Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 16 khách Trực tuyến
Thảo luận
Nâng cao chất lượng, hiệu quả báo chí văn nghệ

 

Nguyễn Ngọc Thiện (Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam)


Mấy năm gần đây, vấn đề nâng cao chất lượng báo chí  văn học nghệ thuật (VHNT) được cả giới văn nghệ cũng như đông đảo công chúng quan tâm. Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam đã tổ chức các hội thảo tại Cần Thơ, Hải Phòng (12/2010), Hà Nội (1/2011) và tập huấn tại Lạng Sơn (11/2011), Cà Mau (10/2011) xung quanh các khía cạnh của chủ đề Nâng cao năng lực, chất lượng và hiệu quả của báo chí văn nghệ; Nâng cao nghiệp vụ biên tập, quảng bá tác phẩm trên báo chí văn nghệ cho các cơ quan báo chí văn nghệ thuộc 63 Hội VHNT tỉnh, thành phố trên cả nước và 10 Hội VHNT chuyên ngành ở TW.

Kết quả các hội thảo và tập huấn nói trên đã góp một phần đáng kể nâng cao nhận thức về việc phải coi trọng và phát huy vai trò, hiệu quả của báo chí văn nghệ trong đời sống VHNT nước nhà; thiết thực chăm lo bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ biên tập và chuyên môn của đội ngũ những người làm báo văn nghệ để báo chí văn nghệ - một loại hình báo chí đặc thù, đảm bảo chất lượng tư tưởng và nghệ thuật cao, mang tính chuyên nghiệp và đến được công chúng rộng rãi. Đồng thời, đây cũng là dịp để thống nhất ý kiến xây dựng, hoàn thiện Đề án “Nâng cao vị trí và tăng cường hỗ trợ kinh phí hoạt động cho báo chí của Hội VHNT TW, tỉnh, thành phố giai đoạn 2011-2015” sẽ trình lên Chính phủ xem xét, hỗ trợ.

Chúng ta đã bước vào năm 2012 với quyết tâm tạo sự khởi sắc và chuyển động mới trong khối báo chí văn nghệ toàn quốc. “Đổi mới công tác báo chí, thông tin của Liên hiệp” – đó là một trong 7 nhiệm vụ chính mà Đoàn Chủ tịch Liên hiệp đã đề ra trong Báo cáo về chương trình công tác VHNT năm 2012 của toàn khối tổ chức ở Gia Lai.

 

I. Những ưu điểm

1. Báo chí văn nghệ luôn đi sát định hướng phục vụ nhiệm vụ chính trị, góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh, bảo vệ vững chắc sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh, hạnh phúc của đời sống nhân dân, sự phát triển nền văn hóa, văn học nghệ thuật tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu tính nhân văn, làm phong phú nền tảng đời sống tinh thần của xã hội văn minh, hiện đại.

2. Về phương diện lãnh đạo và quản lý, lãnh đạo các Hội chuyên ngành TW và Hội VHNT các tỉnh thành phố đã kịp thời rà soát lại bộ máy báo chí văn nghệ với tư cách là một cơ quan ngôn luận chuyên môn, nghiệp vụ, thông tin nghệ thuật của tổ chức chính trị - xã hội – nghề nghiệp đặc thù. Sắp xếp lại nhân sự các cương vị phụ trách chủ chốt, chuyên trách (Tổng Biên tập, Phó Tổng biên tập), không để tình trạng kiêm nhiệm hoặc trống vắng như trước đó thảng hoặc vẫn tồn tại ở một số Hội. Đội ngũ biên tập viên, phóng viên, nhân viên nghiệp vụ đã được xem xét, bố trí phù hợp với trình độ, năng lực chuyên môn, sở trường từng người. Đã chú trọng công tác đào tạo, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ này: đi học các lớp bổ túc kiến thức, nghiệp vụ do các cơ quan chuyên môn TW tổ chức (Hội chuyên ngành, Hội đồng Lý luận Phê bình VHNT TW), học văn hóa tập trung trong trường Đại học, Viện nghiên cứu. Đến nay hầu hết cán bộ báo chí đều đạt trình độ đại học về một chuyên ngành, gồm cả chuyên ngành báo chí, trong đó có những thạc sĩ, tiến sĩ về văn chương. Một số cán bộ báo chí đã nỗ lực phấn đấu được kết nạp Hội viên Hội VHNT chuyên ngành ở TW.

Do trình độ cán bộ làm báo được nâng lên, nên chất lượng thẩm định, biên tập, chọn lọc bài vở được nâng cao, khai thác và đăng tải lên mặt báo những tác phẩm, công trình nghiên cứu, phê bình mới, có giá trị nghệ thuật hoặc chất lượng khoa học của văn nghệ sĩ ở địa phương cùng các cộng tác viên.

3. Các chuyên mục trên báo chí được mở rộng theo hướng bao quát sự đa dạng của các chuyên ngành, thể tài tác phẩm, đội ngũ tác giả xuất hiện trong đời sống văn nghệ ở tỉnh, thành phố và trung ương.

Sự đa dạng các loại hình bài vở thuộc nhiều chuyên ngành hiện hữu đã được chú ý, khắc phục khuynh hướng thiên về đăng sáng tác văn thơ là chính. Tính chất tổng hợp đa ngành ở báo chí tỉnh, thành phố đã thể hiện song song với tính chất chuyên ngành loại biệt của báo chí Hội chuyên ngành TW.

Về cơ cấu bài vở, bên cạnh đăng tác phẩm sáng tác bằng ngôn ngữ đặc thù của chuyên ngành nghệ thuật phù hợp với loại hình báo in (văn học, mỹ thuật, nhiếp ảnh, kịch bản, nhạc phẩm in, họa phẩm kiến trúc, ảnh công trình kiến trúc, ảnh múa, ảnh phim) báo chí văn nghệ đã dành cho lĩnh vực lý luận, nghiên cứu, phê bình các loại hình văn học nghệ thuật (bằng ngôn ngữ khoa học của khoa văn học hoặc nghệ thuật học) một số lượng bài vở thích đáng nhằm trao đổi ý kiến học thuật về chuyên ngành, nâng cao kiến thức chuyên môn, mở rộng kiến văn để giao lưu và hội nhập. Trong đó đáng trân trọng cả những ấn phẩm văn học, lý luận phê bình văn nghệ nước ngoài xuất hiện trên báo chí... đã góp phần mở rộng kiến văn của văn nghệ sĩ và người đọc, kích thích sáng tạo, tiếp nhận văn học nghệ thuật trong sự đối sánh trong/ngoài.

4. Tỉ lệ tác phẩm, tác giả được đăng tải trên báo chí khá hài hòa giữa các thế hệ, các dân tộc, các thể loại, bổ sung hỗ trợ cho nhau.

Trong đó đã làm nổi bật những tác giả với cụm tác phẩm chọn lọc, tác giả có quá trình, có đóng góp cần khẳng định, ghi nhận kịp thời, giới thiệu, vinh danh qua các trang về một tác giả, về chân dung văn nghệ sĩ được viết bởi những cây bút tên tuổi, am hiểu chuyên môn và con người văn nghệ sĩ.

- Đã chú ý đến mảng văn thơ, tác phẩm mỹ thuật của các tác giả ở độ tuổi thiếu nhi, học đường, được phát hiện qua các Trại sáng tác tổ chức thường niên, định kỳ.

- Tạp chí ở một số Hội thuộc các tỉnh biên giới phía Bắc đã duy trì in tác phẩm thơ song ngữ (tiếng dân tộc và tiếng phổ thông) tạo điều kiện cho tác phẩm đến được bà con người dân tộc. Đồng thời các tác giả người dân tộc cũng được quan tâm giới thiệu, phát hiện, khẳng định.

- Mảng bài đọc sách, điểm sách ngắn đối với những ấn phẩm mới xuất bản cũng được báo chí văn nghệ chú ý, thường xuyên xuất hiện trên mỗi số báo, tạp chí. Đây vừa là sự quảng bá tác phẩm mới, vừa là gợi ý cho công chúng tìm đến những tác phẩm ấy. Mục này vừa có sự đóng góp của các cây bút phê bình, nghiên cứu ở địa phương, vừa có sự tham gia hỗ trợ của các cây bút chuyên nghiệp ở TW, Hội chuyên ngành.

