốt trên đỉnh quả đồi hoang cằn thông thốc gió ấm áp hẳn lên.

Ngày tết ông tôi rất quan tâm trang trí ban thờ. Đi chợ tết, ông tôi thường mua mấy cành bồng bồng, quả bưởi, nải chuối, mấy túm quất và ít hoa tươi về cắm. Riêng hoa đào, hoa mận vườn nhà tôi trồng rất nhiều, toàn đào phai, ông tôi xin giống ở khắp nơi về trồng. Ông nội tôi tự hào về vườn đào của  mình và thường ví  khu vườn nhà mình như “Đào gia trang”.  Trong ký ức tuổi thơ tôi, còn  in đậm hình ảnh khu vườn xanh mát đủ thứ cây nào khế, me, mít, bòng, ổi, nhãn, những cây đào phai, những cây mận hoa trắng muốt đua nhau khoe sắc mỗi độ xuân về.  Ông tôi thường tự tay chọn những cành đào phai đẹp nhất cắt cắm trong chiếc độc bình hoặc chiếc non đất bày trên ban thờ ngày tết bên hai lọ bồng bồng xanh ngắt khiến ban thờ sang hẳn lên.
Các bác, các cô tôi lập gia đình ở xa nhưng ngày tết đều về thăm bố mẹ và ăn tết cùng ông bà nội. Bữa cơm sum họp đại gia đình con cháu tíu tít thật đông vui. Ông tôi thường mừng tuổi cụ nội- người cao tuổi nhất trong nhà và các cháu. Ngày thường ông ăn mặc xuề xoà, giản dị  với bộ quần áo nâu như những lão nông. Gấu quần ông tôi hay xắn hoặc kẹp lại cho tiện đi xe đạp, nhưng ngày tết thi thoảng ông cũng “diện” bộ veston sờn cũ đi chúc tết quanh xóm. Ông tôi thường đến chúc tết ông Văn, ông Mai- là những bạn tâm giao và là thầy dạy các con mình cùng các cụ cao tuổi trong xóm. Mặc dù gia cảnh rất khó khăn song dịp tết, ông nội tôi hay đem tiền biếu những gia đình nghèo khó và mừng tuổi các cụ cao niên và trẻ con trong xóm. Có hoa quả, bánh kẹo ông hay gọi cho bọn trẻ trong xóm nên đứa trẻ nào cũng rất quý mến, nhìn thấy ông từ xa chúng đã gọi ầm ĩ, chào hỏi. Tính ông tôi xởi lởi, dễ gần, thương quý mọi người nên đi đến đâu cũng được mọi người quý mến.

Ngày tết, các bạn văn chương hay về thăm và chúc tết ông bà tôi. Các nhà văn Kim Lân, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi tết thường về chơi và ở lại nhà tôi một hai ngày. Thể nào ông nội tôi  cũng lại rủ mọi người ra chợ Nhã Nam hay lên vùng đồi Yên Thế để thăm thú cảnh vật, con người và thưởng thức món lòng lợn, tiết canh quen thuộc. Nhà tôi hay nuôi gà và chim bồ câu để cải thiện và đãi khách quý. Bữa cơm thường lai rai vài tiếng, ông tôi và các bạn văn trò chuyện, đàm đạo văn thơ, đọc cho nhau nghe  những áng văn, thơ hay. Trước bữa cơm ông tôi thường kê sẵn chăn gối quanh chiếu, để khi say các khách quý có thể ngả lưng ngon giấc luôn tại chỗ.

Dẫu bận mọn, song ngày tết, ông nội tôi vẫn duy trì thói quen khai bút đầu xuân. Ông thường kê chiếc bàn gỗ nhỏ trước khung cửa sổ tre trong gian nhà ngang thấp tè, tường trình đắp bằng đất sét trộn rơm rạ. Trước bàn viết  là nậm rượu nhỏ và chiếc chén hạt mít.  Ông ngồi đăm chiêu suy nghĩ, mắt dõi ra khu vườn sum xuê cây trái, lảnh lót tiếng chim trời và cảm nhận cái se sắt của đất trời vào xuân. Ông tôi thích thú nhìn những lộc non mơn man khắp những vạt đồi hoang cằn mỗi ngày chật thêm những nóc nhà, xanh thêm những đồi bãi ven suối. Vừa trầm ngâm suy nghĩ, tay ông vừa vuốt ve cho phẳng phiu những trang bản thảo được tận dụng từ những hoá đơn tem phiếu, giấy nháp của con cháu. Từ những tờ giấy mỏng tang, màu xám xịt, xù xì ấy, bao tác phẩm đã  ra đời như: Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu, Sóng gầm, Thời kỳ đen tối, Khi đứa con ra đời, Núi rừng Yên Thế, Chuyện ở xóm cửa rừng,... Xuề xoà, đơn giản trong ăn uống, sinh hoạt, nhưng trước các trang viết bao giờ ông tôi cũng chuẩn bị rất cẩn thận với thái độ trân trọng, thành kính với nghề văn như một tín đồ trước Chúa.  Biết tính ông vậy nên khi ông tôi ngồi viết, mọi người trong gia đình đều biết ý không quấy rầy ông, để ông yên tĩnh làm việc. Khi gặp các bạn văn chương tâm giao, ông tôi dễ cao hứng đọc cho nghe những bài thơ, đoạn văn vừa sáng tác. Có khi ông vừa cười nói vui vẻ với mọi người, đã lại khóc rưng rức ngay được khi ông đọc đến đoạn văn, thơ cảm động hay chứng kiến những sự việc đau lòng.

