Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 195 khách Trực tuyến
Thảo luận
Nhà văn cần thâm nhập thực tế đời sống

Không ít nhà văn nói thực tế hiện diện xung quanh mình, ngay trong nhà mình, thậm chí trong con người mình nên không nhất thiết phải đi đâu. Nghĩ như vậy không sai, nhưng chỉ đúng một nửa.

Nam Cao, Nguyên Hồng ngày trước có thời từng viết về nơi mình sinh sống và viết về chính mình. Nhưng để cảnh ngộ trong tác phẩm trở thành điển hình, đòi hỏi nhà văn phải có tầm khái quát, phải thực tâm, thực tài.

Hình như chỉ chế độ ta mới có chuyện tổ chức văn nghệ sĩ đi thực tế, các nhà văn thời kỳ 1930-1945 thì không. Nhưng chớ nói các nhà văn lãng mạn ngồi trong “tháp ngà nghệ thuật”. Họ thâm nhập thực tế theo cách của họ, hoàn toàn tự do và tự chủ. Cứ như Thế Lữ viết ở “Cây đàn muôn điệu” thì ông thâm nhập thực tế khá sâu sắc: “Tôi là khách bộ hành phiêu lãng/ Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi/ Tìm cảm giác hay trong tiếng khóc, câu cười/ Trong lúc gian lao với trong khi vui sướng/ Khi phấn chấn cũng như hồi mơ tưởng/ Tôi yêu đời cùng với cảnh lầm than/ Với cảnh thương tâm, ghê gớm, dịu dàng/ Cảnh rực rỡ, ái ân hay dữ dội…”.

Thâm nhập thực tế là cần thiết. Các nhà văn Hải Phòng được tạo điều kiện đi đây đi đó khá nhiều. Nhưng hiệu quả của những chuyến đi chưa cao, hầu hết đều theo bài bản: nghe đơn vị báo cáo, thăm thú vài nơi rồi về viết. Vậy nên thường ra đời những bài ký không lấy gì làm sâu sắc. Do thế Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng luôn lưu ý các trại viên dự trại sáng tác rằng: Những chuyến đi đó chỉ mang tính gợi ý, nhà văn nào muốn tìm hiểu kỹ để viết hãy tự mình liên hệ với cơ sở. Tiếc rằng rất ít nhà văn quay lại cơ sở lần thứ hai!

Nhưng có đến cơ sở tới mấy lần để tìm hiểu mà chỉ gặp lãnh đạo đơn vị cũng không thể có bài viết sâu sắc. Các vị ấy chỉ nói hay, nói tốt về nơi mình, còn mặt trái thì giấu hoặc đưa ra chiếu lệ vài ví dụ và mấy câu theo kiểu “thuận lợi nhiều nhưng khó khăn thách thức không ít”. Có lẽ chỉ nên tin báo cáo của các cơ sở nhiều nhất là 80%, còn các đơn vị sản xuất kinh doanh thì 60% là cùng.

Chính Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng đã vướng phải hệ luỵ do sự cả tin khiến cả nhà văn lẫn tờ báo đăng bài viết của nhà văn đó bị mang tiếng. Đấy là trường hợp chuyến thực tế tại Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Nam Triệu cách đây khoảng chục năm. Chỉ sau đó chưa đầy một năm thì mặt tối của Tập đoàn Vinashin bị đưa ra ánh sáng mà trách nhiệm nặng nhất chính là Tổng Công ty này.

Thế nhưng nếu nhà văn thâm nhập thực tế một cách sâu sắc, tới tận hang cùng ngõ hẻm, gặp gỡ cả những người mà lãnh đạo đơn vị cho rằng “không nên gặp”, qua đó phản ánh được trung thực, không ngại nêu những mặt trái thì lại bị các cơ sở phản ứng, có khi rất dữ dội, tới mức chỉ khi nào sự thật được làm rõ, lúc đó nhà văn mới được giải toả.

