cb

Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 21 khách Trực tuyến
Hải Phòng khôi phục diễn xướng chầu văn

Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam đã có hàng ngàn đời nay, từ mẫu Âu Cơ với truyền thuyết “Bọc trăm trứng sinh ra 50 người con lên rừng, 50 người con xuống biển” đến mẹ lúa, mẹ nước và thần nữ Oa “Đội đá vá trời”... Các mẫu đều mang lại cho muôn dân một niềm tin vào việc chinh phục thiên nhiên, xây dựng một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Tuy nhiên cuộc sống muôn dân vẫn còn nhiều lầm than khổ cực, kẻ ác từ nơi triều chính đến miền thôn dã luôn xuất hiện cướp đi sự sống yên lành của những con người vô tội, một nắng hai sương, chỉ biết chăm làm ra miếng cơm manh áo nuôi sống cho gia đình và bản thân họ. Thấy hết sự đau khổ, bất công của những con người trần gian, Ngọc Hoàng sai Liễu Hạnh Công chúa trắc giáng xuống trần gian hóa thân mình vào việc trị quốc an dân. Với ba lần sinh, hóa; Lần thứ nhất công chúa Liễu Hạnh hóa thân vào nhà họ Phạm xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam (nay là thôn Vĩ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, Nam Định làm người con hiếu thảo, hiền thục, một lòng thờ mẹ kính cha và làm nhiều việc nghĩa cho dân làng noi theo. Lần thứ hai công chúa Liễu Hạnh hóa thân vào nhà họ Lê thôn An Hải, xã Vân Cát, huyện Thiên Bản (nay là xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), làm người vợ hiền, dâu thảo, nhất mực yêu thương chồng con và sống hiếu nghĩa với dân làng, nàng được gia đình  và dân làng yêu mến, là người con mẫu mực đoan trang. Vào năm 1609, lần thứ ba công chúa Liễu Hạnh giáng trần hiển thánh ở phố Cát, Sòng Sơn, Thanh Hóa, mẫu được Ngọc Hoàng cho trắc giáng thường xuyên vân du thiên hạ, thấy người dân bần cùng khổ ải thì ra tay phù giúp khi thì dạy dân cày cấy, chăn nuôi khi thì mở quán bán hàng cho dân làm theo, cũng có khi nàng biến hóa trừng trị những quan lại hống hách uy hiếp dân lành. Đi đến đâu cũng được dân chúng ái mộ về tài đức của Đức Tiên Chúa Liễu Hạnh. Đến năm 1635, đời vua Lê Thần Tôn đã phong sắc cho đức Tiên Chúa là “Mạ vàng Công chúa thượng đẳng tối linh thần”. Từ đó về sau gia gia phụng sự, xứ xứ lập đền, phủ thờ đức thánh Mẫu rất thành kính. Cảm động trước công đức của Ngài với ba lần sinh thì ba lần để lại cho muôn dân sự kính trọng vì Ngài chí hiếu, chí minh, lại rất từ bi cứu thế độ dân. Ngài thương dân như con, vì thế thiên hạ, triều đình đã tôn vinh ngài là “Mẫu nghi thiên hạ” và là một trong bốn vị Thánh tứ bất tử của Việt Nam.

Sự tích thánh Mẫu Liễu Hạnh vừa hiện thực về một con người bằng xương bằng thịt, có quê hương cha mẹ sinh ra, tài năng, đức độ được nhân dân yêu thương kính trọng tôn vinh làm Thánh Mẫu, làm “Thần bốn phương” cai quản “Tam sơn tứ hải nhất vân điền”. Mẫu hóa thân ra Tam Tòa Thánh Mẫu: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải. Mẫu đặt ra tam, tứ phủ, chiêu nạp các thánh hầu cận để giúp việc cho mẫu, các thánh được thờ trong tứ phủ và cai quản các việc do mẫu hóa thân. Để tiện việc hầu thánh, mẫu đặt ra các bản Văn gọi là “Kinh Mẫu”, bản văn do các cung văn vừa đàn, vừa hát dâng văn lên các giá hầu Thánh.

Các bản văn hầu thánh, do các cung văn thực hiện, sau này đã trở thành loại hình nghệ thuật “đàn và hát chầu văn” đặc sắc của người Việt. Các giá hầu ca ngợi “Tam Tòa Thánh Mẫu”, “Đức Thánh Đại Vương”, “Mẫu đệ nhất”, Chúa bà đệ nhất”, “Vương cô đệ nhất”, “Quan Hoàng Mười”, “Cô đôi Thượng Ngàn”, “Cậu Hoàng bơ”... Các giá chầu văn thực sự đi vào lòng người với những lời văn chau chuốt lúc lên bổng lúc xuống trầm, lúc khoan, lúc nhặt, lúc sôi động rộn ràng, lúc tâm tư tự sự hòa với tiếng đàn, tiếng trống làm cho các thánh ngự đồng, các con nhang Phật tử say đắm mơ màng làm theo các bản văn hầu thánh. Đàn và hát chầu văn trong mỗi khi thanh đồng bắc ghế hầu thánh thực sự là một giá trị tinh thần cho người nghe.

