Tôi phải lòng Nguyễn Bắc Sơn nhờ tiểu thuyết Luật đời và cha con rồi đến Lửa đắng của anh. Cuốn sau đồ sộ hơn, già dặn hơn cuốn trước mà chỉ viết sau cuốn trước có một năm (tuy năm rưỡi sau, qua 7 nhà xuất bản từ Bắc vào Nam mới được in). Hình như không mấy người viết khỏe đến thế, và điều đáng nói là anh là người duy nhất trong 245 tác giả có hai tác phẩm vào chung khảo trong đó Lửa đắng được giải C cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 3 của Hội Nhà văn Việt Nam và cũng đang rục rịch làm phim truyền hình như cuốn trước.
Đến lúc anh tặng mấy quyển ký mới giật mình, hóa ra Nguyễn Bắc Sơn viết ký, có nhẽ còn hay hơn viết tiểu thuyết. Tám tập ký viết về đất và người cho thấy anh đã đặt chân lên khắp chốn cùng nơi. Đi đâu viết đấy. Viết đâu được đấy. Những việc chán vạn người viết rồi mà vẫn viết hay, vẫn có những phát hiện độc đáo. Tôi là người Hải Phòng đương nhiên là rất mê chọi trâu, đã đọc không biết bao nhiêu người viết về chọi trâu, nhưng không ai tìm hiểu ngọn nguồn lễ hội này, cũng không ai viết về trâu chọi sâu và kỹ như anh. Lại càng không ai gặp Chủ tịch thành phố Hải Phòng mà dám nói thẳng (đã đăng trên báo Du lịch) rằng Hải Phòng không biết làm du lịch, vì không biết khai thác thế mạnh của chọi trâu. Anh đã đề xuất giải pháp hoàn toàn khả thi, rất đúng quy luật phát triển cho chọi trâu: Từ điều lệ giải, đến việc chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa chọi trâu, để ai đến Việt Nam mà không xem chọi trâu thì cũng như đến Tây Ban Nha mà không xem đấu bò tót.
Tôi đã ra Quan Lạn (huyện đảo Vân Đồn) Quảng Ninh, nhưng đọc Lang thang với cảng Vân Đồn của anh mới biết vì sao ngày xưa Vân Đồn lại là nơi giao thương nhộn nhịp với nước ngoài như một đặc khu hành chính kiểu Hồng Kông. Chả thế thời nhà Lê có quy định: “Quan chức vô cớ đi riêng ra Vân Đồn thì xử đồ lưu. Người cáo giác được thưởng tước một tư. Người ở Vân Đồn chở hàng hóa Trung Quốc nhập vào Vân Đồn phải được cấp bằng (phép), đi qua các trạm đều phải trình báo, lúc về cũng phải trình báo. Nếu không “đều bị xử biếm một tư, phạt 100 quan tiền. Người tố giác được thưởng một phần ba số tiền đó”. Rằng “Tháng 9 năm Giáp Dần (1434) hai quan lại là Lê Dao và Nguyễn Tông Tư đã bị bãi chức vì việc mua bán và đổi chác gian lận với khách buôn nước Trảo Oa (Đảo Gia va, Indonesia) ở Vân Đồn”. Ông luận giải vì sao nó tàn lụi. Đó là một bài khảo cứu lịch sử, một cuộc khảo sát thuộc địa mà cũng là bút ký về Vân Đồn đương đại đã đọc không thể không muốn đến tận nơi chiêm nghiệm.
