Home Lý luận phê bình
Lý luận phê bình
Lục bát có phải là Lộc phát

Người Trung Quốc dùng chữ tượng hình. Nó không chỉ để ghi lại phát âm mà còn biểu hiện chữ đó có nội dung thuộc lĩnh vực nào. Vì vậy, chữ tượng hình của Trung Quốc tương đối đa dạng, số lượng chữ cũng khá nhiều.


Phát âm của người Trung Quốc thường đơn giản, phụ âm và nguyên âm ít, cho nên từ phát âm Trung Quốc cũng ít. Âm của người Trung Quốc phát ra cũng có các thanh, đó là: Bình, thượng, khứ, nhập.


Khác hẳn với tiếng Việt dùng chữ quốc ngữ, một âm được biểu diễn bằng một chữ, và ngược lại một chữ chỉ được đọc thành một âm (ở đây chỉ tính đến từ ngữ chuẩn phổ thông, không tính đến phát âm có yếu tố vùng miền). Một từ phát âm của người Trung Quốc có thể viết thành nhiều chữ, hoặc ngược lại, nhiều chữ Trung Quốc được đọc cùng bằng một âm.


Người Trung Quốc có cách chơi chữ đồng âm, nghĩa là dùng các chữ viết khác nhau, có nghĩa khác nhau để thay thế cho nhau trong một số trường hợp cụ thể.


Có câu chuyện vui về một cậu bé lười học, nhưng lại mê Thủy Hử của Thi Nại Am. Cậu bé bị bố mắng: “ Con không học hành cho tử tế, lớn lên sẽ thành vô dụng!”. Cậu bé reo lên: “ Bố bảo con sau này sẽ trở thành Ngô Dụng ư! Thế thì hay quá!”. Trong câu chuyện này Vô dụngNgô Dụng, viết khác nhau và nghĩa hoàn toàn khác nhau, nhưng âm Bắc Kinh đều đọc là “wú yòng”. Khi viết không thể nhầm lẫn, nhưng khi nói do phát âm nên có thể bị nhầm lẫn. Người Trung Quốc thường chơi chữ theo cách này.


Chữ “Phúc” trong hạnh phúc, nghĩa là tốt đẹp, may mắn có phát âm theo tiếng Bắc Kinh là “phu” (fú), chữ “Bức” nghĩa là con dơi cũng phát âm là “phu” (fú), cách viết gần giống nhau, chỉ khác là ở chữ Phúc có bộ Y, còn chữ Bức có bộ Trùng. Người ta dùng hình ảnh con dơi để tượng trưng cho chữ Phúc. Trên nhà cửa, vật dụng, đồ trang trí có hình ảnh con dơi cách điệu được vẽ ở vị trí trang trọng. Người Việt ta cũng học theo cách chơi này, trên một số nhà xây dựng cách đây vài chục năm, trên quan tài cũng được vẽ hình ảnh con dơi cách điệu.


Ở nước ta, trong dân gian, người ta cũng chơi chữ đồng âm, khác nghĩa. Ví dụ: Bà già đi chợ Cầu Đông/Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng/Thày bói gieo quẻ phán rằng/Lợi thì có lợi, nhưng răng chẳng còn.


Trong câu này, bà già muốn đi xem bói việc lấy chồng có lợi (ích lợi) không, nhưng thày bói lại bảo rằng: “Lợi thì có lợi, nhưng răng chẳng còn”, lợi ở đây là răng-lợi, già rồi răng rụng hết thì chỉ còn trơ lợi. Cách chơi chữ Lợi đã gây tính hài hước trong bài ca dao này.


Người chơi số xe, số sim điện thoại coi số 6-8 là con số lục-bát, và giải thích là theo cách chơi chữ đồng âm của người Trung Quốc sẽ là chữ “Lộc-Phát”, nghĩa là có lộc phát, còn cặp số 7-8, thì họ lại gọi là “Thất- Bát”, có nghĩa là mất mát ngay, chả cần nói trại.


Người ta xuất bản tập thơ lục bát, họ cũng  gọi là tập thơ Lộc Phát, ngày 6-8 âm lịch cũng được gọi là ngày Lộc Phát. Thực ra cách gọi lục bát thành lộc phát chưa có cơ sở  và cách chơi đồng âm khác nghĩa cũng chưa chuẩn xác.


Theo cách phát âm của tiếng Bắc Kinh, chữ  6 và 8  mà theo âm Hán-Việt viết là lục-bát được đọc là liù bã. Âm “liù” trong tiếng Bắc Kinh chỉ có các từ đồng âm khác nghĩa là các từ: liù - số 6, liù - dòng chảy, liù – trát, chít, liù - dạo chơi, liù - hấp…không liên quan gì đến chữ lù fã (lộc),  âm “” có các từ đồng âm: - số 8, – cái bừa, – bám bíu,- sẹo, - bờ giậu… không liên quan gì đến chữ lù fã (phát) cả. Như vậy, nếu chơi chữ đồng âm khác nghĩa theo liù bã khác hẳn với lù fã.


Vì vậy, chữ lộc phát theo âm Hán Việt được đọc là lu fa, khác hẳn cách đọc của lục bát liu ba, nên không thể chơi đồng âm liu ba thành lù fã được.

Kiến trúc sư Phạm Cương, một chuyên gia phong thủy cũng cho rằng:  “Nếu phát âm theo đúng nghĩa tiếng Việt là lục bát lại không mang ý nghĩa tài lộc, không chứa nhiều giá trị.”


Như vậy, cách gọi trại lục bát thành lộc phát là không có cơ sở. Theo cách chơi đồng âm khác nghĩa của người Trung Quốc  và theo cách gọi của người Việt thì lục bát chỉ đồng nghĩa với lục đĩa, lục nồi, lục niêu như một số người thường nói vui.


Cách chơi đồng âm khác nghĩa của người Việt chỉ mang tính hài hước và truyền miệng trong dân gian, ít khi được coi là văn chính thống đăng trên báo chí, không có cơ sở khoa học.  Việc chơi số xe, số sim điện thoại không mang nhiều ý nghĩa, còn việc một trang thơ lục bát chính thống trên mạng lại dùng cách chơi này vừa không chính xác, vừa không có giá trị gì cho lắm./.