Tại Hội thảo của Nhóm hợp tác phát triển văn nghệ VN 8+ 2 về “Đề tài nông thôn mới trong sáng tác văn học nghệ thuật” tại Thái Bình tháng 11/2016, nhà văn Đinh Quyền của Hải Phòng có bài tham luận được đánh giá cao, anh đưa ra nhiều thực tế đáng buồn ở nông thôn hiện nay, trong đó những “ông lý cụ bá” thời nay có những thủ đoạn mà so ra mưu mô của Bá Kiến ngày xưa chỉ là mẹo vặt, còn Chí Phèo ngày nay thì không thèm chui rúc ở lò gạch mà ở nhà xây, không xin ông lý cụ bá ít tiền uống rượu mà nhận bạc triệu và đe doạ cả làng! Nhà thơ Hữu Thỉnh hôm ấy tâm đắc với tham luận của Đinh Quyền và hỏi cả hội nghị: “Vậy liệu chúng ta  có dám viết không?”, lập tức anh bạn bên cạnh rỉ tai tôi: “Dám viết nhưng liệu các ông có dám in không!”.

Đi thực tế để viết đúng thực tế quả là khó!

Lãnh đạo thành phố Hải Phòng rất muốn các nhà văn đến với các điển hình để phản ánh sự chuyển mình mạnh mẽ của thành phố. Thưa các đồng chí, các nhà văn Hải Phòng xin sẵn sàng. Nhưng mong thành phố hãy thông cảm cho chúng tôi nếu bài viết còn chưa thật sâu sắc và hãy rộng lòng nếu có điều gì viết khiến cơ sở và thành phố chưa được hài lòng. Tất nhiên ai cũng vậy và nhà văn cũng thế, chúng ta không thể rộng lòng với tất cả vì ở đời luôn có hai loại người: Người mong muốn cuộc đời này tốt đẹp và người không muốn nhìn đời bằng con mắt xanh.

Lại một điều nữa liên quan: Trong phiên họp trù bị ngày 27/2 nhà văn Bão Vũ kể, có người hỏi tại sao báo tỉnh ngoài đề cập đến vụ Đoàn Văn Vươn và nhà văn Nguyễn Quang Vinh từ Hà Nội xuống nằm vùng ở Tiên Lãng đến cả tháng để tìm hiểu thực tế, trong khi đó không một nhà văn Hải Phòng nào đả động đến vụ việc. Nhà văn Bão Vũ cho rằng người viết văn không nhất thiết phải làm công việc của người viết báo. Kể ra Bão Vũ cũng có lý: Nhà văn phải nhạy bén và xông xáo nhưng không hẳn cần phải phản ánh thực tế một cách tức thời và không nên phản ánh một cách sát sàn sạt. Đôi khi một độ lùi nhất định lại cần thiết để người viết không dừng lại ở hiện tượng mà phản ánh cho ra bản chất của sự việc.

Còn Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng, sau chuyến thực tế ở Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Nam Triệu đã không tổ chức chuyến đi nào, các hội viên chỉ tham gia những chuyến đi do Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tổ chức. Kể như thế cũng được bởi chúng ta tuy hai mà một nhưng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng cũng nên có những chuyến đi của riêng mình, chí ít thì tới khi đại hội Chi hội cũng có cái để mà nói. Hy vọng Ban chấp hành mới của Chi hội với sức trẻ sẽ có nhiều sáng kiến thúc đẩy phong trào sáng tác, trong đó có việc tổ chức những chuyến thâm nhập thực tế có chất lượng./.

(Tham luận của nhà văn Lưu Văn Khuê tại Đại hội IV nhiệm kỳ 2017-2022 Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng ngày 6/3/2017)

 
Xác định thời gian xuất bản Tạp chí Cửa Biển số đầu

Tháng 1/1964, Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng (nay là Hội Liên hiệp VNNT Hải Phòng) được thành lập. Sự kiện này ngay lập tức trở thành một hiện tượng trọng đại trong đời sống văn hóa thành phố Cảng. Hơn 100 hội viên ban đầu (không kể hội viên tập thể) hào hứng sôi nổi dàn hàng thành một mặt trận mới trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Một luồng gió văn học nghệ thuật mới thổi vào đời sống tinh thần công chúng thành phố Cảng.