5. Đã có sự đổi mới về khuôn mặt và sự trình bày ấn phẩm báo chí. Một số báo chí thiết kế măng sét mới, sáng tác lôgô biểu tượng, ghi thông tin đầy đủ về tên báo, thứ tự số báo, kỳ ra báo hàng tháng, thâm niên báo. Đã quan tâm đến sắp xếp bài vở theo sát các chủ đề từng số, makét từng trang sao cho đảm bảo mỹ thuật, thu hút sự chú ý của người đọc. Trong đó vai trò của họa sĩ thiết kế mỹ thuật chuyên trách hoặc cộng tác viên đã được phát huy. ở mỗi số báo, ngoài việc đảm bảo nội dung tốt và hay thì việc chăm lo chữ nghĩa, đường nét, hình khối, màu sắc phải tương hợp nhau, tôn nhau, khéo léo đặt cạnh nhau – đó là bí quyết mỹ thuật của một tờ báo, tạp chí gắng tìm tòi những nét riêng, với bản sắc độc đáo, thể hiện bản lĩnh của tư duy mỹ thuật chuyên nghiệp.

6. Nhuận bút trả cho các loại hình bài vở, tranh, ảnh, nhạc phẩm, minh họa, tin tức... nhìn chung đã tăng hơn trước, phần lớn là gấp rưỡi, cá biệt gấp đôi, gấp ba (có bài tiểu luận, sáng tác đã được trả nhuận bút đến trên dưới 1 triệu).

Trả nhuận bút tăng như vậy là do cố gắng của Tòa soạn, dù chưa tương xứng với lao động nghệ thuật và khoa học của văn nghệ sĩ; nhưng đã thiết thực động viện sự gắn bó, cộng tác của họ đối với bản báo, thể hiện sự trân trọng liên tài đối với văn nghệ sĩ, cộng tác viên.

7. Giữ ổn định tiara phát hành, trong hoàn cảnh kinh tế của đất nước gặp nhiều khó khăn, đồng tiền mất giá, sức mua hạn chế.

Một số báo chí vẫn giữ được quan hệ tốt với những cơ quan, tổ chức bao tiêu ấn phẩm báo chí của mình.

 

II. Những khó khăn và nhược điểm còn tồn tại

1. Một số Hội “lực bất tòng tâm”, hỗ trợ kinh phí cho báo chí của Hội không đủ để triển khai họat động đảm bảo yêu cầu tối thiểu về chất lượng và số lượng. Báo chí trong tình trạng đó phải “liệu cơm gắp mắm” để tồn tại cầm chừng với số trang quá mỏng hoặc gộp nhiều tháng/1kỳ.

2. Trong tình trạng văn hóa đọc qua báo chí in không được đề cao như  trước đây, số lượng người đọc tìm mua báo chí in ngày càng giảm sút, giá giấy, công in tăng, giá báo tăng, nên một số báo, tạp chí tia - ra phát hành đã giảm sút, thị phần bị co hẹp.

3. Một số báo chí còn tùy tiện trong việc phản ánh tin tức họat động, sự kiện, đã sa đà vào những tin tức sự kiện nhất thời chỉ có ý nghĩa riêng ở địa phương, ít có giá trị biên niên, để đời. Có một số tờ báo chưa quan tâm đề cập đến những sự kiện lớn trong toàn khối, liên quan đến chỉ đạo, định hướng công tác, hoạt động chung cần quán triệt từ văn kiện Đảng và Nhà nước hoặc do Đoàn Chủ tịch UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam đề xuất qua hội họp, tổng kết, trao giải thưởng, phát động thi sáng tác từng thời gian hoặc cả nhiệm kỳ.

Cần tổ chức mạng lưới cộng tác viên ruột đến tận các tổ chức, cá nhân ở các khu vực và T.Ư để kịp thời chọn lọc phản ánh các sự kiện, tin tức có ý nghĩa rộng rãi, phổ quát.

4. Một số Hội còn để kỳ ra tạp chí quá dài (gộp 2 hoặc 3 tháng/kỳ), không tạo sự gắn bó của hội viên và người đọc với tạp chí.

5. Sự chuyên nghiệp, tâm huyết, toàn tâm toàn ý đối với nghề làm báo ở một số lãnh đạo cơ quan báo chí, một số người làm báo chưa được đề cao như là một sứ mệnh nghề nghiệp cao quý. Còn tồn tại lối làm báo tùy tiện, dễ dãi, được chăng hay chớ, do trình độ yếu kém, chủ quan, tắc trách, thiếu tôn trọng người đọc: nội dung nhạt nhẽo, phát hành chậm trễ, trình bày chưa chuẩn, chưa thể hiện kỹ năng chuyên nghiệp về nghề, chưa hay và đẹp, nhiều chỗ vụng về đáng chê trách (chọn bài, bố cục, đặt tít, đặt chuyên mục, mi trang ruột, minh họa, sắp xếp ảnh, chú thích ảnh, làm mục lục khó đọc, khó tra cứu, lỗi morát còn không ít v.v...).

Xem những tờ báo, tạp chí này người đọc không thể không bị phiền lòng, giảm sút hứng thú về Chân, Thiện, Mỹ.

 

III. Giải pháp nâng cao chất lương và hiệu quả báo chí văn nghệ

1. Tăng cường nhận thức và định rõ biện pháp cụ thể thể hiện sự lãnh đạo, quan tâm thiết thực của Đảng, sự quản lý có hiệu lực của cơ quan chủ quản đối với hoạt động báo chí về các mặt: Chỉ đạo phương hướng hoạt động (nhiệm kỳ/ năm/quý/ tháng); coi trọng công tác cán bộ (sắp xếp, điều chuyển hợp lý vị trí cán bộ chủ chốt và chuyên môn); tăng mức hỗ trợ kinh phí và cơ sở vật chất hiện đại, đảm bảo cho báo chí tác nghiệp có hiệu quả và chất lượng cao.

Trên cơ sở Dự án do Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam dự thảo từ tháng 12/2010, thống nhất đề nghị Nhà nước xem xét: hàng năm đầu tư trực tiếp cho cơ quan báo chí của mỗi Hội VHNT tỉnh, thành phố trung bình tối thiểu 700 triệu/năm, với bộ máy chuyên trách ít nhất có 7 người; với các Hội chuyên ngành là 900 triệu/9người. Đối với Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, tổ chức Hội có quy mô lớn thì các con số tương ứng là: 1400 triệu/ 12 người.

2. Kịp thời, kiên quyết tổ chức lại bộ máy Tòa soạn chuyên trách, chuyên nghiệp, tâm huyết với nghề... căn cứ vào Điều lệ Hội các cấp và Luật Báo chí. Lựa chọn những người có đủ uy tín, kinh nghiệm và tài năng làm báo chí văn nghệ vào các cương vị quan trọng theo quy định của Luật báo chí.

3. Mỗi hội VHNT ít nhất đảm bảo ra Tạp chí đều đặn tháng/kỳ; khổ vừa 16 x 24cm; trung bình trên 80 trang/kỳ. Mỗi tờ báo tạp chí  tỉnh, thành phố cần tìm tòi để trên nền chung của văn nghệ đương đại cả nước, làm nổi bật bản sắc riêng về VHNT của mỗi tỉnh, thành phố mình. Chăm chút, chọn lọc, phát hiện biên tập các sáng tác thuộc các loại hình nghệ thuật có chất lượng đăng tải trên tạp chí; tăng cường đặt hàng, khai thác bài vở lý luận, phê bình khẳng định thành tựu, đấu tranh với những lệch lạc trong tư tưởng nghệ thuật, yếu kém về các mặt hoạt động của phòng trào văn nghệ.

4. Chủ động xây dựng đội ngũ cộng tác viên có chất lượng và uy tín. Tổ chức mạng lưới cộng tác viên trong, ngoài tỉnh thuộc các thế hệ; hài hòa giữa các thể loại, mảng chuyên mục: tin định hướng, thời luận, diễn đàn, tiếng nói văn nghệ sĩ, bài sáng tác, bài nghiên cứu, lý luận, phê bình, bài phỏng vấn, trao đổi ý kiến, tranh luận...