Phạm Thanh Cải

 
Xã hội hóa quảng bá ca trù - tín hiệu từ một canh hát đặc biệt
Đã từng đi nghe Ca trù đôi lần ở Đình Kênh ( quận Lê Chân), nhưng phải đến khi chứng kiến ông Nguyễn Văn Vinh- Trưởng Ban tổ chức Thành ủy, ông Lê Tất Vinh- Giám đốc Sở VHTTDL, nhà sử học Ngô Đăng Lợi- Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Hải Phòng, các cấp lãnh đạo Quận ủy, UBND quận Lê Chân, UBND phường,  các ban ngành đoàn thể, cùng đông đảo nhân dân xếp bằng trên chiếc chiếu hoa thưởng thức đến phút cuối cùng những làn điệu quen thuộc, tôi mới tin rằng Đêm ca trù đặc biệt trước thềm Xuân Nhâm Thìn của CLB Ca trù Hải Phòng đã thành công.

Ca nương Hải Phượng trong canh hát Ca trù tại Đình Kênh
Ảnh: Đỗ Hiền
Gọi là Đêm Ca trù đặc biệt vì lần đầu tiên sau gần 20 năm hồi sinh “có danh phận”, CLB Ca trù được UBND quận Lê Chân - trên cơ sở phối hợp với Hội Văn nghệ dân gian (VNDG) Hải Phòng đứng ra tổ chức đêm diễn này. Nói cách khác, trong việc tìm cách để quảng bá Ca trù, quận Lê Chân thấy cần phải khai thác những thế mạnh về không gian trình diễn Ca trù từ các di tích lịch sử trên địa bàn quận mà tiêu biểu là Đình Kênh- nơi có “trụ sở” CLB Ca trù. Còn với tư cách Hội chuyên ngành, Hội VNDG cũng nắm bắt ngay tín hiệu để lên kế hoạch phù hợp với khả năng của các ca nương, kép đàn.

Tinh thần cùng vào cuộc ấy khiến các ca nương, kép đàn thêm hào hứng. Nên, cũng vẫn sân đình quen thuộc ấy mà sự huyền ảo, trang nghiêm, lôi cuốn bước chân người thưởng thức Ca trù tăng lên gấp bội. Những chiếc đèn lồng màu đỏ với thứ ánh sáng vừa phải được treo cao trên các lối đi..Không gian càng trở nên huyền ảo với những ca nương áo xiêm gọn gàng thấp thoáng ẩn hiện trước khi canh hát bắt đầu. Trên sân khấu lòng thuyền trước hương án đình, là những chiếc chiếu hoa được trải ra, trên để những khay trà bằng tre cùng những đĩa kẹo lạc. ẩm thực khi thưởng thức Ca trù là thế, nghĩa là những thứ rất mộc mạc, chân quê. Các cô gái tiếp nước cũng khăn vấn, áo the, miệng cười như hoa hàm tiếu. Giữa hương án, là lễ vật, hoa nến trang trọng dâng lên Đức Vương Ngô Quyền.

Trong trang phục truyền thống, cụ già đánh trống khai mở canh hát cửa đình. Sau lễ dâng hương của các quan khách, các ca nương, kép đàn, CLB cũng lên thắp hương cửa thánh trang trọng và thành kính.. Rồi, theo lề lối hát ca trù, ca nương Đỗ Quyên đứng hát Dâng hương cùng phần trình diễn của tốp múa- là những ca nương tay cầm nén hương, bước đi uyển chuyển nhịp nhàng theo nhịp phách mà ca nương Đỗ Quyên trổ cùng hai khổ thơ thất ngôn bát cú, làm nổi bật ý tứ chúc tụng, ca ngợi công đức của các anh hùng dân tộc. Tiếp đó, là các làn điệu bắc phản, thét nhạc ( lời cổ),  hát nói “Tuyết giang phu tử” ( sáng tác Giang Thu), hát giai ru lời cổ “ Xưa Kính Tâm”, hát nói “Ngô Quyền diệt quân Nam Hán” (sáng tác Phạm Thanh Quang), “Trần ai ai dễ biết ai” (Nguyễn Công Trứ), ngâm thơ Thổng Thiên thai (Tào Đường và Chúa Trịnh Sâm), hát múa bỏ bộ... được thể hiện qua tiếng phách, lời ca của các thế hệ ca nương và kép đàn, quan viên. So với những canh hát trước, họ trình diễn một cách thoải mái bởi nhiều việc “bên lề canh hát” đã có quận hỗ trợ. Còn khán giả thì đến càng lúc càng đông, trong đó có cả các thanh niên, thiếu nhi ngồi nghe từ đầu đến cuối. Cụ Nguyễn Thị Chín ở tuổi 90- một trong những nghệ nhân có nhiều năm truyền nghề cho lớp trẻ lần này không hát cùng nhịp phách mà chỉ cầm roi chầu mà ai cũng tấm tắc vì “sự lạ”. Lạ nữa còn có quan viên 13 tuổi Thanh Tùng. Kép đàn đáy Tô Tuyên nắn nót tiếng thanh tiếng đục, lúc bổng lúc trầm cùng các ca nương, quan viên tạo nên  thế chân kiềng độc đáo “một đi ba” trong nghệ thuật trình diễn Ca trù. Còn Thu Hằng với 3 Huy chương Vàng liên tiếp tại ba kỳ Liên hoan Ca trù toàn quốc được người cha ruột của mình ông Nguyễn Đình Vũ bật mí: : “Cha con tôi đã từng giận nhau. Mấy năm trước, nhà thì nhiều việc, nhưng quay đi quay lại đã thấy cháu nó biến đi đâu mất. Về sau biết cháu đi học hát Ca trù, không ai ngăn cản được, tôi đành... chào thua. Giờ thấy cháu có thành tích cùng với chị em trong CLB, lại được khán giả biết tới và trân trọng, tôi nghĩ cách tốt nhất là động viên chia sẻ với niềm đam mê nghệ thuật của cháu”. Bí thư quận ủy Lê Chân  Phạm Từ Thứ thấy Ca trù thú vị vì ngoài vẻ đẹp đoan trang, nghiêm cẩn của các ca nương, kép đàn khi trình diễn, mỗi làn điệu lại được giới thiệu rõ xuất xứ cũng như dẫn dắt cái hay cái đẹp. Ông cho rằng cần đưa Ca trù trở thành một phần của đời sống văn nghệ ở các phường, các khu dân cư.

