|
Về miền đất Dương Kinh
Tôi chưa bao giờ được đến khu di tích Dương Kinh, kinh đô của nhà Mạc lẫy lừng 65 năm trong lịch sử, mà tới cuối năm 2010 mới được khôi phục lại bước đầu. Nhưng hôm nay, trước ngày kỷ niệm 470 năm ngày mất của Thái tổ Mạc Đăng Dung (22 tháng Tám Âm lịch năm Tân Sửu, 1541), tôi thật sự vui mừng được cầm trong tay tập thơ tươi tắn và đầy cảm xúc của nhiều tác giả, mà trong đó có nhiều người là hậu duệ 9, 10 đời của dòng họ Mạc, đã thất tán khắp nơi sau khi nhà Mạc bị Trịnh Tùng đánh đổ và vị vua cuối cùng là Mạc Mậu Hợp bị bắt (năm 1592) tại một ngôi chùa cổ ở xã Phượng Nhỡn (Bắc Giang), bị đóng cũi đưa về chém tại xã Bồ Đề (Gia Lâm, Hà Nội).
Nhà thơ Bằng Việt Chủ tịch Hội đồng thơ (Hội Nhà văn VN) phát biểu trong chương trình
kỷ niệm 470 năm ngày mất Thái tổ Mạc Đăng Dung tại Kiến Thụy, Hải Phòng
Kể từ đó, để khỏi bị truy lùng ráo riết, con cháu họ Mạc buộc phải đổi họ (thành các họ như : Hoàng, Phạm, Phan, Thái, Vũ, Ma, Nguyễn…) và ước hẹn với nhau, là dù có cải ra họ gì đi nữa, thì vẫn phải giữ lại một nét “ Thảo” ghi lại dấu ấn họ Mạc (chữ Hán), để về sau còn tìm lại họ gốc, cho dù qua bao thử thách thăng trầm. Chi tiết cảm động này cho ta thấy ý chí gắn bó và đoàn kết của dòng họ tộc này sâu xa và thiêng liêng đến nhường nào. Ngay sau khi Mạc Mậu Hợp mất, con trưởng của ông là Mạc Toàn và chú ruột của Mạc Toàn là Mạc Kính Chỉ cũng bị bắt và cùng bị hành hình năm 1593. Về sau, con cháu nhà Mạc còn chạy lên Cao Bằng và giữ lại mảnh đất đó thêm được khoảng vài chục năm nữa, rồi bị các chúa Trịnh là Trịnh Tráng và Trịnh Tạc thôn tính nốt. Cả vương triều Mạc tuy tồn tại không lâu, lại bị các sử gia thời Lê trung hưng sau này cố ý hạ thấp vị thế chính trị và lịch sử, nhưng những gì mà triều đại đó để lại trong lòng dân rất đáng cho chúng ta thực sự kính phục và nể trọng.
Nếu ta hiểu thêm rằng dù Mạc Đăng Dung tuy chỉ là một vị quan võ, xuất thân từ nghề đánh cá nghèo khổ ở Cổ Trai huyện Nghi Dương (nay là Kiến Thụy, Hải Phòng), nhưng lại là dòng dõi 7 đời của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi nổi tiếng trong lịch sử thời Trần, còn có thể là hậu duệ xa của Trạng nguyên Mạc Hiển Tích, đỗ đầu khoa thi chọn các tài năng văn học giỏi từ thời Lý, thì chúng ta không ngạc nhiên, là sau khi lên ngôi, nhà Mạc đã rất chú trọng đến việc lựa chọn được người hiền tài ra giúp nước qua khoa cử, trong đó có những trí thức rất lớn như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), vừa học rộng tài cao, vừa giỏi về Dịch lý, Thái ất.
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống qua các thời vua Lê Uy Mục (được mệnh danh là Quỷ Vương), là một ông vua hung ác, phản trắc, luôn say đắm tửu sắc, không ngó ngàng gì đến chính sự ; rồi lại qua cả thời vua Lê Tương Dực, cũng lại là một ông vua chuyên bày trò ăn chơi xa xỉ, tham lam vô độ, đến nỗi sứ Tàu sang, nhìn thấy Lê Tương Dực, còn về tấu lại với vua nhà Minh rằng : Vua nước Nam thời này có tướng Lợn, chắc chắn không còn giữ nước được bao lâu !. Nếu không có triều nhà Mạc biết quy tụ lại quân dân ta, có lẽ nhà Minh đã tính xong chuyện thôn tính nước ta một lần nữa rồi !.
