|
Hai chữ Cô đầu không có gì lạ, chẳng có gì xấu. Ngày xưa, dân gian thường gọi đi hát Ca trù là hát ả đào, hát Cô đầu, hát Nhà tơ… Cũng may mà trong những năm gần đây, Ca trù được quan tâm, khôi phục, sưu tầm, khảo cứu và nhất là Ca trù vừa được thế giới công nhận di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Trong phạm vi bài này, nhân dịp Xuân về, tôi cùng các bạn đi sâu vào một góc của Ca trù để tìm hiểu tại sao lại có câu “Tom tom chát đi hát cô đầu”.
Đã 85 năm rồi, hồi ấy mới lên 5, tôi may mắn được tiếp cận với hát Ca trù. Bởi vì bố tôi, ông tôi và một số bạn làng văn, làng giáp, trong hàng tổng, hàng huyện hay gặp gỡ nhau trong các kỳ sinh hoạt văn hoá, bao giờ cũng gọi “Nhà tơ” về hát, mỗi tháng một vài kỳ, có kỳ hát liên tục đến vài ngày…
Tôi thường được ngồi cạnh bố, nghe và xem… Thế rồi lớn lên đi theo cách mạng thì hát Ca trù bị cấm.
Con đường của Ca trù “ba chìm bảy nổi, chín lênh đênh” thậm chí có người chịu “oan khiên” vì tội mê hát Ca trù…
Việc tổ chức hát Ca trù xưa, thường chỉ có ba bốn người chủ chốt, một đào nương hát (ca nương), một kép đàn đáy và một quan viên. Quan viên đến nhà ca nương hay mời ca nương về nhà riêng hát mừng chức sắc, mừng thọ, mừng tế kỷ niệm nhà thánh ở đình làng. Hát Ca trù từ nông thôn lan dần ra thành phố. Có nơi có cả một dãy phố gọi là phố cô đầu. Hải Phòng có Quán Bà Mau, Hà Nội có phố Khâm Thiên, Nam Định có phố Cổng Hậu.
Trước hết, người đánh trống chầu hát Ca trù là ai? Đó là vị khách hàng, người “mua hàng”, người thưởng thức. Người đánh trống chầu không phải là người của đào hát và kép đàn. Trong những năm gần đây, tôi thấy nhiều nơi tổ chức hát Ca trù thì vị khách mời đánh chầu cũng cứ nghiễm nhiên khăn đóng, khăn xếp, áo dài cặp... và lại ngồi xệp xuống chiếu trải dưới đất? Ca nương gõ phách hát ngồi giữa, kép đàn ngồi bên phải, như thế tức là người đánh trống chầu cùng hội với ca nương, ca công và kép đàn? Vị đánh trống đó là khách hàng, là thượng khách của nhà chủ, là các cụ tú, cụ cử, cao hơn nữa là các quan tổng đốc, tuần phủ, tri phủ, tri huyện xưa, các vị thông phán, tham biện, ký lục, công chức thời Pháp. Họ có học thức, có học vị được trọng vọng. Họ đi mua hàng giải trí (đi hát ả đào). ở nông thôn, hàng ngũ tổng lý kỳ hào có chút ít văn hoá, có bằng, có sắc vua ban, cửu phẩm, bát phẩm mới được mời: “Dạ xin mời cụ bỏ chầu, ra chầu cho chúng cháu lấy may...”. Các vị được mời ngồi trên sập gụ chân quỳ, trên trường kỷ, phía đầu ngoài để một ghế đẩu đẹp, trên ghế để trống chầu và cái roi chầu nằm ngang. Cụ nào được mời, cầm roi chầu hãnh diện và trịnh trọng ra roi: ba tiếng “Tom- tom- tom”...