Những nơi có nhiều đình, đền.. là không gian lý tưởng cho việc trình diễn Ca trù. Thành công từ Đêm ca trù đặc biệt tại Đình Kênh là hiệu quả của sự phối hợp giữa UBND quận Lê Chân và Hội Văn nghệ dân gian Hải Phòng, mở ra tín hiệu mới khi thực hiện xã hội hóa quảng bá Ca trù trong thời gian tới. Ngay trong dịp đón mừng năm mới, Ca trù đã được đưa vào chương trình văn nghệ của tổ dân cư 22 Vĩnh Niệm với bài “Hải Phòng vào xuân” ( điệu Bắc phản), bài “36 giọng” lời cổ  và múa hát Xem tập trận trình diễn cùng hề chèo cổ, hài kịch và diễn xướng chầu văn. Đó cũng là minh chứng nắm bắt tín hiệu xã hội hóa quảng bá Ca trù rất đáng khích lệ./.   

Ngọc Anh
 
Nghĩ về sắc thái văn học Hải Phòng
Dưới tiêu đề “Giữ gìn, phát huy sắc thái văn hoá địa phương trong sáng tác văn học nghệ thuật”, cuộc hội thảo truyền thống lần thứ VI năm 2011 của nhóm 8 Hội Văn học nghệ thuật các tỉnh, thành phố phía Bắc (VN8) được tổ chức ngày 24/11 tại Ninh Bình. Cửa biển xin giới thiệu tham luận của nhà thơ Nguyễn Thanh Tuyên (Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng) trong hội thảo.

Cửa biển Hải Phòng, thành phố Hoa Phượng Đỏ, nơi đầu sóng ngọn gió từ bao đời luôn phải gồng mình đối chọi với thiên tai, địch họa, hứng chịu bao gian lao vất vả. Từ thời Hai Bà Trưng, nữ tướng Lê Chân được giao trấn ải đất Hải Tần phòng thủ giữ vị trí tiền tiêu khu vực Đông Bắc. Hải Phòng trong lịch sử lâu dài đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, đã hình thành nên một vùng đất văn hiến vừa đậm đà văn hóa Việt vừa có sắc thái riêng độc đáo. Qua các thời đại đã để lại những kiến trúc đền miếu, đình chùa, đài tháp; những làng nghề, với nghệ thuật tạc tượng, múa rối nước, ca trù, hát Đúm, lễ hội chọi trâu... là những dấu ấn văn hóa đặc sắc giầu chất nhân văn.

Trong quá trình phát triển của thương cảng và phố thị, Hải Phòng thành chốn hợp lưu, quần cư. Người tứ xứ tha hương tới đây trú ngụ góp phần hình thành nét văn hóa đa dạng, đan xen, tạo ra nét đặc thù phong phú, sinh động cho văn chương xứ sở. Chính mảnh đất này đã nhen nhóm cảm hứng sáng tạo, đã làm nên tên tuổi nhiều văn nghệ sĩ. Hơi thở của vùng miền ăn sóng nói gió, đậm phong vị mặn mòi, giầu chất biển cả đã ùa vào trong tác phẩm của họ.

Nhà thơ Nguyễn Thanh Tuyên đọc tham luận tại hội thảo
Ảnh: Hoàng Vũ
Người Hải Phòng tự hào ngay từ những năm 30 của thế kỉ XX, Thế Lữ mở đầu cho phong trào Thơ mới. Trần Tiêu,  Khái Hưng khởi tạo một xu hướng sáng tác của Tự lực Văn đoàn. Rồi Văn Cao đa tài, Nguyễn Huy Tưởng sâu sắc ý nhị, Nguyễn Đình Thi lịch lãm, sang trọng...đều xuất phát điểm từ vùng cửa biển đầy sóng gió này.

Đặc biệt, Hải Phòng có một nhà văn gắn bó với những phận người cùng khổ lam lũ trong những ngõ hẻm, đường tàu, bến sông, bãi chợ, xóm nghèo... và nhức nhối đau với từng nỗi đau của những thân phận khốn cùng - Đó là Nguyên Hồng. Hiện thực chua chát được phơi bày trong thiên tiểu thuyết Bỉ vỏ sắc sảo, tài hoa của ông ngay từ tuổi vị thành niên. Những địa danh, những khuôn mặt bần hàn của bao kiếp người xô giạt vào trong ông , giúp ông viết hàng loạt truyện ngắn và bộ tiểu thuyết đồ sộ mang tên Cửa biển gồm 4 tập: Sóng gầm, Cơn bão đã đến, Thời kì đen tối, Khi đứa con ra đời. Mồ hôi, nước mắt của Nguyên Hồng đã hóa thành tài sản quốc gia .

Đất Cảng còn là nơi góp phần nuôi dưỡng nhiều văn tài khác. Thành phố Hải Phòng mãi mãi lưu giữ những kỉ niệm khó quên một thời từng sống, từng góp phần rèn giũa những cây bút như Nguyễn Quang Thân, Thanh Tùng, Nguyễn Khắc Phục, Chu Văn Mười, Nguyễn Thụy Kha, Vân Long, Trung Trung Đỉnh, Lê Điệp, Nguyễn Tùng Linh...

Văn nghệ thành phố Hoa phượng đỏ luôn có sự kế thừa và phát triển. Hiện nay Hội Nhà văn Hải Phòng (1 trong 9 thành viên của Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng) có 123 hội viên gồm 81 tác giả thơ và 42 tác giả văn xuôi (trong đó có 26 người là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam).

Một số nhà văn miệt mài lao động văn chương từ thời chống Pháp như Nguyễn Viết Lãm, Nguyễn Dậu, Mai Vui... Kế theo là lớp nhà văn thời chống Mỹ như Bùi Ngọc Tấn, Thi Hoàng, Trịnh Hoài Giang, Đoàn Lê, Lưu Văn Khuê, Phạm Ngà, Nguyễn Thanh Toàn, Trần Lưu, Vũ Hiển, Vũ Châu Phối,Trần Quốc Minh, Trần Tự, Nguyễn Thị Hoài Thanh...

Sau 1975, Hải Phòng xuất hiện nhiều tên tuổi mới như Bão Vũ, Vũ Thị Huyền, Dư Thị Hoàn, Mai Văn Phấn, Đồng Đức Bốn, Tô Ngọc Thạch, Phạm Xuân Trường, Hoài Khánh, Thúy Ngoan... Họ đã đóng góp đáng kể cho văn học thời kì đổi mới. Chỉ tính trong 10 năm gần đây, các nhà văn Hải Phòng đã cho ra mắt trên 100 đầu sách. Bao gồm hơn 10 tiểu thuyết, hàng chục tập truyện ngắn và hơn 60 tập thơ. Một số truyện đã được chuyển thể dựng phim nhựa, phim truyền hình. Tính từ năm 2000 đến nay các nhà văn, nhà thơ đất Cảng cũng giành được nhiều giải thưởng, đặc biệt nhà thơ Thi Hoàng được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Chúng tôi không có tham vọng trình bày toàn cảnh văn học Hải Phòng, cũng thật khó điểm qua được những tác phẩm góp phần làm lên diện mạo văn học trong giai đoạn đổi mới, chỉ xin nêu một số gương mặt tiêu biểu:

1. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn : Văn ông có sức nặng và chiều sâu chắt ra từ hiện thực đất Cảng, từ những oan trái của số phận người. Ngòi bút của ông tinh anh, thâm hậu, trầm tĩnh. Truyện của ông hấp dẫn người đọc bởi sự dung dị mà hài hước hóm hỉnh. Ông mổ xẻ bóc trần cái xấu, cái ác, khao khát vươn tới cái thiện, cái đẹp ở cõi người. Nhiều tập như Viết về bè bạn, Người chăn kiến , Biển và chim bói cá... Mấy ai hay, ông vừa là tác giả vừa là nhân vật trong truyện. Sách của ông được tái bản và đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp.