Chỉ thư thả, sum vầy cùng con cháu được mấy ngày tết, sau đó, ông tôi lại tất bật trên những chặng đường lê thê từ Bắc Giang về Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh,.. trên chiếc xe cún Liên Xô cũ để làm việc, gặp gỡ giao lưu với bạn bè, thăm con cháu, người thân và tìm tư liệu, gặp gỡ các nhân vật để viết. Điều ông tôi đau đáu nhất là mong viết trả món nợ tinh thần lớn lao với mảnh đất và con người  Tân Yên, Yên Thế- quê hương thứ hai đã cưu mang đùm bọc ông và cả đại gia đình trong  những năm tháng gian khó trong kháng chiến chống Pháp và hoà bình lập lại. Ông tôi đã đọc và cất công sưu tầm rất  nhiều tư liệu và tìm gặp những nhân chứng, vật chứng còn sót lại của vị anh hùng áo nâu, chân đất Đề Thám cùng  nghĩa quân Yên Thế để viết bộ tiểu thuyết Núi rừng Yên Thế. Tập một của bộ tiểu thuyết lịch sử này đã hoàn thành và ông tôi đang chuẩn bị viết tập hai. Mặc dù mới đang thai nghén tác phẩm, song ông rất tâm đắc với đứa con tinh thần này và tin rằng sau khi hoàn thành tác phẩm sẽ rất hấp dẫn. Mọi người sẽ được biết về một vị lãnh tụ nông dân tài ba nông dân Yên Thế vừa đánh giặc, vừa cày cuốc làm ruộng, vừa chiêu binh, luyện võ và sống với những người nông dân chân lấm tay bùn tình nghĩa thế nào.

Vậy mà cuộc đời ngắn  ngủi đã không cho phép ông tôi hoàn thành được tác phẩm đầy tâm huyết ấy và bao dự định khác. Tất cả trở thành dang dở khi ông tôi đột ngột ra đi ở tuổi 64 vào một trưa hè oi nồng, khi ông đang giúp vợ con nhào đất, trít trát lại chuồng gà bị lũ chuột quái quỷ đào khoét vào bắt gà nhà. Với sự giúp đỡ của tỉnh Hà Bắc, tập một của tiểu thuyết Núi rừng Yên Thế đã được in ra mắt bạn đọc. Sau này, nhiều bạn văn chương, độc giả về thăm nhà tôi và di cảo của ông hay thắc mắc: Tại  sao trong số con cháu của ông không có ai theo nghiệp văn chương và giúp ông viết nốt cuốn tiểu thuyết Núi rừng Yên Thế.  Quả vậy, trong số con cháu của ông nội tôi mỗi người một nghiệp,  chưa ai thực sự theo nghiệp văn chương, song hầu hết mọi người đều rất yêu thích văn chương, quý trọng sách vở như: bác Hà (bác cả đã mất), bố tôi, chú Sơn, cô Thư, cô Nhã, cô Thế, cô Diệu,...Tôi nhớ, bố tôi có lần đã trả lời một khách văn chương câu hỏi: Tại sao anh không giúp cụ nhà viết tiếp Núi rừng Yên Thế, rằng: Nếu cố gắng có thể tôi cũng viết được tác phẩm, song tôi tôn trọng bố mình. Vì chỉ khi chính cụ viết ra đó mới là sản phẩm tinh thần của cụ, còn với bất cứ ai đặt bút viết tiếp sẽ trở thành tác phẩm khác mất rồi.Vậy chăng cứ để tác phẩm dang dở lại hay, cũng như cuộc đời này có bao giờ hoàn thiện?!

Thấm thoắt đã hai chục năm rồi tôi không được ăn tết cùng ông nội. Ông tôi mất năm 1982. Mỗi dịp tết về thăm bố mẹ, thăm quê nội, tôi thường thắp mấy nén hương lên ban thờ gia tiên và thầm cầu mong ông, bà phù hộ độ trì cho tôi và người thân. Nhìn ánh mắt hiền từ, thăm thẳm của ông bà nội toạ trên ban thờ nghi ngút hương hoa, ngoài kia là khu vườn cổ thụ  sum xuê những cây khế, me, mít, ổi do chính ông bà trồng,...tất cả gợi cho tôi cảm giác gần gụi, thân thiết vô cùng, như thể ông bà vừa mới xa tôi hay vẫn phảng phất quanh đâu đó. Lòng tôi bỗng nhẹ nhõm, thanh thản vô cùng. Mọi lo toan, buồn phiền của năm cũ như tan biến, chỉ còn những người thân, tình cảm gia đình thiêng liêng và hương vị tết quê đầm ấm ngự trị trong lòng./.

Nguyễn Hải Yến
(Bắc Giang)
+/-
Viết nhận xét
Tên của bạn:
Email:
 
Website:
Tiêu đề:
UBBCode:
[b] [i] [u] [url] [quote] [code] [img] 
 
 
=)=D=(XD:dizzy:T_T:blush:^_^=_=-_-
:pout::angry:=Oo_O:snicker::eyebrow::sigh::sick::whisper::whistle:
:nuu::gah::flame::cool::shy::kawaii::notfunny::snooty::uhh:X_X
XB:talkbiz::grr::onoes::psychotic::scared::evil::nomnom::zombie::want:
:drunk::love::meow::music:
 
Nhập mã xác nhận
+/- Nhận xét
Nhận xét mới Tìm kiếm
Powered by Telet Solution
 
 

Video

Liên kết

bao_hp

 

cung_vntt_thanh_nien_hp
dang_cong_san_vn
thanh_pho_hp

 

Số người online

Hiện có 1 khách Trực tuyến
mod_vvisit_counterHôm nay29
mod_vvisit_counterHôm qua116
mod_vvisit_counterTrong tuần325
mod_vvisit_counterTrong tháng2214
mod_vvisit_counterBạn là lượt truy cập45727