|
Có thể nói hiếm nơi đem đến nguồn cảm hứng cho văn học, nghệ thuật như Công ty Xi măng Hải Phòng. Từ lâu đã có câu ca dao:
Hải Phòng có bến Sáu Kho
Có sông Cửa Cấm, có lò Xi măng.
Hải Phòng trăm năm trước còn nhỏ bé, chỉ ven mạn bờ Nam sông Cấm nhưng có một bến cảng làm cửa ngõ cho toàn Bắc kỳ và sừng sững Nhà máy Xi măng duy nhất của cả Đông Dương. Trong nhiều năm, Cảng và Nhà máy Xi măng như hình ảnh tiêu biểu của Hải Phòng, gắn bó khăng khít với cuộc sống của con người nơi đây. Nhà thơ Trịnh Hoài Giang thật có lý khi viết: “Nhà máy Xi măng/Trái tim thành phố”.
Nhà máy Xi măng Hải Phòng còn là cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam, nơi ra đời một trong những chi bộ Cộng sản đầu tiên của Hải Phòng. Công nghệ ngày đó còn lạc hậu, công với sự hà khắc của giới chủ, người công nhân Xi măng không những phải làm việc vất vả mà còn cực nhục. Báo Si moong phát hành bí mật vào năm 1931, cùng với các khẩu hiệu, những bài viết, thơ ca trên báo đã góp phần quan trọng trong việc đấu tranh đòi quyền lợi của người thợ.
Vất vả, cực nhục nhưng công nhân Xi măng vẫn có những vần thơ vui, để quên đi nặng nhọc và cho lòng nhẹ nhõm:
Anh đi khắp bốn phương trời
Không đâu lịch sự bằng nơi sở lò
Giai tơ xúc bột đầu lò
Còn như con gái phải lo việc ngoài
Lại thêm có một anh cai
Đứng trên cửa máng nhặt vài hòn vôi
Trẻ con hết đứng lại ngồi
Cai Ngãi bắt được lôi thôi đuổi về…
Cách mạng tháng Tám bùng nổ, công nhân Xi măng hoà vào không khí sôi sục của toàn dân. Họ có cách nói độc đáo chỉ người thợ Xi măng mới có:
Nước Nam là một cái nồi
Đun trên lửa hận, giận sôi đùng đùng
Trời Nam là một cái vung
Âm u khói súng đựng trong vung trời
Lòng dân ngùn ngụt bốc hơi
Hơi căng sức ép tung trời nổ ran
Căm hờn dâng nước sôi tràn
Đội lò áp bức, đập tàn lửa hung
Chúng ta vẫn coi bài thơ Hải Phòng, 19/11/1946 của Trần Huyền Trân gần như tác phẩm duy nhất phản ánh những ngày đầu kháng chiến chống Pháp trên đất Hải Phòng, thực ra trước đó công nhân Xi măng đã nói đến tinh thần ấy ở bài thơ Thanh sắt rỉ. Bài thơ kể về hành trình của thanh sắt “cò queo trong xó xỉnh đã từ lâu”, nay “nhẩy vào lò điêu luyện” và được rèn thành gươm, trông đã thấy “rùng mình, lạnh gáy, khí ngang tàng”:
Thanh sắt rỉ được tung hoành, thoả chí
Quyết xông pha tẩm máu chiến công đầu
Nào! Thực dân phản động, chúng bay đâu?
Hoà bình lập lại trên miền Bắc, nhiều văn nghệ sĩ từ Hà Nội xuống Hải Phòng để thâm nhập thực tế và viết về thành phố vừa được giải phóng. Nhưng hình như không mấy ai viết được gì. Vậy mà một công nhân Xi măng lại có bài thơ Tiếng còi của Sở Xi măng. Đó là tiếng còi hồi “mồ ma giặc Pháp”: “Còi như tiếng rú kinh người/ Hú hồn lao động, doạ đời bấp bênh”. Còn “Hôm nay còi sở thổi vang/ Reo vui khắp cả xóm làng xung quanh”, “Ngân nga còi báo tin lành”, “Du dương còi vẳng lưng trời/ Bằng trăm đàn ngọt, bằng mười hát hay”, “Tiếng còi, êm ấm thanh thanh/ Cho cơm nóng dẻo, cho canh ngọt ngào/ Cho con ta ửng má đào/ Múa ca hạnh phúc dạt dào về ta/ Tiếng còi bay bổng, bay xa/ Còi ơi, còi hỡi – thiết tha yêu còi”. Thật là đủ mọi cung bậc của cảm xúc và sinh động trong cách diễn tả.