Duy trì sự gắn bó chặt chẽ, thường xuyên và chế độ thù lao hợp lý với công tác viên. Nâng cao mức nhuận bút các loại tin tức, bài vở...

5. Chăm sóc, dụng công về mỹ thuật: maket trình bày các trang bìa, phụ bản, gáy tạp chí, từng trang ruột, măngsét và logo, tên chuyên mục, tên bài; chọn kiểu và co chữ ổn định, sang trọng, dễ đọc cho các loại bài, tít bài, mục lục tạp chí; chú thích  gọn và rõ dưới các loại bài và tranh, ảnh.

Hình thành phong cách trình bày riêng của mỗi tờ báo, tạp chí. Sửa morat chu đáo, chính xác, theo quy định về trình bày và chuẩn chính tả thông dụng. Trân trọng tiếp thu sự  đóng góp ý kiến, phê bình của người đọc, văn nghệ sĩ. Tự phê bình, tích cực sửa chữa các lỗi vi phạm do sơ suất và trình độ nghiệp vụ non yếu./.


Nhân ngày báo chí cách mạng Việt Nam 21/6


 
Thêm một cuộc gặp gỡ bổ ích


Phương Huyền

(Về Hội thảo lần thứ 9 Nhóm hợp tác và phát triển văn học, nghệ thuật - VN8)


Tại cuộc họp của ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam ở Ninh Bình năm 2008, trong một lần trò chuyện, họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng (Chủ tịch Hội VHNT Phú Thọ) và nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ (Chủ tịch Hội LH VHNT Hải Phòng) nhận thấy, các Hội VHNT địa phương, từng nơi có những thuận lợi và thế mạnh riêng cũng như những khó khăn và hạn chế không giống nhau trong hoạt động, đồng thời đều có những sáng tạo nhất định để thúc đẩy phong trào - điều này cần được chia sẻ, học hỏi lẫn nhau nhằm động viên văn nghệ sĩ trong sự nghiệp sáng tạo, đóng góp vào đời sống tinh thần chung của đất nước. ý tưởng này ngay đấy đã thành hiện thực vào chính tối hôm đó và Nhóm 8 Hội VHNT ra đời, gồm Phú Thọ, Hải Phòng, Hải Dương, Yên Bái, Sơn La, Ninh Bình, Thái Bình, Bắc Giang – với tên gọi “Nhóm hợp tác và phát triển văn học, nghệ thuật”, gọi tắt là VN8.

Điểm danh sách VN8 người ngoài cuộc không khỏi nghĩ ngợi: Vĩnh Phúc và Phú Thọ; Hưng Yên với Hải Dương; Bắc Giang và Bắc Ninh vốn cùng một nhà; Quảng Ninh ngay cạnh Hải Phòng; Nam Định cách Thái Bình chỉ mươi phút xe máy qua cầu Tân Đệ… vậy mà Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Nam Định, Hưng Yên, Bắc Ninh lại không trong nhóm! Trong khi đó Yên Bái, Sơn La cách Hải Phòng, Ninh Bình, Thái Bình những 10 tiếng đồng hồ hết đường đồng rừng lại đường đồng bằng mà không hề quản ngại đến với nhau! Hóa ra vấn đề thật đơn giản và “rất văn nghệ”: Tối hôm ấy các vị Chủ tịch Hội VHNT Vĩnh Phúc, Quảng Ninh… có vị ở phòng khác tầng, có vị đóng cửa xem tivi hoặc dạo phố nên không hề biết ngay cạnh mình đã diễn ra một cuộc kết nghĩa! Sau này thấy Nhóm VN8 hoạt động hiệu quả, một số Hội khác bày tỏ ý định gia nhập nhưng Nhóm đã quá đông thành thử đành phải nhận lời “xin lỗi và mong được thông cảm”!

Thực ra, trước VN8, đã có Nhóm các Hội VHNT đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng VN8 đã làm nên một cuộc “bùng nổ” với sự ra đời liên tiếp của Nhóm 9 Hội VHNT đồng bằng sông Hồng (SH9), Nhóm 8 Hội khu vực Tây Bắc (TB8), Nhóm 7 Hội khu vực Việt Bắc (VB7), Nhóm các  Hội VHNT 7 tỉnh, thành phố vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Nhóm 5 vùng kinh đô Việt Nam xưa(Hà Nội, Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế)… Các cuộc hội thảo của từng Nhóm đều có mặt lãnh đạo ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam và Hội đồng lý luận phê bình VHNT TW.

Mỗi năm hai lần, kể từ lần đầu vào tháng 3/2009 tại Phú Thọ, đến lần thứ 8 tháng 10/2012 tại Yên Bái, Nhóm VN8 đã qua một vòng gặp gỡ. Các cuộc hội thảo mang lại nhiều bổ ích, có những điều nhiều vị lãnh đạo Hội VHNT phải “trông người mà ngẫm đến ta”: Hội Hải Dương được cấp 30 triệu đồng riêng cho việc bồi dưỡng lực lượng sáng tác trẻ; ở Phú Thọ, văn phòng Hội và tạp chí là hai cơ quan độc lập nên biên chế tới gần 20 người; Hội Ninh Bình cũng vậy, biên chế năm 2009 tăng 2 lần so với năm 2004; Hội Yên Bái được cấp kinh phí khá cao nên nhuận bút một truyện ngắn nghe đâu tới gần 1 triệu đồng; Ninh Bình có hội viên được đầu tư 100 triệu đồng từ nguồn Quỹ hỗ trợ VHNT của tỉnh; Công trình “Nghiên cứu, sưu tầm, sáng tác mẫu tranh hoành tráng - lịch sử” của một nhóm họa sĩ Hải Dương được tỉnh đầu tư hơn 1 tỉ đồng; Thái Bình đưa tạp chí tới các trường học (còn Nghệ An thì UBND tỉnh vừa ra quyết định hỗ trợ kinh phí để cung cấp tạp chí Sông Lam tới các xã, phường, thị trấn, các trường học và 124 thư viện cơ sở trong tỉnh)…

Tất nhiên chuyên môn mới là vấn đề chính trong các cuộc gặp gỡ. Nhiều vấn đề cụ thể đã được VN8 tổ chức hội thảo, như công tác lý luận phê bình (Phú Thọ, 3/2009), công tác Hội và tạp chí (Hải Dương, 10/2009), việc phát hiện, bồi dưỡng tài năng trẻ (Hải Phòng, 6/2010), thể ký (Bắc Giang, 5/2012), đề tài nông thôn  mới (Yên Bái,10/2012)…

Năm 2013, VN8 sang vòng hai, bắt đầu bằng cuộc hội thảo tại Hải Dương ngày 3/4 với chủ đề “Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử”. Đây đang là vấn đề nóng với một số hội thảo diễn ra suốt từ đầu tháng 9/2012 đến nay, từ hội thảo của một số Hội VHNT chuyên ngành TW đến hội thảo toàn quốc và nay là hội thảo của một số Nhóm và Hội VHNT địa phương, trong đó Nhóm VB7 đã hội thảo chuyên đề này vào ngày 9/11/2012 tại Lạng Sơn. Tạp chí Cửa Biển từ tháng 10/2012 đến nay cũng đã đăng một số bài viết về vấn đề này.

Tham dự hội thảo tại Hải Dương năm nay có nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; PGS. TS Đào Duy Quát, Phó Chủ tịch Hội đồng LLPB VHNT TW; nhà văn Tùng Điển, Phó Chủ tịch ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam và nhiều vị lãnh đạo tỉnh Hải Dương. Đoàn của Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng có nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ – Chủ tịch Hội, họa sĩ Đặng Tiến – ủy viên Thường vụ, Thường trực Hội, nhà văn Lưu Văn Khuê – Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Hải Phòng và Chánh Văn phòng Hội Phạm Thanh Vân.

