Home Tác phẩm
Tác phẩm
Các tác phẩm ảnh của NSNA Hải Phòng
anh_phong_canh
 
Thơ Vũ Tư

vu_tu Tác giả vốn là hội viên Hội VHNT Quảng Ninh, khi tuổi cao đã về quê sống tại Hải Phòng và xin gia nhập Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng. Sự chuyển về một vùng hiện thực mới với một nhà thơ ở tuổi “xưa nay hiếm” cũng có tác động nào đó về cái được biểu hiện. Còn phương pháp biểu hiện, thì như một quy luật (?) khi ở tuổi đã qua nhiều thăng trầm trải nghiệm, thường không đặt để nhiều hy vọng vào hình thức mà người viết muốn có những ý nghĩa sáng tạo của mình ở nội dung. Và, như vậy nhà thơ Vũ Tư chủ bụng lấy cái tâm và cái tình của mình tìm đường đến  với người đọc.


Hình như tới cái tuổi mà người thơ (có thể là vô thức) biết cái gì là hão huyền phù ảo, cái gì là thực chất chân tình thì sự giản dị mới là một giá trị mà người viết muốn vươn tới. ấy là sự thật tâm tìm đến cái thiện tâm để rồi qua mỗi thi phẩm,  tác giả muốn người đọc đồng hành.

Cửa Biển

 

Trai làng biển

Quý tặng đội đánh bắt cá ngoài khơi Trường Sa

 

Ai hát ấm làng chài

Những chàng trai lưng rộng

Bắp tay cuồn cuộn sóng

ầm ào chuyện ra khơi

Tóc bay mùi muối mặn

Vòm trời cong xuống đời

Khoang tàu là tổ ấm

Buồn vui ngày biển động.

Sóng bạc trộn mồ hôi

Năm vài lần lên phố

Bước chân vương điệu cười

Trai làng chài thương vợ

Tình thương như biển khơi

Biển của ta xa rộng

Lớn khôn theo cánh sóng...

Ngọt cay một kiếp người

Vai đo chiều biển rộng

Tay khép mở chân trời

Đơn sơ người đi biển

Đánh cá giữ biển trời

ánh cầu vồng bẩy sắc

Vắt ngang chén rượu vui.

 

 

Ta về yêu lấy Hải Phòng

 

Ta về yêu lấy Hải Phòng

Nơi tung sóng biển, nơi đong gió trời

Cầu Rào, sông Lấp... cõi người

Nghe chiều đỏng đảnh sương rơi mái chùa

Đời đang xốc dậy nắng mưa

Nghiêng chao cánh én nhặt thưa giữa đồng

Vọng lên tiếng cuốc Tiên Công

Gươm khua giết giặc, còn hồng khí thiêng

Tưởng nghe đất dựng trời nghiêng

Ngày đêm tàu đến như nêm ăn hàng

Phố đông bạt gió hồng hoang

Mồ hôi bắt nhịp thép gang vào mùa

Chợ đêm òa vị hương xưa

Ngực trần chân đất ngọt chua với lòng

Hoà vào đời biển đời sông

Hết mình cho một Hải Phòng thương yêu.

5/2011

 

 

Bà tôi đi chùa

 

Bà tôi trải hồn mình ra

Tu từ ngã bảy ngã ba đến chùa

Áo the yếm đũi ngày xưa

Khói nhang nhuộm đến hóa bùa tam quan

Màu chuông sắc mõ đa đoan

Đập ruồi sợ oán, nhịn oan sợ thù

Miệt mài trên bến biển tu

Nát kinh tàn mõ mà ru cõi người

Trên chùa Phật đứng Phật ngồi

Tránh xa cái ác, nhoẻn cười câu kinh!

 
470 NĂM NGÀY MẤT THÁI TỔ MẠC ĐĂNG DUNG

Về miền đất Dương Kinh

 

Tôi chưa bao giờ được đến khu di tích Dương Kinh, kinh đô của nhà Mạc lẫy lừng 65 năm trong lịch sử, mà tới cuối năm 2010 mới được khôi phục lại bước đầu. Nhưng hôm nay, trước ngày kỷ niệm 470 năm ngày mất của Thái tổ Mạc Đăng Dung (22 tháng Tám Âm lịch năm Tân Sửu, 1541), tôi thật sự vui mừng được cầm trong tay tập thơ tươi tắn và đầy cảm xúc của nhiều tác giả, mà trong đó có nhiều người là hậu duệ 9, 10 đời của dòng họ Mạc, đã thất tán khắp nơi sau khi nhà Mạc bị Trịnh Tùng đánh đổ và vị vua cuối cùng là Mạc Mậu Hợp bị bắt (năm 1592) tại một ngôi chùa cổ ở xã Phượng Nhỡn (Bắc Giang), bị đóng cũi đưa về chém tại xã Bồ Đề (Gia Lâm, Hà Nội).


BV1

Nhà thơ Bằng Việt Chủ tịch Hội đồng thơ (Hội Nhà văn VN) phát biểu trong chương trình

kỷ niệm 470 năm ngày mất Thái tổ Mạc Đăng Dung tại Kiến Thụy, Hải Phòng

 

Kể từ đó, để khỏi bị truy lùng ráo riết, con cháu họ Mạc buộc phải đổi họ (thành các họ như : Hoàng, Phạm, Phan, Thái, Vũ, Ma, Nguyễn…) và ước hẹn với nhau, là dù có cải ra họ gì đi nữa, thì vẫn phải giữ lại một nét “ Thảo” ghi lại dấu ấn họ Mạc (chữ Hán), để về sau còn tìm lại họ gốc, cho dù qua bao thử thách thăng trầm. Chi tiết cảm động này cho ta thấy ý chí gắn bó và đoàn kết của dòng họ tộc này sâu xa và thiêng liêng đến nhường nào. Ngay sau khi Mạc Mậu Hợp mất, con trưởng của ông là Mạc Toàn và chú ruột của Mạc Toàn là Mạc Kính Chỉ cũng bị bắt và cùng bị hành hình năm 1593. Về sau, con cháu nhà Mạc còn chạy lên Cao Bằng và giữ lại mảnh đất đó thêm được khoảng vài chục năm nữa, rồi bị các chúa Trịnh là Trịnh Tráng và Trịnh Tạc thôn tính nốt. Cả vương triều Mạc tuy tồn tại không lâu, lại bị các sử gia thời Lê trung hưng sau này cố ý hạ thấp vị thế chính trị và lịch sử, nhưng những gì mà triều đại đó để lại trong lòng dân rất đáng cho chúng ta thực sự kính phục và nể trọng.


Nếu ta hiểu thêm rằng dù Mạc Đăng Dung tuy chỉ là một vị quan võ, xuất thân từ nghề đánh cá nghèo khổ ở Cổ Trai huyện Nghi Dương (nay là Kiến Thụy, Hải Phòng), nhưng lại là dòng dõi 7 đời của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi nổi tiếng trong lịch sử thời Trần, còn có thể là hậu duệ xa của Trạng nguyên Mạc Hiển Tích, đỗ đầu khoa thi chọn các tài năng văn học giỏi từ thời Lý, thì chúng ta không ngạc nhiên, là sau khi lên ngôi, nhà Mạc đã rất chú trọng đến việc lựa chọn được người hiền tài ra giúp nước qua khoa cử, trong đó có những trí thức rất lớn như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), vừa học rộng tài cao, vừa giỏi về Dịch lý, Thái ất.


Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống qua các thời vua Lê Uy Mục (được mệnh danh là Quỷ Vương), là một ông vua hung ác, phản trắc, luôn say đắm tửu sắc, không ngó ngàng gì đến chính sự ; rồi lại qua cả thời vua Lê Tương Dực, cũng lại là một ông vua chuyên bày trò ăn chơi xa xỉ, tham lam vô độ, đến nỗi sứ Tàu sang, nhìn thấy Lê Tương Dực, còn về tấu lại với vua nhà Minh rằng : Vua nước Nam thời này có tướng Lợn, chắc chắn không còn giữ nước được bao lâu !. Nếu không có triều nhà Mạc biết quy tụ lại quân dân ta, có lẽ nhà Minh đã tính xong chuyện thôn tính nước ta một lần nữa rồi !.

Nguyễn Bỉnh Khiêm kiên nhẫn ở ẩn chờ thời, và không phải ngẫu nhiên mà mãi tới năm 45 tuổi, vào thời Thái tông Mạc Đăng Doanh, thấy thời thế đã ổn định, liệu đã có thể đem tài ra giúp nước, mới chịu đi thi, và qua 5 kỳ thi đều đứng đầu, cuối cùng đỗ Trạng nguyên (Đệ nhất giáp Tiến sĩ đệ nhất danh) và trở thành một trong những trí thức lỗi lạc nhất của cả thời đại và được nhà Mạc trọng dụng, từ Đông các đại học sĩ đến chức Thượng thư Bộ Lại, tước Trình Tuyền hầu rồi tước Trình Quốc công.


Về chuyện quan tâm đến việc mở các khoa thi, kén chọn nhân tài, thì triều Nhà Mạc có thể coi như một triều đại mẫu mực, cứ đúng 3 năm một lần là mở các khoa thi Hương và thi Hội. Năm Kỷ Sửu (1529), khi Thái tổ Mạc Đăng Dung mới lên ngôi được 1 năm rưỡi, nhà Mạc đã cho mở khoa thi đầu tiên, lấy đỗ 27 người, trong đó có Trạng nguyên Đỗ Tổng, Bảng nhãn Nguyễn Hãng và Thám hoa Nguyễn Văn Huy. Tiếp đó, đến năm 1532, khoa Nhâm Thìn, thi Hội lấy đỗ 27 Tiến sĩ, trong đó có Nguyễn Thiến, đỗ Trạng nguyên. Năm 1535, khoa thi ất Mùi, lấy đỗ 32 Tiến sĩ, trong đó Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình) đỗ Trạng nguyên. Năm 1538, khoa Mậu Tuất lấy đỗ 36 Tiến sĩ, trong đó có Giáp Hải đỗ Trạng nguyên. Năm 1541, khoa Tân Sửu, lấy đỗ 30 Tiến sĩ, có Nguyễn Kỳ đỗ Trạng nguyên. Năm 1544, khoa Giáp Thìn, lấy đỗ 17 Tiến sĩ, trong đó có 3 vị đỗ Hoàng giáp (đệ nhị giáp Tiến sĩ , không có Trạng nguyên) là Vũ Kính, Lê Thọ Khảo và Trần Diễm. Năm 1547, khoa Đinh Mùi, lấy đỗ 30 Tiến sĩ, trong đó có Dương Phúc Tư đỗ Trạng nguyên. Năm 1550, khoa Canh Tuất lấy đỗ 25 Tiến sĩ, trong đó có Trần Văn Bảo đỗ Trạng nguyên. Năm 1553, khoa Quý Sửu, lấy đỗ 20 Tiến sĩ, trong đó có Nguyễn Lương Thái đỗ Trạng nguyên. Năm 1556, khoa Bính Thìn, lấy đỗ 14 Tiến sĩ, trong đó có Phạm Trấn đỗ Trạng nguyên. Năm 1559, khoa Kỷ Mùi, lấy đỗ 19 Tiến sĩ, mà Thám hoa là Đặng Thời Thố (không có Trạng nguyên và Bảng nhãn).