Là người cũng ham đi, ham chơi khi đọc cả trăm bài anh viết về các địa danh trong nước và ngoài nước, nhất là Trung Quốc, đều là những nơi mình đã đi qua mới thấy tiếc hùi hụi. Giá mình được đọc anh trước khi đến đó. Ngay cả những chỗ đã đi hàng chục lần như Tam Đảo cũng vẫn phải nể phục sự hiểu biết, óc quan sát và trí tò mò của anh, theo đúng cẩm nang của người viết: Đọc, đi, nghĩ, viết. Nhờ anh tôi mới biết cách tiêu thổ kháng chiến ở Tam Đảo, mới biết cây ổi cổ thụ chỗ nhà Rông bây giờ, chính là do Bác Hồ trồng khi Người đến thăm nhà trẻ của chuyên gia Liên Xô ở đây. Đến Củ Chi đất thép không thấy ai giải thích Củ Chi nghĩa đen là gì, mặc dù ai cũng biết câu đối nói lái về nó: Cô du kích chỉ cu hỏi củ chi... Chỉ khi đọc Nguyễn Bắc Sơn mới biết đó là tên một cây thuốc nam thuộc họ mã tiền, có tác dụng chữa vết thương tụ máu. Nguyễn Bắc Sơn đã từng trả lời trên ti vi, sở dĩ mình trở thành nhà văn vì cái tính tò mò, cố hữu là vì thế. Nhiều người viết về thủy điện Sơn La, anh cũng viết về sự hoành tráng của công trình thế kỷ này nhưng không ai tìm ra nguyên mẫu em bé Mường La trong một ca khúc thời kháng chiến chống Pháp. Ngồi với anh em văn nghệ sĩ tỉnh, trong đó có ông nhạc sĩ Phó Chủ tịch Hội vậy mà ai cũng ngạc nhiên vì chưa bao giờ được nghe một bài hát thời chống Pháp về đúng quê hương mình khi anh cất tiếng: Quyết chiến thắng quân thù, giết hết lũ tham ô cùng thi đua mau tiến lên đường phản công...
Chắc không mấy người có những trang bút ký làm ta phải rưng rưng nước mắt như Nguyễn Bắc Sơn. Anh viết về mảnh đất Quảng Trị trộn biết bao xương máu đạn bom, về những người mẹ ngoài Bắc đi tay không về tay không vì không tìm thấy hài cốt con làm ta rưng rưng đã đành (Tiếng bìm bịp bên thành cổ Quảng Trị). Viết về những người đã đổ mồ hôi sôi nước mắt và cả xương máu trong suốt 24 năm để xây dựng nhà máy thủy điện Hòa Bình mà cũng làm ta rưng rưng thì quả là lạ (Sông Đà, nước mắt trời, nước mắt người). Nhiều bút ký trường thiên của tác giả về đất rất hay, nhưng theo tôi, hai bút ký về sông Hồng và cầu Long Biên là một đỉnh cao trong mặt bằng bút ký đương đại. Nói vậy không phải vì tổng kết cuộc thi dài nhất trong lịch sử nước ta 10 năm (2001 - 2011) “Cả nước viết về Thăng Long - Hà Nội” do báo Hà Nội mới tổ chức, có rất nhiều nhà văn chuyên nghiệp tham gia, Nguyễn Bắc Sơn đã đoạt tới 4 giải, chiếm ngôi vị đầu bảng gồm 2 giải Nhất, 1 giải Nhì, 1 giải Khuyến khích trong đó có bút ký Hà Nội có cầu Long Biên (bút ký này còn được giải Ba viết về giao thông vận tải do Bộ Giao thông vận tải và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức). Không phải vì dịp Thăng Long ngàn tuổi trong bộ ký và tản văn từ xưa đến nay có cả hai thiên bút ký ấy. Trong 2 cuốn khác là Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long, Cây đa ngàn tuổi và ba đứa trẻ, mỗi cuốn in một thiên. Ông còn viết hàng chục bút ký, tùy bút về Hà Nội, đến mức nhà văn Hoàng Minh Tường khi viết về ông đã gọi ông là một nhà Hà Nội học. Có đọc bút ký Nguyễn Bắc Sơn mới biết vốn sống, sự đọc của ông thế nào. Cứ như ông đã từng lần mò từ cửa Ba Lạt (Nam Định) ngược Sông Hồng đi mãi lên qua 556km trên đất Việt Nam, lại vượt 609km trên đất Trung Quốc đến tận dãy Nguy Sơn (1776m) ở cao nguyên Vân Nam. Ông miêu tả những cuộc úp cá chép vật đẻ trên mạn ngược đến việc vớt cá bột dưới xuôi ngay trên đất Hà Nội, cảnh những người phụ nữ cứ đuồn đưỡn cái lưng, ngay người ra, lấy hết gân cốt lừng lững, lầm lũi đi trên những tấm ván cầu chênh vênh với thúng cát đội trên đầu, như những đàn kiến cần mẫn theo những lối mòn ngoằn ngoèo trên thân đê. Ông tả những “bà Nữ Oa” ngày ngày đội cát ấy đến nỗi bàn chân cứ bạnh ra, ngón chân cứ tòe ra, người thẳng đơ như cái cột nhà, mất hết cả cái dáng thon thả thắt đáy lưng ong... ông gọi sông Hồng là Sông đời của lam lũ vất vả nhọc nhằn. Ông tả những con thuyền căng buồm chạy vát ngược sông, khi lặng gió thì người trên bờ dòng dây qua vai kéo, người dưới thuyền chống sào vào vai đi trên mui thuyền ngược từ phía đuôi lên mũi... và những cuộc huyết chiến trên sông trong những cuộc chống ngoại xâm phương Bắc, phương Tây. Nhà văn Ma Văn Kháng đã nhận xét rất đúng về ông: Có cảm tưởng nhà văn là một tác giả bách khoa. Đọc bút ký này tôi gọi ông là Hà bá sông Hồng. Khả năng quan sát và vốn hiểu biết của ông về cầu Long Biên thật đáng nể trọng. Vốn hiểu biết từ đào bới trong sử sách thì nhiều người có, nhưng vốn hiểu biết thực tế thì khó ai được như ông. Nhờ ông tôi mới biết, hơn trăm năm trước bãi giữa sông Hồng, dưới gầm cầu này có hẳn một nghĩa địa chôn cất những người thợ cầu xấu số trong mấy năm thi công. Không tài liệu nào của người Pháp nói về chuyện này. Chỉ có lân la trò chuyện với các bô lão ở xã Trung Hà mấy chục năm trước (khi chưa giải tỏa di dời sang quận Long Biên bây giờ) mới biết điều ấy. Lại cũng không mấy người biết khi cầu Long Biên còn là duy nhất, trên cầu không chỉ có thợ sắt, thợ sơn duy tu bảo dưỡng mà còn có một đội thợ... rèn, một đội thợ... mộc làm việc. Cũng không ai nói tới việc còn tai hại cho cây cầu hơn cả nước mưa cưa trời là nước tiểu, phân người từ trên tàu hỏa xả xuống các dầm ngang. Mãi đến lúc nghĩ ra được cách làm “mái” tôn ốp che lên trên thì hệ giầm này đã bị gỉ ăn sâu nham nhở, nhiều cái phải ốp hai tấm thép hai bên để gia cố. Cũng không mấy ai biết chuyện khi bị bom Mỹ đánh gục mấy nhịp ta đã làm cầu cáp cho xe ô tô đi tạm, và người lái chiếc xe thử nghiệm đã bị cầu lắc ngang văng cả người lẫn xe xuống sông thế nào.