Hải Phòng lúc ấy chưa có báo chí chuyên văn nhưng trên các trang báo  và tạp chí trung ương như Văn nghệ, Văn nghệ quân đội, Tiền phong, Nhân dân, Quân đội nhân dân… lần lượt xuất hiện những tên tuổi được nhiều người biết đến và yêu thích như: Vân Long, Thi Hoàng, Văn Thinh, Thọ Vân, Nguyễn Thanh Toàn, Thanh Tùng, Đào Cảng, Trần Lưu, Trần Quốc Minh, Thúc Hà, Nguyễn Quốc Khánh, Lương Huy; hay Trần Tự, Vũ Hoàng Lâm, Nguyễn An, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hồng Quang, Nguyễn Quang Thân… Thời ấy, không ai có thể dự đoán, hình dung được rằng những tác giả trên sau 30, 40, 50 năm hầu hết đều trở thành những tên tuổi lớn như Thi Hoàng, Nguyễn Quang Thân, Vân Long, Thanh Tùng… Chính họ làm nên diện mạo mới văn nghệ đất Cảng, chính họ làm công chúng cả nước biết đến Hải Phòng, và cũng chính họ tạo nên áp lực đối với lãnh đạo Chi hội VHNT Hải Phòng. Đó là phải có một ấn phẩm định kỳ ra mắt bạn đọc, ấn phẩm diễn đàn ngôn luận văn nghệ thành phố Cảng, văn nghệ sĩ phải được nói với công chúng, nói với cấp trên, nói với cuộc đời bằng tác phẩm. Thế mà, Chi hội Văn nghệ được thành lập hơn hai năm rồi vẫn chưa có diễn đàn – Tạp chí riêng!

Lãnh đạo Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng ở thời điểm đó cũng hết sức bức xúc! Một tổ chức văn học nghệ thuật vừa ra đời đã hoạt động sôi nổi, trưởng thành nhanh chóng, có tiếng vang trong cả nước nhưng “không có cơ quan ngôn luận”. Thường trực Chi hội là nhà thơ Nguyễn Viết Lãm lúc đó đã có “vị thế” trong “làng” văn nghệ quốc gia, ông thường chọn những tác phẩm hay của các tác giả gửi về Chi hội rồi gửi lên Báo Văn nghệ và… chờ! Thỉnh thoảng “Xuân thu nhị kỳ”, đất nước xuất hiện một sự kiện chính trị quan trọng thì Chi hội lại xin tiền nhà nước in một cuốn sách mỏng. Thế thôi!

Sau nhiều lần thuyết phục, làm sáng rõ tầm quan trọng cần thiết ra đời một “diễn đàn văn nghệ”, lãnh đạo thành phố cũng đã quyết định cho Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng xuất bản Tập san Sáng Tác. Đây là một quyết định đúng đắn, kịp thời, phù hợp với xu thế lịch sử, phù hợp với lòng người. Sau này, Tập san Sáng Tác đổi tên thành Tạp chí Cửa Biển thì nhiệm vụ của nó cũng không thay đổi, chỉ lớn lên, quan trọng hơn, hấp dẫn hơn!

Cách đây 2 năm trong niềm vui kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng (1964-2014), mọi người chợt nhớ ra một vấn đề là Tập san Sáng Tác Hải Phòng ra đời từ bao giờ? Một câu hỏi đơn giản, tưởng rằng với người trong cuộc thì có gì khó khăn! Thế nhưng, đó là một câu trả lời rất khó! Không còn tài liệu hoặc một quyết định nào để lại! Thậm chí đi tìm ấn phẩm đầu tiên để xác định ngày ra đời của Tập san cũng không có. Hỏi nhà thơ Trần Quốc Minh – nhà thơ bị liệt 2 chân, suốt đời chỉ có sáng tác và tỷ mẩn sắp xếp, lưu giữ sách báo cũng không có.