Từ các khoa thi vào giai đoạn sau, thời Mạc Mậu Hợp, như các năm 1562 (Nhâm Tuất), 1565 (ất Sửu), 1568 (Mậu Thìn), 1571 (Tân Mùi), 1574 (Giáp Tuất), 1577(Đinh Sửu), 1580(Canh Thìn), 1583 (Quý Mùi), 1586 (Bính Tuất), 1589 (Kỷ Sửu), 1592 (Nhâm Thìn), lúc nhà Mạc phải đương đầu ráo riết với nhà Lê trung hưng, chiến tranh xảy ra liên miên, chất lượng học hành thi cử không thể còn giữ được như các thời trước, thì các khoa thi giai đoạn sau này, dễ hiểu là rất hiếm người đỗ cao, duy nhất chỉ có một vị còn đỗ Trạng nguyên là Vũ Giới (khoa thi năm Đinh Sửu, 1577). Tuy nhiên, nếu tính trên tổng số, thì con số các vị Tiến sĩ đỗ đạt trong thời nhà Mạc còn ghi lại được là khá lớn, có đến 485 vị qua 5 đời vua.


Ta cũng phải ghi nhận, là bên cạnh các khoa thi được mở đều đặn, thì trong thời nhà Mạc còn có một loạt các thành tựu văn hóa khác nữa, như vào năm 1536 (Bính Thân), Triều đình cho trùng tu lại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, hoặc năm 1554 (Giáp Dần), cho xây dựng lại chùa Tây Phương bị đổ nát, năm 1556 (Bính Thìn), cho dựng tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), năm 1567 (Đinh Mão), cho lập Chân Thánh Quán (nhà thờ Đạo giáo) ngay tại Dương Kinh (Kiến An, Hải Phòng), cùng với việc chấn hưng Nho giáo và Phật giáo.


Thời Mạc Đăng Doanh (con trai trưởng của Mạc Đăng Dung), lấy niên hiệu là Thái tông, còn có thành tựu chú tâm nêu cao kỷ cương phép nước, nghiêm trị bọn trộm cướp, du thủ du thực, cấm mang vũ khí như giáo mác, dao nhọn ra đường ; khiến cho trong mấy năm liền đất nước trở lại thanh bình, ổn định, người buôn bán và sản xuất đi lại làm ăn không cần mang vũ khí bảo vệ, trâu bò thả rông không ai bắt trộm, ban đêm nhà nhà không cần đóng cổng, của rơi cũng không ai nhặt, mùa màng liên tiếp được mùa, nhân dân làm ăn vui vẻ, yên bình. Đó là lý do vì sao nhà Mạc vừa chiếm ngôi nhà Lê mà vẫn giữ được xã hội ổn định, mọi việc đều được đưa vào kỷ cương, nhân dân an cư lạc nghiệp, chế độ khoa cử và quan chế rất có nề nếp, thứ tự. Tuy nhiên, trong chính sử, kể cả các bộ sử lớn như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, triều Nhà Mạc vẫn bị chép vào phụ kỷ, không được xếp vào bản kỷ như các thời khác !. Đó quả là một thiệt thòi lớn lao!. (Nếu chúng ta xem xét lại, thời Nhà Hồ cướp ngôi Nhà Trần, chỉ tồn tại vẻn vẹn có 7 năm, qua hai đời vua là Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương, rồi sau đó lại để mất nước vào tay nhà Minh xâm lược và đô hộ, thì công lao của nhà Mạc đối với lịch sử dân tộc, tính ra vẫn có ý nghĩa hơn rất nhiều !).

 

*


Trong tập thơ chúng ta có được hôm nay, rất nhiều tác giả hiện đại đã nhìn ra được công lao đích thực của triều nhà Mạc và viết nên những dòng thơ cảm khái chân thành


Giữ nền độc lập, dân hưng thịnh,

Phát triển khoa thi, chọn hiền tài,

Biết bao tiến sĩ từ khoa bảng

Lưu danh bia ký đến muôn đời !

(Mạc triều một thuở - Ngô Đăng Cảnh)


Hoặc nói về phép nước có kỷ cương để dân được yên lạc, thái bình trong thời Mạc Đăng Doanh, tác giả Nguyễn Minh Dương ở bài Truyền thuyết Dương Kinh cũng tỏ ra tâm đắc với từng chi tiết cụ thể, sống động :


Dân no đủ, của đánh rơi không mất,

Ngọn gió đêm vào cửa giữa mát lành !


“Ngọn gió đêm” vào thẳng “cửa giữa” có nghĩa là vào thẳng cửa lớn mở toang khi đi ngủ, do dân không còn sợ trộm cướp hoặc kẻ gian, hình ảnh ấy chỉ có thể có được trong một thời đại rất trật tự, no đủ, thái bình, giống như thời vua Nghiêu vua Thuấn ở Trung Hoa được ca ngợi từ thái cổ vậy !.


Nhiều tác giả đã nhắc đến các địa danh nổi tiếng trong lịch sử và gắn liền với mảnh đất tổ tiên của Vương triều Mạc: Cổ Trai, Dương Kinh, núi Trà, núi Đối, sông Đa Độ, Điện Hưng Quốc, Điện Tường Quang… Lại cũng nhiều tác giả nêu  tên các địa danh nổi tiếng khác trong thời hiện đại, như căn cứ kháng Nhật ở Kim Sơn, nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên ở Đầm Bầu, nơi có các nữ du kích bắn rơi “Thần sấm” Mỹ ở Thụy Hương, nơi khởi đầu “Bến tàu không số” của Hải Phòng - địa điểm nổi danh thời chống Mỹ, rồi đến nơi được coi là cái “nôi khoán sản” mở đầu cho thời đổi mới về sản xuất nông nghiệp là Đoàn Xá… Tất cả đã vẽ nên chân dung bao quát về một vùng đất có rất nhiều sự kiện lịch sử và thành tựu lớn lao, tiêu biểu cho những con người anh dũng, kiên cường, con em của một vùng biển đầy sóng gió, thử thách, lại chứa đầy truyền thống mãnh liệt và hào hùng !.


Đã có tác giả khái quát đầy hào khí, khi vẽ nên cốt cách đa dạng cũng như khí phách cao cả của những người dân một vùng biển, qua nhiều đời :


Thuở hồng hoang,

có người đàn bà búi tóc ngược,

Mặc nhung y, cầm đao,

Có ông Trạng cáo quan về ở ẩn

Còn băn khoăn trước thế sự, cuộc cờ…

Có người thợ cày đã bạc màu áo lính,

Có kẻ vạn chài, kéo đổ một triều vua !...

(Trai phố biển - Nguyễn Phước Giang)


Bài thơ Kiến Thụy của Đỗ Danh Lập còn kể cụ thể cả những người con vinh quang của vùng đất địa linh nhân kiệt này, bằng cách nhắc lại tên các vị tướng kiêu dũng thời xưa từng được nhân dân ghi nhớ : Đó là Trương Nữu, đại tướng chống quân xâm lược nhà Đường, đó là Vũ Hải, đại tướng trong thời nhà Trần chống quân Nguyên – Mông. Những tên tuổi đó, mãi mãi còn được ghi lại trong ký ức và tâm tưởng của nhân dân, cùng với tên tuổi các anh hùng, dũng sĩ thời nay, ví như các chị trong trung đội pháo phòng thủ bờ biển nữ dân quân Đoàn Xá tham gia bắn cháy tầu chiến Mỹ, cũng được tác giả Phạm Văn Vững nhắc đến, trong bài thơ Quê em đầy cảm xúc.

 

Có tác giả lại thích thú ghi lại những chi tiết lịch sử pha truyền thuyết thú vị. Đó là thanh long đao nổi tiếng của dũng sĩ Mạc Đăng Dung, vốn là dân vạn chài và đánh cá có sức khỏe phi thường. Thanh long đao nổi tiếng của ông, may mắn thay, đã được tìm thấy và đưa về trưng bày tại quê hương, dù có lúc tưởng như đã thất lạc và bị chôn giấu bao nhiêu năm trong lòng đất, đến nỗi lưỡi đao bị hoen rỉ hết. Tác giả Quang Khoảng đã có những phút giây hào hứng và cảm kích khi được viết về khoảnh khắc thanh long đao của Mạc Thái tổ được chuyển về quê hương trong bài Rước long đao về Làng Cổ. Nhưng thú vị hơn nữa là Đặng Thị Lệ Quyên trong bài Cảm tác Dương Kinh còn so sánh cụ thể hơn giữa thanh long đao của Thái tổ nhà Mạc với thanh long đao nổi tiếng của Ngô Tam Quế (Trung Quốc). Tôi may mắn trong một chuyến đi du lịch tới Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam, đã được tới Viện bảo tàng Vân Nam và cùng mọi du khách nước ngoài trầm trồ khi ngắm thanh long đao thật “khủng” của Ngô Tam Quế, người đã từng trị vì ở đây !. Không ai trong chúng tôi hình dung nổi, người xưa phải cao lớn và có sức khỏe tới ngần nào, thì mới nhấc nổi thanh long đao ấy lên, đừng nói tới việc múa võ với thanh long đao ấy !. Nhưng chỉ nội một việc là Đặng Thị Lệ Quyên có được cứ liệu là thanh long đao của Ngô Tam Quế trên đây hãy còn chưa nặng bằng thanh long đao của Thái tổ Mạc Đăng Dung, người quê vùng dân chài Kiến Thụy, thì đã đủ cho tôi tự hào không kể xiết, là tổ tiên chúng ta có sức lực kiêu dũng đến như thế nào ! Chẳng thế mà chúng ta đã từng làm nên các thắng lợi siêu việt : Bạch Đằng, Hàm Tử, Chi Lăng, Đống Đa…để lại hùng khí nức lòng cho muôn đời con cháu !.


Kiêu dũng đến như vậy, nhưng các vua và đại tướng nhà Mạc thực sự có lòng nhân và luôn luôn coi lợi ích dân tộc và đất nước cao hơn lợi ích của họ tộc mình. Trong thời Mạc, triều đình luôn thu dụng rất khảng khái các hàng tướng trở về từ phe đối địch và rộng lượng sử dụng họ có hiệu quả.


Đặc biệt, lời căn dặn của Mạc Ngọc Liễn trước phút lâm chung, sau khi nhà Mạc đã bị thất bại, càng thật sự khiến chúng ta cảm phục. Cả hai bộ sử lớn là Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục, dù không ưa gì nhà Mạc, nhưng vẫn phải ghi lại trân trọng cả nguyên văn lời di chúc cao thượng này . Mạc Ngọc Liễn nói : “Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng… Dân ta là dân vô tội, mà lại để phải mắc vào nạn binh đao, sao lại nỡ thế !. Nếu thấy quân họ đến, thì ta nên tránh, chớ có đánh nhau, chỉ cẩn thận mà giữ là hơn. Lại chớ nên đi mời người Minh vào nước ta, để dân ta lại phải lầm than đau khổ hơn nữa, đó là tội lớn không gì nặng bằng !”.