Bút ký về đất, về việc của Nguyễn Bắc Sơn khiến tôi kinh ngạc về vốn hiểu biết về lịch sử và đời sống nhưng vấn thấm đẫm tính nhân văn về những thân phận con người. Nó hấp dẫn, lôi cuốn làm tôi đọc say sưa như khám phá lại những miền đất lạ, tưởng đã rất quen mà vẫn chưa biết đến tận cùng. Chẳng hạn ông có hẳn một cuốn sách với những hiểu biết hết sức kỹ càng về lao động đặc thù của những người phi công, điều khiển không lưu, thợ máy, tiếp viên, sân bãi (Đi mây về gió). Bút ký của ông tràn đầy những trang tươi rói sống động, đằm thắm tình đất, tình người cho ta thấy một người lữ hành mải miết đi, mải miết khám phá, mải miết viết làm tôi thấy thẹn vì sự lười biếng của mình. Nhà văn Nguyễn Bắc Sơn bắt đầu sự nghiệp văn chương từ những bài báo, bút ký rồi mới thành danh với tiểu thuyết. Đến lúc nhà tiểu thuyết viết ký chân dung về người mới thấy hết đẳng cấp của cây bút ký này. Ông phát hiện ra nhiều con người dung dị, bình thường nhưng rất đỗi phi thường. Lần đầu tiên ở Côn Đảo có hai người ruột thịt cùng bị lưu đầy: Hai chị em ruột Thiều Thị Tạo và Thiều Thị Tân. Chị 19, em mới 16. Ông đã bỏ tiền túi ra Côn Đảo (vì vợ ông bảo chưa ra Côn Đảo thì... chưa là gì), lần tìm bằng được một xà lim, trên tường sát bệ nằm có một hàng chữ viết bằng tiếng Pháp: “Còn đế quốc Mỹ thì ta còn chiến đấu. Tân + Tạo ra đảo ngày 29/11/1969”. Ông viết về chị Nguyễn Thu Thảo (sinh năm 1978) trưởng quỹ Cựu chiến binh Mỹ tại Hà Nội, người đã đóng góp không nhỏ cho việc hàn gắn và phát triển mối quan hệ Việt - Mỹ. Và nếu không có sự năng động và những mối quan hệ cá nhân của chị thì không tài nào đưa được một chiếc máy bay y tế chuyên dụng từ Thụy Sĩ bay sang Hà Nội chở Giáo sư Papert về Mỹ. (Ông là người Mỹ gốc Nam Phi, một trong những nhà toán học hàng đầu thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, sang Việt Nam dự Hội nghị toán học do Trường đại học Bách Khoa Hà Nội tổ chức. Ông đi theo đúng làn đường dành cho người đi bộ lúc đèn xanh mà vẫn bị xe máy đâm gây chấn thương sọ não, bị hôn mê sâu). Ông viết về hai ông cháu, người già nhất, người trẻ nhất cùng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ là cụ Hoàng Đạo Thúy và đại tá Lưu Anh Tuấn, viết về thiếu tướng Nguyễn Chuông, thiếu tướng Lê Thế Trung, về nhà văn Hòa Vang, nhà thơ Bế Kiến Quốc v.v...
Có những người nổi tiếng đã có không biết bao nhiêu người viết, vậy mà Nguyễn Bắc Sơn vẫn viết rất hay, có những phát hiện riêng gây ấn tượng làm người đọc đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Nhờ ông tôi mới hiểu cuộc sống đời thường của Xuân Diệu thời tem phiếu thế nào, mới biết nhà thơ lấy vợ ra sao và khi ông mất người vợ ấy đã dâng vòng hoa kết hình một chiếc lá với triệu triệu bông hồng trắng và băng tang “vô cùng thương tiếc anh” đến viếng. Ông kể với tôi hôm đi cùng nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên và mấy nhà báo Sài Gòn ra thăm nhà thơ Hữu Loan, ngoài lời chào hỏi, ông không nói một câu, không hỏi một lời, không ghi âm Hữu Loan đọc thuộc lòng Màu tím hoa sim, hoa lúa đãi khách. Cũng không ghi chép gì, mặc cho các bạn hỏi han, trò chuyện, trêu chòng ông già móm mém, chỉ lặng lẽ ngồi nghe, lặng lẽ nhìn, lặng lẽ ngắm nhà thơ và lặng lẽ ...khóc. Vì ông cũng chẳng định viết lách gì. Vậy mà về, càng nghĩ càng ngấm, càng không cầm lòng được. Phải viết như một lời tạ ơn, một lời chia sẻ đăng đến 5 kỳ báo Tiền Phong Chủ nhật. Tôi đoán chắc chưa một ai thấu hiểu Hữu Loan đến