Nguyễn Bỉnh Khiêm kiên nhẫn ở ẩn chờ thời, và không phải ngẫu nhiên mà mãi tới năm 45 tuổi, vào thời Thái tông Mạc Đăng Doanh, thấy thời thế đã ổn định, liệu đã có thể đem tài ra giúp nước, mới chịu đi thi, và qua 5 kỳ thi đều đứng đầu, cuối cùng đỗ Trạng nguyên (Đệ nhất giáp Tiến sĩ đệ nhất danh) và trở thành một trong những trí thức lỗi lạc nhất của cả thời đại và được nhà Mạc trọng dụng, từ Đông các đại học sĩ đến chức Thượng thư Bộ Lại, tước Trình Tuyền hầu rồi tước Trình Quốc công.
Về chuyện quan tâm đến việc mở các khoa thi, kén chọn nhân tài, thì triều Nhà Mạc có thể coi như một triều đại mẫu mực, cứ đúng 3 năm một lần là mở các khoa thi Hương và thi Hội. Năm Kỷ Sửu (1529), khi Thái tổ Mạc Đăng Dung mới lên ngôi được 1 năm rưỡi, nhà Mạc đã cho mở khoa thi đầu tiên, lấy đỗ 27 người, trong đó có Trạng nguyên Đỗ Tổng, Bảng nhãn Nguyễn Hãng và Thám hoa Nguyễn Văn Huy. Tiếp đó, đến năm 1532, khoa Nhâm Thìn, thi Hội lấy đỗ 27 Tiến sĩ, trong đó có Nguyễn Thiến, đỗ Trạng nguyên. Năm 1535, khoa thi ất Mùi, lấy đỗ 32 Tiến sĩ, trong đó Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình) đỗ Trạng nguyên. Năm 1538, khoa Mậu Tuất lấy đỗ 36 Tiến sĩ, trong đó có Giáp Hải đỗ Trạng nguyên. Năm 1541, khoa Tân Sửu, lấy đỗ 30 Tiến sĩ, có Nguyễn Kỳ đỗ Trạng nguyên. Năm 1544, khoa Giáp Thìn, lấy đỗ 17 Tiến sĩ, trong đó có 3 vị đỗ Hoàng giáp (đệ nhị giáp Tiến sĩ , không có Trạng nguyên) là Vũ Kính, Lê Thọ Khảo và Trần Diễm. Năm 1547, khoa Đinh Mùi, lấy đỗ 30 Tiến sĩ, trong đó có Dương Phúc Tư đỗ Trạng nguyên. Năm 1550, khoa Canh Tuất lấy đỗ 25 Tiến sĩ, trong đó có Trần Văn Bảo đỗ Trạng nguyên. Năm 1553, khoa Quý Sửu, lấy đỗ 20 Tiến sĩ, trong đó có Nguyễn Lương Thái đỗ Trạng nguyên. Năm 1556, khoa Bính Thìn, lấy đỗ 14 Tiến sĩ, trong đó có Phạm Trấn đỗ Trạng nguyên. Năm 1559, khoa Kỷ Mùi, lấy đỗ 19 Tiến sĩ, mà Thám hoa là Đặng Thời Thố (không có Trạng nguyên và Bảng nhãn).
Từ các khoa thi vào giai đoạn sau, thời Mạc Mậu Hợp, như các năm 1562 (Nhâm Tuất), 1565 (ất Sửu), 1568 (Mậu Thìn), 1571 (Tân Mùi), 1574 (Giáp Tuất), 1577(Đinh Sửu), 1580(Canh Thìn), 1583 (Quý Mùi), 1586 (Bính Tuất), 1589 (Kỷ Sửu), 1592 (Nhâm Thìn), lúc nhà Mạc phải đương đầu ráo riết với nhà Lê trung hưng, chiến tranh xảy ra liên miên, chất lượng học hành thi cử không thể còn giữ được như các thời trước, thì các khoa thi giai đoạn sau này, dễ hiểu là rất hiếm người đỗ cao, duy nhất chỉ có một vị còn đỗ Trạng nguyên là Vũ Giới (khoa thi năm Đinh Sửu, 1577). Tuy nhiên, nếu tính trên tổng số, thì con số các vị Tiến sĩ đỗ đạt trong thời nhà Mạc còn ghi lại được là khá lớn, có đến 485 vị qua 5 đời vua.
Ta cũng phải ghi nhận, là bên cạnh các khoa thi được mở đều đặn, thì trong thời nhà Mạc còn có một loạt các thành tựu văn hóa khác nữa, như vào năm 1536 (Bính Thân), Triều đình cho trùng tu lại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, hoặc năm 1554 (Giáp Dần), cho xây dựng lại chùa Tây Phương bị đổ nát, năm 1556 (Bính Thìn), cho dựng tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), năm 1567 (Đinh Mão), cho lập Chân Thánh Quán (nhà thờ Đạo giáo) ngay tại Dương Kinh (Kiến An, Hải Phòng), cùng với việc chấn hưng Nho giáo và Phật giáo.
Thời Mạc Đăng Doanh (con trai trưởng của Mạc Đăng Dung), lấy niên hiệu là Thái tông, còn có thành tựu chú tâm nêu cao kỷ cương phép nước, nghiêm trị bọn trộm cướp, du thủ du thực, cấm mang vũ khí như giáo mác, dao nhọn ra đường ; khiến cho trong mấy năm liền đất nước trở lại thanh bình, ổn định, người buôn bán và sản xuất đi lại làm ăn không cần mang vũ khí bảo vệ, trâu bò thả rông không ai bắt trộm, ban đêm nhà nhà không cần đóng cổng, của rơi cũng không ai nhặt, mùa màng liên tiếp được mùa, nhân dân làm ăn vui vẻ, yên bình. Đó là lý do vì sao nhà Mạc vừa chiếm ngôi nhà Lê mà vẫn giữ được xã hội ổn định, mọi việc đều được đưa vào kỷ cương, nhân dân an cư lạc nghiệp, chế độ khoa cử và quan chế rất có nề nếp, thứ tự. Tuy nhiên, trong chính sử, kể cả các bộ sử lớn như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, triều Nhà Mạc vẫn bị chép vào phụ kỷ, không được xếp vào bản kỷ như các thời khác !. Đó quả là một thiệt thòi lớn lao!. (Nếu chúng ta xem xét lại, thời Nhà Hồ cướp ngôi Nhà Trần, chỉ tồn tại vẻn vẹn có 7 năm, qua hai đời vua là Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương, rồi sau đó lại để mất nước vào tay nhà Minh xâm lược và đô hộ, thì công lao của nhà Mạc đối với lịch sử dân tộc, tính ra vẫn có ý nghĩa hơn rất nhiều !).
*
Trong tập thơ chúng ta có được hôm nay, rất nhiều tác giả hiện đại đã nhìn ra được công lao đích thực của triều nhà Mạc và viết nên những dòng thơ cảm khái chân thành
Giữ nền độc lập, dân hưng thịnh,
Phát triển khoa thi, chọn hiền tài,
Biết bao tiến sĩ từ khoa bảng
Lưu danh bia ký đến muôn đời !
(Mạc triều một thuở - Ngô Đăng Cảnh)
Hoặc nói về phép nước có kỷ cương để dân được yên lạc, thái bình trong thời Mạc Đăng Doanh, tác giả Nguyễn Minh Dương ở bài Truyền thuyết Dương Kinh cũng tỏ ra tâm đắc với từng chi tiết cụ thể, sống động :
Dân no đủ, của đánh rơi không mất,
Ngọn gió đêm vào cửa giữa mát lành !
“Ngọn gió đêm” vào thẳng “cửa giữa” có nghĩa là vào thẳng cửa lớn mở toang khi đi ngủ, do dân không còn sợ trộm cướp hoặc kẻ gian, hình ảnh ấy chỉ có thể có được trong một thời đại rất trật tự, no đủ, thái bình, giống như thời vua Nghiêu vua Thuấn ở Trung Hoa được ca ngợi từ thái cổ vậy !.
Nhiều tác giả đã nhắc đến các địa danh nổi tiếng trong lịch sử và gắn liền với mảnh đất tổ tiên của Vương triều Mạc: Cổ Trai, Dương Kinh, núi Trà, núi Đối, sông Đa Độ, Điện Hưng Quốc, Điện Tường Quang… Lại cũng nhiều tác giả nêu tên các địa danh nổi tiếng khác trong thời hiện đại, như căn cứ kháng Nhật ở Kim Sơn, nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên ở Đầm Bầu, nơi có các nữ du kích bắn rơi “Thần sấm” Mỹ ở Thụy Hương, nơi khởi đầu “Bến tàu không số” của Hải Phòng - địa điểm nổi danh thời chống Mỹ, rồi đến nơi được coi là cái “nôi khoán sản” mở đầu cho thời đổi mới về sản xuất nông nghiệp là Đoàn Xá… Tất cả đã vẽ nên chân dung bao quát về một vùng đất có rất nhiều sự kiện lịch sử và thành tựu lớn lao, tiêu biểu cho những con người anh dũng, kiên cường, con em của một vùng biển đầy sóng gió, thử thách, lại chứa đầy truyền thống mãnh liệt và hào hùng !.