2.Nhà văn Bão Vũ: Một kiến trúc sư lịch lãm, uyên bác. Hàng loạt tác phẩm phong phú về đề tài, văn phong sang trọng, trí tuệ và bay bổng như: Thung lũng ngàn sương, Vết thương trong không gian, Hỗn hương, Ván bài tỷ điểm tử, ...với các tập truyện ngắn, tiểu thuyết: Mây núi Thái Hàng, Cánh đồng mơ mộng, Biển nổi giận, Hoang đường, Vĩnh biệt vườn địa đàng,…đã khiến Bão Vũ đoạt nhiều giải cao của báo Người Hà Nội, báo Văn nghệ,  Hội Nhà văn Việt Nam. Tác phẩm của ông có mặt trong nhiều tuyển tập truyện hay của các nhà xuất bản. Một số tác phẩm của Bão Vũ được dịch ra tiếng Anh và nhiều truyện được đưa lên phim.

3. Nhà văn Đình Kính: Từng là lính Hải quân, nên ông rất thành công trong khai thác đề tài chiến tranh. Ông truy tìm và nhận diện thương tổn chiến tranh, phát hiện những éo le thân phận cũng như những bi kịch nghiệt ngã sau cuộc chiến. Ông xúc động trước sự hy sinh thầm lặng của bao đồng đội mình. Biển Đông đã cuộn sóng trong 14 tập sách bao gồm tiểu thuyết, truyện và kí của ông. Nhà văn Đình Kính đã được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cho tiểu thuyết Sóng chìm. Ông có một số kịch bản phim được trình chiếu trên màn ảnh nhỏ.

4. Nhà thơThi Hoàng: Là nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ. Sự cách tân bền bỉ đã đem lại hiệu quả thẩm mỹ cao đóng góp cho nền thi ca đất nước. Thi Hoàng kì công xây dựng hình tượng trong thơ và làm sang làm đẹp thơ bằng trau chuốt sáng tạo ngôn từ. Đọc Gọi nhau qua vách núi, Bóng ai gió tạt, Đom đóm và sao,  Ba phần tư trái đất ... ta thấy ông quan sát tinh tế, giàu suy tưởng và luôn bột phát những suy nghĩ xuất thần. Thơ Thi Hoàng chứa đựng những triết lí bền vững.

5. Nhà thơ Đồng Đức Bốn: Được gọi là Thi sĩ đồng quê bởi lục bát là bản năng của ông. Đồng Đức Bốn mang chất quê, ngông ngạnh nhưng biết kế thừa của thể thơ mang hồn cốt Việt lại hiện đại hóa nó bằng vốn từ vựng không quá giàu có của mình.Tài hoa của một người được công nhận bởi làm ra những câu lục bát lấp lánh từ ngôn ngữ dân dã, quê kiểng.  Một cuộc đời thơ không dài nhưng ông để lại tới 600 bài thơ thì thật đáng khâm phục.

6. Nhà thơ Mai Văn Phấn : Quê tận Kim Sơn, Ninh Bình, nhưng thơ có hồn biển trong gió lộng và cánh sóng Hải Phòng. Sau thời kì đầu làm thơ ghi lại cảm xúc bằng những thể thơ truyền thống, ông mạnh dạn rẽ ngang đi tìm hướng mới cho riêng mình. Ông dồn nhiệt huyết thể nghiệm thơ, quyết liệt đổi mới thi pháp. Và Mai Văn Phấn đã thành công. Thơ ông thường không vần điệu, ít nhịp phách, hiệu quả ngôn ngữ phát huy cao nhờ vào tài bố cục và sắp xếp từ vào những dạng thức khác nhau trong không gian nhiều chiều. Đọc thơ ông không dễ, đòi hỏi nghiền ngẫm và dành nhiều thời gian. Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn đã tạo ra hiện tượng văn học đất Cảng.

Còn có thể kể ra nhiều tên tuổi góp phần làm nên diện mạo đặc sắc của văn chương Hải Phòng như Phạm Ngà, Lưu Văn Khuê, Hồ Anh Tuấn, Kim Chuông, Vũ Thị Huyền...Lại có nữ sĩ đa tài như Đoàn Lê đã thành công trên nhiều lĩnh vực như văn học, điện ảnh và hội họa. Đặc biệt nhà thơ Trần Quốc Minh yếu đau nhưng đã viết về Hải Phòng với 1700 câu trong trường ca Gió thổi từ biển. Hay nhà văn Nguyễn Dậu có 30 đầu sách, nhưng những ngày lâm bệnh cuối đời vẫn run rẩy viết, để lại 100 trang bản thảo  cuốn tiểu thuyết dang dở về Hải Phòng nơi ông đã sống. Sự lao động nghệ thuật của họ thật đáng cảm phục.

Những văn nghệ sĩ chân chính thật sự tự hào khi góp phần điểm tô màu sắc rực rỡ cho mỗi cánh phượng đỏ của một Hải Phòng đang mở cửa hội nhập với cả nước và thế giới./.

 
Mái chèo gẫy, lấy câu thơ buộc lại … (Đọc tập thơ “Chuộc yêu” của Thu Nguyệt - Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2011)

Người đàn bà làm thơ đau khổ suốt cuộc đời đi tìm một tình yêu đích thực, chỉ mong “được sống chính là mình dù chỉ phút giây thôi” nên đã yêu, đã tin bằng cả trái tim mê đắm, nồng nàn… Vậy mà hạnh phúc đã từ chối chị… Không có ai viết về mình như Thu Nguyệt ở những năm  tóc chị đã ngả màu: Em như chiếc áo thay ra/ Chiếc áo thơ ngây ngày nào đã rã/ Một mái chèo bơi ngang sông Cả/ Một cánh buồm tơi tả hoàng hôn.