Hội thảo đã được nghe tham luận của văn nghệ sĩ 8 Hội. Tham luận nào cũng nêu được những việc làm, những thành tựu sáng tác liên quan đến đề tài lịch sử ở địa phương mình. Văn nghệ sĩ từng nơi với tinh thần lịch sử cùng tài năng sáng tạo đã góp phần làm phong phú kho tàng văn học nghệ thuật về đề tài lịch sử của đất nước. Có thể kể: Hải Phòng với Mạc Đăng Dung, thời kỳ vệ quốc, cuộc Cách mạng tháng Tám, nơi xuất phát của đoàn tàu không số trong kháng chiến chống Mỹ; Phú Thọ với các công trình nghiên cứu về thời đại Hùng Vương, về hát xoan, hát ghẹo; Ninh Bình với các tác phẩm về Đinh Tiên Hoàng, Lê Hoàn, Thái hậu Dương Vân Nga; Thái Bình với Trần Thủ Độ, Lê Quý Đôn; Hải Dương với Nguyễn Trãi, Bà chúa Sao Sa Nguyễn Thị Duệ, chiến công đường 5 thời chống Pháp…

Các tham luận thống nhất nguyên tắc chung của sáng tạo VHNT về đề tài lịch sử là hư cấu nghệ thuật phải đảm bảo tính chân thực lịch sử. Từ thực trạng lịch sử đang bị lãng quên, chưa tìm được đường đến với công chúng, nhất là công chúng trẻ tuổi, các tham luận cho rằng sáng tạo về đề tài này đang là một trong những yêu cầu cấp thiết của thời đại. Tuy nhiên không thể kỳ vọng vào sự nở rộ của các tác phẩm trong một sớm một chiều mà đòi hỏi phải có thời gian, phải có sự đầu tư thích đáng về cả tài lực lẫn vật lực mà một trong những đòi hỏi đầu tiên là phải tìm kiếm và bồi dưỡng được lực lượng sáng tác, phải biết nâng niu, khuyến khích những tài năng giàu cảm hứng với đề tài này.

Tham luận của nhà văn Lưu Văn Khuê cho rằng tác phẩm về đề tài lịch sử hấp dẫn người đọc chủ yếu ở việc khám phá và tái tạo lịch sử chứ không phải sự ám chỉ về ngày hôm nay. Sách sử không thể “trùng khít” được với lịch sử, có những sự thật luôn luôn được chính sử che giấu. Nhưng chính sự không trùng khít và che giấu này lại là nơi để nhà văn hư cấu và sáng tạo.

Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Đào Duy Quát khẳng định sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang mong chờ những tác phẩm hay về đề tài lịch sử. Tác phẩm VHNT về đề tài lịch sử góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền tảng đạo đức xã hội và giáo dục lòng yêu nước.

Nhà thơ Hữu Thỉnh với nhiều ví dụ sinh động cho thấy nhu cầu bức thiết của việc viết về lịch sử. Viết về lịch sử không dễ, nhiều nhà văn thực sự có tài, nhiều tác phẩm thực sự hay nhưng “động đến” lịch sử là “vấp”! Nhà thơ cho rằng sáng tạo VHNT về đề tài lịch sử phải đảm bảo 4 yêu cầu: 1) Tôn trọng bối cảnh lịch sử. 2) Tôn trọng sự kiện lịch sử. 3) Đảm bảo sự thật lịch sử. 4) Nêu bật được tinh thần lịch sử. Lịch sử nói về sự thật, sự kiện và thời thế; văn chương nói về con người, khám phá thế giới sâu thẳm của con người vì vậy tác phẩm VHNT về đề tài lịch sử phải xây dựng được số phận và tính cách các nhân vật lịch sử. Cuối cùng nhà thơ khẳng định “giải thiêng” là quan niệm không đúng; đất nước cần có sự thiêng liêng, các anh hùng dân tộc bị “hạ bệ” và đánh đồng là mối nguy cho dân tộc.

Hội thảo diễn ra trong buổi sáng, cuối buổi như thông lệ, lá cờ VN8 được trao cho Hội VHNT sẽ tổ chức hội thảo kế tiếp là Phú Thọ. Chiều, các đại biểu được tham quan đền Bia, chùa Giám, đặc biệt là ngôi nhà xưa của anh em họ Nguyễn Tường: Các nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, nơi từng là Trại văn chương của Tự Lực văn đoàn, gần ga xép và phố huyện Cẩm Giàng, được lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện Cẩm Giàng và Đảng ủy, UBND thị trấn huyện đón tiếp thân mật./.


 
Nhà văn Nguyên Hồng nói về đề tài nông thôn

 

Đinh Quyền

 

Có lần trên đường về Bắc Giang, nhà văn Nguyên Hồng dừng lại chỉ “mả thằng ăn mày” bên đường, hỏi nhà văn Đỗ Chu: “Anh có biết cái này là cái gì  không?”. Khi Đỗ Chu còn lúng túng chưa biết nên trả lời thế nào thì Nguyên Hồng vuốt râu, tủm tỉm cười: “Nó chính là đời thằng nhà văn chúng ta đấy.  Đời thằng nhà văn chính do quê hương xứ sở đắp lên, là do ông trời phú, cho nên nó suốt đời mang nợ.  Trả được món nợ ấy đâu có dễ và chỉ có thể trả bằng tác phẩm mà thôi.  Nhưng khi đã trả xong gánh nợ ấy thì trở thành bất diệt”.

Có thể nói, gần nửa thế kỷ cầm bút, Nguyên Hồng đã để lại cho nền văn học nước nhà một khối lượng tác phẩm đồ sộ gồm đủ các thể loại: Tiểu thuyết, truyện vừa,truyện ngắn, bút ký, hồi ký, thơ…Ông đã trả xong món nợ đời, và tên tuổi ông sẽ còn sống mãi trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc.

Nguyên Hồng viết về đề tài nông thôn không nhiều.  Tuy nhiên, bằng sự trải nghiệm, bằng vốn nghề nghiệp tinh thông, giàu có và qua nhiều năm phụ trách Trường viết văn Nguyễn Du và Trại sáng tác ở các tỉnh, nhất là thành phố Hải Phòng, ông nói và viết về vấn đề này rất sâu sắc. Những lời chỉ bảo của ông, đối với những người cầm bút hôm nay là bài học vô cùng quý giá.

Trước hết, Nguyên Hồng quan niệm rằng: “Viết về đề tài nông nghiệp, nông thôn rất khó. Khó bởi vì đề tài này quá quen thuộc. Tất cả sự việc, con người, không khí, màu sắc…phải hiểu và biết đến mức nào mới viết được”. Hiểu ở đây không chỉ là cảm nhận bề ngoài, mà “phải tự con người chúng ta, linh hồn chúng ta phải hết sức nhuần nhuyễn cuộc sống mới sáng tác được”. Ông ví dụ: “Buổi đầu tiên nghe tiếng máy cày thấy khác, nhưng trong lòng mình, trong xúc cảm của mình có sự yêu dấu cuộc sống đó thì mới viết được”. Viết cho ai đọc, người đọc cần gì? Nguyên Hồng lý giải: “Cái chúng ta đưa đọc, người nông dân chú ý nhất là có thấy hơi hướng của mình không?” và ông phàn nàn: “Một số tác phẩm in gần đây, cái hơi hướng nọ ít hoặc không có…, tâm hồn và tinh thần người nông dân cứ thế nào ấy, không phải họ, không phải của họ”. Ông giải thích nguyên nhân: “Trang viết cũng đủ cả các cảnh bố chết, mẹ đi ăn mày, ba đời khốn nạn, đủ cả nào chống mọt, bát mẻ, bò đói, trâu gầy, cuốc cùn, nắng, rét…và còn nhiều hơn cả Ngô Tất Tố, nhưng vẫn không thấy CON NGƯờI ”.  Cho nên muốn có tác phẩm hay theo ông, “Người viết phải tự hỏi: Có thấy vận mệnh của mình và vận mệnh người mình viết gắn bó với nhau không? Có cùng hoạt động, chiến đấu vươn tới chân lý, tương lai không?”. Về quan hệ giữa thực tế và giá trị tác phẩm, Nguyên Hồng cho rằng: “Không phải bắt buộc anh A hay chị B phải về nông thôn, phải vào hợp tác xã, rồi lại đấu tranh với ruộng năm phần trăm, để chứng minh cho nhân vật, đề tài bằng cái khôn, cái ranh, cái tinh quái…Như thế dù có năm năm, mười năm, mười lăm năm ở nông thôn cũng không thể viết được, mà cái chính là cái chất, cái hồn phải là cuộc đời, là sự sống là tình yêu của mình thì mới có tác phẩm hay”.