Cầm roi kiêu hãnh, tư thế ngồi cho đàng hoàng, rõ ràng có phong độ; kể cả mới ra “Tom- tom- tom”, lúc đó cô ca nương mới dám dạo phách, anh kép đàn mới nổi tiếng đàn đáy... bổng trầm, anh kép đàn định giới thiệu cô ca nương hát bài gì, hát nói hay tỳ bà hoặc 36 giọng, vị khách chức sắc có ưng, có thích nghe bài hát nói “Hồng hồng Tuyết tuyết” hay không chỉ cần nghe vị đó ra roi chầu mấy tiếng “chát chát tom tom” là ca nương tự biết và vào cuộc cùng kép đàn.
Ngày trước, tôi cũng là công chức ở Hà Nội, từng hát ở nhà “đốc sao Khâm Thiên”, không mặc áo dài, đóng khăn xếp mà mặc compet hàng sang, hàng Ăng lê. Xuống phố cô đầu được các cô đon đả chào đón từ cửa vào, mời trà nước lịch sự... Khi cần hát, khách chỉ cần cầm roi chầu đánh ba tiếng, cô đào ca công đang hát nhà bên tranh thủ hát xong mau chóng xin phép sang chào quan viên nhà bên và lễ phép ngồi vào đàn, hát. Có sự phân cấp như vậy mới nghiêm, bởi lẽ khách là giới chức sắc, giới tri thức, người mua hàng không thể thu nhập hội cùng ca công và kép đàn được...
Hát Cô đầu không thể thiếu người cầm chầu. Vậy người cầm chầu là ai?... Người cầm chầu là khách mua hàng, người sử dụng hàng. Hay thì khen, dở thì chê và nhất là phải hiểu nội dung, hiểu bài hát. Có nhiều ca công hát mà không hiểu hết nội dung. Bởi vì lời hát xưa toàn chữ Hán, chữ Nôm, những câu thơ, ca từ chải chuốt, ý tứ sâu sắc tới đỉnh cao. Ca nương ít khi hiểu tại sao khách lại đánh chát vào tang gỗ trống. Tại sao lại đánh tom lên mặt trống. Khách đi hát nhiều, thuộc lời, thuộc từng khổ hát, ca nương vừa đánh phách vừa hát rõ ràng từng khổ, từng đoạn... như rót vào tai.
Chẳng thế mà cũng rất ít quan viên biết cầm chầu đánh cho đúng chỗ, chỗ nào hay, hay như thế nào? Nghe hát, khách khoái tai mới gõ vào tang trống “chát... tom...chát”. Có lúc khoái chí quá, quan viên lấy 5 ngón tay bịt mặt trống, nâng trống nghiêng hẳn vào lòng, cầm roi chầu đánh từ mặt dưới trống đánh lên thành tiếng “Bộc bốc chát chát, bụp bum bum, tom tom...”. Đó là chê, đó là quấy, nghịch ngợm như vậy, cho là ca nương bị khê giọng, khan hơi, không hát được. Kiểu đánh chầu như vậy là không nghiêm, còn gọi là “tom chát móc họng”. Cô đầu chẳng dám nói gì với quan viên, vì sợ quan viên bỏ về thì cô đầu phải đền buổi hát. Ca nương cũng không phải tay vừa, nếu đêm khuya rồi mà bị quan viên đánh chầu “kiểu móc họng” thì cô ta cũng dám chơi lại bằng cách hát xong, cô ta xếp hai que phách và chiếc phách lớn lại châu đầu vào nhau thành hình “tam giác”. Quan viên hiểu ý cho là cô này hỗn xược, xỏ mình, liền không trả tiền chầu hát, ra về bị các chị em chạy ra xin lỗi, kéo lại... Cũng là khổ cho ca nương khi gặp những quan viên quậy phá như vậy... Tuy cũng ít thôi, nhưng đã xảy ra.