thế, chưa ai viết sâu về Hữu Loan đến thế. Nhà thơ Phạm Xuân Trường - cây lục bát tài hoa ở Hải Phòng và cả tôi vừa đọc, vừa khóc. Nhà văn Nguyễn Khắc Phê thì xui “Viết thành tiểu thuyết được đấy Nguyễn Bắc Sơn ạ”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một chân dung nữa khẳng định văn tài cây bút ký này. Chưa bao giờ được trò chuyện, được bắt tay, mới chỉ một lần được một giờ bên Đại tướng, chỉ hai lần nói chuyện với thầy giáo dạy mình thời sinh viên, là Giáo sư Đặng Bích Hà phu nhân Đại tướng, vậy mà anh viết được một thiên bút ký nổi tiếng (đăng liền 3 kỳ trên báo Tiền Phong đúng vào dịp Đại tướng vào tuổi 100) được dư luận, cả trong giới quân nhân cao tuổi từng được gần gụi Đại tướng đánh giá cao. Ông quyết làm bằng được việc này: Những gì của Đại tướng phải trả lại cho Đại tướng. Tác giả đã kỳ công lần tìm lại tư liệu từ các chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp. Có chiến dịch thành công nhiều, thành công ít, thậm chí có 3 chiến dịch không thành công, 1 chiến dịch thất bại và 1 chiến dịch bỏ dở không đánh tiếp và dừng lại rất kỹ ở chiến dịch Điện Biên Phủ, điểm quyết chiến chiến lược của cuộc kháng chiến chống Pháp và sau đó là đại thắng mùa Xuân năm 1975, để khẳng định vai trò cá nhân của thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp. Nếu Đại tướng không cân nhắc thận trọng, suy xét toàn diện, phải vượt qua được chính mình “để đưa ra quyết định khó khăn nhất trong đời chỉ huy quân sự của mình” là lùi ngày nổ súng lại 1 tháng rưỡi và thay đổi phương châm, từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc tiến chắc thì không có chiến thắng Điện Biên Phủ.
Tác giả còn chứng minh rằng lịch sử kháng chiến Việt Nam có nhiều lần lặp lại. Ba lần đánh thắng quân Nguyên đều nhờ cùng một cách đánh là dùng trận địa cọc và cùng một địa điểm là sông Bạch Đằng. Điện Biên Phủ và đại thắng mùa Xuân 1975 cùng diễn ra đúng 55 ngày, cùng vào mùa Đông Xuân, cùng một vị Tổng tư lệnh chỉ huy. Bây giờ làm gì người ta cũng xem ngày, tác giả chứng minh rằng cả ngày dự kiến nổ súng và ngày nổ súng thật ở ĐBP đều là ngày lẻ theo âm lịch (lịch vạn niên 1910 – 2030) còn trong 55 ngày (tính từ 7/3, diệt cứ điểm Chư Sê, bắt đầu hình thành chiến lược bao vây chia cắt cô lập Buôn Ma Thuột đến ngày 30/04/1975) đối với Đại tướng thì không có ngày nào là ngày xấu. Nếu chuẩn bị tốt thì ngày nào cũng là ngày tốt. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, thời gian là lực lượng, thế mới có mệnh lệnh lịch sử: Thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa... Những nét chấm phá chân dung đời thường mà tác giả quan sát được về Đại tướng, những giai thoại về vị tướng huyền thoại mới thú vị làm sao, nhiều chi tiết nhỏ nhặt, những câu nói hóm hỉnh của Đại tướng đã làm nên chân dung một thiên tài quân sự Việt Nam và thế giới.
Nếu tôi nói Nguyễn Bắc Sơn là một nhà văn lớn, có lẽ không nên. Việc đó để thời gian đánh giá. Nhưng quả thật ông có những thiên bút ký đặc sắc, xúc động người đọc. Các bạn sẽ đồng ý với tôi khi đọc 2 cuốn “Người trong tôi” và “Gót thời gian”, cùng ra với một tuyển truyện ngắn mà báo Tiền Phong đã giật tít: Nhà văn Nguyễn Bắc Sơn sinh 3.
Nguyễn Bắc Sơn người lữ hành không mỏi mang trái tim Đanko rực cháy nặng tình trọn nghĩa với nhân dân, đất nước bằng những trang bút kí sâu sắc tuyệt vời của mình…Tin rằng anh sẽ có nhiều tác phẩm hay hơn nữa để đáp ứng sự kì vọng của bạn bè và người đọc cả nước.
Nguyễn Long
|