Nguyên Hồng phê phán gay gắt lối viết “theo thời sự một cách sơ lược, giản đơn, thiếu nghiêm túc”. Ông cho rằng: “Từ thời sự có thể tìm thấy cái mới, nhưng cái chính là phải làm sao thấy được vận mệnh con người trong ấy”. Ông cũng đề nghị các cơ quan báo chí xuất bản: “Nếu chưa có tác phẩm tiêu biểu về nông thôn thì cũng phải chọn những tác phẩm đạt tới tiêu chuẩn về sự sống, sức sống chứ không nên chiếu cố riêng về đề tài”.

Văn học là nghệ thuật của ngôn từ. Ông yêu quý tiếng Việt, nâng niu từng câu từng chữ trong mỗi trang văn. Ông cho rằng chọn được từ, chữ hay, sử dụng đắc địa, sẽ tạo nên sức hấp dẫn kỳ diệu của tác phẩm. Ông khuyên những người cầm bút: “Nhân dân ta, đông nhất là nông dân, rất thực tế, rất thông minh, rất trí tuệ mà giản dị, đã xây dựng nên cả một kho tàng ngôn ngữ ngày càng giàu có, tinh vi, đầy đủ và trong sáng…Từ ngữ cùng với câu nói, cách nói, kiểu nói, tình ý và ý tứ trong câu nói, nếu người viết văn không dầy công nghiên cứu, không hiểu biết sâu sắc, không thật có vốn tiếng nhuần nhuyễn của mình, mà lại dùng “thuật”, thì dù có tinh khôn bắt chước tuyệt khéo đến mức nào chăng nữa cũng là giả”.  Ta hãy nghe ông diễn tả nỗi cực nhọc của những con người hằng ngày đang dầm mưa dãi nắng bằng chính lời ăn tiếng nói của họ mà ông thu gom, lượm nhặt và đưa vào trang viết: “Chịu thương chịu khó, suốt đời cuốc bẫm cày sâu, thức khuya dậy sớm, cấy cùn đầu ngón tay, đổi bát mồ hôi đầy lấy bát cơm vơi, rét chết cá cũng phải đánh trâu xuống ruộng bừa, lùa miếng cơm vào, miệng đắng ngăn ngắt…”. Và ông liên hệ góp ý khi đọc bản thảo ở một trại văn: “Có bao nhiêu cách nói, bao nhiêu hình tượng, vậy mà khi viết chỉ dùng mấy chữ “tích cực”, “nỗ lực”, “gian khổ” để diễn tả nội dung trên, nhất là đặt vào miệng một bà nông dân, hoàn toàn xa lạ với cách nói văn vẻ, thì sự dễ dãi lười biếng, quen sẵn, tùy tiện này trong câu văn thật là đáng trách, không thể tha thứ”.

Nhà văn Nguyên Hồng đã đi về cõi vĩnh hằng ba mươi năm có lẻ, nhưng những lời ông nói, những câu ông viết về nghề văn nói chung, về đề tài nông thôn nói riêng vẫn còn nguyên giá trị đối với những người cầm bút chúng ta hôm nay./.


 
Hư cấu nghệ thuật phải bảo đảm sự thật lịch sử


Cách đây 3 tháng, Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương (VHNT TW) tổ chức hội thảo toàn quốc với chủ đề “Sáng tạo VHNT về đề tài lịch sử”. Hội thảo đã thu hút hơn 60 tham luận, nhiều ý kiến phát biểu của các tác giả, nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực  nhằm làm rõ các vấn đề về  học thuật và kinh nghiệm, thành tựu trong sáng tạo về đề tài lịch sử.

Ngày 3/4/2013, tại Hải Dương, Nhóm Hợp tác và phát triển (VN8) gồm 8 Hội, Hội Liên hiệp VHNT: Hải Phòng, Phú Thọ, Hải Dương, Yên Bái, Sơn La, Ninh Bình, Thái Bình và Bắc Giang tổ chức hội thảo về chủ đề trên trong khuôn khổ, phạm vi nghiên cứu, sáng tạo của các tác giả, nhà nghiên cứu và quản lý VHNT trong khu vực. Lãnh đạo Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Hội đồng Lý luận phê bình VHNT TW, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hải Dương đã đến dự và phát biểu chỉ đạo.

Dưới đây, Tạp chí Cửa Biển trích đăng một số tham luận tại Hội thảo.


Đề tài lịch sử luôn là mối quan tâm của sáng tạo văn học, nghệ thuật. ở đây chúng tôi cũng chỉ đề cập đến lĩnh vực văn học. Ngày trước các tác phẩm về đề tài lịch sử ít gây tranh cãi bởi hầu hết đều theo lối viết xuôi chiều, đột xuất mới có lối viết ngược chiều như vở kịch Nguyễn Trãi ở Đông Quan của Nguyễn Đình Thi. Gần đây văn học về đề tài này trở thành vấn đề khá nóng do xuất hiện nhiều hướng, trong đó có hướng “phi huyền thoại hóa” mà trong đó những vị anh hùng lịch sử được cả dân tộc tôn vinh bị xuyên tạc, ít nhiều gây phản ứng trong công chúng. Trong Tạp chí Cửa Biển hiện trên tay các vị đại biểu có bài viết về tiểu thuyết Hội thề của Nguyễn Quang Thân, chúng tôi không đồng tình với việc tác giả hạ thấp nhân cách của Lê Lợi và Nguyễn Trãi.

Vấn đề này liên quan đến một trong những đặc điểm của tác phẩm văn học về đề tài lịch sử, đó là các tác giả thường mượn chuyện xưa nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học của quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua. Song thiết nghĩ, không nên vì thế mà hiện đại hóa chuyện xưa và người xưa, làm sai lạc lịch sử. Tôi cho rằng thể loại này hấp dẫn người đọc chủ yếu ở việc tái tạo lịch sử; nhà văn bằng tài năng sáng tạo của mình hệt như một nhà thám hiểm dấn thân khám phá bí mật của một vùng đất mà người đời chỉ biết hời hợt qua những bản đồ hoặc cùng lắm từ trên cao nhìn xuống qua ô cửa máy bay, từ đó nhà văn giúp họ được thấy những ẩn giấu của quá khứ chưa từng biến đến! Đó mới là điều chủ yếu chứ không phải là sự ám chỉ về ngày hôm nay...

Viết truyện lịch sử tất yếu phải đọc sách sử. Nhưng tin vào sách sử, dựa vào đó tới mức phụ thuộc, có chăng chỉ hư cấu một vài sự kiện, một vài chi tiết trong tính cách nhân vật có thật trong lịch sử, thêm một số nhân vật quần chúng thì không khác gì minh họa lịch sử, hay nói cho thật đúng là minh họa sách sử. Bởi cần phải phân biệt sự thật lịch sử với văn bản lịch sử, kể cả chính sử. Vì chúng ta chỉ được biết lịch sử qua văn bản lịch sử chứ nào biết sự thật lịch sử. Mà văn bản lịch sử thì không thể trùng khít được với sự thật lịch sử, do bỏ sót, do không thể nói hết, do kiêng tránh, do tô hồng chỗ này và bôi đen chỗ khác - và đó là điều tất yếu phải làm của bất kỳ sử gia ở bất kỳ đất nước nào và thời kỳ nào. Nhưng sự không trùng khít này là nơi để nhà văn khám phá, hư cấu và sáng tạo, cho dù nó có thể chỉ như một khe cửa hẹp. Một nhà văn quan niệm đúng về lịch sử và nhận thức đúng về hư cấu, đồng thời có tài sẽ lách qua khe cửa đó mà không gây ra một tiếng động nào, một nhà văn quan niệm không đúng hoặc bất tài không những gây ra tiếng động mà có khi còn xô đổ cả cửa...

