cb

Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 18 khách Trực tuyến
Nhớ lại một thời

LƯU VĂN KHUÊ

Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng đã trải qua chặng đường 54 năm (1964 - 2018); trên hành trình ấy, những người viết văn, làm thơ dần dần trưởng thành, góp phần quan trọng cho sự lớn mạnh của toàn Hội, tiếp nối truyền thống văn chương thế hệ cha anh.

Hành trình của văn chương Hải Phòng những ngày đầu sau giải phóng (13/5/1955) khá vất vả. Trong khi nhiều ngành nghệ thuật có thể bước ngay vào hoạt động chỉ sau một thời gian nhờ tiếp thu những gì vốn có thì văn học phải làm lại từ đầu. Trong Những kỷ niệm khó quên về Hải Phòng (NXB Hải Phòng, 2000), nhạc sĩ Trần Hoàn cho biết “Có một đoàn ca múa nhạc nghiệp dư chuyên hát trước giờ chiếu phim. Đó là đoàn Bồ Câu Trắng gồm một số giọng ca “có hạng” như Tường Vi, Trần Khánh, Thanh Vân, Lan, Điệp, Thái, một số nhạc sĩ như Trần Chung, Lương Thảo” sau đó thêm “một nhóm văn công nghiệp dư quân giới Nam bộ tập kết về Hải Phòng được tập hợp lại”. Cuốn Sân khấu Hải Phòng (NXB Sân khấu, 2002) cho hay: Ca kịch cải lương vẫn nguyên vẹn bốn đoàn tư nhân Phượng Hoàng (rạp Đại Chúng, phố Cát Cụt), Kim Phượng (rạp Đại Quan, phố Phan Bội Châu), Kim Thành (rạp Kim Thành phố, Quang Trung), Việt Hồng (rạp Trần Mỹ Ngọc, phố Lê Lợi), trên cơ sở đó năm 1959 sáp nhập thành đoàn “quốc doanh” Phương Đông. Lĩnh vực sân khấu còn được thừa hưởng thành quả từ cuộc kháng chiến, đó là tiếp nhận Đoàn Văn công nhân dân Khu Tả Ngạn tháng 10/1961, sau này hợp nhất với Đoàn Văn công Kiến An lập nên Đoàn Chèo. Về mỹ thuật có họa sĩ Nguyễn Văn Trường (người được đào tạo cơ bản từ trường mỹ thuật thời Pháp thuộc), có Nguyễn Dư, La Kim Uyên… Lĩnh vực văn học thì ngay đầu những năm 1940 một loạt tên tuổi tài danh ở Hải Phòng như Thế Lữ, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi đã lên Hà Nội, hòa mình vào không khí sục sôi ở nơi trung tâm của phong trào cách mạng. Kháng chiến bùng nổ, đến lượt Lê Đại Thanh, Hoàng Công Khanh rời Hải Phòng vào vùng tự do. Từ đó cho đến tận ngày giải phóng, suốt 9 năm Hải Phòng không sản sinh được một cây bút nào. Hoà bình lập lại, các văn nghệ sĩ từ chiến khu trở về đều dừng bước ở Hà Nội. 300 ngày chờ đợi Hải Phòng được giải phóng đủ để tất cả yên ổn nơi ăn chốn ở!

Năm 1958 các văn nghệ sĩ từ Hà Nội tỏa đi các nơi thực hiện một cuộc thâm nhập thực tế sâu rộng, Hải Phòng đón Nguyên Hồng đến với Nhà máy Xi măng, Nguyễn Viết Lãm tới đội bốc vác 13 Cảng Hải Phòng, Bùi Huy Phồn ra đảo Cát Hải, “ba cùng” với ngành nước mắm. Nguyên Hồng vẫn không quên mình là đứa con lưu lạc của Hải Phòng nên tự thấy phải có trách nhiệm với thành phố, do vậy ngoài việc lấy tư liệu để viết tiểu thuyết Cửa biển, ông còn tìm đọc báo tường của công nhân, nhờ thế phát hiện ra Trần Tự ở phân xưởng cơ khí, sau đó đưa anh vào trại sáng tác đầu tiên của thành phố.