Bản thân tôi, Tập san Sáng Tác – tiền thân Tạp chí Cửa Biển - lúc nào cũng được xem là một kỷ vật, là một sản phẩm tinh thần của văn nghệ sĩ thành phố Cảng thiêng liêng. Tôi đã lưu giữ rất cẩn thận các số Tập san Sáng Tác. Nhưng 8 lần sơ tán, chuyển nhà, chuyển cơ quan công tác, chuyển vùng bắt buộc tôi phải thanh lọc bớt tài liệu. Riêng Tập san Sáng Tác, tôi đã cẩn thận cắt rọc, giữ lại các trang bìa và các bài thơ, bài văn của mình in trong đó. Nhưng nay tìm lại cũng không có số 1. Có nghĩa là thời gian xuất bản số 1 Tập san cũng chưa xác định được, chỉ may mắn còn lại trang thơ in bài “Trăng hải đảo” từng gây chú ý trong giới văn nghệ thời đó.

Trong ký ức của tôi, Tập san Sáng Tác số 1 phải ra đời vào mùa thu 1966. Bởi vì mùa hè năm đó tôi từ đảo Cát Hải về Hải Phòng dự cuộc họp sơ kết công tác Hội 6 tháng đầu năm và được anh Văn Thinh, cán bộ cơ quan Chi hội và là biên tập thơ thông báo “Bài thơ Trăng hải đảo của cậu có tứ mới, hình ảnh lạ, anh Lãm sẽ giới thiệu lên Ban biên tập báo Văn nghệ cho in để giới thiệu với cả nước”. Tôi rất cảm động. Nhưng Văn Thinh lại làm tôi hụt hẫng: “ý anh Lãm là cắt hai câu cuối cùng đi, ý thơ đó thừa”. Tôi không nhất trí nhưng nghe nói được in thì rất thích. Chờ đợi, chờ đợi. Cuối cùng cũng được in vào Tập san Sáng Tác số 1. Vì quá hạnh phúc, quá ấn tượng nên nỗi nhớ cũng khắc sâu. Tôi nhớ tập Tập san Sáng Tác số 1 có bìa màu xanh ghi đá. Trên nền xanh nửa rừng nửa biển ấy, họa sĩ Thọ Vân khắc họa hình ảnh cô dân quân ở thế ngồi, mũi súng trường nhô lên vượt tầm mái tóc. Tôi thích! Và cứ nghĩ phải chăng cái hình ảnh này được gợi ý từ bài thơ “Trăng hải đảo” của tôi: “Chị dân quân đứng gác/ Lê mài vào trăng…”. Không thể nào hiểu nổi tại sao bức vẽ bút sắt bìa Tập san lại biến mất trong “kho tư liệu” của tôi? Càng không hiểu nổi, bức vẽ bìa Tập san Sáng Tác lại biến mất khỏi Hải Phòng dễ dàng như thế. Coi như “ngày sinh” của Tập san cũng chẳng ai nhớ nổi.

May thay, lần theo trí nhớ và tư liệu ít ỏi, tôi cũng đã tìm ra được thời gian ra đời của Tập san Sáng Tác – tiền thân của Tạp chí Cửa Biển bây giờ.

Tôi còn giữ được bức thư của anh Văn Thinh, thay mặt Chi hội Văn nghệ Hải Phòng gửi cho tôi, trong đó có đoạn: “Sắp tới Chi hội sẽ cho xuất bản Tập san Sáng Tác Văn nghệ Hải Phòng 2 tháng một kỳ trong đó có phần giới thiệu ca dao sưu tầm của địa phương. Ban biên tập xin đề nghị anh Tuấn vui lòng cộng tác với chúng tôi trong việc giới thiệu vốn cũ của địa phương. Đề nghị anh chép lại những bài hay … gửi về cho chúng tôi, chậm nhất là 20/7 này để kịp thời cho in vào tập đầu. Số đầu tập Sáng Tác sẽ ra đời vào dịp 2/9, số 2 vào dịp kỉ niệm 20 năm ngày Hải Phòng kháng chiến, số 3 vào tháng 1/1967 chào mừng xuân mới”.
Như thế, có mấy căn cứ khẳng định thời gian ra đời của Tập san Sáng tác như sau:

1. Năm ra đời của Tập san Sáng Tác – tức là năm 1966 (theo cuốn sách “Hải Phòng 50 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành” của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Hải Phòng “Ngày 20/11/1946 quân Pháp nổ súng đánh chiếm thành phố Hải Phòng, mở màn cho cuộc tái xâm lược nước ta. Quân và dân Hải Phòng (Hải Phòng – Kiến An) đã đẩy mạnh cuộc kháng chiến, kiến quốc…” (trang26)

2. Thời điểm ra mắt số đầu là dịp Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 2/9/1966.

50 năm qua, từ Tập san Sáng Tác – Tạp chí Cửa Biển nhiều văn nghệ sĩ đất Cảng đã thành danh, làm rạng rỡ cho thành phố. Thành phố cần có sự vinh danh những văn nghệ sĩ có đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển Hải Phòng, phát triển VHNT thành phố trong 50 năm qua./.