Đã có tác giả khái quát đầy hào khí, khi vẽ nên cốt cách đa dạng cũng như khí phách cao cả của những người dân một vùng biển, qua nhiều đời :
Thuở hồng hoang,
có người đàn bà búi tóc ngược,
Mặc nhung y, cầm đao,
Có ông Trạng cáo quan về ở ẩn
Còn băn khoăn trước thế sự, cuộc cờ…
Có người thợ cày đã bạc màu áo lính,
Có kẻ vạn chài, kéo đổ một triều vua !...
(Trai phố biển - Nguyễn Phước Giang)
Bài thơ Kiến Thụy của Đỗ Danh Lập còn kể cụ thể cả những người con vinh quang của vùng đất địa linh nhân kiệt này, bằng cách nhắc lại tên các vị tướng kiêu dũng thời xưa từng được nhân dân ghi nhớ : Đó là Trương Nữu, đại tướng chống quân xâm lược nhà Đường, đó là Vũ Hải, đại tướng trong thời nhà Trần chống quân Nguyên – Mông. Những tên tuổi đó, mãi mãi còn được ghi lại trong ký ức và tâm tưởng của nhân dân, cùng với tên tuổi các anh hùng, dũng sĩ thời nay, ví như các chị trong trung đội pháo phòng thủ bờ biển nữ dân quân Đoàn Xá tham gia bắn cháy tầu chiến Mỹ, cũng được tác giả Phạm Văn Vững nhắc đến, trong bài thơ Quê em đầy cảm xúc.
Có tác giả lại thích thú ghi lại những chi tiết lịch sử pha truyền thuyết thú vị. Đó là thanh long đao nổi tiếng của dũng sĩ Mạc Đăng Dung, vốn là dân vạn chài và đánh cá có sức khỏe phi thường. Thanh long đao nổi tiếng của ông, may mắn thay, đã được tìm thấy và đưa về trưng bày tại quê hương, dù có lúc tưởng như đã thất lạc và bị chôn giấu bao nhiêu năm trong lòng đất, đến nỗi lưỡi đao bị hoen rỉ hết. Tác giả Quang Khoảng đã có những phút giây hào hứng và cảm kích khi được viết về khoảnh khắc thanh long đao của Mạc Thái tổ được chuyển về quê hương trong bài Rước long đao về Làng Cổ. Nhưng thú vị hơn nữa là Đặng Thị Lệ Quyên trong bài Cảm tác Dương Kinh còn so sánh cụ thể hơn giữa thanh long đao của Thái tổ nhà Mạc với thanh long đao nổi tiếng của Ngô Tam Quế (Trung Quốc). Tôi may mắn trong một chuyến đi du lịch tới Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam, đã được tới Viện bảo tàng Vân Nam và cùng mọi du khách nước ngoài trầm trồ khi ngắm thanh long đao thật “khủng” của Ngô Tam Quế, người đã từng trị vì ở đây !. Không ai trong chúng tôi hình dung nổi, người xưa phải cao lớn và có sức khỏe tới ngần nào, thì mới nhấc nổi thanh long đao ấy lên, đừng nói tới việc múa võ với thanh long đao ấy !. Nhưng chỉ nội một việc là Đặng Thị Lệ Quyên có được cứ liệu là thanh long đao của Ngô Tam Quế trên đây hãy còn chưa nặng bằng thanh long đao của Thái tổ Mạc Đăng Dung, người quê vùng dân chài Kiến Thụy, thì đã đủ cho tôi tự hào không kể xiết, là tổ tiên chúng ta có sức lực kiêu dũng đến như thế nào ! Chẳng thế mà chúng ta đã từng làm nên các thắng lợi siêu việt : Bạch Đằng, Hàm Tử, Chi Lăng, Đống Đa…để lại hùng khí nức lòng cho muôn đời con cháu !.
Kiêu dũng đến như vậy, nhưng các vua và đại tướng nhà Mạc thực sự có lòng nhân và luôn luôn coi lợi ích dân tộc và đất nước cao hơn lợi ích của họ tộc mình. Trong thời Mạc, triều đình luôn thu dụng rất khảng khái các hàng tướng trở về từ phe đối địch và rộng lượng sử dụng họ có hiệu quả.