(LƯU VĂN KHUÊ - Hội Liên hiệp VHNT  thành phố Hải Phòng)


Vài chục năm trở lại đây đề tài lịch sử chiếm một phần khá lớn trong sáng tác VHNT ở Thái Bình. Về sân khấu đã có hàng chục vở diễn với đủ các thể loại về các danh nhân lịch sử có liên quan đến mảnh đất Thái Bình như: Các vở kịch và chèo Trần Thủ Độ, Lê Quý Đôn, Ngọc sáng vương triều về Trần Thị Dung... Các vở cải lương về Nguyễn Trãi, Huyền Trân công chúa, Thái sư Trần Thủ Độ, Hưng Đạo đại vương... Về văn học, nhà văn Bút Ngữ  - một cây bút lão thành, cần mẫn từ nhiều năm trở lại đây luôn bó bện thủy chung với đề tài lịch sử với gần một chục tiểu thuyết đã xuất bản. Ngoài ra còn một số tác giả đã có ít nhiều thành công trong đề tài như: Võ Bá Cường với tập Truyện tướng Độ, Đức Hậu với truyện Ngài công sứ, Nguyễn Long với những chùm truyện ngắn Rượu máu, Lưu gia độ, Liên hương Phù Ngự... viết về nhà Trần v.v... Những tác phẩm về đề tài lịch sử nói trên, trong nhiều năm qua đã làm phong phú , đa dạng cho VHNT địa phương. Nhưng điều đáng nói hơn là nó góp phần không nhỏ làm cho công chúng hiểu biết hơn, để rồi tự hào và yêu quý hơn những sự kiện cũng như những nhân vật lịch sử gắn bó với mảnh đất quê hương mình đang sống.

... Với những tiểu thuyết lịch sử bảo đảm sự chân xác 100%, người ta chỉ có thể chê sách viết chưa hay chứ không thể chê về tính chân, thiện của nó. Còn những tiểu thuyết đã được hư cấu, thì lịch sử ít nhiều đã bị người viết nhào nặn, thêm bớt... nên đã trở thành dã sử nghệ thuật. Đấy là chưa kể có rất nhiều trường hợp nhân danh quyền hư cấu, tác giả đã làm méo mó và xuyên tạc cả lịch sử lẫn nhân vật lịch sử. Nhưng số đông các nhà văn và văn nghệ sĩ lại ủng hộ quan niệm sáng tác về đề tài lịch sử cần được hư cấu. Vì hư cấu là quyền năng sáng tạo và qua nó, lịch sử sẽ được chắp cánh. Không có hư cấu sẽ không là nghệ thuật, hư cấu là điều cốt tủy làm nên sự hấp dẫn và sức sống của các tác phẩm. Và như vậy mọi người cho rằng lịch sử chỉ là cái cớ để cho một tác phẩm ra đời. Hay nói như nhà văn Dumas (Pháp): “Lịch sử đối với tôi chỉ là cái đinh để tôi treo các bức họa của tôi”.

Sáng tác về đề tài lịch sử cũng là một loại hình sáng tạo như bao loại hình sáng tạo VHNT khác. Đã là sáng tạo nghệ thuật thì không có một phương thức thể hiện, cũng như một vấn đề lý luận chuẩn mực, cứng nhắc nào cho nó. Sự thành công hay thất bại và sự mang lại hiệu quả bao nhiêu của mỗi tác phẩm VHNT chủ yếu vẫn phụ thuộc vào từng tác giả, những người sinh ra nó. Tuy nhiên mỗi cuộc Hội thảo bàn về chủ đề này, với sự tham gia nhiệt tình và có trách nhiệm của các nhà nghiên cứu cũng như sáng tác VHNT, mỗi bản tham luận, mỗi ý kiến phát biểu đều đem đến, góp thêm những kiến giải, những luận cứ khoa học mới góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề thực tiễn cho sáng tạo văn học nghệ thuật đề tài lịch sử.

(NGUYỄN LONG - Hội VHNT tỉnh Thái Bình)


Sơn La là một tỉnh miền núi với cộng đồng 12 dân tộc anh em cùng chung sống trong tình đoàn kết gắn bó tự lâu đời. Mỗi dân tộc đều có một nền văn hoá dân gian cổ truyền độc đáo, riêng biệt, đặc thù tạo nên một vùng văn hoá đa dạng, phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc.

Từ xa xưa trong lịch sử lập bản, giữ mường của nhân dân các dân tộc Sơn la nói riêng, Tây Bắc nói chung đã có nhiều tác phẩm văn học dân gian mang tính sử thi nói về quá trình đấu tranh kiên cường chống giặc ngoại xâm gìn giữ cõi bờ và giành tự do độc lập như  Quam tô mương, Quam Panh mương, Táy Pú Xấc, Chương Han... của dân tộc Thái, Khúa kê hay Chê Hấu gầu Nà, gầu Rềnh của dân tộc Mông v.v....với những nhân vật có thật trong lịch sử được huyền thoại hóa như Tạo Ta Ngần, Nàng Han...

Tuy nhiên, phải đến những năm 30 của thế kỷ 20, nền văn học cách mạng Sơn La mới thực sự hình thành. Bắt đầu từ các sáng tác văn học của các chiến sỹ cách mạng tại nhà ngục Sơn La, thông qua tờ báo Suối Reo. Có thể nói, đây là giai đoạn mở đầu nhưng lại là thời kỳ vô cùng huy hoàng và rực rỡ của nền văn học cách mạng Sơn La. Dưới chế độ ngục tù hà khắc tàn độc của thực dân Pháp, để có một phương tiện tuyên truyền hướng cuộc đấu tranh đi đúng đường lối của Đảng, tháng 5 năm 1941, Chi bộ nhà ngục Sơn La đã cho ra đời tờ báo Suối Reo do đồng chí Trần Huy Liệu vừa là Bí thư chi bộ vừa là chủ bút, báo ra mỗi tháng 2 kỳ được sáng tác và cất giữ theo nguyên tắc bí mật. Trong suốt một thời gian dài (từ 1941- 1945), những bài thơ, văn, những vở kịch, những bức hoạ và những nốt nhạc thấm đẫm tinh thần cách mạng của các thi sỹ đồng thời là chiến sỹ cộng sản như Sóng Hồng, Lê Đức Thọ. Trần Huy Liệu, Chu Hà, Nguyễn Văn Năng, Mộ Thanh, Nguyễn Văn Từ...đã thực sự trở thành vũ khí đấu tranh sắc bén là sức mạnh tinh thần giúp các chiến sỹ cộng sản ở nhà ngục Sơn La vượt qua xiềng xích lao tù và đến với đồng bào các dân tộc, đến với những người yêu nước để cùng nhau đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng Sơn La và góp phần làm nên cuộc cách mạng tháng 8 vĩ đại của cả dân tộc.

Nếu như dòng văn học cách mạng nhà tù Sơn La đều do các tác giả người miền xuôi sáng tác thì nền văn học kháng chiến chống Pháp của Sơn La lại có sự góp mặt của lực lượng cán bộ chính trị - văn hoá - nhà thơ là người dân tộc. Lần đầu tiên trong lịch sử, họ sánh vai cùng đội ngũ văn nghệ sỹ cả nước lên đường kháng chiến. Cũng từ đây đội ngũ văn nghệ sỹ là những người con của quê hương Sơn La không ngừng tìm tòi, học hỏi và tích cực sáng tác, đưa VHNT Sơn La phát triển vững chắc, mạnh mẽ cùng với sự phát triển chung của đội ngũ văn nghệ sỹ cả nước và nền văn học cách mạng Việt Nam...

(NGUYỄN HÀ THU - Hội Liên hiệp VHNT tỉnh Sơn La)


Việt Nam là một dân tộc có bề dày truyền thống lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước với biết bao trang sử hào hùng, oanh liệt viết nên khí phách anh hùng, tâm hồn và bản lĩnh Việt Nam là: giữ vững độc lập tự chủ được nhân dân thế giới ngợi ca, khâm phục. Hàng nghìn năm lịch sử ấy đã được các nhà lịch sử chép lại. Tuy nhiên để người dân và giới trẻ hiểu sâu sắc và yêu sử ta thì đó còn là điều cần phải bàn nhiều. Chính vì vậy, vai trò của VHNT đối với truyền bá lịch sử là vô cùng quan trọng. VHNT không chỉ là một loại hình đặc biệt hữu hiệu để truyền tải lịch sử cho hậu thế mà còn có khả năng đánh thức lịch sử, có sức hấp dẫn, lay động lòng người để giáo dục truyền thống, góp phần truyền bá kiến thức lịch sử bằng nghệ thuật... Nhận thức được điều đó, các nhà văn, nhà điện ảnh, truyền hình đã dựa vào nguồn tư liệu dồi dào của lịch sử, chọn hình thức VHNT cộng với tài năng của mình để chuyển thể ra tác phẩm đến với công chúng chắc chắn sẽ được công chúng tiếp nhận một cách dễ dàng, thoải mái và kết quả hiểu về lịch sử nước nhà sẽ được ăn sâu trong tâm hồn mọi người Việt Nam.