Hải Phòng, tháng 4 năm 2016

Hồ Anh Tuấn
(Nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng,
nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cửa Biển)

 
Biển gọi

Tôi nghe tiếng gọi mình từ biển cả

Từ bốn nghìn năm cha trước con sau

Từ chiếc thuyền nan tới con tôm con cá

Từ thanh xuân tới lúc bạc đầu

Người mở đất đã hóa thành sông núi

Biển hiền hòa thắm đỏ máu mồ hôi

Máu cha đổ hóa đảo chìm đảo nổi

Máu mẹ loang hóa căm hận ngút trời

Hạt cát vô ngôn còn nặng lòng sông núi

Một tấc đất cắt rời trăm triệu trái tim đau

Chẳng mãi nhịn nhường để xâm lăng lấn tới

Biển chẳng còn yên để thanh thản những con tàu

Tôi nghe tiếng gọi mình từ biển cả

Tiếng gọi buồn từ những mộ gió không nhang

Tiếng Hoàng Sa, Gạc Ma... sóng vỗ

Giặc xới cày lên thân thể Việt Nam

Giặc xới cày lên trăm triệu trái tim

Xới cày lên hồn cốt ông cha ta đó

Lý Sơn chưa lành vết thương “lính lề thế”

Đất nước chưa lành vết thương Hoàng Sa, Gạc Ma

Tôi nghe tiếng gọi mình từ những đảo xa

Nơi giặc cướp vẫn rập rình xâm lược

Bừng dậy nỗi đau nghìn năm Bắc thuộc

Máu giống nòi lại sôi sục trong ta

Xương có phơi thì cũng phơi trên đất quê nhà

Máu có đổ thì cũng đổ trên biển Tổ quốc

Máu càng đổ lòng ta càng bất khuất

Khắp biển Đông sẽ hóa Bạch Đằng.


Phan Thành Minh

(Lâm Đồng)

 
Bác Hồ nêu gương tiết kiệm

Năm 1952, tại chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài nói về thực hành, tiết kiệm, chống tham ô, lng phí, quan liêu. Về vấn đề tiết kiệm, Bác nói: Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là “xem đồng tiền bằng cái trống”, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu, tiết kiệm không phải là ép buộc nhịn ăn, nhịn mặc. Trái lại tiết kiệm cốt để giúp vào việc tăng gia, sản xuất, nâng cao mức sống của cán bộ, bộ đội và nhân dân.

Sinh thời khi nói về thực hành tiết kiệm, Chủ tịch  Hồ Chí Minh luôn nêu gương làm trước, coi đây như một phương pháp giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân. Ví dụ như tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ (3/9/1945) Bác Hồ khởi xướng và hô hào nhân dân, cán bộ 10 ngày nhịn ăn một bữa, một tháng ba lần đến bữa không ăn dành gạo tiết kiệm để cứu đói. Chính Bác Hồ lấy phần gạo của mình tự tay đổ vào hòm gạo tiết kiệm chống đói cho dân. Một hôm đúng vào bữa nhịn ăn để gom gạo thì Tiêu Văn (thuộc lực lượng Đồng Minh vào nước ta cuối năm 1945) mời Bác đến chiêu đãi. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về, anh em báo cáo đã góp phần gạo của Bác rồi. Bác vẫn quyết định nhịn ăn một bữa vào ngày hôm sau.