Đặc biệt, lời căn dặn của Mạc Ngọc Liễn trước phút lâm chung, sau khi nhà Mạc đã bị thất bại, càng thật sự khiến chúng ta cảm phục. Cả hai bộ sử lớn là Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục, dù không ưa gì nhà Mạc, nhưng vẫn phải ghi lại trân trọng cả nguyên văn lời di chúc cao thượng này . Mạc Ngọc Liễn nói : “Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng… Dân ta là dân vô tội, mà lại để phải mắc vào nạn binh đao, sao lại nỡ thế !. Nếu thấy quân họ đến, thì ta nên tránh, chớ có đánh nhau, chỉ cẩn thận mà giữ là hơn. Lại chớ nên đi mời người Minh vào nước ta, để dân ta lại phải lầm than đau khổ hơn nữa, đó là tội lớn không gì nặng bằng !”.
Lời của Mạc Ngọc Liễn đã được các hậu duệ nhà Mạc tuân thủ tuyệt đối, dù sau này, bị họ Trịnh dồn ép, họ phải bỏ cả vùng biên trấn Cao Bằng chạy sang ở ẩn tại Trung Quốc, nhưng không hề bao giờ có ý định cầu cứu người Minh về đánh nước ta, thì chúng ta mới càng thấy rõ hơn tư cách của dòng họ Mạc.
Tập thơ trên tay chúng ta hôm nay, tuy còn mỏng và nhẹ, chưa thể nói được đầy đủ về nhiều mặt rất đáng nói của Vương triều Mạc cũng như cả vùng đất phát tích của nhà Mạc, nhưng đã như một cánh én nhỏ báo hiệu mùa
Xuân, cho chúng ta những cảm nhận ban đầu, thật trong trẻo, chân thành, cao đẹp về một vùng đất kỳ vĩ rất đáng tự hào của Tổ quốc, với nhiều bậc trượng phu, hào kiệt, từ các bậc trí
giả ưu thời mẫn thế đến người dân chài có chí lớn, xứng đáng được trân trọng từ xưa đến nay,
với những địa danh đã đi vào truyền thuyết và ở lại mãi trong ký ức dân gian bền chặt.
Xin trân trọng giới thiệu tập thơ đáng quý này với bạn đọc, với lòng mong muốn rằng cánh én nhỏ của Thơ trên tay chúng ta hôm nay sẽ tiếp tục có tác dụng và có sức mạnh lan tỏa, lôi cuốn thêm nhiều cánh én khác nữa nhập đàn, để tạo nên được một không khí Xuân thật sự và cả một không khí Thơ thật sự, trên mảnh đất Dương Kinh thiêng liêng, đầy hào khí này của vùng biển sôi động Hải Phòng, luôn biết gìn giữ các giá trị truyền thống, đồng thời biết mạnh dạn phát huy nó trong quá trình đổi mới và hội nhập./.
Bằng Việt
(Hà Nội)
Ngâm thơ trong đền nhà Mạc
Tặng nghệ sĩ MT
Có di cảo trào sôi trên mặt đá
Có vương triều ngụp lặn
trong men đất nguyên sơ
Thật dễ chịu khi ta cùng giáp mặt
Tiếng trống trận ngày xưa
và nghệ sĩ bây giờ.
Em ngâm vần thơ
Về vương triều nhà Mạc
Trong vạt áo tơ tằm
Thêu ngàn dâu bể Ngũ Đoan
Không sáo trúc, không đàn phụ họa
Mà có nắng kinh thành
hòa tiếng quân reo
Mạc Thái tổ với đoàn quân ấy
Thanh long đao mài sóng nước Cổ Trai
Hơn bốn trăm năm nét hoa văn lộng lẫy
Trong giọng ngâm thơ quặn thắt
nhớ hiền tài.
16/9/2011
Minh Quyền
Chiều Dương Kinh
Bể dâu thì vẫn đầy vơi
Đất thiêng đã định một thời vàng son
Về đâu mấy thuở cháu con
Lẫn trong trăm họ mất còn mà đau
Dấu xưa vó ngựa ngàn lau
Rêu phong thành cổ dãi dầu Ngũ Đoan
Chuông chùa Hưng Quốc than van
Cổ Trai nghiêng vạt hoang tàn cỏ cây
Chiều xa vọng tiếng hạc gầy
Để Dương Kinh buốt dấu giày tôi qua.
Quang Tuyến
|