Ca nương học hát đã khó, quan viên học đánh chầu cũng chẳng dễ chút nào. Lời Ca trù có mấy khi ca nương hiểu hết nội dung mà hát hết mình, cho có sức truyền cảm, từ luyến láy đến nhả chữ, cho không bị ngang hơi với đàn, lại phải khớp với tiếng tom hay chát của quan viên. Ca nương rất sợ nếu ta hỏi bài Hồng hồng Tuyết tuyết cũng dễ hát, dễ tập, chóng thuộc nhưng liệu ca nương có hiểu thấu từng chữ, từng lời mà hát cho có cảm xúc, đậm đà, ngọt ngào? Chưa nói đến chuyện hát bài 36 giọng, rõ ràng là ca từ rất dân gian, dễ hiểu, dễ thuộc nhưng về nhạc lý thì vô cùng khó cho ca nương, lại khó gấp bội phần cho người đánh trống chầu... Vì chỉ vài chục từ của bài này đang hát sa mạc lại đổi sang giọng mời gọi...
“Thưa với bác, bác trai có nhà hay đi vắng...”. Quan viên biết đánh tom hay chat đây? Đang đối thoại lại chuyển nhanh sang bài Thầy sai phù thuỷ: “Thôi thôi bà để tôi về...”’
Chưa hết câu, nhạc lại chuyển rất nhanh sang ngâm... Có biết bao lần chuyển âm chuyển nhạc, luyến láy, quan viên cầm chầu không tinh, không nhanh thì xô lệch hết không thể hấp dẫn được.
Mà đã “ông chằng bà chuộc” thì không mấy người dám đi hát Cô đầu. Vì vậy mà mỗi lần quan chức rủ nhau đi hát Cô đầu thì ít ra cũng có một nhóm từ hai đến ba người, trong đó có một hoặc hai quan viên đánh trống chầu giỏi, có xoàng cũng phải đúng đàn, đúng nhịp phách, không đâm hơi...
Còn biết bao chuyện vui buồn, cười ra nước mắt, thương cho ca nương, kép đàn... mà Ca trù được “giải oan”, được vinh danh đúng mực. Cần làm thế nào cho cả chủ hàng (ca nương và kép đàn) cùng khách hàng (quan viên) cũng được nâng cao hiểu biết, nếu không lớp trẻ ngày nay không đến với Ca trù vì nhiều lẽ ta chưa nói được.
Từ năm 1998 đến nay tôi làm chủ nhiệm Câu lạc bộ Unesco tiếng Pháp của Hải Phòng. Tôi thường gặp gỡ giao lưu tiếng Pháp với nhiều sinh viên, cũng đã nhiều lần tôi đề cập
đến văn hoá dân gian và tích cực tuyên truyền cho vốn quý Ca trù. Các bạn sinh viên cũng như nhiều bạn trẻ đều nói: “Ca trù hay thì hay thực, vốn quý thì quý quá rồi, nhưng chẳng lẽ bọn trẻ chúng cháu lại phải may quần chùng, áo dài khăn xếp ngồi bệt xuống chiếu thì... quả là... khó chịu và cũng phiền toái rầy rà”. Tôi phải nói lại, hồi Pháp thuộc tôi cũng là công chức, là quan viên đi xuống phố cô đầu, cũng mặc trang phục Âu rất lịch sự...
Các bạn lại bảo là nghe hát Ca trù cũng rất thích, tiếng đàn trầm bổng, khoan nhặt, tiếng phách nhịp nhàng, lúc mau, lúc chậm cũng chuyển “gam” theo dàn rất điệu nghệ, hấp dẫn, còn đến “nội dung bài hát” thì chúng cháu “chịu hẳn”. Hán Nôm, chữ Nho là chúng cháu chịu. Nghe ca nương hát và cũng được nghe nói, các bài hát đều do các cụ cử, cụ tú sáng tác nhưng hiềm một nỗi vẫn như “vịt nghe sấm”. Nghe hát Ca trù mà không hiểu là họ hát cái gì thì dù đàn phách, giọng hát có hay đến mấy chúng cháu cũng nản. Các bạn trẻ nói có lý, đành rằng khai thác vốn cổ là sưu tầm, khai thác, bảo tồn nguyên si, chứ chưa thể nói cách tân hay làm thế nào để bạn trẻ đến với Ca trù...
Phải chăng vấn đề còn bỏ ngỏ...
|