Điều đáng mừng hơn nữa là trong giai đoạn hiện nay, không chỉ có truyện ngắn, tiểu thuyết, sân khấu mới sáng tác về đề tài lịch sử  mà còn có rất nhiều các loại hình nghệ thuật như: âm nhạc, điện ảnh, mỹ thuật... Điều đó chứng tỏ người ta xem việc trở lại với vấn đề lịch sử là vô cùng quan trọng, là cách gián tiếp để bày tỏ lòng yêu nước, thể hiện ý chí tự tôn và tự hào dân tộc. Sáng tác VHNT về chủ đề lịch sử vừa thể hiện sự quan tâm của văn nghệ sỹ  vừa thể hiện ý thức trách nhiệm trước lịch sử dân tộc, trước những vấn đề lớn lao, nóng bỏng của đất nước. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, những vấn đề về chủ quyền quốc gia, biên giới hải đảo bị tranh chấp, trong khi đó một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên đang xao lãng kiến thức lịch sử, thờ ơ với quá khứ vẻ vang của dân tộc, thuộc sử nước ngoài hơn nước mình.... thì việc trở lại với đề tài lịch sử, khơi lại các nguồn mạch lịch sử để sáng tạo những tác phẩm VHNT có sức hấp dẫn, sức truyền cảm, gắn kết lịch sử với hiện tại, phát huy sức mạnh tinh thần và ý chí của dân tộc vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trở thành sứ mệnh thiêng liêng cao cả của VHNT. Đề tài lịch sử do vậy mà trở thành đề tài nóng bỏng trong đời sống xã hội và VHNT.

Tuy nhiên sáng tác VHNT về đề tài lịch sử thực sự khó khăn bởi nó còn bị bó buộc trong nhiều nguyên nhân khác nhau như: nguồn tư liệu về lịch sử có thống nhất không; hư cấu lịch sử như thế nào để đủ và đúng; bị gò bó trong không gian, thời gian; tiếp cận lịch sử theo những hướng nào; lựa chọn sự kiện, nhân vật lịch sử ra làm sao và đặc biệt là chế độ chính sách cho việc sáng tác về đề tài lịch sử, vì để sáng tác tiểu thuyết, xây dựng phim truyền hình, sân khấu rất tốn kém.... Bên cạnh đó, sáng tác VHNT đề tài lịch sử cần văn nghệ sỹ phải am hiểu lịch sử, phải có bản lĩnh vững vàng và dũng cảm lựa chọn cho mình sự kiện, nhân vật... Đó là những điều cần phải bàn luận kỹ mà không phải một sớm một chiều có thể giải quyết được.

Trong gần 40 năm qua, từ những tư liệu phong phú của lịch sử truyền thuyết, lịch sử nơi cội nguồn dân tộc Việt Nam, văn nghệ sỹ Phú Thọ đã sáng tác nhiều tác phẩm về vùng Đất Tổ như: Truyền thuyết Hùng Vương và bình minh lịch sử, Sau bức màn truyền thuyết, Mẹ Âu Cơ, Bọc trăm trứng, Hát Xoan Phú Thọ, Mảnh hồn chim Lạc, Văn hóa làng xã vùng Đất Tổ, Hát Ghẹo... Chính những tác phẩm này là tư liệu minh chứng để hoàn thiện hồ sơ khoa học với những cứ liệu lịch sử trình UNESCO công nhận hát Xoan Phú Thọ và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là những di sản văn hoá phi vật thể của thế giới...

(HỒNG CHÍNH - Hội Liên hiệp VHNT tỉnh Phú Thọ)


Điểm lại những tác phẩm VHNT về đề tài lịch sử chưa nhiều nếu đặt trong bề dày sáng tạo chung của VHNT nước nhà. Nhiều vấn đề đặt ra đã đề cập tới những khó khăn của các tác giả, bởi đối với mỗi người sáng tạo VHNT về đề tài lịch sử, chất liệu đã có nhưng  làm thế nào để có tác phẩm, và tác phẩm phải có chất lượng có lẽ là một câu hỏi lớn. Trả lời được câu hỏi này là điều không đơn giản. Không đơn giản bởi các tác giả khi sáng tạo tác phẩm không thể bê nguyên lịch sử vào tác phẩm của mình mà nhất thiết phải sáng tạo thế nào cho hài hòa mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật, để người thưởng thức nhận ra sự liên quan giữa những vấn đề của lịch sử với những vấn đề đang hiện hữu của đời sống tinh thần con người trong xã hội hiện đại, từ đó đưa ra những bài học thuyết phục liên quan giữa “cổ” và “kim”, giữa “lịch sử” và “hiện tại”. Điều đó đòi hỏi văn nghệ sĩ phải nắm chắc các nguyên tắc của sáng tạo VHNT về đề tài lịch sử; nắm chắc lý luận giữa vấn đề chân thực lịch sử và chân thực nghệ thuật, v.v… Có lẽ đó là những vấn đề then chốt, thiết yếu luôn đồng hành cùng với đề tài lịch sử mà bất kỳ người sáng tác nào có ý định sáng tạo tác phẩm VHNT về đề tài lịch sử đều không thể bỏ qua.

Sáng tác VHNT về đề tài lịch sử vốn rất phong phú nhưng cũng không phải là điều đơn giản. Nó đòi hỏi người sáng tác phải có hiểu biết sâu sắc về lịch sử cộng với khả năng sáng tạo mang đặc trưng riêng mới có thể cho ra đời tác phẩm thành công. Điều đó chúng ta đều đã nhận ra. Nó đã được khẳng định tại  nhiều cuộc hội thảo về đề tài này.

Thông qua tác phẩm VHNT về đề tài lịch sử để đánh thức người dân về trách nhiệm của họ với lịch sử dân tộc, nhất là trong lúc an ninh biên giới và chủ quyền biển đảo của dân tộc đang bị đe dọa là trách nhiệm của những người làm công tác VHNT. Hy vọng, với sự chung sức, đồng lòng của những người sáng tạo VHNT nói chung và các văn nghệ sỹ trong nhóm VN8 nói riêng, đề tài lịch sử sẽ là mảnh đất phong phú và hấp dẫn, có sức hút mạnh mẽ đối với các văn nghệ sỹ trong thời gian tới.

(THƯƠNG HUYỀN - Hội VHNT tỉnh Hải Dương)


Lựa chọn đề tài lịch sử trong sáng tác VHNT là một hướng đi cần thiết. Bởi tác phẩm VHNT viết về lịch sử mang một ý nghĩa to lớn. Nó góp phần làm sống dậy tinh thần tự tôn, lòng tự hào dân tộc, là những bài học lịch sử sinh động nhất, dễ dàng đi vào lòng người nhất, tạo nhiều ấn tượng nhất và sẽ đọng lại trong tiềm thức của người thưởng thức lâu nhất. Trong tình hình đất nước ta hiện nay thì việc giáo dục, tuyên truyền khơi dậy truyền thống yêu nước, tinh thần dũng cảm, tự lực tự cường trong mọi người dân Việt là điều đặc biệt quan trọng. Tầm quan trọng của những tác phẩm VHNT sáng tác về đề tài lịch sử là không thể không khẳng định, ấy là một cách đi hay nhưng việc sáng tạo được một tác phẩm VHNT có chất lượng về đề tài này là điều khó khăn...