Bác Hồ còn quan tâm theo dõi, động viên phong trào thi đua sản xuất và tiết kiệm. Đầu năm 1967, đúng vào thời điểm nhân dân chuẩn bị đón xuân Đinh Mùi, ngày 18/1/1967, Bác đến nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện. Người nhắc nhở: Chăm sóc trâu, bò là để sản xuất, chứ không phải để liên hoan, để đánh chén. Tết sắp đến, do đó cần chú ý tiết kiệm. Trung ương thường nhắc các địa phương thi đua sản xuất và tiết kiệm. Nhiều nơi đã thực hiện tốt. Nhưng có nơi giấy gửi đi hình như chữ bị hao mòn, chữ “tiết kiệm” lại hóa ra chữ “tiết canh

Bác nói có sách, mách có chứng, Bác đọc một đoạn đăng ở Báo Hải Phòng: Vì cán bộ thiếu gương mẫu, ở xã Mỹ Phúc nạn lạm phát lợn vẫn thường xuyên xảy ra. Khánh thành trạm bơm cũng giết hai con lợn. Hợp tác xã tổng kết năm cũng giết bốn con lợn… Lại đây nữa! Xã Đoàn Kết và xã Ngô Quyền, huyện Thanh Miện (Hải Dương) đã giết nhiều lợn và trâu để ăn uống liên hoan.

Cán bộ, đảng viên làm như vậy là không gương mẫu, nêu gương xấu. Như thế này thì xã viên không oán trách sao được. Dân người ta làm cả ngày cả đêm mà một số ít người thì đụng tới cái gì cũng chén mà lại chén nhiều chứ không phải chén ít! (*)

Giờ đây, tuy Bác đã đi xa nhưng mỗi khi kể chuyện gương Bác Hồ tiết kiệm, trong ký ức của cán bộ, nhân dân nhớ mãi ngày 16/2/1969 (mồng một tết Kỷ Dậu) Bác Hồ đến trồng cây ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì (Hà Tây). Hôm ấy, trồng cây xong đã gần trưa, đồng chí Bí thư Đảng ủy và Chủ tịch ủy ban nhân dân xã mời Bác ăn bữa cơm Tết cùng địa phương, Bác bảo: Bác cảm ơn vì những người giúp việc đã chuẩn bị cơm cho Bác rồi và Bác mời đồng chí Bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch xã ăn cơm cùng Bác. Việc Bác không ăn cơm với xã có nguyên do: Lần Bác về thăm Hưng Yên, các đồng chí ở tỉnh mời Bác ăn cơm, Bác nhận lời.

Nhưng rồi sau đó tỉnh có làm bản thanh toán tài chính ghi rõ “thịt” một con bò. Từ đó, mỗi khi về địa phương làm việc, Bác thường mang cơm từ nhà đi để tránh tiếng như Bác đã nói: Hôm đó về thăm, Bác ăn có vài miếng thịt bò và họ quyết toán chiêu đãi Bác Hồ cả một con bò, và như thế Bác Hồ bao che cho các chuyện xôi thịt (**)

Như chúng ta biết, tiết kiệm là truyền thống lâu đời của nhân dân Việt Nam. Người xưa có câu “vung tay quá trán”, “vén tay áo xô, đốt nhà táng giấy” tỏ thái độ chê trách, phê phán những kẻ “hợm của” sống xa hoa, phung phí và học đòi “trưởng giả” làm sang!

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy truyền thống tiết kiệm tốt đẹp của dân tộc bằng việc làm thực tế nêu gương thể hiện phong cách Bác sống thanh liêm, thanh bạch ở trong gian nhà sàn, chỉ có một vài thứ đồ dùng giản dị, đơn sơ, tiết kiệm từng tờ giấy… Bác thường nói với cán bộ và nhân dân: Nước mình còn nghèo, cái gì cũng vậy còn sử dụng được thì cố tận dụng, đừng nên vứt bỏ.

24 năm làm Chủ tịch nước (1945-1969) Bác Hồ là tấm gương mẫu mực về thực hành tiết kiệm. Phong cách sống giản dị của Bác phù hợp với hoàn cảnh của dân, của đất nước lúc đó. Điều làm chúng ta càng xúc động, là tới lúc qua đời, trong bản Di chúc, phần nói về “việc riêng”, Bác tha thiết căn dặn: Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

Từ xa xưa, người phương Tây đã có câu “tiết kiệm là cái kho vô giá của kẻ nghèo, hoang phí là cạm bẫy của kẻ giàu”. Ngày nay, ở nước ta, tiết kiệm đã trở thành quốc sách và thể chế hóa thành luật tiết kiệm, chống lãng phí. Nhưng xem ra việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí còn nặng về khẩu hiệu, hô hào chung chung, thiếu chế tài xử lý nghiêm tệ nạn hà lạm của công nên Luật chưa thực sự đi vào cuộc sống. Trong khi, hằng năm Chính phủ phải chạy vạy đi vay nợ nước ngoài (ODA) để phát triển sản xuất, đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, không ít quan chức mà Bác Hồ gọi là “quan Cách mạng” mắc “bệnh hoắng– thích hoành tráng” đã lạm dụng tiền công quỹ coi như “tiền chùa” chi tiêu hoang phí. Tình trạng “phát triển” 8.000 lễ hội/năm, các cuộc liên hoan, nghi thức, nghi lễ trong động thổ, khởi công, khánh thành nhà máy, công trình, đón huân chương, tổng kết năm, kỷ niệm truyền thống ngành… với mức chi tiêu tốn kém ngày càng diễn ra tràn lan, lãng phí tiền bạc của dân.

Nhiều người cho rằng Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thì trước hết lãnh đạo các cấp từ trung ương đến địa phương (nhất là những người đứng đầu) gương mẫu học và làm theo gương tiết kiệm của Bác. Có như vậy, Luật tiết kiệm, chống lãng phí mới thực sự đi vào cuộc sống./.

 

Nguyễn Hữu Tuấn

__________

* Theo sách “Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội”, Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, năm 1970, trang 291.

** “Bác Hồ chúc tết”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, trang 170

 
Cần có hình thức vinh danh tiến sĩ đời Lê

 

Ngô Đăng Lợi


Xã Hà Dương, tổng Hạ Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, xứ Hải Dương (nay là thôn Hà Dương, xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng) có 2 di tích lịch sử được UBND thành phố cấp Bằng Di tích lịch sử năm nay.

Đó là chùa Hà Dương (tên chữ Hoa Am tự) do quan nghè Dương Đức Nhan, người làng cùng vợ hưng công xây dựng, nên ông bà được bầu là hậu Phật; Đền thờ tiến sĩ Dương Đức Nhan do con cháu ngài trong đó có Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa là môn sinh vừa là rể cùng các bạn xây dựng trên nền nhà giảng học sau khi ngài qua đời. Đền ban đầu có tên Dương Tướng công từ. Cả chùa và đền đã qua nhiều lần sửa chữa tôn tạo đến trước chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ. Năm 1963 do nhu cầu cải tạo đồng ruộng, chùa Hoa Am và đền thờ tiến sĩ Dương Đức Nhan bị rỡ bỏ. Tượng chùa ở đền cho thiêu hủy. Riêng tượng quan Nghè đốt mãi không cháy, những người đốt hoảng sợ để lại, con cháu họ Dương rước về thờ ở từ đường, nay đã chuyển về đền.


Năm 2009 nhân dân địa phương phục dựng 2 di tích cổ trên nền đất cũ. Họ Dương là một họ lớn có truyền thống học hành, nhà thờ đại tông, phần mộ tổ tiên, trong đó có lăng mộ tiến sĩ Dương Đức Nhan. Tộc phả tuy còn nhưng qua loạn lạc không thực đầy đủ, tiểu sử tiến sĩ Dương Đức Nhan do dòng trực hệ định cư ở Thăng Long lưu giữ. Hiện nay dòng họ cùng dân làng làm lễ chung vào 3 ngày 13,14,15 tháng 2 âm lịch.


Căn cứ vào các sách đăng khoa lục như: Lịch đại đăng khoa, Liệt huyện đăng khoa bị khảo cho biết: Dương Đức Nhan đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Hữu Thị lang bộ Hình (như chức Thứ trưởng bộ Tư pháp ngày nay) tước Dương Xuyên hầu. Khi đỗ tiến sĩ chắc đã cao tuổi, thế mà từ chức có phẩm hàm Chánh bát phẩm đến năm 65 tuổi về hưu, ông đã thăng đến chức Thị lang hàm Tòng nhị phẩm. Chắc ông phải có nhiều công lao nên mới được ban tước hầu.


Nhưng cống hiến lớn lao của ông là bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc. Ta biết phong kiến nhà Minh xâm chiếm nước ta, đặt châu quận, biến nước ta thành một bộ phận của chính quốc. Chúng lại có âm mưu vô cùng thâm độc hủy hoại văn hóa nước ta qua chỉ dụ của Minh Thành tổ ngày 21/8/1406: “Phải tìm bắt hết thợ thuyền và người tài giỏi về phương Bắc, tịch thu bản đồ và sổ ruộng đất hộ khẩu; Đặc biệt là một khi binh lính đã vào nước Nam, trừ các sách kinh và đạo Phật, đạo Lão thì không tiêu hủy, còn hết thảy mọi sách vở, văn tự cho đến sách chép ca lý dân gian, sách dạy trẻ... một mảnh một chữ phải đốt hết”. Khắp trong nước những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ cũng không để.


Chính sử cho biết bọn quan lại tướng sĩ nhà Minh tuân hành khá nghiêm chỉnh lệnh của Minh Thành tổ. Do đó, việc sưu tầm biên khảo thơ văn của tiền nhân là vô cùng khẩn thiết. Thư sinh Dương Đức Nhan đang lúc còn ngồi trên ghế nhà trường, lẽ ra phải ra sức nấu sử sôi kinh để chiếm bảng vàng. Nhưng ông lại dồn tâm trí sức lực để làm bộ Tinh tuyển chư gia luật thi với sự hướng dẫn của thầy học Thám hoa Lương Đắc Bằng. Sách này hiện còn lưu được 2 cuốn, một cuốn chép tay tập hợp được 409 bài thơ luật của 12 tác giả đời Trần, Hồ, Lê sơ; một cuốn in mộc bản mất đầu mất đuôi, chỉ còn quyển III + IV với 219 bài thơ của 4 tác giả thời Lê sơ. Tổng hợp lại được 472 bài của 12 tác giả.


Việc làm tuyển tập rất khó, ngay cả ngày nay, tài liệu phong phú nhưng chọn ai, bỏ ai, một tác giả chọn bài nào, bỏ bài nào đều làm đau đầu Ban tuyển chọn. Thế mà Dương Đức Nhan với lòng yêu nước, tự tôn dân tộc dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ông còn băn khoăn “chỗ thiếu sót là chưa sưu tầm được rộng rãi, nên các vị có tên tuổi ở đời Trần không còn dựa được vào lời thơ để hiểu tâm sự của họ. Mong các bậc quân tử đời sau thu nhặt ghi chép thêm, ngõ hầu khỏi phải than thở là bỏ sót mất hạt ngọc” (Tựa sách Tinh tuyển). So sánh với sách “Việt Âm thi tập” của Phan Phù Tiên thấy Phan Tiên sinh có điều kiện thuận lợi hơn, vì ngài làm quan ở Quốc Tử Giám, được phép của nhà vua, lại được các bạn đồng liêu Lý Tử Tấn, Chu Xa cộng tác ròng rã trên 10 năm, Phan Phù Tiến cũng chỉ sưu tập được 617 bài thơ và văn.


Đối chiếu cương vị, chức vụ, điều kiện của hai soạn giả tiên phong Phan Phù Tiên và Dương Đức Nhan chúng tôi không dám có ý so sánh mà chỉ nhằm lưu ý các nhà nghiên cứu biên khảo trẻ chúng ta ngày nay cần học gương dám nghĩ dám làm của tiền nhân.
Điều băn khoăn nhất của chúng tôi là tiến sĩ Dương Đức Nhan(*), một danh nhân đất nước chưa được Hải Phòng vinh danh, chưa có một trường học, một đường phố mang tên ông./.


(*) Di cảo của danh nho Dương Đức Nhan hiện được lưu giữ tại Viện Hán Nôm, bản sao chụp được lưu tại Từ đường họ Dương

 
«Bắt đầuLùi123456Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)