Người đàn bà nửa cuộc đời đã đi ngược chiều gió thổi, một mình nuôi hai con khôn lớn, chống chọi lại bão tố cuộc đời: Em chèo ngược sông/ Mái chèo gẫy, lấy câu thơ buộc lại/ Phía trước không ai vẫy/ Sau lưng chẳng thấy bờ/ Sóng ào ào vùi dập và mưa/ Mái tóc đã ngả màu chiều, ướt sũng

Và chị nhận ra một điều, may mà còn có thơ giúp chị gượng dậy và tranh đấu trong cuộc đời đầy xáo trộn, bất trắc này: Em tuốt nỗi buồn và đắng cay thành sợi chỉ/ Vá víu đời mình bằng những câu thơ/ Rót chén đau thương, cạn ly rượu đắng/ May mà còn có thơ em bấu víu không chìm.


Đọc đến đây, chợt tôi nhớ đến bài thơ “Chị tôi” của Đoàn Thị Tảo (được nhạc sĩ Trọng Đài phổ nhạc) có câu: Ngày chị sinh/ Trời cho làm thơ/ (…) Tình riêng bỏ chợ/ Tình người đa đoan


Có lẽ đó là số phận mà ông trời bắt những người đàn bà đa cảm, đa tình, tài hoa phải chịu đựng chăng ?


Thu Nguyệt sinh ra trong một gia đình có cả bố và 4-5 anh em  đều viết văn, làm thơ. Ông bố Nguyễn Văn là một nhà văn có bề dầy sáng tác khá ấn tượng ở Thái Bình. Anh cả Sinh Thành cũng viết văn làm thơ, đến chị -  cô công nhân xếp chữ ở nhà in cũng vướng vào nghiệp chữ, cậu em Nguyễn Long - một nhà thơ nổi tiếng với bài “Thường dân”, rồi đến chồng chị, - nhà thơ Kim Chuông và cả cô con gái Kim Nguyệt Hằng cũng đang cầm bút… Thu Nguyệt đã có hai tập truyện ngắn: Người dưng (2003), Rễ người (2005) và ba tập thơ: Phía sau quầng sáng mặt trời (2005), Nước mắt đá (2008) và Chuộc yêu vừa xuất bản.


Truyện và thơ của chị đều có cá tính riêng mạnh mẽ, rạch ròi, dám nói đến những góc khuất của đời, thể hiện sâu xa nỗi đau đớn cùng cực của những người phụ nữ đa đoan dám đứng lên giành quyền “được là chính mình”. Có lẽ chính vì điều đó làm cuộc đời Thu Nguyệt trở nên phức tạp, đau đớn, chị đã phải trả giá vì trái tim đa cảm, dám yêu, dám tin đến khờ khạo của mình, chị tự sự về cuộc sống đã qua  của mình:  Tôi đã sống những tháng năm ấu trĩ/ Đến nụ cười cũng phải sẻn so, cân nhắc/ Sống những ngày mượn vay vờ vật/ Không biết mùi vị cuộc sống đích thực của mình/ Chua xót, mặn mòi hay đắng chát/ Hít thở cũng qua mùi hơi hôi hám của người khác/ Chỉ cầu mong cho con tôi yên bình.

Chị cố gắng yêu, cố gắng tin khỏa lấp tất cả, quên đi bản thân mình… Nhưng chị đã thất vọng đến rã rời vì tình yêu đã xa rời chị. Rồi chị tự trách vì sự dại khờ của mình: Phía dại khờ đến mãi đâu?/ Mà đi tận bạc mái đầu chưa qua/ Thôi thì khờ dại đã nhiều/ Thì thôi đời một chữ yêu thôi đành.


Phải chăng những người đàn ông chị gặp, cùng sống đã không hiểu chị. Họ không cảm nhận được tình yêu sâu xa chín bỏ làm mười của chị. Họ đã không hiểu được tình yêu ấm áp, sâu lắng bao dung chị dành cho họ: Em nhớ về anh mỗi khi thức dậy/ Ước mỗi ngày lên tay được nắm lấy tay/ Và em biết mình giàu có nhất/ Bởi có anh trong cuộc đời này.


Vậy mà người đàn bà yêu ấy đã phải chịu cô đơn, đau khổ dằn vặt suốt cuộc đời. Chị đã viết về nỗi cô đơn đau đớn cùng cực ấy thật khó quên: Anh cứ hẹn một đời em đợi/T hơ viết cho anh - em đốt gửi lên trời/ Thương mình quá, em không nhìn gương nữa/ Trời cuối thu lá đổ bời bời.

Thu Nguyệt là người đa cảm, trong cuộc sống chị có nhiều người bạn ân tình, hết lòng vì nhau. Đó là tình bạn của chị với các nhà thơ Thái Bình như: Đỗ Trọng Khơi, Tống Trung, Đặng Thành Văn. Chị cũng là người con hiếu thảo với cha mẹ, là người mẹ yêu thương chăm sóc các con hết lòng: Nào ta bắt đầu nhé con/Hai con gái núm ruột mềm của mẹ/Dù phải đến chân trời góc bể/Cho mẹ tựa vào con đi tiếp cuộc hành trình.


Trong các bài thơ viết về bè bạn, tôi đặc biệt thích hai bài:  “Phù Vân” (tặng nhà văn Hòa Vang) và “Sinh ở Mường Trời” (tặng nhà thơ Đỗ Thị Tấc) với  những câu thơ chân thành, giản dị, lay động đến nơi sâu kín của tâm hồn. Chị nhớ lại buổi các nhà thơ Thái Bình cùng nhà văn Hòa Vang, đọc thơ ở sân nhà bạn cuối mùa Thu tám năm trước: Thế mà đã tám năm/ Người đi, người ở lại/ “Thiên sứ” bay về trời/ Hạt bụi người xa mãi.


Và đoạn kết thật ấm áp tình người: Đọc lại thơ bác tặng/ Buồn như rụng bàn tay/ Đời người như chiếc lá/ Ngước nhìn phù vân bay.

Dù cuộc đời không thuận buồm xuôi gió vì những đổ vỡ riêng tư nhưng chị không chỉ nghĩ về mình mà luôn có những tình cảm bao dung, cảm thông rất đáng trân trọng khi viết về phụ nữ và trẻ em có hoàn cảnh éo le: Như là cổ tích ngày xưa/ Một làng làm mẹ mà chưa có chồng”/ Bây giờ ớt ngọt, gừng chua/ Xin đừng nhắc chuyện ngày xưa làm gì/ Đẻ con là để hòng khi/ Lưng còng mỏi gối, nghĩa nghì nuôi nhau/ Phật thì ngồi ở ngôi cao/ Tiếng chuông con thỉnh làm sao tới trời.


