|
Bao nhiêu năm nay, trong tâm thức tôi, Đà Nẵng như một cái gì thân thiết và gần gũi, mặc dù tôi không hề có người quen thân nào và cũng chưa bao giờ đặt chân tới thành phố “khúc ruột” miền Trung ấy. Thế nên khi hay tin mình là thành viên đoàn văn nghệ sĩ đất Cảng đi thực tế sáng tác ở thành phố Đà Nẵng và một số nơi miền Trung thì tôi vô cùng háo hức và hồi hộp. Bởi với người sáng tác thì mỗi chuyến đi, mỗi vùng đất đến luôn là nơi hẹn hò, đón đợi. Thế nên, đúng 5 giờ (26/3/2011) theo thông báo, tôi đến trụ sở Hội Liên hiệp Văn học, nghệ thuật (VHNT) thành phố đã thấy Chủ tịch Hội- nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ; Phó Chủ tịch Hội - họa sĩ Quang Ngọc, cùng các anh chị trong Ban biên tập Tạp chí, Văn phòng và đại diện các Hội chuyên ngành tề tựu ở đấy. Dù đã cuối tháng ba, cái rét “nàng Bân” vẫn còn buốt giá, nhưng chỉ riêng việc đến đúng giờ cũng đủ thấy sự háo hức của các thành viên đoàn văn nghệ sĩ đất Cảng trong chuyến đi đầy ý nghĩa này, bởi theo lịch trình, đoàn đặt chân đến Đà Nẵng đúng trước ngày kỷ niệm 36 năm giải phóng thành phố (29/3/1975- 29/3/2011).
Phải thế chăng, suốt dọc đường chúng tôi đi dẫu tiết trời tháng ba vẫn mòng mọng mây giăng và càng vào phía trong mưa mỗi lúc càng dày hơn, nhưng trên xe vẫn ran ran tiếng cười nói, chuyện trò, nhất là khi xe qua cầu Hàm Rồng- Nam Ngạn, đò Lèn, bến Thủy, rồi Nhật Lệ, sông Gianh, đèo Ngang, Ba Đồn… dường như không chỉ anh Viết Liên, anh Thanh Lãng, chị Ngọc Hiền người trước, người sau từng qua đây trước, sau ngày miền Nam giải phóng (30/4/1975) mới như gặp lại vùng đất thân quen một thời kỷ niệm, mà ngay những người trẻ hơn như các anh Hoài Khánh, Tất Hanh cũng bỗng thức dậy những vần thơ, trang văn hào hùng và xúc động về vùng đất, con người nơi đây từ những ngày còn là lính mới nhập ngũ hoặc đang ngồi trên ghế nhà trường. Ai nấy như được trở lại những nơi một thời oanh liệt, từng ghi dấu vàng son trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc giữa những ngày tiết trời còn mang đậm sắc xuân, càng thêm gợi nhớ mùa xuân lịch sử cách đây 36 năm (1975). Thế nên, mỗi tên đất, tên đường, tên sông, tên núi như đều thức dậy trong sâu thẳm mỗi người những âm vang ký ức.
Cho đến giờ, khi ngồi viết những dòng này, tôi vẫn nhớ như in khi xe đang trên đường chạy vào thành phố Đông Hà, bỗng ai đó nói “Cơm vĩ tuyến 17, kìa!”. Tức thì, mọi người đều dồn mắt nhìn xuống bên phải đường xe chạy, nói như reo: “Dừng thôi. Dừng lại đây thôi!”. Thế là, lẽ ra đến Đông Hà, còn hơn mười cây nữa, mới nghỉ lại ăn tối thì trưởng đoàn vẫn bảo lái xe dừng. Mọi người lục tục xuống xe. Tôi còn đang dán mắt vào hàng chữ trên tấm biển to, màu đỏ tươi “Cơm vĩ tuyến 17”, thì đã thấy mấy anh vào trước đang cười nói râm ran, cạnh đó là hai cô và một cậu của nhà hàng chạy ra đón khách, nhưng chẳng biết thế nào lại cứ chỉ trỏ vào khách thế kia. Tôi đi nhanh vào, thì ra, mấy nhân viên quán “Cơm vĩ tuyến 17”, ra đón khách đã nhận ra nghệ sĩ Viết Liên, người từng đóng nhiều vai trong những bộ phim phát trên Đài Truyền hình Việt Nam. Thế là hầu như từ đấy cho đến lúc chúng tôi lên xe tiếp tục cuộc hành trình, nghệ sĩ Viết Liên bị mấy cô cậu nhân viên quán cơm “vây chặt”, người bắt tay, người đòi chụp hình, cứ tíu tít cả lên. Đấy có lẽ là niềm tự hào không chỉ của nghệ sĩ Viết Liên, mà còn của những người làm văn nghệ chúng tôi, bằng hoạt động nghệ thuật của mình đã để lại ấn tượng đẹp trong công chúng.
