Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 32 khách Trực tuyến

Video Cửa Biển

Lý luận phê bình

Nam Phong tạp chí với chủ quyền quần đảo Hoàng Sa
PGS.TS Nguyễn Đức Thuận Cách nay 85 năm, trên Nam Phong tạp chí* số 172 tháng 5/1932 trong mục Thời đàm có đăng lại bài 1: “Nước Pháp muốn đòi đảo Tây-sa (Siosan) cho dân Việt-Nam ta” từ Ngọ-báo, và bài 2 lấy từ báo Tiếng-Dân đăng theo Hoa-tự-báo ngày 24/5/1932 với đầu đề “Chứng-minh chủ-quyền lãnh-thổ”. Do thời kỳ này, nước ta...
Lời thỉnh cầu của chúng tôi

Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc

Vương Trọng

 

- Mười bát nhang hương cắm thế đủ rồi

Còn hương nữa hãy dành phần cho đất

Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi

Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc

Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp

Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi.

-  Hoa cỏ may khâu nặng ống quần, kìa!

Ơi các em tuổi quàng khăn đỏ

Bên bia mộ xếp hàng nghiêm trang quá

Thương các chị lắm phải không,

thì hãy quay về

Tìm cây non trồng lên đồi Trọ Voi

cùng bao vùng đất trống

Các chị nằm còn khát bóng cây che.

- Hai mươi bảy năm qua chúng tôi

không thêm một tuổi nào

Ba lần chuyển chỗ nằm lại trở về  Đồng Lộc

Thương chúng tôi, các bạn ơi, đừng khóc

Về bón chăm cho lúa được mùa hơn

Bữa ăn cuối cùng mười chị em không có gạo

Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường.

- Cần gì ư, lời ai hỏi trong chiều

Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu

Ngày bom vùi tóc tai bết đất

Nằm xuống mộ rồi mái đầu chưa gội được

Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang

Cho mọc dậy vài cây bồ kết

Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.

 

Đồng Lộc, 5/7/1995

 

Bài thơ có 4 lời của nhân vật trữ tình - người trong cuộc - 10 cô gái thanh niên xung phong (TNXP) đã hi sinh lúc 16 giờ ngày 24/7/1968 ở Ngã ba Đồng Lộc trên tuyến đường 15 ác liệt thời chống Mỹ. Nhưng theo mạch cảm xúc, khổ đầu bài thơ là lời khuyên chân tình đến tất cả mọi người khi đến viếng nghĩa trang Đồng Lộc, nơi yên nghỉ của 10 cô gái TNXP. Hai khổ thơ sau là lời đề nghị: hãy biến nỗi đau thương, lòng cảm mến thành hành động cụ thể để tưởng nhớ người đã hy sinh. Khổ cuối là lời thỉnh cầu riêng rất nữ tính mà thấm đẫm giá trị nhân văn. Mạch thơ bắt đầu bằng lời khuyên trước sự thành kính và tưởng nhớ của mọi người khi đến viếng 10 ngôi mộ nằm sát bên nhau ở vạt đồi nơi nghĩa trang:

Mười bát nhang hương cắm thế đủ rồi

Còn hương nữa hãy dành phần cho đất

Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi

Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc

Ngã ba Đồng Lộc là nơi bắt đầu của tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn (đường Hồ Chí Minh) đi giải phóng miền Nam. ác liệt đến khủng khiếp. Máy bay Mỹ coi đây là “yết hầu” cần phải đánh phá ngày đêm. Đã có biết bao lớp người “chúng tôi” đem xương máu của mình quyết giữ mạch máu giao thông, cảm tử giữa “túi bom”. Không lúc nào ngớt tiếng máy bay Mỹ gầm rú đánh chặn những đoàn xe quân sự qua trọng điểm này. Máu trộn đất Đồng Lộc. Xin hãy cắm nhang cho những liệt sĩ vô danh không có bia mộ, đang nằm đâu đó trong mảnh đất nơi đây, còn chúng tôi “ Mười bát nhang hương cắm thế đủ rồi”. Chỉ nhận về mình có thế! Sự khiêm tốn đến mức cảm phục. Như mọi người đã nằm lại ở ngã ba này “như cỏ trong thung, như nắng trên đồi”! Các cô không muốn dành cho mình tình cảm hay sự ưu tiên đặc biệt, cũng như bao đồng đội đã hiến dâng tuổi mười tám đôi mươi cho Tổ quốc, để có một Đồng Lộc huyền thoại bất tử hôm nay.