Chị thương những đứa trẻ mồ côi lang thang cơ nhỡ phải đi kiếm miếng ăn như thương con mình: Con lang thang, bán báo, đánh giầy và ăn cắp vặt/ Những đêm mưa giông ào ạt, ngày nắng chói chang/ Mồ hôi khét mù, tóc con cháy xém/ Những cái bạt tai, những vệt nước miếng/ Những đồng tiền còn sũng nặng mồ hôi/ Nước mắt cạn rồi, con không thể khóc/ Nước mắt chẳng giúp gì cho con được ?/ Mẹ ở đâu trong những giọt nước mắt con ?


Chị chia sẻ với những người mẹ ở Irắc mất con vì chiến tranh, vì những kẻ “nhân danh” điều này, điều nọ dội bom xuống Bát Đa: Và Thu Nguyệt có những suy nghĩ triết lý làm ta giật mình: Nếu trái đất ngừng quay/ Hơn sáu tỷ người sẽ văng theo vào hố đen vũ trụ/ Chỉ còn tình yêu níu giữ/ Trong ngôi nhà này anh đứng ôm em.


Thơ Thu Nguyệt giản dị, chị làm thơ để bộc bạch cảm xúc, nghĩ suy về cuộc sống. Chị viết cẩn thận, chỉn chu, các hình ảnh, các câu từ được chọn lọc, chuyển tải được ý tưởng, tình cảm của mình… Với 36 bài thơ trong tập “Chuộc yêu” có thể thấy thơ chị đã vào độ chín, có sức nặng, để lại ấn tượng khó quên với người đọc.


Tin rằng với bản lĩnh của mình, chị sẽ vượt qua sự đổ vỡ, những hệ lụy bi thương để vững vàng, sâu lắng hơn trong những bài thơ mới. Đó là tiếng thơ sâu xa của những người đàn bà đa đoan, trời bắt làm thơ như chị./.

Nguyễn Long Khánh

 
Tiếng cười trong “Utopi một miếng để đời” của Vũ Bão
Nhà văn Vũ Bão trước lúc ra đi về cõi vĩnh hằng đã kịp gửi lại cho độc giả một cuốn tiểu thuyết dồn trút những điều tâm huyết suốt một đời cầm bút: “Utopi một miếng để đời”. Utopi gợi nhớ tới tác phẩm “Utopia” của Thomas More viết năm 1516, mô tả một xã hội không có thật, từ đó Utopia có nghĩa là “không tưởng”. “Utopi một miếng để đời” đã kể chuyện anh thợ chuyên làm thịt chó lên  ngôi thành bao chuyện tức cười. Từ chuyện quốc gia đại sự đến chuyện ăn uống, tắm táp. Từ vấn đề an ninh, quốc phòng, y tế, giáo dục đến vấn đề nam nữ… hôn nhau, tất tật đều bộc lộ những bất cập, yếu kém, non nớt, ấu trĩ, lạc hậu…và con đường đi đến chỗ hoàn thiện dường như còn rất xa vời , rất gian nan.

Utopi của Vũ Bão là thủ đô của vương quốc Balôđitxtan theo chế độ quân chủ lập hiến. Thái tử Balôđitxtan nhân một lần du lịch nước Nam xứ á châu đã được thưởng thức món thịt chó tại một nhà hàng ở thôn Chè, xã Trà Thủy, huyện Sông Trà, tỉnh Trà Lý và đâm ra mê mẩn. Về nước, Thái tử bèn mời anh thợ thịt chó Phạm Thế Hệ sang xứ Balôđitxtan để phổ biến món ăn có một không hai này. Thế là câu chuyện bắt đầu mở ra theo bước chân và hành trình ra nước ngoài của anh thợ giết chó thôn Chè. Truyện của Vũ Bão là cả bức tranh xã hội sống động với muôn mặt đời sống.

Từ chuyện thịt chó, Vũ Bão tự do phóng bút đến chuyện quốc gia, dân tộc. Có chuyện xứ Balôđitxtan thanh bình, Thái tử không muốn làm Quốc vương, họp hành ít, lễ hội không vẽ vời, cái gì lợi được cho dân thì làm cho dân, đem cho dân. Utopi là một đất nước có sự công bằng trong luật pháp. Hoàng tử Ghita Đamua là vị quan tòa công minh, chính trực nhất: Có lần tòa án thủ đô Utopi xử một thanh niên 5 năm tù về tội cưỡng dâm. Anh ta chống án và lẵng nhẵng đâm đơn đi kiện khắp nơi và may mắn đến được Thái tử. Vốn tính thương người, Thái tử mời anh ta lên và kiên nhẫn nghe anh ta kể từ đầu đến cuối rồi khẳng định đây chỉ là một vụ thông dâm nhưng người đàn bà muốn giấu chồng mối tình vụng trộm của mình nên đã láu cá biến cuộc gặp gỡ thường kì của mình thành một vụ cưỡng dâm, mà ở Baloditxtan tội cưỡng dâm cũng bị xử nặng không kém tội cướp nhà băng. Thái tử đến tòa án đọc đi đọc lại hồ sơ rồi bảo Chánh án gọi cô ta lên. “Thái tử hỏi: Anh ấy hiếp chị ở đâu? Cô ta trả lời: Thưa Thái tử, anh ấy hiếp con ở nhà tắm ạ. Thái tử bảo chị ta đưa đến nhà tắm rồi hỏi: Nhà tắm chật chội thế này anh ấy hiếp chị thế nào được? Cô ta vẫn hồn nhiên trả lời: Thưa Thái tử, anh ấy hiếp đứng ạ.Thái tử vẫn bình tĩnh hỏi: Anh ấy cao còn cô thì thấp, làm sao anh ấy hiếp được cô? Cô ta thật thà trả lời: Thưa Thái tử, anh ấy xui con ra nhặt mấy viên gạch vào kê cho con đứng. Thái tử bảo cô ta ghi đúng lời khai rồi đưa tờ khai cho Chánh án. Tòa án thủ đô Utopi mở phiên phúc thẩm, bác phán quyết của phiên sơ thẩm. Anh thanh niên vô tội, cô người yêu của anh phạm tội vu cáo, nhận hình phạt 5 năm tù cho hưởng án treo. Từ đấy trở đi, anh không thèm nhìn mặt cô người yêu trước nữa và nhân dân thủ đô Utopi cũng không nhìn thấy mặt ông Chánh án thành phố nữa. Tòa án tối cao lột lon Chánh án và đưa ông lên công tác tại vùng núi Taihosin để ông có thời gian suy ngẫm về tai họa ông suýt đổ lên đầu người dân vô tội.