Năm 1959 Đinh Chương, Bùi Ngọc Tấn từ báo Tiền Phong về thành phố quê hương làm Báo Hải Phòng kiến thiết. Tháng 4 năm ấy, Nguyễn Quang Thân - cán bộ trung cấp thủy lợi Kiến An và Nguyễn Hồng Quang công nhân Nhà máy Xi măng, chỉ qua đôi truyện đăng báo, đã được dự Hội nghị Những người viết văn trẻ (lần thứ Nhất). Sang năm 1960 không khí văn chương sôi động hẳn lên khi Đinh Chương, Nguyễn Quang Thân, Vũ Trường Sơn, Nguyễn Hoàng, Phùng Văn Ong, Nguyễn Văn Chuông liên tiếp có truyện được in sách. Cũng năm ấy, Thúc Hà, người được Huy chương Vàng bài thơ Chờ con má nhé! tại Đại hội Liên hoan thanh niên sinh viên thế giới ở Vacxava (1955) về Hải Phòng dạy văn ở Trường cấp III Ngô Quyền. Rồi kịch bản Khói trắng của Nguyễn Hoàng được dựng thành phim năm 1962 đóng góp đáng kể cho ngành điện ảnh non trẻ.

Những gì liên quan đến văn học nghệ thuật lúc này được giao cho Sở Văn hoá mà người chịu trách nhiệm là Giám đốc Sở, nhạc sĩ Trần Hoàn. Ông và anh em ở Sở đôn đáo trong việc phát hiện và gây dựng đội ngũ. Trần Hoàn kể trong Những kỷ niệm khó quên về Hải Phòng: “Một chiến dịch đi “câu” người từ Hà Nội về được phát động trong Sở. Cũng may Hải Phòng là nơi “ngon” nhất so với các tỉnh khác nên dễ dàng hơn trong việc xin người về.”. Trần Hoàn “xông thẳng” vào các Vụ, các Cục thuyết phục các nơi ủng hộ; đáng kể nhất là “xông vào” Đảng đoàn Hội Văn nghệ Việt Nam và “câu” được Nguyên Hồng, Nguyễn Viết Lãm.

Cho tới tận đầu những năm 1970, không chỉ khẩu ngữ mà trên văn bản giấy tờ thường gọi tắt “văn học nghệ thuật” là “văn nghệ”. Đại hội lần thứ nhất thành lập Chi hội Văn nghệ Hải Phòng tiến hành trong hai ngày 4 và 5/1/1964, Nguyên Hồng được bầu làm Chi hội Trưởng song ông không phải lo các hoạt động nghệ thuật, Trần Hoàn chỉ đề nghị ông cùng Nguyễn Viết Lãm “chủ trì các trại sáng tác văn học, đọc các bản thảo, chấm giải và có kế hoạch bồi dưỡng cho từng người, làm sao cho Hải Phòng tiếp tục có những Nguyên Hồng, Thế Lữ, Nguyễn Đình Thi”. Công lao và tâm sức của Trần Hoàn là đáng kể nhưng như chính Trần Hoàn thừa nhận thì: “Được Hải Phòng là đất văn hóa, từng sản sinh những Nguyên Hồng, Thế Lữ, Nguyễn Đình Thi, Văn Cao, Lê Đại Thanh… cũng có cái “gien” tốt về văn nghệ, nên có nhiều thuận lợi”.

Thời gian đầu các cá nhân không tự nguyện làm đơn xin vào Hội mà Ban chấp hành xét thấy ai đủ điều kiện thì gửi giấy, mời đến Hội nhận đơn in sẵn, chỉ việc điền theo yêu cầu. Các đơn xin gia nhập được viết đồng loạt tháng 5/1964. 24 người viết văn, làm thơ được kết nạp đợt một, cùng với 7 người trong Ban chấp hành trở thành 31 hội viên văn học đầu tiên, trong đó Nguyên Hồng, Nguyễn Viết Lãm, Lê Đại Thanh đã là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Tuy có người vào Hội chỉ nhờ mấy bài báo và ca dao nhưng đã xuất hiện những hội viên mà sau này trở thành các cây bút tên tuổi như Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Quang Thân, Nguyên Bình, Nguyễn Văn Chuông, Nguyễn Thị Ngọc Tú. Nhiệm kỳ I có ba đợt kết nạp, đợt hai thêm Vân Long, Hoàng Hưng, Trịnh Hoài Giang, Đào Cảng, Trúc Chi…Nguyễn Thị Như Trang trở thành hội viên sân khấu do có kịch bản được giải Nhất của Tổng Công đoàn, song sau này cũng chuyển sang viết văn.