Đến với Đồng Lộc để tri ân những liệt nữ anh hùng, như tìm về một “địa chỉ đỏ” để tiếp thêm lý tưởng sống cho thế hệ trẻ. Có nhớ thương và cảm phục. Có bi thương và tự hào… Trong dòng người đến viếng mộ các cô là đồng đội một thời vào sinh ra tử, là các em “tuổi quàng khăn đỏ” ở nghĩa trang còn đầy “hoa cỏ may”, với lòng xúc động dâng trào. Tiếng các chị vọng về thân thiết như những lời thầm thì tâm sự:

Thương các chị lắm phải không,

thì hãy quay về

Tìm cây non trồng lên đồi Trọ Voi

cùng bao vùng đất trống

Các chị nằm còn khát bóng cây che.

Hãy biến tình cảm nhớ thương bằng hành động thực tế. Hãy làm việc gì đó có ích cho đời, để xứng với người đã cống hiến cho Tổ quốc. Vạt đồi trống trải Trọ Voi nơi các chị nằm đây và còn biết bao quả đồi trọc, bao vùng đất trống đầy nắng lửa gió Lào miền Trung kia nữa đang “khát bóng cây che”. Nhà thơ đã nhân danh người trong cuộc, thay các chị nói với thế hệ trẻ về đạo lý đền ơn đáp nghĩa mà chúng ta đã cố gắng nhưng chưa làm được bao nhiêu.

Vẫn mạch cảm xúc ấy, lời các cô dành cho “các bạn”. Cũng tuổi hai mươi như lớp người đang đứng trước mộ mình hôm nay. “Chúng tôi” đã một đời sống chết với Đồng Lộc, dù trước khi nằm xuống thiếu thốn đủ bề, thậm chí không có cả bữa cơm cuối ở trên đời “Bữa ăn cuối cùng mười chị em không có gạo/ Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường”. Thương cảm biết nhường bao! Quá khứ bi hùng của thời kỳ chiến tranh khốc liệt. Ai cũng phải cố gồng mình lên bằng nghị lực và ý chí sắt đá với tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. “Nắm mì luộc chia nhau” để rồi sau đó ít phút bị chôn vùi vĩnh viễn trong lòng đất… Người ngã xuống trong hoàn cảnh ấy đã mong muốn và nhắn nhủ với người còn sống, nghe đến nghẹn lòng:

Thương chúng tôi, các bạn ơi, đừng khóc

Về bón chăm cho lúa được mùa hơn

Cầu mong được no đủ hạnh phúc. Phải chăng đó cũng chính là  ý nghĩa cao cả mà các cô đã hiến dâng cả cuộc đời thanh xuân cho dân tộc. Phải chăng đó cũng là mục đích của bao lời cầu nguyện của chúng ta khi viếng nghĩa trang: hãy làm tất cả mọi điều cho cuộc sống hiện tại và mai sau, cho yên lòng người nằm dưới mộ. Tâm nguyện của người hi sinh chỉ giản dị thế thôi mà xúc động lòng ta. Nhà thơ nói những điều tưởng như bình thường mà có ý nghĩa nhân văn sâu xa: phải biết biến tình cảm thành hành động, ăn quả thì phải trồng cây, mong muốn cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn lên. Một sự thỉnh cầu…

Đứng trước di ảnh của 10 thiếu nữ trên mộ chí, ai chẳng ngậm ngùi đau xót. Những cô gái chết trẻ bao giờ cũng làm cho ta xao lòng tiếc nuối “Tất cả chưa chồng và chưa ngỏ lời yêu”. Khổ cuối của bài thơ rất người, rất đời. Nhà thơ đặc tả nỗi đau bằng hình ảnh mái tóc bị bom vùi lấp trong bùn đất. Khi lìa trần, lẽ ra phải được tắm rửa gội đầu sạch sẽ, thơm tho để về thế giới vĩnh hằng. Hai câu thơ rất thật, khiến lòng ta uất nghẹn:

Ngày bom vùi tóc tai bết đất

Nằm xuống mộ rồi mái đầu chưa gội được

Chết khi đang làm nhiệm vụ. Đột ngột, vội vã và tức tưởi. Ra đi mà chưa hề thanh thản, như còn thiếu… hương thơm quyến rũ từ mái tóc nuột nà óng ả vốn có của người thiếu nữ. “Hai mươi bẩy năm qua chúng tôi không thêm một tuổi nào”,  còn là con gái, còn nguyên vẹn đó khát khao được làm duyên và được yêu. Vẫn chờ đợi và mong mỏi. Nhưng đã ai quan tâm đến một ước nguyện rất riêng tư của người con gái như các cô? Thiếu ăn thiếu ngủ lúc còn sống. Thiếu cả đến quả bồ kết gội đầu! Mái tóc xanh hai mươi bẩy năm rồi chưa được gội. Nơi đất cằn găm đầy mảnh bom, mảnh đạn của Đồng Lộc chỉ cỏ may là mọc được. Người sống như có lỗi. Tới đây thăm viếng người đã khuất chỉ có lòng biết ơn và thành kính không thôi ư?  Ba câu kết của bài thơ thật bất ngờ:

Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang

Cho mọc dậy vài cây bồ kết

Hương chia đều trong hư ảo khói nhang

Vâng, khói hương thế đủ rồi. Xin hãy cho chúng tôi những thứ thiết thực cần cho cuộc sống hơn kia. Chúng tôi vẫn sống, bất tử trong lòng mọi người. Ta bỗng nhận ra những điều tưởng như giản dị ấy nhưng không nói được một cách xúc động và thấm đẫm nhân sinh như nhà thơ. Hóa thân vào nhân vật trữ tình, qua lời thỉnh cầu nhẹ nhàng mà buốt nhói trong tim, tác giả bài thơ đã đặt ra một vấn đề lớn có ý nghĩa xã hội sâu sắc: hãy làm những gì thật có ích cho cho cuộc sống, bớt đi những “hư ảo”, phù phiếm hình thức trong việc tri ân những anh hùng liệt sĩ. Lời thỉnh cầu vừa có yếu tố tâm linh nhưng lại hết sức đời thường nghiêm túc đặt ra cho người hôm nay phải suy nghĩ. Và hai cây bồ kết được trồng bên mộ 10 cô xuất phát từ gợi ý của thơ. Bài thơ của đại tá - nhà thơ Vương Trọng từng xao động lòng người ấy lại được khắc trên đá quý cùng bản chuyển ngữ sang tiếng Anh đặt trang trọng ở nghĩa trang Đồng Lộc như một minh chứng cho ý nghĩa cao cả của thơ ca và cuộc đời. Như một tượng đài thứ hai mãi trường tồn.

Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc trở thành hiện tượng độc đáo của thơ viết về chiến tranh, bởi tình thơ và tài thơ Vương Trọng. Ngôn từ giản dị, không cần nhiều hình ảnh nhưng ám ảnh người đọc. ám ảnh bởi cách dùng hệ thống từ ngữ mang tính cầu khiến với các mức độ tăng tiến rải đều bốn khổ thơ: hãy (hãy dành, hãy quay về), xin (xin chia đều khắp), đừng (đừng khóc) và cuối cùng là thỉnh cầu. Đó là những đề nghị của nhà thơ với dòng người đến viếng khu tượng đài bi hùng Đồng Lộc. Bài thơ có nhiều cảm xúc đan xen: căm thù, thương nhớ, cảm phục và tự hào. Tình cảm phải trở thành hành động hữu ích, qua nhận thức và hành động cụ thể của các thế hệ hôm nay và mai sau.

Là những người lính từng qua ngã ba lịch sử này để vào Nam chiến đấu, chúng tôi càng thấm thía những lời “thỉnh cầu” gan ruột đầy ý thức trách nhiệm của nhà thơ. Thời ấy Đồng Lộc hoang tàn với những vạt đồi cháy trụi cây cối, đất đá sạt lở, con đường thì bị cày xới nham nhở, hố bom chồng lên hố bom. Và bao chàng trai cô gái một thời đương đầu với bom đạn quyết tử bảo vệ cung đường có “tọa độ lửa” này nữa, mấy mươi năm rồi vẫn chưa có được một tấm bia ghi danh. Họ nằm đó, an ủi chúng ta “Thương chúng tôi, các bạn ơi, đừng khóc”… Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc vẫn vang lên trong sâu thẳm trái tim ta./.

 

Bùi Trọng Thể

 
 
 
 
   
 
 

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)