“Vấn đề dân chủ, bình đẳng ở đây cũng được Hoàng gia và Chính phủ Balôđitxtan đưa ra phân tích và thực hiện đến nơi đến chốn: “Quốc vương và Thủ tướng nói giải phóng phụ nữ không phải chỉ đưa một phụ nữ lên làm Phó Thủ tướng hay một Bộ trưởng (…). Giải phóng phụ nữ ở Balôđitxtan nghĩa là mỗi chị em chúng em được dùng nồi điện Nhật Bản, bếp ga Mỹ, bếp điện Nga, ấm đun nước điện Hàn Quốc, máy xay thịt Anh, nồi hầm Nga, máy rửa bát đĩa Mỹ, chảo rán không dính Pháp, nồi hấp Trung Quốc, lò vi sóng Nhật Bản, máy hút bụi Pháp, máy điều hòa nhiệt độ Nhật Bản, máy giặt Hàn Quốc, chúng em vừa làm vừa nghe ca nhạc, xem các chương trình ti vi (TV), học các chương trình toán lý hóa trên TV, xem các chương trình thời trang, các kiểu tóc, các kiểu giày dép trên TV (…). Chồng đánh vợ, người vợ chỉ cần nhấc máy điện thoại gọi đến đồn cảnh sát gần nhất, lập tức cảnh sát đến gõ cửa ngay”. Nói chuyện một đất nước nào đó xa xôi mà như thấy những vấn đề nhạy cảm của đất nước mình ngay trước mắt và ước mong cho Utopi là hiện thực ở xứ mình.


Mạch truyện cứ thế phát triển trên cái trục chính được nhân vật “tôi” kể một cách hồn nhiên với những đoạn rẽ ngang khá hợp lý. Mỗi câu chuyện đều lấp lánh nụ cười hóm hỉnh của Vũ Bão, xâu chuỗi tất cả lại, người đọc có một “đời cười” bất tận.


Đầu tiên là chuyện hành trình đi tìm việc làm của anh thanh niên làng Chè cùng những đồng hương của anh. Họ làm giấy xin làm công nhân của Viện thiết kế “đi công nhân hay hơn vì công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng”. Được nhận vào làm và được đón tiếp chu đáo nhưng đến nơi mới ngã ngửa người ra: “Đúng là Viện thiết kế tổng hợp lâm nghiệp Hà Nội thật nhưng cán bộ-kể cả kỹ sư, cán bộ trung cấp và công nhân đều đi tác nghiệp trên rừng. Nếu bở ăn, các ông ở Viện đã nhanh chân đưa con đưa cháu- cùng lắm cũng phải đến phần cánh người trong họ, ngoài làng, làm gì đến lượt chúng tôi (…). Từ đấy chúng tôi bảo nhau đừng xin vào các cơ quan trung ương, họ sẽ tha lôi mình khắp trên rừng dưới bể.” Rút kinh nghiệm lần này, anh thanh niên làng Chè đăng ký xin đi lao động xuất khẩu, làm đơn xin đi, làm lý lịch, làm giấy khám sức khỏe, sao văn bằng tốt nghiệp THPT, bằng Tổ quốc ghi công, Bằng khen chạy nhanh nhất huyện, Bằng khen chạy thứ ba toàn tỉnh với hy vọng được chiếu cố. Thế nhưng đơn của anh vẫn bị xếp xó bởi “Bố tôi bảo: Thời buổi này, mày đi qua cửa nào thì phải đóng tiền cho cửa ấy… Mày cứ nghĩ mà xem, ai uống nước lã mà chạy công, chạy việc cho mày sang Tây xem tư bản giãy chết văng cả ti vi, tủ lạnh, máy khâu, đầu đĩa, bàn là, xe máy ra cho mày đóng thùng mang về nước.”


Đến chuyện ngành giáo dục: “Xóm giữa có một tay thuộc loại tối dạ nhưng nhờ nhà trường mót cái huân chương nên năm nào cũng phấn đấu một trăm phần trăm lên lớp, cậu ta đã có người đun lên lớp. Từ lớp một đến lớp chín thì còn được, nhưng khi vào trường THPT, cậu ta phải nghiến răng leo lên, không thày bà nào đun lên được, thế là đành tuột xích.” Còn anh thanh niên khi cố vận dụng hết những từ đã học để nói một câu tiếng Anh với Sayonara (cô gái đón tiếp anh) “Tôi rất xúc động trước tấm lòng mến khách của dân Balôđitxtan” thì cái giọng làng Chè cộng vốn tiếng Anh do các thày người Giao Chỉ dạy khiến Sayonara phải nhẹ nhàng trả lời là: “Xin lỗi, tôi không biết nói tiếng Đức.”


Rồi đến chuyện của ngành y tế, chuyện anh thanh niên thôn Chè đưa bà mẹ bị đau bụng vào bệnh viện huyện: “Cô y tá sờ sờ nắn nắn bụng bà cụ rồi ngẩng đầu hỏi tôi: Muốn kim to hay kim nhỏ đây? Tôi thật thà trả lời: Kim nào khỏi bệnh nhanh là được. Cô y tá lùi vào trong phòng, với tay lấy bao da, kéo roạt một cái cho nắp bong ra, lấy cái đo huyết áp rồi vừa quấn tấm băng rỗng quanh cánh tay mẹ tôi vừa nói: Đấy nhá, sau này đừng oán chúng tôi không báo trước. Nói đoạn cô bóp quả bóng cao su cho tấm băng màu xam xám quấn quanh cánh tay mẹ tôi căng dần lên. Chắc cô bóp quả bóng quá tay, nên mẹ tôi tự dưng không thấy đau bụng nữa mà cứ thấy nhưng nhức ở cánh tay như ngày bọn Pháp đóng ở bốt Chè xuống làng bắt phu đã trói mẹ tôi lại để uy hiếp những người định trốn”, anh phải vội chạy ra cổng mua cái phong bì, nhét tờ 50.000 đồng dúi vào túi áo blouse của cô thì bà mẹ mới được đưa vào phòng cấp cứu cho bác sĩ khám.