Hai nhiệm kỳ đầu (1/1964 - 3/1972  và  4/1972 - 4/1987) cùng với hội viên cá nhân còn có “đơn vị hội viên”, trong đó tập thể những người sáng tác và biểu diễn của Nhà máy Xi măng gồm hơn 10 người (viết văn, làm thơ, viết kịch như Nguyễn Hoàng, Trần Tự, Xuân  Hồng, Nguyễn Kế Truyền, Trần Viêm, Vũ Ngọc). Do Chi hội còn non trẻ, cần được hỗ trợ nên Ban chấp hành có đại diện 4 Hội trung ương (Mỹ thuật, Nhạc sĩ, Nghệ sĩ sân khấu; đại diện Hội Nhà văn là Bùi Huy Phồn) và đại diện 5 ngành của thành phố (Văn hoá, Công đoàn, Thành đoàn, Thành đội, Giáo dục. Dự kiến còn có Hội Liên hiệp Phụ nữ nhưng chị em xin rút lui). Tuy nhiên bởi nhiều lý do, lại trong hoàn cảnh chiến tranh nên đại diện các Hội trung ương thường xuyên vắng mặt trong các cuộc họp. Vì vậy đến nhiệm kỳ II không cơ cấu vào Ban chấp hành; rồi đến lượt đại diện các ngành của thành phố cũng không mấy gắn bó, đã thế nhiệm kỳ II kéo dài tới 15 năm khiến không ít người được bầu đã không còn ở chính ngành mình nên không thể đại diện cho ngành. Cũng hai nhiệm kỳ đầu, các chuyên ngành không có tổ chức riêng, chỉ có các trưởng ban giúp việc Ban chấp hành, nhiệm kỳ II Trưởng ban văn là Nguyễn Quang Thân, Trưởng ban thơ là Trịnh Hoài Giang.

Bên cạnh khó khăn vất vả, hai nhiệm kỳ đầu cũng có những thuận lợi mà các nhiệm kỳ sau không có. Văn nghệ sĩ trúng cử vào Ban chấp hành được điều về cơ quan Hội để làm công tác phong trào, các ngành nghệ thuật có thể không nhất thiết phải đầy đủ song không khi nào thiếu nhà văn, nhà thơ và hoạ sĩ để biên tập Tạp chí Cửa Biển. Lúc này dù công tác ở đâu và làm việc gì cũng đồng lương ấy, cũng sổ gạo tem phiếu nên được công tác ở Hội Văn nghệ không chỉ là trách nhiệm mà còn là vinh dự.

Trụ sở Hội ở số 72 phố Hồng Bàng (nay là Điện Biên Phủ), gần Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố song số nhà giờ đã thay đổi. Đấy vốn là cửa hàng săm lốp ô tô thời Pháp, chỉ có hai phòng - phòng nhỏ là chỗ giao dịch là nơi Nguyễn Viết Lãm làm việc, phòng lớn bên ngoài dành cho tất cả mọi người. Không có công trình phụ nên “chuyện kia” cứ phải sang bên Sở Văn hóa! Khá nhiều kỷ niệm với nơi chật chội và bí bức này. Nhà thơ Nguyễn Thanh Toàn một hôm cuốc bộ từ Thủy Nguyên tới nộp bài cho cuốn “Phụ nữ Ba đảm đang”, còn chưa kịp vào nhà thì máy bay Mỹ ập đến, anh trúng ngay hai mảnh bom và phải nằm bệnh viện đúng một tháng. Cánh cổng sắt trụ sở Hội cũng lỗ chỗ vết bom đạn. Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ, cơ quan Hội sơ tán sang thôn Tri Yếu, xã Đặng Cương, huyện An Dương, nhà thơ Nguyễn Viết Lãm ở lại nội thành trực cơ quan, nhận bài và tiếp khách, nhiều lần ông một mình đạp xe sang Tri Yếu dưới ầm ầm bom đạn.

Trần Hoàn chỉ “câu” được Nguyễn Viết Lãm về hẳn Hải Phòng.  Nguyên Hồng trong Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam nên vẫn ăn lương trên trung ương mà gia đình thì ở ấp Cầu Đen, Bắc Giang nên không có phòng làm việc ở Hội. Ông thường về Hải Phòng sau cuốc xe đạp đường trường trên chiếc xe thiếu nhi Liên Xô, tới Hội bàn công việc, gặp gỡ hội viên, sang bên “xóm 15 Minh Khai” (khu tập thể Sở Văn hóa) với mấy anh em ở đó rồi về nhà cô con gái Thanh Thư ở khu tập thể Cầu Tre. Một hôm mưa to gió lớn và đã khuya mà “xóm 15” vẫn có người phía ngoài đập cửa ầm ầm. Cửa mở, Nguyên Hồng ào vào, người ướt rượt. Phải khó khăn ông mới cởi bỏ được áo mưa bởi quanh người nào túi xách, ba lô, lại hai biđông “quốc lủi”. Tối hôm ấy Vân Long và Văn Thinh mời đến mấy ông cũng không lên giường nằm, cứ thế đánh giấc trên sàn nhà. Xuề xòa, không câu nệ nhưng với bản thảo của anh em thì ông đọc rất kỹ, viết nhận xét thành bài khi họp thì đọc. Ông quan tâm nhất là lời văn, đồng thời khen là chính, để động viên người viết trẻ. Năm 1976 cơ quan Hội chuyển tới 19 Trần Hưng Đạo, Nguyên Hồng cũng không có phòng riêng, ông nghỉ trưa có khi còn nghỉ cả đêm trên ghế băng!

Nhiệm kỳ III của Hội (5/1987 – 8/1993) là bước ngoặt cả về cơ cấu tổ chức và nhân sự Ban chấp hành. Không có đại diện các Hội chuyên ngành trung ương và các Ban ngành thành phố. Bỏ đơn vị hội viên, chuyển tất cả thành hội viên cá nhân. Sau 23 năm chỉ có các Ban chuyên môn, giờ đây thành lập các Chi hội chuyên ngành. Cuối năm 1986, Chi hội Văn học tổ chức đại hội lần thứ nhất. Ban chấp hành, trừ nhà văn Phùng Văn Ong sinh năm 1929 thuộc thế hệ chống Pháp, còn lại đều sinh vào những năm 1940.

Lúc này đất nước trải khó khăn chưa từng thấy. Hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, chiến tranh lại bùng lên ở biên giới Tây Nam và phía Bắc, Mỹ tiếp tục cấm vận, kinh tế đình đốn. Đầu tiên là miền Nam rồi lan ra cả nước một cuộc “cởi trói”, “tự cứu lấy mình trước khi trời cứu”. Văn học nghệ thuật trở thành một động lực thiết thực góp phần củng cố niềm tin nhưng cũng đòi hỏi phải đổi mới. Nguyễn Quang Thân xin nghỉ việc ở tạp chí để tập trung cho sáng tác trước khi về hưu, chỉ trong 2 năm đã cho ra đời 32 truyện ngắn, 2 kịch bản phim, nhiều tác phẩm “gây sốt” trong dư luận; Bùi Ngọc Tấn trở lại cầm bút; Trần Tự trăn trở; Thi Hoàng như “rút ruột” như “vặn mình”; Đình Kinh bắt đầu “rục rịch”; các tác giả trẻ như Dư Thị Hoàn, Mai Văn Phấn, Nguyễn Minh Dậu, Vũ Thị Huyền góp  vào cách cảm nhận và cách biểu hiện mới.

Một niềm vui lớn, đấy là Cửa Biển chính thức có quyết định trở thành tạp chí sau bao nhiêu vật vã, trong đó có lần còn bị kiểm thảo vì dám liều đánh số kỳ xuất bản khi chưa được phép. Số 1/1990 bộ mới ra mắt vào Tết Canh Ngọ trước không biết bao nhiêu phấn khởi và kỳ vọng của hội viên và những người quan tâm. Năm 2012 Cửa Biển một lần nữa có bước tiến quan trọng: Ra mỗi tháng một kỳ; cũng từ đây nhờ công cuộc đổi mới, xã hội có cái nhìn cởi mở hơn với văn học nghệ thuật, giúp văn nghệ sĩ có một tâm lý thoải mái trong sáng tác. Giải thưởng văn nghệ Thành phố hoa phượng, Giải thưởng văn nghệ Nguyễn Bỉnh Khiêm có sức thu hút văn nghệ sĩ cả nước. Có điều, dần dần nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật nghiêng về phản ánh mặt trái của xã hội nên hiệu quả trở nên thiên lệch.

… Sau 54 năm cùng với sự lớn mạnh chung, Hội Nhà văn cũng trưởng thành rõ rệt, không kể một số anh em đã qua đời và chuyển đi, tỉnh khác, lực lượng giờ có 133 người, trong đó có 24 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Mỗi năm hàng nghìn tác phẩm được đăng báo, hàng trăm tác phẩm được xuất bản; thơ ngập tràn trong hộp thư báo chí, các câu lạc bộ thơ xuất hiện như nấm sau mưa…

Chỉ kể từ nhiệm kỳ III (1987 - 1993), nhiệm kỳ đánh dấu sự ra đời các Hội thành viên trong tổ chức Hội Liên hiệp, giờ đã trải qua 25 năm, Hội Nhà văn sắp bước vào nhiệm kỳ mới. Sau nhiệm kỳ III các nhiệm kỳ tiếp theo đã vận hành thành nếp nên không có những đột biến. Ngay Ban chấp hành Hội Nhà văn tuy có thay đổi về nhân sự nhưng suốt 25 năm hầu hết các ủy viên vẫn thuộc thế hệ chống Mỹ. Giờ đây đã đến lúc cần phải có cuộc chuyển giao thế hệ lãnh đạo mà trên thực tế điều đó đã diễn ra từ mấy năm nay với các ủy viên trẻ hơn, trong đó có các ủy viên đương nhiệm: Dương Thị Nhụn, Minh Trí, Đinh Thường, Nguyễn Đình Minh.

Được tín nhiệm bầu vào Ban chấp hành là vinh dự nhưng trước hết phải xác định đó là trách nhiệm được hội viên tin tưởng giao cho nên  “mừng ít lo nhiều”. Chợt nhớ hồi nhà thơ Phạm Ngà ở Nhà xuất bản Hải Phòng được bầu vào Ban chấp hành Hội, lại được tín nhiệm trở thành Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp, do quá lo toan cho phong trào nên… bị Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính Nhà xuất bản phê bình đi “vác tù và hàng tổng”! Cũng lại nhớ hồi đầu làm Chủ tịch Hội Nhà văn Hải Phòng, Đình Kính sao mà tài nghĩ việc, anh em hội viên thì mừng nhưng Ban chấp hành thì mướt mồ hôi: Hội thảo, đi thực tế, làm tuyển tập, hết tiếp xúc cuối năm lại gặp gỡ đầu năm. Tôi thì chăm chỉ đưa giấy mời tận tay hội viên, chịu khó sưu tập tài liệu nên viết được cuốn sử 45 năm Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng dày tới 360 trang… Rồi thời gian làm chúng tôi cạn dần ý tưởng, mòn dần công việc, tất cả cứ nhạt dần, cứ trở nên uể oải, nặng nề. Nhưng đó không phải là thiếu trách nhiệm, không còn tâm huyết mà bởi níu kéo không được! Đó là quy luật muôn đời. U 75 cả rồi!

Vậy nên đã đến lúc anh em trẻ hãy mạnh dạn gánh lấy trách nhiệm tiếp tục thúc đẩy hoạt động của Hội Nhà văn nói riêng và toàn Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật nói chung. Tát cả đều trông chờ, tin tưởng vào các bạn./.

 

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)