Những năm đầu hoà bình lập lại và suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, nhà máy Xi măng là điểm đến của rất nhiều văn nghệ sĩ, và chính nơi đây đã hình thành một đội ngũ tác giả khá đông đảo, nhiều người xuất thân từ người thợ, như: Nguyễn Hoàng (tác giả kịch bản phim Khói trắng, nói về nhà máy Xi măng, một trong những tác phẩm đầu tiên của nền điện ảnh miền Bắc), như tác giả sân khấu Vũ Ngọc, hoạ sĩ Duy Lộc, các tác giả văn học: Nguyễn Kế Truyền, Xuân Hồng, Trần Tự, Nguyễn Hồng Quang, Trần Viêm…
Đầu năm 1964 Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng được thành lập, tập thể những người sáng tác và biểu diễn của Nhà máy Xi măng là một trong 5 hội viên đơn vị. Nhiều người trong tập thể này về sau đã trở thành tác giả tiêu biểu của thành phố.
Nhà máy Xi măng Hải Phòng ngày ấy là niềm tự hào của nhân dân thành phố, nơi có Tổ đá nhỏ ca A- đơn vị Lao động XHCN đầu tiên của cả nước. Hồi đó, dường như không một nhà thơ Hải Phòng nào lại không có thơ về nhà máy Xi măng. Nếu không cả bài thì cũng những câu thơ.
Đây là cảm nghĩ của nhà thơ Thi Hoàng:
Những bao xi măng chưa dựng xây thì chồng tạm lên nhau làm bệ tì của súng
Độ bền vững của xi măng là ý chí ngoan cường
Sau những trận quất lửa vào mặt quân thù người thành phố nhìn về nhà máy
Trên miệng ống khói lưng trời những ý nghĩ gặp nhau
Cuối những năm 80, đầu 90 thế kỷ trước, đất nước lâm vào suy thoái, Xi măng Hải Phòng gặp muôn vàn khó khăn, nhìn ngọn khói Xi măng “rã rời trong mỗi âm vang”, nhà thơ Thanh Tùng như nấc lên trong niềm ao ước:
Xi măng của ta ơi!
Ta xin dâng người từng hơi thở
Để người trở lại trẻ trung xưa
Để người lại hùng vĩ đứng bên bờ cửa bể
Để cho những người thợ chiều chiều vừa ăn cơm vừa ngắm làn khói trắng múa giữa trời xanh
Để cho giấc mơ đời ta không còn gầy guộc
Bay lên cùng ngọn khói trắng Xi măng
Trần Lưu có bài thơ tên gọi như một phóng sự: Trên công trường Nhà máy xi măng Hải Phòng nhưng quả không có cái tên nào thích hợp hơn. Đó là bức tranh bằng thơ về việc xây dựng nhà máy Xi măng mới bên sông Bạch Đằng:
Công trường dài suốt dòng sông
Náo nức ngàn cơn sóng vỗ
Bản thiết kế trải dài những chiếc lò nung
Ngàn tấn máy hiện trong đầu đồ sộ
Nhà máy mới ấy bây giờ là đây, niềm ao ước ấy, giấc mơ ấy, công sức của bao nhiêu ngày, giờ đang là hiện thực hùng vĩ bên dòng Bạch Đằng lịch sử.
Nhãn hiệu Con Rồng là biểu tượng của Xi măng Hải Phòng, chúng tôi xin khép lại bài này bằng thơ của một người thợ xi măng:
Rồng ta vươn ngọn cờ đầu
Rồng bay cho nước mạnh giàu, vẻ vang
Nhân Ngày thơ Việt Nam 2010
Tại Công ty Xi măng Hải Phòng
14 tháng Giêng năm Canh Dần
Lưu Văn Khuê
|