Ý nghĩa và giá trị của việc thờ mẫu được duy trì hơn 500 năm và đã đi sâu vào tiềm thức con người Việt Nam về lòng tự hào dân tộc, tự hào về một tín ngưỡng thờ Mẫu. Nhưng thật đáng tiếc là một thời gian dài tín ngưỡng thờ Mẫu tam tứ phủ người Việt Nam bị coi là “mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh”. Suốt gần 50 năm bị cấm các canh lễ chầu văn hầu thánh tại các đền, phủ, điện. Các cơ sở tín ngưỡng như đình, chùa, đền, miếu bị bỏ cho khói lạnh, hương tàn, có nhiều nơi trở thành phế tích. Những Phật tử, tín đồ có tâm với Phật thánh đều phải lén lút làm lễ cầu xin cầu Phật thánh phù hộ cho quốc thái dân an, cầu xin cho con cháu lên đường đánh đuổi giặc ngoại xâm bình an vô sự tránh được mũi tên hòn đạn, cầu cho hậu phương làm ăn phát đạt để chi viện cho tiền tuyến. Ý nghĩa của việc cầu cúng rất giầu tính nhân văn, vậy mà bị coi là “mê tín dị đoan”. Để duy trì cho việc thờ mẫu, các tín đồ con nhang Phật tử phải lên các nơi rừng núi xa xôi, vượt đèo lội suối tìm nơi hẻo lánh làm nơi thờ mẫu, ở các làng vùng đồng bằng nếu có thờ mẫu cũng phải lén lút giấu diếm, mỗi khi làm lễ hầu Thánh chỉ có một bát nhang với đĩa hoa quả, không tiền vàng xớ mã. Thanh đồng chỉ duy nhất một bộ áo công đồng làm lễ hầu hết giá này đến giá khác, hát dâng văn cũng chỉ một hoặc hai thầy cúng, chủ yếu là hát vo không có nhạc cụ, hát nhỏ đủ nghe, lấy thanh tre làm phách, lấy đĩa sắt tráng men làm thanh la gõ nhịp, thật là một thời cơ cực đối với tín ngưỡng thờ mẫu Việt Nam…

Đến năm 1998, Đảng có nghị quyết TW 5 khóa VIII về việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và chủ trương tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân. Để nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống, năm 2006 Trung tâm Văn hóa thành phố Hải Phòng tổ chức Liên hoan Diễn xướng chầu văn Hải Phòng mở rộng, có sự tham gia của nghệ nhân thanh đồng các tỉnh thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Vĩnh Phúc. Nội dung là biểu diễn minh họa các giá Chầu Văn hầu bóng trên sân khấu. Lần đầu tiên nghe có cuộc Liên hoan chầu văn, khán giả là các thanh đồng, cung văn, thủ nhang của Hải Phòng và các tỉnh đổ về chật kín Nhà hát lớn thành phố Hải Phòng. Khi xem các thanh đồng biểu diễn, hòa cùng với tiếng hát văn và dàn nhạc cụ dân tộc thì làm cho mọi người trong Nhà hát như bừng tỉnh, lúc im phăng phắc, lúc bừng lên với tiếng cười sảng khoái, với tiếng vỗ tay không ngớt. Có người đã phải thốt lên “Nghe hát chầu văn sao mà hay đến thế”.

Sau cuộc Liên hoan này các tỉnh thành phố có truyền thống thờ Mẫu trong đó có Hải Phòng thường xuyên tổ chức các cuộc liên hoan diễn xướng chầu văn tại nơi công cộng, tại các bản đền, bản điện, các tín đồ, Phật tử của đạo Thờ mẫu đã được công khai sửa sang đền, phủ, điện đàng hoàng to đẹp hơn và mở các canh hầu thánh đúng với quy luật truyền thống của tổ tiên để lại.

Từ bản sắc và giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu lấy giá trị lịch sử của Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh làm trung tâm, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, và hoạt động văn hóa dân gian đã tập hợp hồ sơ được Nhà nước xác định đề nghị UNESCO tôn vinh tín ngưỡng thờ mẫu tam phủ người Việt là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Vinh dự đó có công đóng góp sưu tầm nghiên cứu và thể nghiệm của các nhà hoạt động văn hóa văn nghệ dân gian Hải Phòng, khôi phục lễ hội đàn và hát chầu văn từ Hải Phòng đến cả nước. Tuy nhiên, người viết bài này vẫn băn khoăn về nhận thức của một số người làm quản lý văn hóa chưa thể hiện rõ thái độ của mình với di sản vô giá của dân tộc, họ vẫn còn hoài nghi, vẫn chưa ủng hộ triệt để, vẫn chưa có biện pháp cụ thể quản lý và duy trì hoạt động của di sản. Trong khi đó UNESCO mới tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam, đã thấy rõ giá trị và sớm đưa ra quyết định công nhận là di sản văn hóa đại diện của nhân loại.

Với giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ người Việt, mong các tầng lớp cộng đồng xã hội, đặc biệt là các cấp quản lý có biện pháp tích cực hơn nữa làm cho văn hóa thờ Mẫu mãi mãi là di sản thiêng liêng sống mãi trong lòng người dân đất Việt.

 

NGUYỄN ĐỨC GIANG (Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian)

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 201 (3/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 199,200 (1,2/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 198 (12/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)