...Việc sáng tác tác phẩm VHNT về đề tài lịch sử buộc nhà văn phải sáng tạo, hư cấu trong khuôn khổ nhân cách nhân vật lịch sử và bản chất sự kiện lịch sử. Đây là nguyên tắc tối quan trọng trong việc sáng tác những tác phẩm về đề tài này. Vì nếu văn nghệ sỹ sáng tạo, hư cấu quá giới hạn cho phép sẽ ảnh hưởng đến sự chân thực của sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử. Do đó để có được tác phẩm vừa sinh động, mang chất lượng nghệ thuật cao, vừa đảm bảo tính chân thực của lịch sử đòi hỏi nhà văn phải tốn rất nhiều thời gian, công sức để nghiên cứu lịch sử làm chất liệu cho tác phẩm. Điều đó gây nhiều khó khăn cho các văn nghệ sỹ khi quyết định chọn đề tài này.

Với các đề tài khác, nhà văn có cơ hội được quan sát, thẩm định, nghiên cứu, thậm chí được sống và va đập với chính đề tài mình viết. Điều đó dễ cho họ cảm xúc và chất liệu để sáng tạo nên hình tượng nghệ thuật nhằm gửi gắm thông điệp. Nhưng ngược lại, đối với đề tài này, văn nghệ sỹ chỉ có thể khai thác một cách gián tiếp thông qua sách, ảnh, tài liệu lịch sử một cách chính xác để rồi  tái tạo chúng một cách sinh động trên tác phẩm. Đây là một thử thách mà không phải ai cũng có thể làm được. Nó đòi hỏi tài năng của người nghệ sỹ...

Theo cá nhân tôi thì để nâng cao chất lượng và số lượng những tác phẩm viết về đề tài lịch sử thì việc đầu tiên, quyết định ở chính các văn nghệ sỹ. Rất cần sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân các tác giả nhằm nâng cao năng lực sáng tác, đổi mới chủ đề sáng tác và đặc biệt là giữ vững niềm say mê lịch sử nước nhà, ý thức được trách nhiệm của bản thân trước đất nước, nhân dân để góp sức nhỏ của mình trong việc khơi gợi lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc cho đồng bào mình. Về phía Hội VHNT, việc khuyến khích các tác giả sáng tác về đề tài lịch sử bằng cách mở trại sáng tác về đề tài này cho các tác giả có năng lực, có hiểu biết về lịch sử;  tìm kiếm phát hiện những tác giả có khả năng viết về đề tài này để trực tiếp động viên, khích lệ, tôi cho là một việc làm cần thiết. Có thể ưu tiên các tác phẩm sáng tác về đề tài này bằng cách nâng cao chế độ nhuận bút hoặc chính sách đầu tư công bố tác phẩm và mở các cuộc vận động sáng tác về đề tài lịch sử.

(HOÀNG KIM YẾN - Hội Liên hiệp VHNT tỉnh Yên Bái)


Mặc dù sáng tạo VHNT về đề tài lịch sử là một trong những yêu cầu cần thiết do yêu cầu cấp bách của thời đại song chúng ta không thể kỳ vọng vào sự nở rộ các tác phẩm VHNT về đề tài này trong một sớm một chiều mà đòi hỏi phải có thời gian, có sự đầu tư thích đáng về tài lực và vật lực, mà một trong những đòi hỏi đầu tiên là chúng ta phải tìm kiếm và bồi dưỡng được lực lượng sáng tác, trong đó đặc biệt quan tâm những người có tài năng, những người trực tiếp tạo ra các tác phẩm VHNT có giá trị cao về đề tài lịch sử.

Sở dĩ ở đây chúng tôi nhấn mạnh đến vấn đề tài năng vì thực tế cho thấy đề tài lịch sử là mảng đề tài vô cùng khó khăn, người viết muốn thành công phải thật sự am hiểu lịch sử, am hiểu quá khứ, để từ đó tìm ra những vấn đề cốt lõi, tinh túy của mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử, trên cơ sở đó, tưởng tượng và sáng tạo nên những tác phẩm chứa đựng bài học lịch sử thiết thực, ý nghĩa và có sức thuyết phục con người qua nhiều thời đại. Tất  nhiên tài năng luôn luôn đi kèm với tâm huyết, đam mê và tình yêu, sự trân trọng đối với lịch sử, đối với quá khứ, đối với truyền thống văn hóa dân tộc. Chính tình yêu và sự trân trọng quá khứ là điểm tựa để tác giả đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, khám phá lịch sử, tưởng tượng và lý giải lịch sử bằng cảm hứng nhân văn, tìm kiếm các giá triị nhân bản sâu sắc.

Theo chúng tôi, cần tập trung đầu tư kinh phí cũng như phương tiện nghiên cứu cho những người thật sự có kiến thức lịch sử và tài năng sáng tạo. Các Hội VHNT địa phương phối kết hợp chặt chẽ với các Hội chuyên ngành TW để tổ chức trại sáng tác về đề tài lịch sử một cách hiệu quả. Tạo điều kiện để văn nghệ sĩ có thể tiếp cận sâu sắc các vấn đề của lịch sử, bởi vì tác phẩm nghệ thuật chỉ có thể thành công khi tác giả am hiểu sâu sắc về văn hóa dân tộc, về đời sống văn hóa thời đại diễn ra các dữ kiện lịch sử và phải giải mã được những khoảng trống, những điểm mờ của lịch sử. Quá trình chọn lọc tác giả tham dự trại sáng tác, thông qua kết quả sáng tác sau mỗi đợt tổ chức; cần được đánh giá khách quan, công tâm và có sự trao đổi nghiêm túc, trách nhiệm để nâng cao chất lượng tác phẩm đồng thời nâng cao năng lực sáng tác cho tác giả.

Trong điều kiện thực tế ở địa phương, nếu có thể nên thực hiện đặt hàng cho các văn nghệ sĩ sáng tác VHNT trên cơ sở các dữ liệu lịch sử ở địa phương mình. Đây vừa là một sự định hướng sáng tác cho tác giả, vừa làm phong phú thêm các thể tài sáng tạo...

(NGUYỄN THANH LỊCH- Hội VHNT tỉnh Ninh Bình)


Dựa vào những yếu tố, chi tiết có thực từ việc nghiên cứu, ghi chép lại thành tư liệu về lịch sử mà những người viết văn học có cơ sở để tiếp tục sáng tạo và khai thác triệt để những vấn đề lịch sử ở nhiều góc độ khác nhau. Có người khai thác ở lịch sử về góc độ tư tưởng, hoặc văn hoá, hoặc chính trị, hoặc “giải oan” cho nhân vật lịch sử cũng như khắc hoạ rõ nét những nhân vật tưởng tốt hoá ra lại xấu. Những người viết bên mảng văn học đã sử dụng tư liệu lịch sử như “cái móc để treo cái áo sáng tạo của mình”.

Phải khẳng định rằng, trước hết những tác giả bắt tay và dấn thân vào mảng đề tài lịch sử đều là những người có khả năng bao quát, dày vốn hiểu biết cộng với cảm hứng sáng tác với một thời kỳ lịch sử nào đó, cùng khả năng sáng tạo nhạy bén. Sau những đầu sách đã được xuất bản là tập thơ, là tập truyện ngắn được khẳng định về chất lượng thì họ mới dám bắt tay vào khai thác vấn đề lịch sử của địa phương và của dân tộc. Dường như ở Bắc Giang chưa có người nào dưới 40 tuổi viết về vấn đề lịch sử. Người viết về đề tài lịch sử như người lái xe trên địa hình phức tạp nên nếu yếu lái hoặc lái bừa lái ẩu cũng dễ bị lạc đường, hoặc gây tai nạn.

Đa số các tác giả mảng văn học luôn lấy sự sáng tạo nghệ thuật làm tiêu chí đầu tiên để tạo sự hấp dẫn cho tác phẩm nhưng phần hư cấu và sáng tạo lịch sử thế nào là vừa đủ để người đọc chấp nhận được, thời đại chấp nhận được, lại vẫn trung thực với yếu tố lịch sử  mà không sa vào việc sao chép lịch sử hoặc bóp méo lịch sử thì việc này còn phụ thuộc vào tài năng của mỗi người viết. Quả thật là một việc khó, bởi tác phẩm lịch sử hấp dẫn mới thu hút được người đọc, đã hay và hấp dẫn thì phải có tài sáng tạo, mà ở tầm cao nghệ thuật đích thực của sự sáng tạo thì không phải độc giả nào cũng tiếp nhận được...

(THU HