Home Lý luận phê bình Nghệ sĩ với sự chuyển dịch cơ chế quản lý điện ảnh
Nghệ sĩ với sự chuyển dịch cơ chế quản lý điện ảnh

Đại hội Điện ảnh lần thứ VII được tiến hành đúng vào thời điểm nhạy cảm của toàn ngành: Cơ chế quản lý và tổ chức ngành đang có sự chuyển dịch, dù chậm chạp và đầy khúc mắc. Sự chuyển dịch này tác động tới nhiều mặt của ngành, nhưng có thể thấy rõ nhất là sự tác động tới tâm lý của các nghệ sĩ – hội viên Hội Điện ảnh, đặc biệt là những người đang tác nghiệp hàng ngày, trên cương vị nghệ sĩ cũng như quản lý. Khu biệt trong nhóm các nghệ sĩ thuộc các Hãng phim Nhà nước, tâm lý này - từ quan sát của tôi - thì thấy có vẻ mang nặng màu sắc tiêu cực, hay chí ít cũng là tâm trạng thụ động trong lo lắng, thậm chí thêm một chút chua chát khi chúng ta đã “lướt” qua kỷ niệm 50 năm ngày ra mắt bộ phim truyện đầu tiên của nền điện ảnh cách mạng trong lặng lẽ. Khá kỳ lạ là dường như những biến động này rất ít tác động đến hoạt động của Hội, nơi mà lẽ ra phải có phản ứng tức khắc đối với những xung động trong tâm tư nguyện vọng cũng như quyền lợi của nghệ sĩ. Bởi vậy, tôi cho rằng diễn đàn này chính là nơi thích hợp để bày tỏ những suy nghĩ của cá nhân tôi về vấn đề đã được bàn thảo nhiều trên công luận trước thềm đại hội.

Trở lại chủ đề chuyển dịch cơ chế quản lý của ngành điện ảnh. Định hướng chuyển dịch là cơ chế cổ phần hoá, nhằm tạo ra các công ty điện ảnh cổ phần, từ đó khẳng định điện ảnh là một bộ phận của nền kinh tế thị trường với những đặc thù văn hoá, và nhiệm vụ chính trị không thể bỏ qua. Tuy nhiên định hướng này không khiến chúng ta yên lòng.

Tại sao vậy?

Có khá nhiều ý kiến cho rằng tiến trình cổ phần hoá các Hãng phim Nhà nước đồng thời cũng là tiến trình xoá sổ nền điện ảnh cách mạng Việt Nam. Có thể có những cách nói nhẹ nhàng hơn, hoặc đôi khi chỉ là một tiếng thở dài bất lực, nhưng cái định kiến trên quả thực hiện hữu rõ ràng trong tâm trạng nhiều nghệ sĩ. Nhưng nếu đối với nghệ sĩ, đó chỉ là sự cảm thán về khả năng mai một của lịch sử và văn hoá, hoặc thậm chí chỉ là tâm trạng hoang mang trước một hiện thực biến động mà mình chưa nắm bắt được rành rẽ, thì với các nhà quản lý ngành, tôi e rằng sự lúng túng lại đến từ tâm lý sắp để tuột mất một cơ chế mà ở đó cái quan hệ “xin - cho” vẫn là bài ca ngọt ngào quen nghe. Tâm lý này không bao giờ được tuyên ngôn, không bao giờ được nói ra, nhưng nó hiện diện theo cách khó tin nhất: bằng việc tỏ ra lúng túng trong từng bước kế hoạch chuyển đổi, các nhà quản lý của chúng ta đã khiến cho cơ chế cổ phần trở thành con ngoáo ộp, khiến cho các nghệ sĩ vốn rất lơ mơ về các hình thái kinh tế phải sợ hãi cho rằng con ngoáo ộp ấy sẽ nuốt chửng cả một lịch sử dày dặn của điện ảnh nước nhà, và phá huỷ quyền sáng tạo phục vụ cách mạng, phục vụ dân tộc của họ. Nó cũng khiến cho dư luận xã hội tin rằng nghệ sĩ điện ảnh chính là những người ỳ trệ nhất, sợ thay đổi, và không dám nhìn thẳng vào năng lực của chính mình. Cái lỗi của sự chuyển động chậm chạp đã được đổ lên đầu các nghệ sĩ điện ảnh, trong khi thực tế, với bản chất văn nghệ của mình, các nghệ sĩ chính là người mong mỏi sự thay đổi, sự bứt phá hơn bất cứ ai. Bằng chứng là những người năng động nhất, hoặc công khai, hoặc kín đáo đã tự thành lập Công ty hoặc Hãng phim của riêng mình, đối mặt với thị trường và đã rất thành công.

Và như vậy, nhân danh sự bình yên của hàng trăm văn nghệ sĩ trong các Hãng phim Nhà nước, cuộc chuyển dịch tưởng có thể diễn ra quyết liệt từ 5 năm trước, nay sẽ rón rén thay thế bằng một bước đệm có thể tạm yên lòng người, đó là hình thái Công ty TNHH một thành viên.

Hình thái này lợi hay không lợi đối với nghệ sĩ? Một cách thẳng thắn, chúng ta phải cùng thừa nhận rằng đây đích thực là một trò đánh trận giả, với một cơ chế “bình mới rượu cũ”, với vốn Nhà nước vẫn chiếm giữ phần chủ đạo, và với người đại diện vốn Nhà nước đương nhiên được chỉ định từ cấp trên, thì hiệu quả lãnh đạo sẽ vẫn không có gì mới. Đã có khá nhiều ví dụ chứng minh rằng khi con người cụ thể đã không có đủ năng lực đương đầu với cơ chế thị trường, thì đồng vốn Nhà nước trao vào tay họ chỉ như muối bỏ bể, thậm chí sẽ thất thoát do sự thiếu quyết đoán, cũng như ảo tưởng về quyền lực được giao. Bởi vì, với sự trợ giúp dù là nửa vời của Nhà nước, thì các Hãng phim này sẽ vẫn chờ đợi một chỉ tiêu nào đó từ cấp trên thông qua các cuộc đấu thầu kịch bản hàng năm, trong khi tiêu chí của các cuộc “đấu thầu” ấy là rất mơ hồ. Và cũng vẫn với thói quen tư duy và điều hành đó, sự ỳ trệ của các Hãng phim sẽ vẫn như cũ, dẫn đến hiện trạng một phim truyện nhựa được khởi động và đóng máy không thời hạn. Đồng tiền có giá trị lúc mới “trúng thầu” thì một, hai năm sau chỉ còn trị giá một nửa. Từ tâm trạng chán nản của nghệ sĩ nhận dự án dẫn đến thái độ lãn công tự phát chỉ là một bước ngắn, làm xuất hiện cái cơ chế đèn cù: Không hoàn thành kế hoạch, xin bổ sung vốn, các kế hoạch tiếp theo bị đẩy lùi, hoặc bị huỷ bỏ mà không ai phải chịu trách nhiệm cụ thể.

Một ví dụ khác cũng đang gây nhiều băn khoăn. Đó là hoạt động của HODAFILM. Do cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, do người đứng đầu có khả năng vận động tốt, mà những dự án phim được tài trợ hoặc đặt hàng, nghĩa là một phần nguồn đầu tư từ ngân sách vẫn được rót đều về đây. Khoan hãy nói tới cát sê cho đội ngũ tác nghiệp, hay vấn đề tế nhị rằng Quỹ của Hội có nhờ hoạt động rất hiệu quả này mà tăng lên không, chỉ xét trên tần số thành công của các dự án này đã cần có một nghiên cứu sâu sắc và toàn diện để rút ra kết luận cuối cùng: Đây là đơn vị kinh tế thuộc cơ chế nào? Sự thành công và cái còn bất cập là ở đâu? Ai thực sự là chủ sở hữu Hãng phim bao gồm cả tư liệu sản xuất và sở hữu trí tuệ?

ở một chiều hướng ngược lại, ví dụ của Hãng phim truyện I – đơn vị tiên phong cổ phần hoá – cũng đã chứng minh: cơ chế cổ phần không phải là hình thái kinh tế dễ chấp nhận đối với những con người đã quen với sự bình yên trong nghèo nàn của cơ chế bao cấp. Rất nhiều cán bộ, nghệ sĩ trong Hãng không muốn mua cổ phần, và đối tác chiến lược sau rất nhiều cân nhắc cũng đã… rút lui, để lại khoảng trống đáng kể về tài chính cũng như quyền quản lý của một Hãng cổ phần non trẻ. Cái hy vọng rằng “cơ chế mới” này sẽ là động lực thu hút nguồn vốn hợp tác từ bên ngoài đã được chứng minh chỉ là ảo tưởng, vì không nhà đầu tư thông minh nào lại muốn “chung voi với đức ông”. Rốt cục Nhà nước lại phải “mua lại” tỷ lệ cổ phần đã được đối tác chiến lược của Hãng đăng ký và bỏ cuộc, dẫn tới vốn Nhà nước chiếm hơn 70%, và cơ chế quản lý theo đó cũng trở về… gần như cũ. Hiện thực này có thể sẽ bị lặp lại ở các Hãng phim Nhà nước, bởi chưa hề có một nghiên cứu sát sao nào đối với hiện thực đang diễn ra ở Hãng phim truyện I để rút ra một kinh nghiệm hữu ích cho các đơn vị còn lại.

Như vậy, quyền lựa chọn cơ chế bao cấp, cơ chế Công ty TNHH một thành viên, hay cơ chế cổ phần tuy không thuộc về các nghệ sĩ, nhưng lại là nguyên cớ để khá nhiều người phải bối rối. Cái bối rối đến từ tâm lý bị động, và sự mơ hồ về hiện thực có thể xảy ra nếu một trong ba khả năng về cơ chế nói trên được thực hiện. Tôi nói “một trong ba” vì thực tế cũng không ít người đã phấp phỏng hy vọng rằng do Nhà nước vẫn cần một đội ngũ nghệ sĩ thực hiện các tác phẩm có định hướng chính trị nên có thể sẽ vẫn duy trì ở mức độ nào đó cái cơ chế bao cấp đã từng là bệ phóng cho một nền điện ảnh cách mạng trong quá khứ. Điều này thể hiện trong mơ ước về một Trung tâm Điện ảnh Quốc gia, là một số cộng của các Hãng phim Nhà nước hiện nay hoặc một Trung tâm hoàn toàn mới trong khi vẫn duy trì các đơn vị hiện nay với tiến trình cổ phần hoá. Hy vọng này xuất phát từ tâm lý đánh đồng khái niệm cổ phần hoá với tư nhân hoá. Với kiến thức khá sơ đẳng về kinh tế, tôi cho rằng đây là một sự hiểu biết phiến diện, có phần cực đoan. Thực tế thì Công ty cổ phần không phải là một hình thái kinh tế mới mẻ. Khái niệm này đã được nhắc tới trong quyển 3 - Tư bản luận của Mác được viết từ nửa cuối thế kỷ 19, với ý nghĩa coi đó là cơ sở để tiến tới việc xã hội hoá quyền sở hữu tư liệu sản xuất thực hiện dưới hình thức chế độ toàn dân nắm cổ phần. Cũng theo phân tích trong Quyển 3 Tư bản luận, Mác và Ăng ghen cho rằng chủ nghĩa tư bản phát triển cực thịnh sẽ tự động chuyển hoá để xuất hiện nhân tố xã hội chủ nghĩa mà các công ty cổ phần là một hiện diện hữu ích.

Như vậy cổ phần hoá nhất định không nên hiểu là quá trình tư nhân hoá, cũng như coi đó là dấu hiệu của một sự phát triển không định hướng là thái độ cực đoan không đáng có. Nó không chỉ là xu thế bất khả kháng của nền kinh tế Việt Nam khi chúng ta gia nhập WTO, mà còn là xu thế chung của cả thế giới phát triển. Với điện ảnh, khi giai đoạn phục vụ chính trị thuần tuý đã qua đi, chúng ta buộc phải và nên chấp nhận điện ảnh trong vị thế một bộ phận của nền kinh tế. Đương nhiên, với đặc thù văn hoá của điện ảnh, những tác phẩm được làm ra bởi những người chủ đích thực sẽ xuất phát từ tư duy đầy trách nhiệm với Tổ quốc, dân tộc, cộng đồng xã hội mà không cần bất cứ một sự kiểm soát thô bạo nào. Với từng cá nhân nghệ sĩ, nếu ý thức về lịch sử, truyền thống và văn hoá được coi trọng như chúng ta vẫn tuyên ngôn, thì dù lặn ngụp giữa thị trường tự do hay nép mình trong cơ chế bao cấp, sản phẩm của chúng ta vẫn có nội hàm không đổi. Nhưng nếu trong cơ chế bao cấp, chúng ta thụ động chờ đợi một chỉ tiêu kế hoạch khô cứng, và chịu tác động hành chính đầy bí bức, đó là chưa kể những tệ nạn khác… thì trong sự cạnh tranh quyết liệt của cơ chế thị trường, chúng ta chấp nhận sự biến động không ngừng, sự đào thải và khẳng định không ngừng, nghĩa là chúng ta thực sự sống bằng năng lực tự thân, trong môi trường cạnh tranh bằng nỗ lực đổi mới không ngừng bản thân mình. Đặc biệt, với nhiệm vụ chính trị được Nhà nước giao phó thông qua hình thức đấu thầu các công trình đặt hàng theo nguyên tắc công khai, công bằng và khách quan, điện ảnh tư nhân hay công ty cổ phần… sẽ cùng cạnh tranh bình đẳng để giành lấy công việc cho mình, và mang đến cho khán giả những sản phẩm tốt nhất, hay nhất, tức là vừa hoàn thành nhiệm vụ chính trị, vừa nỗ lực tạo nên thương hiệu đáng tin cậy đối với Nhà đầu tư lớn nhất – tức là Nhà nước vậy.

Với ý thức rằng chúng ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, cần được giải phóng tối đa năng lực lao động và sáng tạo trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, thì chính các nghệ sĩ phải chủ động đòi hỏi cuộc chuyển động quyết liệt hơn nữa mới đúng. Không tự đổi mới chính mình, tự tiên liệu tương lai của chính mình một cách chủ động và sáng rõ, thì làm sao văn nghệ có thể đưa vào tác phẩm những dự báo tương lai cho đời sống xã hội Việt Nam một cách thuyết phục, làm sao thoát khỏi thói quen chạy theo thực hiện những tiêu chí hết sức mơ hồ. Và như vậy cũng có nghĩa là chúng ta đang tự chiết bỏ cái giá trị truyền thống mà nền điện ảnh cách mạng đã tích tụ trong 50 năm qua.

Sự ngập ngừng hiện nay không chỉ dẫn đến việc tan rã một đội ngũ đã được dày công đào tạo, và đã có cống hiến không nhỏ, nó còn có thể dẫn đến việc huỷ hoại chính cái thanh danh mà vì nó chúng ta muốn được đứng dậy trong tự hào. Thanh danh của một nền điện ảnh cách mạng cần được kế tục xứng đáng. Tôi từng nghĩ, nếu như cách đây năm bảy năm, chúng ta đã hoàn thành được việc cổ phần hoá các Hãng phim, thì chắc đầu năm 2010 vừa qua, Hãng phim truyện Việt Nam đã có tiền để làm một lễ kỷ niệm long trọng cho sinh nhật lần thứ 50 của mình và tưởng nhớ công lao của một thế hệ điện ảnh khai sáng mà không đến nỗi phải nghẹn ngào im lặng ngoảnh mặt cho qua. Ngoài cuốn lịch mừng Tết âm lịch do Hãng phim truyện Việt Nam làm ra để đem biếu nội bộ, và hôm nay là 50 cuốn phim trong kho lưu trữ của Hãng được đem ra phát hành dưới dạng đĩa DVD, không có một hoạt động tưởng niệm nào đáng kể. Điều đáng buồn là sự kiện trong đại này lẽ ra phải là ngày lễ của cả ngành, thì nó đã bị tất cả những người liên quan cố tình quên. Vì nghèo ư? Vì thờ ơ ư? Hay chỉ vì chúng ta còn quá bối rối với con đường trước mặt mà đã quên mất quá khứ? Như vậy, thái độ níu kéo một cơ chế lỗi thời phải chăng chính là thái độ phủ định chính lịch sử và truyền thống?

Cũng sẽ có người nghi ngờ nhận định này của tôi, bởi cho rằng các nhà đầu tư góp vốn cho điện ảnh trong cơ chế cổ phần sẽ không mặn mà với việc kỷ niệm ngày khai sinh điện ảnh Việt Nam, cũng như sẽ đặt mục đích lợi nhuận lên trên hết, bỏ qua mục đích tôn vinh văn hoá nước nhà. Chúng ta quên mất rằng họ là những doanh nhân người Việt, cũng yêu nước như chúng ta, cũng đau đáu với văn nghệ nước nhà như chúng ta. Do đó, cần phải sòng phẳng mà nhìn nhận rằng việc để cho thanh danh một nền điện ảnh cách mạng bị quên lãng, bị lu mờ là lỗi của chính chúng ta, không phải của khán giả hay nhà đầu tư.

Và từ đây, có thể thấy trách nhiệm của Hội Điện ảnh chính là phải tổ chức các hội thảo đi thẳng vào các vấn đề mà hội viên của mình đang phải đối diện và giải quyết. Đồng thời, Ban chấp hành Hội cũng cần tập trung những cá nhân có đủ năng lực và trí tuệ để tạo nên một niềm tin cho hội viên, khiến Hội Điện ảnh không chỉ là một mái nhà chung ấm áp, mà còn là một lực lượng có khả năng phản biện và định hướng tốt cho ngành.

                                                                                                            Trịnh Thanh Nhã

+/-
Viết nhận xét
Tên của bạn:
Email:
 
Website:
Tiêu đề:
UBBCode:
[b] [i] [u] [url] [quote] [code] [img] 
 
 
=)=D=(XD:dizzy:T_T:blush:^_^=_=-_-
:pout::angry:=Oo_O:snicker::eyebrow::sigh::sick::whisper::whistle:
:nuu::gah::flame::cool::shy::kawaii::notfunny::snooty::uhh:X_X
XB:talkbiz::grr::onoes::psychotic::scared::evil::nomnom::zombie::want:
:drunk::love::meow::music:
 
Nhập mã xác nhận
+/- Nhận xét
Nhận xét mới Tìm kiếm
Powered by Telet Solution
 
 

Video

Liên kết

bao_hp

 

cung_vntt_thanh_nien_hp
dang_cong_san_vn
thanh_pho_hp

 

Số người online

Hiện có 12 khách Trực tuyến
mod_vvisit_counterHôm nay117
mod_vvisit_counterHôm qua110
mod_vvisit_counterTrong tuần117
mod_vvisit_counterTrong tháng612
mod_vvisit_counterBạn là lượt truy cập44125