Lời của Mạc Ngọc Liễn đã được các hậu duệ nhà Mạc tuân thủ tuyệt đối, dù sau này, bị họ Trịnh dồn ép, họ phải bỏ cả vùng biên trấn Cao Bằng chạy sang ở ẩn tại Trung Quốc, nhưng không hề bao giờ có ý định cầu cứu người Minh về đánh nước ta, thì chúng ta mới càng thấy rõ hơn tư cách của dòng họ Mạc.


Tập thơ trên tay chúng ta hôm nay, tuy còn mỏng và nhẹ, chưa thể nói được đầy đủ về nhiều mặt rất đáng nói của Vương triều Mạc cũng như cả vùng đất phát tích của nhà Mạc, nhưng đã như một cánh én nhỏ báo hiệu mùa


Xuân, cho chúng ta những cảm nhận ban đầu, thật trong trẻo, chân thành, cao đẹp về một vùng đất kỳ vĩ rất đáng tự hào của Tổ quốc, với nhiều bậc trượng phu, hào kiệt, từ các bậc trí

giả ưu thời mẫn thế đến người dân chài có chí lớn, xứng đáng được trân trọng từ xưa đến nay,

với những địa danh đã đi vào truyền thuyết và ở lại mãi trong ký ức dân gian bền chặt.


Xin trân trọng giới thiệu tập thơ đáng quý này với bạn đọc, với lòng mong muốn rằng cánh én nhỏ của Thơ trên tay chúng ta hôm nay sẽ tiếp tục có tác dụng và có sức mạnh lan tỏa, lôi cuốn thêm nhiều cánh én khác nữa nhập đàn, để tạo nên được một không khí Xuân thật sự và cả một không khí Thơ thật sự, trên mảnh đất Dương Kinh thiêng liêng, đầy hào khí này của vùng biển sôi động Hải Phòng, luôn biết gìn giữ các giá trị truyền thống, đồng thời biết mạnh dạn phát huy nó trong quá trình đổi mới và hội nhập./.

Bằng Việt

(Hà Nội)

 

 

 

 

 

Ngâm thơ trong đền nhà Mạc

Tặng nghệ sĩ MT


Có di cảo trào sôi trên mặt đá

Có vương triều ngụp lặn

trong men đất nguyên sơ

Thật dễ chịu khi ta cùng giáp mặt

Tiếng trống trận ngày xưa

và nghệ sĩ bây giờ.

Em ngâm vần thơ

Về vương triều nhà Mạc

Trong vạt áo tơ tằm

Thêu ngàn dâu bể Ngũ Đoan

Không sáo trúc, không đàn phụ họa

Mà có nắng kinh thành

hòa tiếng quân reo

Mạc Thái tổ với đoàn quân ấy

Thanh long đao mài sóng nước Cổ Trai

Hơn bốn trăm năm nét hoa văn lộng lẫy

Trong giọng ngâm thơ quặn thắt

nhớ hiền tài.

16/9/2011

Minh Quyền





Chiều Dương Kinh

 

Bể dâu thì vẫn đầy vơi

Đất thiêng đã định một thời vàng son

Về đâu mấy thuở cháu con

Lẫn trong trăm họ mất còn mà đau

Dấu xưa vó ngựa ngàn lau

Rêu phong thành cổ dãi dầu Ngũ Đoan

Chuông chùa Hưng Quốc than van

Cổ Trai nghiêng vạt hoang tàn cỏ cây

Chiều xa vọng tiếng hạc gầy

Để Dương Kinh buốt dấu giày tôi qua.

 

Quang Tuyến

 
50 NĂM NGÀY MỞ ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN

Đường trên biển

 

Năm mươi năm một chặng đường

Trường kỳ kháng chiến bốn phương sóng trào

Khi biển lặng ngắm trời sao

Có khi dông tố máu đào sóng xô

Mưu trí thần tốc bất ngờ

Kiên trung bất khuất ngọn cờ phất cao

Sóng xanh tung chí anh hào

Thiêng liêng tiếng Bác thấm vào tâm can.

 

Phan Tuấn Dũng

 

Tàu không số vượt muôn trùng sóng gió

 

Từ bến Nghiêng nhằm vùng Rô thẳng tiến!

“Đường Hồ Chí Minh trên biển” hình thành

Chiến sĩ Hải quân lặng lẽ khởi hành

“Tàu không số” vượt muôn trùng sóng gió,

Vượt bom đạn kẻ thù man rợ,

Vượt nỗi lòng nhung nhớ người thân,

Chở mối tình yêu nước, thương dân,

Chở vũ khí tới chiến trường diệt giặc.

Lứa tuổi đôi mươi nặng lòng quê Bắc,

Son sắt đất rừng, sông nước miền Nam

Băng qua đêm trường ác liệt, gian nan

Đụng quân địch, dẫu hy sinh thầm lặng!

Tàu bị huỷ, chìm trong biển vắng.

Trái tim đau! Nỗi đau buốt đắng!

Niềm tiếc thương, hừng hực lửa căm hờn.

Tàu nối tàu... tiếp sức tiền phương.

Kỳ tích rạng ngời. Chiến công chói lọi.

Sum họp Bắc - Nam

Non sông mở hội

Vắng mặt bao người ưu tú kiên trung!

Hoa quả, đèn nhang... tưởng niệm anh hùng

Thả xuống biển xanh dâng hồn liệt sĩ.

Hỡi những linh hồn không an nghỉ!

(Sóng gió trùng khơi đưa tới muôn nơi)

Canh giữ biển trời đất nước xanh tươi

Tiếp bước tuổi thanh xuân Hải quân hùng mạnh.

Chân trời rực hồng,  bình minh mở cánh

Tàu Việt Nam về bến tương lai

“Đường Hồ Chí Minh trên biển” rộng, dài...

 

Trần Như thức

(Hà Nam)

 

Đoàn - Kết - Đấu - Tranh - Thắng - Lợi

 

...Nhận được chỉ thị của Trung ương (về việc cho người ra Bắc xin vũ khí và báo cáo tình hình- ĐK) đồng chí Trần Văn Long (Mười Dài) - Bí thư Tỉnh uỷ Trà Vinh xuống huyện Duyên Hải và thành lập một đội đặc biệt gồm 15 anh em do đồng chí Nguyễn Thanh Lồng ( Hai Pháp ) làm đội trưởng và đồng chí Nguyễn Văn Chấp ( Hai Lửa ) làm đội phó để chuẩn bị tầu thuyền vượt biển ra Bắc. Địa điểm đóng quân của đội ở Khâu Hút ( xã Trường Long Hoà, huyện Duyên Hải ). Đội đã nhờ chị Kiên mua được một thuyền cánh dơi của đồng bào miền Bắc di cư, rồi sửa sang lại. Đồng chí Mười Dài chọn 6 anh em trong đội để đi ra Bắc. Sáu đồng chí đó là : Trần Văn Mao, Nguyễn Văn Khương,  Nguyễn Văn Chăm, Nguyễn Thanh Lồng, Hồ Văn In và Ngô Văn Tôi. Ngày mồng 3 tháng 8 năm 1961 thuyền xuất phát tại Khâu Hút...” (Lịch sử lữ đoàn 125- tức đoàn tầu không số, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân năm 2001).

 

Để tìm các anh trên tàu Trà Vinh đã vượt biển ra miền Bắc năm 1961, tôi  mò xuống miền Tây. Cần Thơ thay đổi nhiều quá. Vượt qua chiếc cầu treo dài nhất Đông Nam á, thành phố hiện ra tươi mới, hiện đại… Tươi mới hiện đại nhưng vẫn đậm chất Nam bộ, vẫn có cái gì đó rất “miệt vườn”, sông nước.

 

- Các anh đi tàu Trà Vinh ra miền Bắc hổi mất cả rồi, mấy em ơi. Có ai còn nữa mà gặp! - Anh Khưu Ngọc Bảy ngậm ngùi nói khi hay ý định của  tôi. Anh Bảy một thời là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 962, đơn vị phụ trách các bến Cà Mau, Trà Vinh và Bến Tre. Anh am tường, gắn bó và hết sức nhiệt tâm với con đường chở vũ khí trên biển.

 

Tôi nhìn anh, biết là chậm mất rồi, muộn mất rồi, và có lỗi rồi!… Năm mươi năm, với một đời người đâu phải ngắn!

 

Tuy vậy tôi còn chút an ủi. Cách đây khoảng 7 năm, tôi có may mắn đã gặp được ông Hồ Văn In, tức anh hùng Hồ Đức Thắng, một trong 6 người của thuyền Trà Vinh vượt biển ra Bắc xin vũ khí.

 

Từ Vĩnh Long, theo đường 53, tôi xuôi xuống Trà Vinh. Thị xã Trà Vinh nho nhỏ, dịu mát. Giống như cô gái quê chưa quen kỹ nghệ trang điểm, mộc mạc, thanh thanh, quyến rũ... Rồi cũng theo đường 53, tôi tới được huyện Duyên Hải. Người anh hùng của đoàn “tầu không số” sống ở miệt đó. Không khó khăn lắm để tìm nhà ông, bởi hỏi ông Thắng anh hùng, người dân nào thuộc xã Hiệp Thạnh cũng rành.

 

Năm đó ông và bà Nguyễn Thị Ba, vợ ông đã không mấy khỏe, nhưng vẫn minh mẫn. Hai người sống trong ngôi nhà bằng gỗ, là quà tặng từ năm 1979 của Công ty Xuất nhập khẩu Trà Vinh. Một ngôi nhà đẹp trong một khu vườn đẹp. Thoáng. Nhiều nắng. Nhiều gió...

 

- Bẩy đứa con, nhưng về già, lại chỉ tôi và bà ấy bầu bạn với nhau...- Ông Hồ Đức Thắng mời chúng tôi ngồi xuống bộ ghế gỗ, và nói- Con cái, có công có việc của chúng, thỉnh thoảng bọn nó thay nhau về thăm, hoặc cho các cháu về chơi... Làm sao được. Thôi thì ông chăm bà, bà chăm ông vậy...- Thấy tôi cứ ngó nghiêng ngôi nhà, ông nói tiếp : Bộ tư lệnh Hải quân định xây nhà trên phố; Quân khu 9 cũng phân đất nơi thị xã, nhưng tôi từ chối, trả lại hết. Già rồi, nhiều nhà, nhiều đất làm gì; hồi ở rừng, hai tấm lá trải xuống, cũng xong. Còn bao nhiêu người khó khăn hơn mình...Vợ chồng già được ở như vầy, đã lắm rồi...Với nữa tôi và bà ấy cũng khó có thể bỏ nơi đây mà đi...Cả một đời hoạt động gắn bó. Nghĩa tình sâu nặng lắm...

 

Ông tên thật là Thọ. Hồ Văn Thọ. Trong kháng chiến chống Pháp, để dễ hoạt động đổi thành In, khi vượt biển ra Bắc, tổ chức đặt tên là Bảy Thắng...