Rồi đến chuyện cán bộ lãnh đạo tha hóa, biến chất. Có vị cán bộ làm Chủ tịch xã, rất vô trách nhiệm dẫn đến hậu quả con đê của xã bị vỡ, dân làng lâm vào cảnh khốn quẫn nhưng ông chỉ bị “nghiêm khắc kiểm điểm, nghĩa là ngồi viết bản kiểm điểm, tống vội mọi tội lên cho trời. Lúc chỉ đạo chống hạn, ông thường kêu gọi cấp dưới chống trời, lúc rao giảng cho trường Đảng huyện, ông nhồi nhét cho các tín đồ của ông: không những chúng ta phải cải tạo thế giới, chúng ta còn phải cải tạo cả thiên nhiên. Đến khi muốn chạy tội, ông viện cớ điều kiện khách quan – tức là mưa to gió lớn như thế thì đê xi măng cốt thép ở Hà Lan cũng đành thúc thủ.” Trong một lần đi công tác, ông đã sàm sỡ cô cán bộ Đoàn ngồi cùng xe, có người tố giác, thế là ông bị cấp trên “giáng cho cái án khiển trách và rút lên làm Phó Giám đốc Sở Thể dục thể thao.” “Không biết còn ở nơi nào trên quả đất này lại có chuyện làm hàng vạn người khổ sở sống cảnh màn trời chiếu đất thì không việc gì nhưng đến khi chỉ làm cho một người sướng thì lại bị hạ tầng công tác như ở cái huyện tôi.”


Rồi đến chuyện của ngành giao thông vận tải: anh lái xe tuy nhìn thấy đèn đỏ rồi nhưng cứ phóng xe vượt qua. Bỗng dưng…Tuýt…uýt. Hai cảnh sát giao thông đứng sau mép tường cầm dùi cui vẫy xe dừng bánh. “Anh lái xe vội rút túi lấy tờ giấy “xanh lá cây” kẹp vào giấy tờ xe, đẩy cửa chạy ngay xuống. Một “ông núp bảo nhỏ anh lái xe: Có thế này thôi à? Anh lái xe xoa hai bàn tay vào nhau: Xin anh giơ cao đánh khẽ. Một ông núp nói ngay: Các anh mày thức cả đêm chốt ở chỗ này, chú em nghĩ sao cho hợp tình hợp lý. Anh lái xe vẫn xoa xoa hai bàn tay vào nhau: Đấy là em lo phần bia phở còn cà phê với thuốc lá, anh bắt con xe sau. Hai ông núp mỉm cười thông cảm với thằng em nhanh trí…”


Rồi đến chuyện nét tính cách xấu trong tâm lý người Việt “Một ông Tiến sĩ Sử học lâu nay chỉ chuyên tâm nghiên cứu thủy tổ loài người là con khỉ hay con ngựa. ông đã nghiên cứu từ thứ dân đến huyện trưởng, tỉnh trưởng, thứ trưởng, tổng thống, từ hạ sỹ đến trung sỹ, đại úy, thiếu tá, trung tướng, đại tướng vẫn hay ra đòn kiểu đá hậu, tuy mỗi thời, mỗi nước có cải tiến đi một chút cho phù hợp với phong tục, tập quán, hiến pháp, luật lệ nhưng miếng võ cơ bản vẫn là đá hậu theo gien di truyền.” Sống trong thế giới thông tin và hội nhập nhưng đa phần thanh, thiếu niên vẫn mù kiến thức giới tính và thiếu hiểu biết văn hóa phương Tây. Nghe thằng Đom – một thanh niên may mắn được đi xuất khẩu lao động ở Đông Đức, kể chuyện bãi biển nước người có cảnh tắm tiên “Đứa nào cũng bảo thằng Đom bốc phét, nước Đức là quê hương cụ Các Mác, không đời nào lại diễn công khai cái trò dâm ô, trụy lạc đó. Chỉ có bọn tư bản giẫy chết chúng mới sống gấp như thế thôi.” Thiếu hiểu biết nhưng lại rất tò mò thích nhìn trộm, xem lén. Anh thịt chó làng Chè muốn vào khu tắm khỏa thân là nhằm mục đích nhìn cho đã thân thể người khác (hơn nữa, người Tây hẳn hoi) chứ không phải nhằm mục đích thư giãn cơ thể. Thế nhưng lại khó vượt qua cái xấu hổ, tự ti cố hữu của anh nông dân sinh ra và lớn lên ở vùng đất ngàn năm trồng lúa nước. Cho nên anh ta mới “Nói người thì dễ, nhưng đến lượt mình tôi cứ phải đắn đo chán chê mê mỏi rồi cuối cùng tôi phải tự làm công tác chính trị cho chính tôi mới buồn cười chứ…Mày muốn xem hàng của Tây thì ít ra mày cũng phải trình làng cái của mày đi đã chứ… Mày nghiến răng lại “Triển lãm” một cái nhưng mày lại được thỏa thích ngắm nghía những trăm cái, toàn là hàng độc, lần đầu tiên mày nhìn thấy trong đời…”


Còn rất nhiều những chuyện khác nữa như tình trạng tham ô, lãng phí, ăn bớt ăn xén kinh phí xây dựng các công trình phúc lợi, tiêu “tiền chùa” vô tội vạ; chuyện lời nguyền của dòng họ Đamua như gửi gắm nỗi lo lắng về một nguyên tắc độc tôn, khép kín; chuyện giới thiệu món ăn mộc tồn “quốc hồn quốc túy” ra thế giới … Utopi đã dịch chuyển dần dần tương đồng với những điều chưa hoàn thiện ở đất nước xa kia.


Chất humour thấm đẫm từng trang sách, từng câu chuyện, cái cười của Vũ Bão trong tiểu thuyết này khi dí dỏm, lúc sảng khoái, lúc giễu nhại nhưng đằng sau đó chất chứa một sự suy ngẫm, có cả tiếng thở dài trước những ngổn ngang bề bộn chưa được dọn dẹp trên thế giới này. Và trên hết là tấm lòng thiết tha với con người và xứ sở, là niềm kỳ vọng vào một xã hội ngày cành tốt đẹp và văn minh hơn./.

Trần Thị Hạnh

 
«Bắt đầuLùi1234Tiếp theoCuối»

Trang 1 của 4
 

Video

Liên kết

bao_hp

 

cung_vntt_thanh_nien_hp
dang_cong_san_vn
thanh_pho_hp

 

Số người online

Hiện có 1 khách Trực tuyến
mod_vvisit_counterHôm nay95
mod_vvisit_counterHôm qua110
mod_vvisit_counterTrong tuần95
mod_vvisit_counterTrong tháng590
mod_vvisit_counterBạn là lượt truy cập44103