Tôi càng thấy rõ điều đó trong buổi đoàn văn nghệ sĩ Hải Phòng làm việc với các anh chị văn nghệ sĩ Đà Nẵng. Nói là làm việc, nhưng thực ra là cuộc gặp mặt, cuộc hội ngộ giữa những người anh em xa lâu ngày mới gặp lại thì đúng hơn. Bởi ngay giây phút đầu tiên chúng tôi đặt chân đến trụ sở Liên hiệp các Hội VHNT thành phố Đà Nẵng, một khuôn viên rộng, khang trang và tĩnh lặng, tất cả anh chị trong Ban thường vụ Liên hiệp các Hội VHNT Đà Nẵng, từ Chủ tịch - nhà thơ Bùi Công Minh; các Phó Chủ tịch: Nghệ sĩ nhiếp ảnh Ông Văn Sinh, nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm, nhà văn Nguyễn Thị Thu Hương; các ủy viên thường vụ: họa sĩ Nguyễn Trọng Dũng, nhạc sĩ Trần ái Nghĩa, cùng lãnh đạo các Hội chuyên ngành và cán bộ, nhân viên của Hội ra tận sân tay bắt mặt mừng chào đón nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ, họa sĩ Quang Ngọc, cùng các anh chị em trong đoàn văn nghệ sĩ Hải Phòng. Những cử chỉ, lời nói của đồng nghiệp Đà Nẵng dành cho chúng tôi ngay giây phút đầu tiên đã vô cùng gần gũi, ấm cúng và cởi mở. Nói như nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ và nhà thơ Bùi Công Minh thì không thể nói đoàn văn nghệ sĩ Hải Phòng “đến” Đà Nẵng, mà chỉ có thể nói là “trở về” Đà Nẵng, vì từ lâu Hải Phòng với Đà Nẵng đã là một, thì văn nghệ sĩ hai thành phố cũng là anh em một nhà.
Có lẽ trong tinh thần ấy mà những ngày đoàn ở Đà Nẵng, dù làm việc với Liên hiệp các Hội VHNT thành phố hay đến các quận Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, hoặc Bảo tàng Chăm chúng tôi đều nhận được sự tiếp đón nhiệt tình và trọng thị. Trong vô vàn ấn tượng của chuyến đi, hẳn mỗi người trong đoàn cũng như tôi ghi đậm trong lòng buổi làm việc chân tình và cởi mở giữa lãnh đạo hai Hội diễn ra sáng ngày 28/3, tại hội trường Liên hiệp các Hội VHNT Đà Nẵng. Chân tình và thẳng thắn, nhà thơ Bùi Công Minh phác họa những nét cơ bản trong tiến trình xây dựng và phát triển văn nghệ Đà Nẵng, nhất là hơn 20 năm đổi mới và hội nhập. Đà Nẵng hiện nay cơ cấu tổ chức Hội theo liên hiệp (giống như Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam), dưới Liên hiệp có 9 hội chuyên ngành và một tạp chí xuất bản hàng tháng. Liên hiệp các Hội VHNT Đà Nẵng có lẽ là một trong những Hội có đông hội viên: 720 người, trong đó 340 người là hội viên các hội chuyên ngành trung ương. Đây cũng là một trong số ít Hội địa phương được Thành ủy, HĐND, UBND thành phố quan tâm cấp kinh phí đủ trang trải cho xuất bản mỗi tháng một kỳ tạp chí văn nghệ dầy dặn (100 trang mỗi kỳ); ngoài ra, Hội còn có một website mới đi vào hoạt động. Bên cạnh những hoạt động mang tính định kỳ, Liên hiệp còn khuyến khích các Hội chuyên ngành tổ chức hoạt động dưới hình thức liên kết, liên doanh. Hôm chúng tôi được xem triển lãm ảnh nghệ thuật của nghệ sĩ nhiếp ảnh Ông Văn Sinh - hội viên Hội nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Đà Nẵng và nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Phước Chính - nguyên Phó Chủ tịch UBND thành phố. Theo các anh ở Hội Đà Nẵng thì những liên kết, liên doanh kiểu này thường diễn ra không chỉ với nhiếp ảnh, mà còn với mỹ thuật, kiến trúc và một số lĩnh vực khác, đã tạo thuận lợi cho văn nghệ sĩ sáng tạo, công bố tác phẩm và đưa tác phẩm đến với công chúng.
Trao đổi những vấn đề về hoạt động của hai Hội, nhà thơ Bùi Công Minh và nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ đều cho rằng, hai thành phố, cũng như hai Hội Đà Nẵng - Hải Phòng từ lâu đã có sự gắn bó thân thiết trong tình anh em một nhà. Trong điều kiện mới, mối quan hệ anh em đó chắc chắn càng được tăng cường và phát triển hơn nữa, thông qua những cuộc giao lưu, học hỏi kinh nghiệm, tổ chức đi thực tế sáng tác cho văn nghệ sĩ...
Nhất trí với ý kiến của hai Chủ tịch Hội, nhiều văn nghệ sĩ Hải Phòng - Đà Nẵng, bằng vốn sống và tình cảm chân thành của mình đã kể lại những kỷ niệm khó quên, để từ đó làm sâu sắc thêm mối quan hệ thân thiết giữa văn nghệ sĩ nói riêng và con người ở hai thành phố nói chung. Với giọng xúc động, nghệ sĩ ưu tú Ngọc Hiền, Chủ tịch Hội Sân khấu Hải Phòng, nhắc lại những kỷ niệm của chị lần đầu đặt chân đến Đà Nẵng, khi ấy vừa được giải phóng, phố xá còn vắng vẻ, đường đi lại còn thưa thớt, nhưng cuộc sống mới, trật tự và an bình thì đã hiện trên từng con đường, góc phố. Những đêm diễn “Con cáo và chùm nho”, “Âm mưu và tình yêu”, “Linh hồn thiếu phụ” của Đoàn Kịch Hải Phòng tại rạp Trưng Vương chật kín khán giả. Bấy giờ, Đoàn Kịch Hải Phòng là một trong những đoàn nghệ thuật đầu tiên của miền Bắc vào vùng mới giải phóng.
Ba mươi sáu năm trôi qua, giữa những ngày tháng ba này, trở lại Đà Nẵng, nghệ sĩ Ngọc Hiền như trở lại nơi lưu giữ ký ức một thời khó quên. Nhạc sĩ Trần ái Nghĩa, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Đà Nẵng lại hào hứng kể lại một kỷ niệm với người Hải Phòng yêu thơ. Lần ấy nhạc sĩ có việc đi Thái Lan, lên máy bay ngồi cạnh một phụ nữ đã đứng tuổi, hỏi ra biết chị người Hải Phòng, anh cũng tự giới thiệu mình người Đà Nẵng. Dường như hai địa danh Hải Phòng - Đà Nẵng làm hai người mau chóng trò chuyện với nhau như người trong nhà; và dĩ nhiên, anh cũng không giấu mình là một nhạc sĩ, còn chị cũng không ngần ngại đọc cho anh nghe những bài thơ trong số hàng trăm bài thơ do chị làm, sau đó tặng anh mấy bài mới viết. Khi có ý định phổ nhạc thơ của chị thì nhạc sĩ Trần ái Nghĩa lại nghĩ ngay đến bài thơ chị viết có tiêu đề “Hải Phòng yêu thương”, và anh dành hết tâm trí vào phổ nhạc rồi gửi ra Hải Phòng. Thật hạnh phúc cho người sáng tác, ca khúc tâm huyết của nhạc sĩ Trần Ái Nghĩa về Hải Phòng được nằm trong tốp mười ca khúc hay viết về thành phố Hoa Phượng Đỏ được trao giải thưởng năm 2010.
Chuyến đi này của chúng tôi còn nhiều chuyện đáng nghe, nhiều nơi rất muốn đến. Bởi thành phố Đà Nẵng bây giờ rộng dài, to đẹp hơn nhiều so với những gì mà các anh chị trong đoàn có dịp vào cách đây mới 5 năm (2006), chứ đừng nói mươi, mười lăm năm trước.
Đà Nẵng không chỉ có lợi thế địa lý, chính trị, mà thành phố bên bờ biển Đông này còn có lợi thế to lớn về văn hóa-du lịch. Cùng với Quảng Nam Đà Nẵng là trung tâm di sản văn hóa Nam Trung bộ, với nền văn hóa Chăm phong phú, đa dạng, điển hình là thánh địa Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, là Ngũ Hành Sơn điệp trùng đá quý và nghệ thuật chạm khắc đá có một không hai ở nước ta, rồi Bà Nà - suối Mơ với đường cáp treo lập kỷ lục Ghinét thế giới về chiều dài, độ cao và đường vòng an toàn. Đấy là những điểm xa, mươi mười lăm, hai mươi cây số trở lên, còn gần, ngay Bảo tàng Chăm nằm giữa lòng thành phố và con sông Hàn với cây cầu dây văng, có trục quay ở giữa cho tàu thuyền qua lại vào đúng 12 giờ đêm mỗi ngày, cùng với những vườn tượng đẹp như công viên bên bờ sông, ngay sát đường phố khang trang, sầm uất cũng là những điểm thu hút đông khách gần xa chiêm ngưỡng. Ngay đoàn chúng tôi, mặc dù suốt hai ngày ngồi ô-tô từ Hải Phòng vào khá mệt, nhưng tối ăn cơm xong mọi người vẫn háo hức ra xem cầu sông Hàn lung linh ánh đèn màu hai bên bờ đổ xuống dòng sông san sát tàu thuyền neo đậu và lấp lánh ánh đèn từ những nhà cao tầng như dát vàng dát bạc trên mặt nước sông.
Thành phố Đà Nẵng nằm sát biển, nhiều sông, trước đây không biết thế nào, nhưng bây giờ, hôm chúng tôi đến chỉ đi một đoạn từ cửa Bảo tàng Chăm xuống qua cầu sông Hàn đã thấy đến bốn cây cầu to rộng bắc qua sông, cái đã thấy xe cộ qua lại, cái đang lao nhịp, cái đang làm đường công vụ cho xe cơ giới vào thi công. Bạn đồng nghiệp ở Đà Nẵng nói với chúng tôi, với đặc điểm thành phố bên sông, Đà Nẵng đang tập trung xây dựng các cây cầu để tới đây cứ 1,5 km có một cây cầu thì việc đi lại mới thuận tiện. Một vài cây cầu cũ lâu ngày, như cầu Nguyễn Văn Trỗi, cầu Trần Thị Lý được dỡ bỏ để xây dựng mới. Có cầu, bán đảo Sơn Trà với những khu bãi đẹp nổi tiếng như Tiên Sa, Văn Khuê đã trở thành “đất liền” với những khu tắm biển, du lịch, nghỉ mát thu hút rất đông du khách trong nước và nước ngoài; đặc biệt, trên bán đảo Sơn Trà còn có khu trung tâm hội nghị quốc tế hàng đầu Việt Nam. Điều đáng nói là phần nhiều những nơi tôi vừa nhắc tới, lại đều là nơi mới được xây dựng, hoặc nâng cấp trong mấy năm vừa qua, như Bà Nà-suối Mơ, sông Hàn và bán đảo Sơn Trà… Hôm chúng tôi đến được bạn dẫn đi bán đảo Sơn Trà, thấy tận mắt những thay đổi diệu kỳ trên vùng bán đảo mươi năm trước chỉ toàn cát, gió và sóng, thì nay san sát khu đô thị, chung cư với những đường đôi rộng dài chạy ven bờ sóng. Ngoài những nơi thu hút khách du lịch, nghỉ mát trên bãi biển, ở đỉnh ngọn núi cuối bán đảo cách đây hai năm mới được xây dựng ngôi chùa Linh ứng to đẹp, cổ kính mà hiện đại, có đường ô-tô chạy ven sườn núi lên tới sân chùa. ở một địa thế đẹp và sang trọng trong khu vực chùa, được dựng bức tượng “Bồ Đề Xanh” đứng sừng sững trên đỉnh núi. Chúng tôi lên chùa Linh ứng, ngắm tượng Bồ Đề Xanh vào ngày thứ ba trong tuần, nhưng gặp rất đông khách du lịch đến chiêm ngưỡng tượng, chùa và ngắm cảnh biển trời mây nước thành phố bên bờ biển.
Đà Nẵng có lẽ không chỉ khai thác và phát huy tiềm năng du lịch sẵn có, mà còn chủ động tạo ra những điểm du lịch mới, làm phong phú thêm loại hình du lịch thu hút khách. Đấy là điều mọi người dễ cảm nhận khi có dịp đến những địa phương ở Đà Nẵng, dù là các đường phố, hay ven sông Hàn, trên bán đảo Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn hay thánh địa Mỹ Sơn, Bà Nà-suối Mơ chúng tôi cũng đều thấy sự tác động khá rõ của con người vào các điểm văn hóa, du lịch thông qua quản lý, bảo tồn, tôn tạo và khai thác, để không những giữ cho di tích, di vật được nguyên trạng, mà cảnh quan của nó vẫn tự nhiên như vốn dĩ thế.
Rời Đà Nẵng, trên đường trở ra, đoàn văn nghệ sĩ Hải Phòng dừng lại ở cố đô Huế. Thành phố nổi tiếng với sông Hương, núi Ngự, nhiều anh chị đã đặt chân tới, có người tới vài lần, nên phần nhiều tâm trí dành cho cuộc làm việc của đoàn với Tạp chí Sông Hương. Là cơ quan của Liên hiệp các Hội VHNT tỉnh Thừa Thiên Huế, Tạp chí Sông Hương có trụ sở riêng, xuất bản hàng tháng, chững chạc và sang trọng. Thời gian gần đây Sông Hương còn ra số đặc biệt, với số trang ít hơn tạp chí nhưng khổ rộng hơn, đề cập những vấn đề thời sự về văn hóa, văn nghệ mà tạp chí không có điều kiện chuyển tải. Ngoài báo in, Tạp chí còn có trang web cập nhật thường xuyên những sáng tác, bài viết của hội viên trong và ngoài tỉnh. Tạp chí đang đi vào củng cố bộ máy lãnh đạo và xây dựng phong cách làm việc mang tính chuyên nghiệp, từ biên tập đến trị sự, quảng cáo.
Với tinh thần đồng nghiệp và cởi mở, nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ - Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng kiêm Tổng Biên tập Tạp chí Cửa Biển và nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc - Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Thừa Thiên Huế, Phó Tổng biên tập phụ trách Tạp chí Sông Hương, thẳng thắn trao đổi kinh nghiệm trong quá trình làm báo chí văn nghệ, nhất là văn nghệ địa phương, khi các phương tiện thông tin đang phát triển với tốc độ chóng mặt. Nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc nói rõ những mặt được trong việc chuyển đổi khuôn khổ tạp chí để ra số đặc biệt hàng tháng, vừa thu hút được quảng cáo, vừa đẩy mạnh được phát hành, vì những vấn đề thông tin gần gũi và thời sự hơn; tuy vậy, khi đổi khổ cũng dễ đụng đến tiềm thức một số người, kể cả người “cầm cân, nẩy mực”. Nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ trao đổi với các đồng nghiệp Tạp chí Sông Hương về dự án cải tiến và nâng cấp Tạp chí Cửa Biển và mong muốn tới đây quan hệ giữa tạp chí văn nghệ ở hai địa phương có sự gắn bó mật thiết và hiệu quả hơn nữa. Buổi làm việc với Tạp chí Sông Hương để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong anh chị em đoàn văn nghệ sĩ đất Cảng.
Ngày thứ sáu, cũng là ngày cuối cùng, trên đường về, chúng tôi vào thành cổ Quảng Trị đặt vòng hoa, thắp hương viếng các liệt sĩ anh dũng hy sinh trong 81 ngày đêm chiến đấu ở Thành cổ mùa hè rực lửa năm 1972; sau đó đến thắp hương viếng các liệt sĩ người Hải Phòng an nghỉ tại Nghĩa trang Trường Sơn. Tiếp tục cuộc hành trình trở ra Bắc, mặc dù trời đã tối, người lái xe và phần đông trong đoàn lại không thông thuộc đường Hồ Chí Minh, nhưng với tấm lòng thành kính, mọi người khao khát được tới ngã ba Đồng Lộc. Sau nhiều lần hỏi đường, lúc 21 giờ 10 phút, đoàn đến ngã ba Đồng Lộc trong sự thỏa nguyện của mọi người. Mặc dù đã muộn và trời lại tối, nhưng người trông coi nghĩa trang vẫn nhiệt tình dẫn chúng tôi lên đặt vòng hoa và thắp hương tưởng nhớ 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc đã đi vào tâm trí mỗi người chúng tôi sự thành kính và đầy lòng biết ơn./.
Ghi chép: CAO NĂM
|