 

- Việc đặt tên cũng rắc rối chớ - Nhắc tới kỷ niệm cũ, ông hồ hởi hẳn, và kể rất vui - Chuyện là vầy, khi anh Mười Dài, Bí thư tỉnh, cử sáu anh em tôi vượt biển ra Bắc xin vũ khí, nói rằng, để có ý nghĩa và cũng nhằm giữ bí mật, nên đổi tên các thành viên thành khẩu hiệu : Đoàn - Kết - Đấu - Tranh - Thắng - Lợi. Nhưng ai mang tên Đoàn, ai mang tên Kết..., tranh cãi mãi. Cuối cùng bốc thăm. Viết sáu bí danh vào sáu mẩu giấy, ai bốc được chữ nào, mang tên đó. Anh Nguyễn Văn Mao bốc được chữ Đoàn. Lại thứ ba nên gọi là Ba Đoàn. Anh Nguyễn Văn Khương đổi thành Tám Kết; anh Nguyễn Văn Chăm là Hai Đấu. Anh Nguyễn Thanh Lồng thành Hai Tranh. Tôi bốc được chữ Thắng. Thằng con thứ ba của tôi cũng tên Thắng, má nó đặt khi mới lọt lòng, vậy là thành Bẩy Thắng cha, Ba Thắng con... Anh Ngô Văn Tôi thành Bẩy Lợi. Tên sáu anh em hợp thành: Đoàn - Kết -  Đấu -  Tranh -  Thắng -  Lợi. Những cái tên đó, qua năm tháng đã trở thành tên chính thức của mỗi người. Khi được Quốc hội tuyên dương anh hùng năm 1967, tôi cũng mang tên Hồ Đức Thắng luôn.

 

- Nhưng tại sao Tỉnh uỷ lại cử chú ra Bắc, mà không là người khác- Tôi hỏi.

 

- Câu hỏi có lý đó! Tại sao ông Mười Dài lại chọn Bảy In vượt biển chuyến này ? Bởi trong mấy năm kháng chiến chống Pháp, Bảy In đã làm công việc chở vũ khí từ khu Năm vào Nam bộ. Sau năm 1954, dẫu ở lại hoạt động quanh Duyên Hải, lúc làm bí thư chi bộ, lúc làm xã đội trưởng, nhưng gốc gác mình, tổ chức nắm vững lắm...

 

- Chuyến vượt biển ấy, nghe nói các chú bị lạc sang Ma Cao, Trung Quốc?

 

- Đúng! Đã tưởng là không còn cái ngày hôm nay chớ... Chừng cuối tháng 7 năm 1961, chiếc thuyền cánh dơi dùng để vượt biển ra Bắc vẫn chưa lắp được máy. Tôi thưa với đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ: “Báo cáo anh Mười, không có máy thì đi buồm. Hồi chín năm, tụi tôi cũng đi bằng buồm. Lừng khừng, tháng Tám bão về là trở tay không kịp”. Anh Mười nhất trí: “Tôi tin vào anh và mọi người”. Ngày mồng 3 tháng 8, thuyền xuất phát tại Khâu Hút... Đã cố đi sớm, tránh mùa bão, vậy mà ra tới Nha Trang, gió lớn ập về. Lúc này dừng lại không ổn, bởi khi đi, chúng tôi đã chọn “ phương án bất hợp pháp” . Đành cho thuyền  xuyên qua bão, hướng phía Bắc, đi miết. Bão tan, chúng tôi bị dạt lên một nơi, mà sau này mới rõ là Ma Cao. Cảnh sát Anh, cảnh sát bản địa xì xồ tiếng Tây, tiếng Tầu. Mình không rõ mô tê chi, chỉ vung tay làm hiệu. Và hình như họ cũng hiểu được rằng chúng tôi là thuyền đánh cá từ mãi khu vực phía Nam Việt Nam bị bão nên lạc vô đây. Lục soát, không có gì nghi vấn, ngôn ngữ thì bất đồng, cuối cùng họ thả . Chạy được nửa ngày, lại lạc vô Du Hải, Quảng Châu. Là sau này mới hay, lúc đó chỉ biết đã bị bắt... Chúng tôi đòi gặp Đại sứ quán Việt Nam dân chủ cộng hòa. Yêu cầu được đáp ứng. Ngày 16 tháng 8, đại diện của ta tại Quảng Châu đến đón. Mấy hôm sau nữa, sáu anh em đi tầu hoả về Hà Nội...Cũng đã hơn bốn chục năm rồi...

 

Hơn bốn mươi năm, nhưng ông Bẩy, hồi đó đã cụng tuổi tám mươi, vẫn nhớ không sai chi tiết nào. Ông kể rằng sau khi về đoàn “tầu không số”, ông được cử đi chuyến thứ hai vào Bạc Liêu, trên chiếc tầu gỗ, mang tên “Phương Đông 2”. Rồi ông đi tầu sắt vào Bến Tre. Vào Trà Vinh. Và đến nhiều nơi khác.

 

- Chú tìm hiểu nhiều, biết chuyến đi của tầu 187 vào Trà Vinh tháng 6 năm 1966 chớ ?- Ông hỏi tôi.

 

Về chuyến đi đó của tàu 187, tôi có biết, cũng oanh liệt lắm, tàu vào Trà Vinh, gặp địch, nhưng không hủy được tàu. May là anh em thủy thủ lên được bờ. Chuyến đi ấy xin hầu độc giả ở những trang viết phần sau, qua lời kể của các thủy thủ từng đi trên con tàu đó cùng ông Hồ Đức Thằng.

 

- Chúng tôi kẹt lại bến - ông Bẩy Thắng kể tiếp - và được biên chế tạm thời thành một đội, thuộc đoàn 962...Thời gian sau, đơn vị cho tầu vô, rước về... Trong thời gian kẹt lại Trà Vinh, tổ chức bí mật bố trí để vợ tôi tới thăm. Chúng tôi được gặp nhau trong thoáng chốc. Ai dè, lần ấy, bả mang thai. Năm sau thì con Huệ, đứa con gái út ra đời. Thời mang thai, bả cực khỏi nói...Tôi nhìn ông Bảy Thắng, lại nhìn bà Ba, vợ ông, cả hai đã yếu lắm, nhưng là chỗ tựa của nhau những năm cuối đời, thấy có cái gì đó cảm động. Một mối tình đẹp lúc trẻ, và càng đẹp hơn lúc về già... Lần ấy, hai người sau bao xa cách được gặp nhau, gặp nhanh như thể trong mơ. Những mong chờ nhớ nhung dồn nén, có cơ bung ra. Đam mê. Cuống quýt. Hạnh phúc... Rồi anh theo tầu ra Bắc. Chị trở về, cay cực chịu bao điều tiếng. Tình thế lúc ấy, vì bí mật của con đường, không cho chị thú nhận rằng đứa con sắp ra đời là của anh. Nhưng chị cũng không đủ sức để phải chịu tiếng “chửa hoang”. “Chửa hoang”, với người phụ nữ, trong cái nhìn của bà con lối xóm là dơ dáy, xấu xa lắm! ấy là chưa tính, chị còn là đảng viên, còn là uỷ viên ban chấp hành phụ nữ xã... Không sao khác, đành âm thầm nín chịu. Điều an ủi duy nhất của chị là, luôn nghĩ rằng có anh bên cạnh. Chi bộ khai trừ. Phụ nữ không tín nhiệm. Bao năm hoạt động, vậy là trắng tay...

 

- Sau 1975 tôi về, mọi điều mới vỡ ra - Ông Thắng kể - Tổ chức có ý phục lại đảng tịch cho nhà tôi, nhưng bả không nghe. Bả có lý: “Vào Đảng là để cống hiến, là để làm việc cho Đảng, cho dân. Thời trẻ, việc nào làm được, mình đã làm rồi. Vô du kích thời chống Pháp. Làm đoàn thể thời chống Mỹ...Nay đã già, làm được gì nữa mà vô. Mình vô là để đóng góp thiệt chớ đâu phải vô để lấy cái danh hiệu đảng viên. Khỏi hình thức đi ông”. Nghe thấy phải, tôi thua. Bả nghĩ sâu hơn mình thiệt.

Ông Thắng cười. Nụ cười của người biết bằng lòng, thoả mãn với những gì mình có... Ngoài vườn, nắng trải vàng, và gió từ biển thổi về, lao xao. Nơi con đường cái mới mở chạy qua ngõ, lạo xạo tiếng lốp xe... Tôi rót chén nước, đưa về phía ông:

 

- Nghe nói chú đã từng đưa ông Lê Đức Anh từ ngoài Bắc vô?

 

- Có! Lâu rồi. Nhưng vẫn nhớ. Đó là đầu tháng 3 năm 1964. Đội tầu số 5 do Nguyễn Phan Vinh làm thuyền trưởng, tôi làm chính trị viên chở 69 tấn hàng cho Bạc Liêu vừa về, thì đoàn trưởng Đoàn Hồng Phước kêu lên. Ông bảo : “Thuyền của Vinh và Thắng chuẩn bị đi tiếp vô Bạc Liêu nghe. Lần này ngoài vũ khí, chở thêm sáu người khách. Toàn khách bự, nhớ chu đáo”. Thời bấy giờ đâu rõ một trong sáu người ấy là ông Lê Đức Anh. Chỉ biết có một người cao cao, ông Phước luôn kêu bằng thủ trưởng và thân chinh tiễn xuống tầu... Đêm mồng 5 tháng 3 chúng tôi nhổ neo. Đến Bạc Liêu, bàn giao “hàng”, bàn giao “khách” xong, chúng tôi lại quay ra... Mãi sau mới biết người cao cao là ông Sáu Nam Lê Đức Anh. Cùng đi với ông có năm cán bộ của bộ Tổng tham mưu... Năm 1973, ổng lại ra Bắc, cũng bằng con đường biển, chú biết chuyện đó chớ ?

 

Chuyện ông Lê Đức Anh trở ra miền Bắc trên tàu “hai đáy”, tôi có biết. Đó là câu chuyện lý thú, liên quan đến nhiều người, nhiều sự kiện, xin được khất độc giả ở những trang ghi chép kế sau. Tôi bắt chuyện gia đình. Ông Bảy nói:

 

- Nhà này đàn ông vô bộ đội hết. Bốn thằng con trai, đều ở đoàn 962... Gia đình tôi gắn bó với đoàn, bởi vậy... Tôi làm nhiệm vụ chở vũ khí vô, các con tôi có nhiệm vụ cất giấu, chuyển lên khu 6, khu 7... Đoàn 962 là anh em sinh đôi của đoàn 125 mà...

 

- Mấy người đi cùng thuyền dạo đó, sau này sao, chú ?

 

- ờ phải, không nhắc tới họ, khuyết điểm lớn nghe...Khi ra Bắc, tôi được cử làm đội trưởng, anh Nguyễn Thanh Lồng, tức Hai Tranh làm chính trị viên. Hồi đó anh Hai Tranh có uy tín lắm. Lần Bác Hồ gặp anh em miền Nam đi thuyền vượt biển ra Bắc, anh được thay mặt mọi người phát biểu... Nói ngon lành. Anh thưa rằng: “ Thưa Bác, chúng cháu ra đây có một nguyện vọng là xin được thật nhiều vũ khí, loại vũ khí có thể phá được đồn bốt và ấp chiến lược của Mỹ ngụy”. Hai Tranh cũng là một trong sáu người đi chuyến trinh sát mở đường vào Bạc Liêu hồi tháng 4 năm 1962 với ông Bông Văn Dĩa... Rồi anh được phân công ở lại, phụ trách bến Trà Vinh. Năm 1971, một lần đi công tác, anh bị tụi lính nguỵ phục kích, bắn chết, thiệt tội...Hai con trai của anh đầu quân vô đoàn 962, cũng hy sinh... Chị Hai Tranh bây giờ sống với cô con gái út... Là “Mẹ Việt Nam anh hùng” nhưng cuộc sống chật vật lắm... Mấy lần muốn đến thăm chị, nhưng chân cẳng yếu, mắt lại mờ, nên đành... Anh Tám Kết, tức Nguyễn Văn Khương, theo anh Bông Văn Dĩa và Lê Văn Một đi chuyến tầu đầu tiên chở 30 tấn vũ khí vào Bạc Liêu, cũng không còn ; Anh Trần Văn Mạo, tức Ba Đoàn ; anh Nguyễn Văn Chăm tức Hai Đấu, đều hy sinh khi địch càn vô cứ...

 

Đôi mắt ông Bẩy đã mờ, càng mờ hơn. Ông ngồi lặng. Hình như có cái gì đó đang đè lên ông, nặng lắm.

 

Tạm biệt ông Bảy, rời Trà Vinh, vẫn theo đường 53 trở lại Vĩnh Long để từ đấy ngược quốc lộ Một về Sài Gòn, tôi thầm hứa rằng, nếu có dịp, sẽ trở lại thăm ông… Vậy mà, muộn quá rồi! Nhân chứng cuối cùng của tàu Trà Vinh vượt biển ra Bắc dạo đó cũng đã lại ra đi nốt… Những gì tôi biết và viết về ông ở trên, xin được coi là nén nhang thắp lên phần mộ ông và các anh trên tàu Trà Vinh đã vượt biển ngày ấy: Đoàn – Kết – Đấu – Tranh - Thắng – Lợi./.

Đình Kính

 

 

 

 

Biển khóc

 

1.

- Đi thôi anh em!

Tư Trung nhìn đồng hồ xong rồi cất lời ra lệnh. Năm người xúm lại mũi tàu hò nhau kéo chiếc dây neo to bằng cổ tay. Tài công nổ máy. Tiếng máy gừ gừ nghe êm tai. Đợi chiếc neo vừa được kéo lên khỏi mặt nước, chiếc tàu gỗ nhằm hướng Bắc lao đi.

 

Đáng lẽ, theo kế hoạch đã lên sẵn từ trong năm, hết rằm tháng Giêng là Tư Trung cùng anh em sẽ lên đường ra Bắc để tiến hành công việc. Nhưng nấn ná mãi vì phải chờ qua lễ Khao lề nên bây giờ mới đi được.

Cứ vào độ này hằng năm, khi mùa mưa bão ở miền Trung đã dứt, huyện đảo Lý Sơn quê anh lại diễn ra các cuộc tế lễ dành cho những hùng binh năm xưa đã ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Là con dân của đảo nên Tư Trung không thể bỏ được nghi lễ rất linh thiêng này.

 

Tư Trung còn có một chân trong đội đua thuyền truyền thống của đảo. Với sức khoẻ, sự nhanh nhẹn vốn có của mình, anh được phân công vào đội cầm dầm chèo. Hầu như các cuộc đua thuyền truyền thống nào trong lễ khao lề thế lính Hoàng Sa của đảo Lý Sơn hằng năm, thuyền rồng của anh đều giành vị trí quán quân. Tư Trung hãnh diện lắm.

Nhà Tư Trung ba đời nay làm nghề lặn biển. Cái nghề sao mà cơ cực vô cùng. Người ta nói nghề này là “Ăn cơm dương gian làm việc âm phủ” quả không sai. Lúc còn là thằng bé cởi truồng thường hay đi dọc bến tàu nhặt cá tôm rơi vãi, Tư Trung đã thấy cha và ông nội ngày ngày đi lặn kiếm ốc, sò gai, hải sâm đem về cho bà nội và mẹ bán. Lên mười ba tuổi, anh đã theo cha và chú Ba đi lặn. Lòng biển có một sức lôi cuốn, mê hoặc Tư Trung đến ghê gớm. Hễ hôm nào không được lặn là anh cảm thấy trong người bứt rứt khó chịu. Tư Trung là người có sức khoẻ phi thường. Anh có thể lặn sâu xuống được ba mươi sải nước. Trong gia đình Tư Trung cho đến bây giờ, có ba người chẳng may gặp nạn bởi nghề lặn đó là cha, chú Ba và anh Hai Đởm. Cha anh chết thảm cách đây mười lăm năm. Chú Ba và anh Hai Đởm thì liệt nửa người do lặn quá sâu bị nước ép. Bây giờ họ trở thành người tàn phế sống nhờ vợ con. Nhiều lúc Tư Trung cũng muốn bỏ nghề lặn bởi nó quá hiểm nguy. Nhưng nghĩ lại, nếu bỏ nó thì biết làm nghề gì để kiếm sống đây? Thôi chậc, sinh nghề tử nghiệp. Chẳng qua cũng chỉ vì miếng cơm manh áo cả. Hà bá bắt mình lúc nào thì mình đành chịu vậy, biết răng chừ? Có điều mình sẽ phải cẩn thận hơn cho vợ con được nhờ. Tư Trung lập luận như vậy.

 

Bây giờ thì Tư Trung đã là chủ của một chiếc tàu lặn biển với đồ nghề hiện đại nhất đảo. Anh chuyển sang lặn tìm phế liệu bởi mặt hàng này dưới biển rất nhiều. Kiếm ăn được.

 

Tư Trung cùng tốp thợ năm người của mình đều là những tay lặn cừ khôi trong họ tộc từng rong ruổi đi khai thác phế liệu ở nhiều vùng biển trong Nam ngoài Bắc. Số tiền kiếm được cũng kha khá. Anh đã xây được một ngôi nhà tương đối hoành tráng ở làng. Mở cho vợ một sạp vải ở chợ. Hai đứa con ăn học đàng hoàng. Nhìn thấy vậy, Tư Trung càng cảm thấy yêu nghề và quyết tâm gắn bó với nghề lặn hơn.

 

Trước hôm lên đường đi chuyến này, Tư Trung có biện chút lễ ra thắp nhang ngoài mấy ngôi mộ gió và đền thờ cá ông để cầu mong cho chuyến làm ăn gặp nhiều may mắn, tránh mọi tai ương. Lúc quay về, anh rẽ vào nhà ông Tám “âm phủ” nhờ xem giùm chuyến đi thế nào. Ông Tám “âm phủ” là thầy bói nổi tiếng ở huyện đảo này.

 

Ông Tám thắp ba nén nhang lên bàn thờ. Khi xem ba con bài mà Tư Trung vừa bốc, ông bấm đốt ngón tay một lúc rồi ngần ngừ:

- Lạ thiệt!

- Là sao ông Tám?- Tư Trung hấp tấp hỏi lại.

- à, ờ..! Mày đi chuyến này coi chừng được cá to nghe hông Tư? Một chiếc ghe của mày tao e chở không hết hàng đâu!

- Vậy hả? Mà hàng gì hả ông Tám?

- ừa, thì sắt thép chi chi đó! Mà chỗ đó thiêng lắm đó nha, có thể có người nữa đó!

- Hả?- Tư Trung giật mình- Có người là sao ông Tám?

- Thì tao đã bảo rồi, khu vực đó rất thiêng, ra đến nơi mày phải làm một cái lễ đầy đủ bài vị nhang đèn rồi thành tâm cúng bái để người ta phù hộ. Không ai làm hại mày đâu!

- Dạ, ông Tám ghi cho con những thứ đồ lễ để vợ con sắm cho kịp sáng mai đi!

- à mà này, mày về dặn với mấy anh em bạn là tối nay cấm đứa nào được gần vợ nghe chưa? Nếu không nghe thì đừng trách tao không nói.

- Dạ, con biết rồi ông Tám!

Tư Trung vội vàng cầm mảnh giấy của ông Tám “âm phủ” đưa cho. Miệng hấp tấp chào ông rồi tất tả phóng xe ra cổng.

Ngoài kia, biển đã sẫm màu.

 

2.

- Bây giờ là ngày hay đêm?

- Bình minh hay hoàng hôn?

- Trưa hay tối?

- Chịu!

Biết bao lần Tài và Thức đều tự ra câu hỏi và rồi cuối cùng cũng tự trả lời cho mình bằng một câu cụt ngủn như vậy.

Nằm cạnh Thức, Tài cứ trằn trọc, thao thức mãi. Thỉnh thoảng, có một con bạch tuộc hay con cá đuối cô đơn nào đó đi qua ngôi nhà của họ. Chúng loé lên một chút ánh sáng lân tinh ma quái rồi vội tắt lịm. Hoang lạnh. Câm bặt. Một cõi u tịch đến rợn người.

Bao quanh đây là một màu đen đặc quánh. Cái ý niệm về không gian, thời gian coi như không có. Tất cả đều tối thui.

Một quầng bùn cát vẩn lên hắt vào mũi làm Thức chợt tỉnh giấc. Anh mở mắt, quờ tay sang bên cạnh. Tài khẽ cựa mình rồi húng hắng ho.

- Tài không ngủ hả em?- Thức khẽ hỏi.

- Không hiểu sao em không ngủ được anh ạ!- Tài thủng thẳng đáp.

- Có chuyện gì à?

- Em cũng chẳng biết có chuyện gì nữa. Hôm nay em thấy trong người nó làm sao ấy. Cứ nôn nao khó tả lắm!

- Hay là nhớ em Lài?- Thức vừa hỏi vừa tủm tỉm cười.

- Nhớ nhưng biết làm sao được hả anh?- Tài chợt chùng giọng- Bây giờ chắc cô ấy đã là một bà giáo về hưu, con cháu đề huề rồi anh nhỉ?

- ừ, chắc vậy!

- Anh Thức này, tại sao anh em mình ngủ suốt mấy chục năm nay rồi mà không cảm thấy chán hả anh? Năm qua tháng lại chỉ mỗi điệp khúc “Ngủ- thức- ngủ” mà không thể có việc gì hơn ngoài cái điệp khúc cũ mèm ấy. Chán thật!- Tài khẽ lắc đầu, chép miệng.

- Em nói còn thiếu, cái điệp khúc ấy phải là “Thức- ngủ- nhớ- thức- nhớ- ngủ”.

- Là sao anh?

- Nếu không có những ký ức, những kỷ niệm mà ta đã từng trải qua thì làm sao anh em mình có thể tồn tại được nơi đáy biển âm u này. Chúng ta đang sống bằng những kỷ niệm của một thời trai trẻ đấy thôi!

- Vâng, và đến bây giờ thì chúng ta vẫn là những gã trai làng non tơ. Anh vẫn là chàng trai hai mươi hai, còn em mười chín. Chúng ta chẳng già đi chút nào anh nhỉ?

- ừ, nhưng anh khổ tâm hơn em vì trước lúc lên đường anh đã kịp có một người vợ và đứa con trai lên hai. Thà như em chưa có gia đình thì còn ít người đau khổ, mà bản thân mình cũng đỡ dằn vặt hơn. Đằng này, ... không biết bây giờ mẹ con cô ấy ở quê thế nào?Tội mẹ con cô ấy quá Tài ạ!

- Vâng, mặc dù em chưa có vợ con như anh nhưng em cũng đã có người yêu. Lài là mối tình đầu của em. Chúng em yêu nhau bằng tất cả sự chân thành. Lúc ấy Lài đã là một cô giáo làng. Lúc chia tay lên đường, cô ấy động viên em nhiều lắm. Lài hứa sẽ chờ em trở về. Hai đứa sẽ báo cáo gia đình rồi tổ chức lễ cưới. Lài sẽ thường xuyên sang thay em chăm sóc bố mẹ em. Cô ấy tốt thật anh ạ! Không lúc nào là em không nhớ về cô ấy!

- Thì chiến tranh nó nghiệt ngã là vậy mà em!- Thức thở dài.

Như nhớ ra điều gì, Tài nhổm dậy hỏi Thức với giọng hấp tấp:

- à, anh Thức này! Anh có nhớ chính xác là anh em mình ở đây được bao lâu rồi không anh nhỉ?

- Ba mươi lăm năm, bốn tháng, mười một ngày!

- Ôi, trí nhớ của anh tuyệt thật. Thế mới đúng là ông anh khẩu đội trưởng của em! Bái phục, bái phục!

- Có gì đâu mà tuyệt với chả vời, tài với chả giỏi. Nếu tài giỏi thì anh em mình đâu phải ở những nơi tối tăm u uất như thế này. Có thể bây giờ em sẽ cùng Lài và những đứa con đang đi du lịch đâu đó, còn vợ chồng anh đang gặt lúa trên đồng hay đi làm cỏ lúa. Thế mới là tuyệt, em hiểu chưa?

- Thôi, thôi, thôi anh đừng nói nữa, em không chịu được nữa đâu! Em khóc đấy!- Tài xua tay, giọng có vẻ hơi gắt.

- Cái thằng này, chỉ được cái mau nước mắt, khóc thuê quen rồi hử?- Thức xoa dịu- Anh xin lỗi, ý anh muốn nói rằng, thời gian trôi nhanh thật. Mới đó mà đã chừng ấy năm. Nhanh thật!

- Mà thôi anh ơi, cất cái chuyện thời gian, năm tháng, vợ con ấy lại đi, em buồn ngủ lắm rồi- Tài vừa nói vừa ngáp dài- Mắt em díp hết cả lại rồi đây!

- ừ, ngủ đi em...!

Dòng nước ấm khẽ chảy qua khoang tàu làm lay nhẹ những trang giấy cháy sém nằm lả tả cạnh hai người. Hai khẩu AK rỉ sét bên cạnh họ vẫn nằm lặng ngắt. Lòng bàn tay Tài còn nắm chặt miếng mica hình trái tim. Chắc là cậu ấy định làm quà kỷ niệm để gửi về cho Lài. Nhưng không kịp...

Một đàn cá nhỏ lững lờ bơi đến rỉa mấy sợi rong rêu bám vào thân tàu rồi lại lặng lẽ bỏ đi.

Tất cả đều câm lặng một cách đáng sợ. Hai người lính lại chìm sâu vào giấc ngủ miên man vô định.

3.

Ngày...

Vậy là mình đã trở về đơn vị an toàn. May mà vẫy được chiếc xe tiếp phẩm của tỉnh đội để trèo lên đi nhờ được cả quãng đường dài. Đi bộ thêm mười sáu cây số nữa mới về đến đơn vị. Mệt. Không, nhằm nhò gì! Được về tranh thủ thăm mẹ con Thoan là vui lắm rồi. Dẫu có phải đi bộ cả trăm cây số mình cũng chấp nhận.

Chiều nay, vừa khoác ba lô xuống tàu, anh em ùa ra đòi quà. Đi vội quá nên Thoan chỉ kịp gói cho mình được một ít bánh gai để làm quà cho anh em trong đơn vị. Anh Huấn chính trị viên đùa bảo: “Cả tàu này sướng nhất Thức rồi đấy! An tâm công tác nhé!”.

Ba ngày về tranh thủ mình làm được những việc gì nhỉ? Đi thăm bố mẹ hai bên này. Bố mình và bố Thoan đều già yếu lắm rồi. Mình biếu bố vợ chai rượu thuốc mua ở cửa hàng dược, cụ vui lắm. Đi cuốc cỏ lúa giúp Thoan được hai buổi này. Tội Thoan quá, một nách vừa nuôi con nhỏ vừa đảm đương hai mẫu ruộng. Mình lại đi xa chẳng giúp gì được cho Thoan nhiều. Trước hôm đi, Thoan bảo mình dọi lại mái nhà tranh bị dột, nhưng thời gian nghỉ tranh thủ đã hết nên không thể làm kịp. Đành hẹn Thoan dịp khác mình về vậy.

Mà tóm lại, sướng nhất trong dịp tranh thủ này là được ôm hai mẹ con Thoan cho bõ những ngày xa cách. Cu Tuấn ban đầu nhìn thấy mình còn lạ nhưng khi thấy bố và mẹ nó tình tứ với nhau nhiều nên cũng nghe theo mẹ bập bẹ gọi “Bố, bố”. Nghe mà như nở từng khúc ruột. Cứ hở ra tý nào là mình và Thoan lại quấn lấy nhau. Vội vội vàng vàng như ma đuổi. Thoan bảo:“Anh tham thế?”. Mình cười: “Tại chiến tranh nên anh phải thế!”. Thoan lại bảo: “Lúc nào anh cũng đổ tội cho chiến tranh. Thế nếu hết chiến tranh chắc anh chẳng còn yêu em nữa phải không?”. “Thoan ơi, anh sẽ mãi yêu em, yêu hơn cả bây giờ nữa Thoan ạ!”. “Không tin, yêu như thế nào?”- Thoan cười vặc lại. “Như thế này này..!”. Mình riết mạnh vòng tay và trèo ngay lên bụng Thoan. “ối, ối! đúng là dân pháo thủ. Khiếp đi được. Chết em mất!”. Thoan rên lên sung sướng. Mình cũng hồn phách lên mây.

Hạnh phúc đến với mình thật nghẹt thở.

Đời sướng thật!

 

4.

Vùng biển Long Châu.

 

Tư Trung cùng anh em thành kính đem đồ cúng lễ ra trước mũi tàu. Những bộ quần áo giấy và vàng tiền địa phủ được dằn bằng mấy cục đá đem theo để khỏi bị gió thổi bay xuống biển. Tự tay Tư Trung thắp nhang, rót rượu ra ba chiếc li rồi quỳ xuống. Năm anh em trong đội cũng quỳ xuống phía sau Tư Trung. Mọi người đều chắp hai tay lên ngực nhìn về phía bát nhang. Giọng Tư Trung lầm rầm trong gió: “Con nam mô a di đà Phật! Con nam mô a di đà Phật! Con cúi đầu quỳ lạy các chư vị Nam Hải Đại Vương, những người đã nằm lại vùng biển này....!”.

 

Tư Trung vừa kết thúc bài khấn Nôm, mọi người trên tàu sì sụp vái lạy. Bỗng ba cây nhang bùng lên cháy thành ngọn lửa. Mắt ai cũng sáng lên. Tư Trung lắp bắp: “Vậy thì đúng rồi, đúng rồi! Thiêng thật! Thiêng thật! Thần biển và các vị tảo sa, tảo lạc phù hộ anh em mình rồi! Con nam mô a di đà Phật..!”. Tư Trung cùng anh em thả quần áo, vàng mã và rải gạo, muối, rượu xuống biển. Xong xuôi, cả nhóm ngồi quây quần lại để hưởng lộc vừa cúng. Tư Trung mừng ra mặt bởi đã hai ngày quần thảo khắp khu vực Long Châu này, tốn kha khá dầu rồi mà vẫn chưa có tín hiệu từ lòng biển. May mà trưa nay, khi tàu vào đến vị trí này thì máy dò kim loại kêu tút tút liên hồi làm mọi người mừng thở phào nhẹ nhõm.

 

Cộng với hiện tượng lúc nãy ba cây nhang bỗng nhiên bùng cháy nữa nên càng củng cố thêm niềm tin là tìm được mỏ phế liệu lớn.

 

Tư Trung hạ lệnh cho anh em sửa soạn cơm nước thật tươm tất để ăn lấy sức và tiện thể động viên tinh thần cả tàu. Tối nay, tốp lặn bắt đầu xuống biển thăm dò, đánh dấu vị trí. Sáng mai sẽ tiến hành khai thác phế liệu. Tâm trạng ai cũng phấn chấn lạ thường.

 

Tư Trung rít mạnh hơi thuốc, mắt nhìn xuống nước. Hơn hai mươi sải, làm được! - Anh lẩm bẩm.

 

Biển vẫn một màu đen thẫm. Con tàu nhỏ lắc lư qua lại trên sóng. Xa xa, một vài chiếc tàu cá mỏng manh tựa lá tre đang tất tả chạy về.

 

5.

Đêm...

Đêm nay, gác ca gần cuối. Không gian thật yên tĩnh, vắng lặng. Chẳng có chút gì là dấu hiệu của thời chiến cả nhỉ? Anh em đang say giấc ngủ. Ai cũng mệt vì phải căng mình làm công tác sửa chữa, bảo quản vũ khí máy móc suốt mấy hôm nay. Tàu nằm sâu trong hẻm núi chờ lệnh xuất kích. Dạo này bọn khu trục thường mò vào tận khu Long Châu khiêu khích. Chúng liều lĩnh, lì lợm thật. Được thôi, cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Chúng ta sòng phẳng với nhau nhé!

Nhìn về hướng quê nhà mà thấy nhưng nhức trong lòng. Không biết giờ này mẹ con Thoan ngủ có ngon giấc không? Cu Tuấn của bố có quấy mẹ không nhỉ? Bố thương con quá Tuấn ạ! Con còn quá nhỏ để hiểu được nỗi buồn của bố khi phải xa mẹ, xa con. Những ngày không có bố ở nhà, con phải ngoan, không được quấy mẹ nghe không con! Mẹ vất vả vừa nuôi con, vừa đồng áng, vừa chăm ông bà nội. Ông bà nội già rồi mà bố cũng chưa giúp được gì nhiều. Con phải thường xuyên lên chơi với ông bà nội để ông bà vui con nhé! Con là cháu đích tôn của ông bà, trọng trách nặng nề lắm đấy Tuấn ạ! Bố rất thương mẹ con mà chẳng biết làm sao. Vì bố là bộ đội, bố phải trực chiến liên tục con ạ! Khi nào đánh Mỹ xong, bố sẽ về quê để được ở gần mẹ con con. Bố sẽ đền cho hai mẹ con tất cả những ngày xa cách. Hai mẹ con cố chờ bố nhé!

6.

Chiều....

Trưa nay toàn biên đội được ăn tươi mừng Quốc khánh. Cả biên đội được chỉ huy cho phép làm thịt hẳn một con lợn to vật vã. Chà, hôm nay toàn chuyện vui. Sẽ kể từng chuyện một.

Trước hết là chuyện đánh tiết canh. Tàu nằm trên sóng cứ bồng bềnh lắc qua lắc lại nên nhiều anh em bàn lui hay là thôi, sóng như thế này thì tiết đánh ra làm sao đông được? Thằng cu Soi “báo vụ” liền khua tay: “ấy, ấy... các bác cứ để em, em chịu trách nhiệm cái vụ lẻ tẻ này cho!”. Chà, cái thằng này ăn nói có vẻ bốc đồng nhỉ? Anh Đại thuyền trưởng hỏi: “Có chắc không? Nếu đánh hỏng thì sao?”. Hắn lại chặc lưỡi cười tủm: “ấy dà..! báo cáo thủ trưởng, nếu đánh hỏng mẻ tiết canh này thì em xin từ cái chức báo vụ số 1 ngay!”. Lão Hoan “cơ điện” là đồng hương Thái Bình với Soi tiết lộ: “Anh em yên tâm, nhà thằng Soi ba đời nay làm nghề bán cháo lòng tiết canh đấy!”. Mọi người thở phào rồi hô: “Quyết!”. Vậy là lao vào mỗi người mỗi việc. Thằng Soi quả là siêu thật. Bốn mươi lăm bát tiết canh, bát nào bát nấy đông cứng. Thằng Thái “ra đa” bảo, các bác trừ cho em xin một bát tiết, em sẽ lấy dây lạt xâu lại tý nữa cầm về cho mẹ thằng cu ăn cho đỡ thèm. Cả tàu cười như nắc nẻ. Lâu rồi không ăn lòng lợn tiết canh. Hôm nay ngon quá. Gắp miếng lòng cho vào mồm tự nhiên lại nhớ mẹ con cu Tuấn ở nhà. Mà thôi, đã bảo là kể chuyện vui cơ mà...

Trong bữa ăn, anh Huấn cũng góp vui bằng câu chuyện mà khi kể xong ai nấy cười sặc sụa, thằng Toàn chiến sĩ còn ôm bụng, chảy cả nước mắt. Mà quái lạ, anh Huấn kể rất chi là chậm rãi, anh ấy cũng chẳng cười. Thế mới tài chứ lị!

Chuyện là, hồi anh còn học trường Sĩ quan chính trị. Trong lớp có một anh bạn cùng quê, hai người vừa là đồng hương đồng khói, vừa hợp tính nhau nên rất thân nhau. Lần nọ, nhà trường cho học viên nghỉ mấy ngày. Anh bạn mời anh Huấn ghé vào nhà chơi cho biết nhà cửa vợ con của anh ấy rồi hẵng về nhà. Anh Huấn đồng ý. Về đến nơi, chị vợ anh bạn rất đon đả. Chị tất bật ra vườn lùa gà lại và bắt một con để làm cơm đãi khách. Hai anh học viên đi thăm vườn tược rồi sang nhà bên thăm bố mẹ anh bạn xong quay về nhà ngồi uống nước. Được một lúc, anh Huấn ra giếng rửa mặt. Khi đi qua nhà bếp, anh Huấn chợt tròn mắt khi thấy chị vợ anh bạn đang làm món lòng gà nấu miến. Vì lửa thì to, chảo mỡ đã già, chị quay đi quay lại tìm mãi mà vẫn không thấy chiếc dao để đập hành cho vào chảo phi thơm. Vậy là chị nhanh trí cho cả nắm hành tăm vào miệng nhai trệu trạo cho dập rồi nhổ ra lòng bàn tay cho ngay vào chảo mỡ. Chị đảo qua đảo lại cho thơm rồi cho lòng gà vào. Anh Huấn nhìn thấy thế bỗng sởn gai ốc bèn lặng lẽ bước ra giếng. May mà chị vợ anh bạn đang mải làm nên không biết. Đến bữa ăn, khi rượu đã ngà, chị vợ giằng lấy bát múc miến cho hai anh em. Chị còn lấy đũa mò vào nồi miến gắp lòng mề gà để lên phía trên bát và giục hai anh em ăn nhiều để lấy sức. Cứ nghĩ lại cảnh lúc nãy, cổ họng anh Huấn lại nhợn lên buồn nôn. Vợ chồng anh bạn thì cứ ép ăn bằng được nên anh Huấn đành nhắm mắt nuốt ực một phát hết bát miến rồi tìm cách thoái lui. Anh Huấn bảo, đó là bữa cơm nhớ đời của tớ. Hì, hì, thật ra là phải phục tài nhanh trí của chị vợ anh bạn phải không các cậu? Phụ nữ Việt Nam thật tuyệt vời!

Chiều. Đi chặt cành cây để nguỵ trang tàu.

 

7.

Trời tối đen như mực. Gió lạnh sởn da gà. ánh đèn của một vài chiếc thuyền câu mực phía xa xa chiếu lại như những ngôi sao nhỏ nhoi đang lang thang giữa màn đêm đặc quánh. Tư Trung ngồi bên mạn tàu vừa điều chỉnh chiếc máy nén khí vừa chăm chú theo dõi anh em làm việc phía dưới. Điếu thuốc luôn đỏ chót trên môi. Thỉnh thoảng có con cá chuồn liều mình lao lên khỏi mặt nước bay về phía Tư Trung. Anh né người, con cá giãy đành đạch rồi phơi cái bụng trắng ệch trên sàn tàu. Những con mực ống nhao lại ăn đèn. Chiếc đèn pha được choả xuống mạn tàu làm sáng lên một khoảng nước trước mặt. Một tiếng đồng hồ đã trôi qua. Không biết ở dưới đó anh em đã tìm được gì chưa? Đây là vùng biển lần đầu tiên mình thử sức. Liệu sự thật ở dưới đáy biển có đúng với những tiên đoán của ông Tám “âm phủ” không? Những câu hỏi cứ nảy ra trong đầu Tư Trung. Kinh nghiệm mấy chục năm làm nghề đã tạo cho anh sự bình tĩnh, can đảm khi phải đối mặt với những tình huống xảy ra trong quá trình lặn. Trong tốp lặn này chỉ có thằng Thắng là còn hơi non nghề. Đáng lẽ công việc của nó là điều chỉnh máy nén khí phía trên nhưng lúc ăn cơm xong, nó xin phép Tư Trung được lặn cùng mấy anh để củng cố tay nghề. Đắn đo một lúc rồi Tư Trung cũng đồng ý với điều kiện chỉ cho nó lặn một tiếng thôi. Nó chưa quen nghề bằng anh em thì chỉ cho nó đi theo học nghề là chính. Muốn lặn thì hôm sau sẽ chọn một vùng nước cạn hơn cho nó lặn ban ngày, có gì còn dễ xử lý. Làm cái nghề này không tham, không cố được. Nếu không tuân thủ điều đó thì chết như chơi. Nếu có phúc thì sinh mạng cũng chỉ còn là nắm thân tàn ma dại. Dân lặn biển ở Lý Sơn đang cần những thằng như thằng Thắng để nối nghề. Dù cái nghề này có nghiệt ngã, hiểm nguy đến đâu thì cũng cần phải tồn tại. Tồn tại để sống. Đáy biển là cơm áo gạo tiền.

 

Cái thằng quỷ này răng lâu vậy nhỉ? Định thi gan cùng mấy tay kia chắc? Tư Trung đang thắc mắc một mình thì thấy ánh sáng loa loá dưới nước. ánh sáng đèn đang dần trồi lên mặt nước. Chiếc đèn pha gắn trên trán nhô lên, người mặc bộ đồ cao su bơi về mạn tàu. Thằng Thắng. Tư Trung mỉm cười. Anh giơ tay kéo nó lên tàu. Thắng tháo kính lặn, nhả ống thở, mồm thở hổn hển. Nó cởi chiếc túi lưới đeo bên cạnh mình, thò tay lấy mấy thứ ra đưa cho Tư Trung. Tư Trung nhìn kỹ. Một hộp bảng điện tàu, một chiếc thước song song bằng mica, nắp hộp điện, la bàn. Tư Trung chau mày: “Tàu đắm hả?”. “Vâng, một chiếc tàu đắm anh Tư ạ. To lắm!”. Thắng vừa thở vừa trả lời.

 

Dưới mặt nước lại có tiếp mấy người ngoi lên. Vừa trèo lên tàu, khuôn mặt ai cũng tỏ vẻ căng thẳng. Mọi người đều xác nhận những gì vừa tận mắt thấy dưới làn nước sâu. Bảy Nam cầm khẩu súng AK đã rỉ sét đưa cho Tư Trung: “Là một con tàu anh Tư ạ!”. Cầm khẩu súng chỉ còn lại phần thép, Tư Trung giọng run run: “Tàu chiến. Chắc là tàu của bộ đội mình!”. Bỗng Tư Trung nhìn khắp lượt anh em rồi quả quyết: “Được rồi, sáng mai tôi sẽ xuống. Chúng ta sẽ tìm để đưa các anh ấy lên!”.

Tư Trung lẩm bẩm: “Ông Tám “âm phủ” thiêng thật! Nói đâu trúng đó!”.

 

8.

Đêm...

Tất cả đã xong. Ngày mai sẽ hành quân ra khu đợi cơ, sẵn sàng xuất kích. Không khí chiến đấu đang bùng lên hừng hực. Căng thẳng. Ngột ngạt. Bọn khu trục đang mò vào quấy rối. Chúng mày sẽ biết tay ông.

Anh em quây quần trên boong mũi tàu hóng mát. Điếu cày rít sòng sọc, phả khói um trời. Chè Thái Nguyên đặc quánh, thuốc lá Tam Đảo mấy bao vất xoài ra mặt boong. Ngày mai ra trận rồi, cứ thoải mái đi! Chuyện trên trời dưới biển được kể râm ran. Thằng Tài ngồi dựa lưng vào bệ pháo nghêu ngao hát. Mấy anh em ngồi cạnh buột miệng bảo: “Tài ơi, làm một bài bố chết đi!”. Tài e hèm một tiếng rồi cất lời thống thiết: “Bố ơi là bố ơi...! Con về mà không kịp gặp bố, đau xót quá bố ơi là bố ờ...i...!”. Mọi người cười rũ rượi. Lại có tiếng: “Khóc mẹ đi!”. Tài lại khóc bài về mẹ. Theo yêu cầu của “khán giả”, Tài khóc tiếp những bài về anh, chị, cậu, dì... Mỗi bài khóc mang một tâm trạng, một nỗi niềm riêng. Tiếng khóc của thằng Tài thật ỉ ôi nhưng rất có hồn. Đầy đủ vang, rền, nền, nẩy. Thì ra trước khi nhập ngũ, Tài đã có mấy năm lang thang làm nghề đánh giày kiêm thành viên của ban nhạc hiếu trên Hà Nội. Nó chuyên khóc thuê cho những gia đình có người thân qua đời. Họ cần tiếng khóc cho vơi bớt nỗi cô đơn, hiu quạnh. Giọng hát của nó được ông bầu Sẩm đánh giá cao. Số tiền Tài kiếm được cũng kha khá. Khi nó về quê giỗ ông nội thì đúng đợt anh cán bộ xã đội cầm giấy khám tuyển nghĩa vụ quân sự đến nhà. Vậy là nó ở lại và nhập ngũ cho đến hôm nay.

Đang chu cái mỏ ra nức nở làm trò cười cho mọi người thì thuyền trưởng từ dưới khoang chui lên quát cho một trận: “Im mồm ngay! Mai kia muốn chết cả nút hay sao mà giờ đã truy điệu sống cả tàu rồi? Mà mấy ông này nữa, giải tán về ngủ đi mai còn lấy sức hành quân!”. Mọi người lục tục chui xuống khoang. Chỉ còn mình với cây súng AK ngồi gác. Biển thật phẳng lặng, hiền hoà.

Lúc này lại nhớ tới Thoan. Nhớ em lắm Thoan ạ! Ước gì bây giờ anh có một phép màu nhỉ? Chắc em sẽ hỏi là để làm gì chứ gì? Tất nhiên là anh sẽ đi mây về gió như Lão Tôn để được gần em và con. Chỉ một chút thôi, một chút thôi Thoan ạ! Ngày mai anh ra trận rồi. Ước gì được gần em để ngửi mùi hương bồ kết trên mái tóc của em, được rúc vào ngực em như thằng cu Tuấn đòi tí mẹ. Được như thế thì còn gì bằng, anh sẽ may mắn lắm đấy. Nhưng... tiếc thật! Xung quanh anh bây giờ là súng đạn, là ngư lôi, là mệnh lệnh. Chẳng có một phép màu nào cả Thoan ạ!

Ngày mai, trước tàu chiến, máy bay của giặc không biết mình có gặp may không nhỉ? Chiến tranh, có ai nói trước được điều gì đâu. Mình chỉ mong sớm kết thúc chiến tranh, được bình an trở về làm thằng dân cày, lấy đít con trâu làm chuẩn. Vợ chồng sớm tối có nhau. Thế là mãn nguyện lắm rồi.

Nhưng không, chiến tranh đều có quy luật riêng của nó. Muốn được sớm trở về với gia đình, với quê hương thì càng phải chiến đấu. Chiến đấu đến cùng. Không thể dung tha cho bọn cướp nước. Ngày mai tao sẽ lấy đường ngắm thật chuẩn để tặng cho chúng mày những viên kẹo đồng sáng loé. Tao sẽ quyết tâm lập thành tích để đem về tặng cho mẹ con cu Tuấn nhà tao.

Chúng mày chờ đấy!

 

9.

Cơn mưa buổi sáng làm cho bầu trời quang đãng hơn nhiều. ánh nắng vừa ló ra làm cho cảnh sắc trở nên rực rỡ. Trong khuôn viên nghĩa trang liệt sĩ, tiếng chim hót líu lo như lũ trẻ con đang mải nô đùa. Trong căn phòng rộng rãi, hai chiếc tiểu sành được kê ngay ngắn, phía trên phủ hai lá cờ Tổ quốc đỏ tươi. Mùi hương toả ra thơm ngát. Xung quanh, những người lính Hải quân và bà con nhân dân đứng san sát chăm chú theo dõi. Đội tiêu binh súng tuốt lê nghiêm trang đứng bên cạnh hai người.

 

Tiếng nhạc “Hồn tử sĩ” vang lên trầm hùng. Lễ truy điệu bắt đầu.

 

Một vị tướng Hải quân đi lên phía trên. Ông nhìn mọi người định nói một câu gì đó nhưng nghẹn ngào một lúc mới nói nên lời:

- Thưa các đồng chí, thưa bà con nhân dân...! Đây chính là hai đồng đội trên tàu phóng lôi của tôi trong trận xuất kích đánh đuổi tàu khu trục của Mỹ xâm phạm hải phận của Tổ quốc năm xưa- Ông ngừng lại, rút khăn mùi soa trong túi ra lau nước mắt rồi run run nói tiếp- Trận đánh đó, tàu chúng tôi bị tên lửa từ máy bay, pháo hạm của tàu khu trục Mỹ bắn chìm. Mãi đến hôm nay tôi mới được gặp lại hai người trong số họ. Thức ơi, Tài ơi, các đồng đội còn nằm lại dưới lòng biển ơi!  Các cậu có nghe mình gọi không..?

 

Tất thảy mọi người trong căn phòng đều rưng rưng xúc động. Họ cúi đầu mặc niệm. Không gian trở nên yên lặng. Những ngọn nến toả ánh sáng lung linh huyền ảo trước di ảnh hai người.

 

Nằm cạnh nhau, Thức và Tài chăm chú nhìn mọi người. Bỗng Tài ngờ ngợ ra điều gì bèn gọi thầm Thức:

- Anh Thức, anh Thức ơi!

- Gì vậy Tài?

- Anh có thấy ông tướng này trông quen quen không?

- ừ, ai hình như..., à!- Thức bật kêu lên- Anh nhớ rồi!

- Ai vậy anh? Sao em không nhớ ra nhỉ?

- Anh Huấn, anh Huấn đấy Tài ạ! Anh Huấn đã trở về và thành tướng rồi!

- A, anh Huấn, đúng rồi- Tài kêu lên- Sao anh ấy già quá anh nhỉ?

- Suỵt, nói khẽ thôi! Ba mươi mấy năm thì phải già đi chứ? Chỉ có anh em mình là trẻ mãi thôi!

Hai người lại đưa mắt nhìn xuống dưới kia. Anh Huấn vẫn đang kể cho mọi người nghe câu chuyện bi tráng về con tàu của mình. Đứng bên cạnh anh là Tư Trung và nhóm thợ lặn, những người đã có công đưa các anh về đất mẹ sau mấy chục năm lưu lạc. Những người lính và bà con nhân dân đến dự lễ mắt ai cũng ngấn lệ.

Thức và Tài vẫn đưa mắt kiếm tìm. Kia rồi! Thức kêu lên sung sướng. Đứng phía sau lưng anh Huấn là mẹ con Thoan. Họ chít khăn trắng trên đầu. Mắt Thoan đỏ hoe. Cô ấy già đi nhiều quá! Ôi, thằng cu Tuấn đã lớn bằng này rồi sao con? Có phải đứng bên cạnh Tuấn là vợ con của con không? Vậy là cuối cùng mình cũng được trở về quê hương, được về cùng Thoan và các con. Mình đến chết vì hạnh phúc mất thôi. Chỉ có điều, mình chẳng thể cùng Thoan và các con đi làm cỏ lúa hay đi chăn trâu được nữa rồi... Thoan ơi, em có nghe anh gọi không hở Thoan? Thức cay cay sống mũi. Trước mắt anh hình ảnh bỗng nhập nhoà.

- Anh Thức, anh Thức ơi!- Tài gọi giật làm Thức bừng tỉnh.

- Lại gì nữa đây hả thằng em?- Thức quay sang Tài.

- Anh ơi, mẹ em đâu? Lài đâu hở anh?

Tội nghiệp thằng Tài, đến giờ vẫn chưa tìm được mẹ.

Bỗng Tài reo lên: “A, mẹ! Mẹ kia rồi! Mẹ ơi, con đây mà!”.

Mẹ Tài được mấy chú lính trẻ dìu lên phía trước. Tay mẹ xách chiếc làn cói đựng mấy bắp ngô, nải chuối tiêu, mấy quả trứng gà. Mẹ nhìn trân trân vào Tài, mắt nhoè lệ. Mẹ nấc lên: “Con ơi, mẹ chờ con mấy chục năm nay rồi con ơi..!”. Tài muốn chạy xuống đỡ mẹ nhưng không thể ngồi dậy được. Trời, mẹ tôi già như thế này rồi ư?Mẹ gầy còm như chiếc lá cuối thu, miệng móm mém. Mẹ vẫn mặc chiếc áo chiêm bâu bạc phếch như ngày xưa. Đến giờ vẫn khổ thế này sao hở mẹ? Con thương mẹ lắm mẹ ơi! Tài khóc hu hu như đứa trẻ. Thức phải quay sang nhỏ nhẹ dỗ dành Tài. Mãi một lúc sau Tài mới chịu nín.

Tài lại đảo mắt tìm kiếm ai đó. Anh hết nhìn sang trái, sang phải lại dướn mắt nhìn xuống phía sau căn phòng chật cứng người.

- Lài đâu rồi hở anh?

- Cái thằng này- Thức sẵng giọng- Bây giờ cô ấy đã già, đã có gia đình riêng rồi. Chắc gì cô ấy đã ở đây mà ngóng với trông?

Nghe Thức quát, Tài thở dài vẻ buồn rầu:

- Vậy là em chỉ còn mỗi mình mẹ, Lài đi lấy chồng mất rồi, em mất Lài thật rồi!

Tài lại khóc, tiếng khóc mỗi lúc một to:

- Mẹ ơi, Lài đâu rồi? Lài ơi, em ở đâu? Em ở đâu Lài ơi? Trả Lài đây cho tôi... hu...hu...hu..!

Thức lặng thinh. Mặc kệ, hôm nay cho cậu ấy khóc thật thoải mái. Tiếng khóc sau hơn ba mươi lăm năm mang đầy nỗi niềm thương nhớ, đoàn tụ, chia li.

Bầu trời bỗng nổi cơn gió mạnh. Lác đác có hạt mưa. Mưa to. Những hạt mưa thi nhau đổ xuống nghĩa trang. Mưa trắng trời trắng đất. Mấy chú chim sẻ bị mắc mưa ướt lướt thướt, chúng run rẩy nép dưới mái hiên nhà.

Hai bát hương bỗng nhiên bùng cháy. Hai ngọn lửa nằm cạnh nhau rực sáng căn phòng. ánh lửa soi rõ từng ánh mắt mọi người đang chăm chú dõi theo.

Ngoài kia trời vẫn đổ mưa.../


Lê Mạnh Thường

 

 

 
Quán đêm

Phố mới ven đô

Khi đêm đến lập loè lửa đỏ

Một manh chiếu trải xuống thành quán nhỏ

Đôi ba người thành cuộc nhậu tàn canh

Chén rượu nhạt uống trên hè phố vắng

Giấu nỗi buồn mà gió cứ loang xa

Bay cùng ta đến khắp nẻo ngân hà

Chợt bắt gặp những dòng đời chảy muộn

Quán cóc lang thang bước đường lưu lạc

Len lách vòng quay sấp ngửa nhân tình

Chắp nhặt từng đốm lửa mưa sinh

Tự hỏi mình đâu là bến đỗ

Đêm đêm quán gió liêu xiêu

Chốn vỉa hè không tên không số

Rồi sáng mai lạnh lùng khuôn mặt phố

Nhà cao tầng che khuất mảnh đời khuya.

 

Nguyễn Cường

 
«Bắt đầuLùi1234567Tiếp theoCuối»

Trang 1 của 7
 

Video

Liên kết

bao_hp

 

cung_vntt_thanh_nien_hp
dang_cong_san_vn
thanh_pho_hp

 

Số người online

Hiện có 1 khách Trực tuyến
mod_vvisit_counterHôm nay95
mod_vvisit_counterHôm qua110
mod_vvisit_counterTrong tuần95
mod_vvisit_counterTrong tháng590
mod_vvisit_counterBạn là lượt truy cập44102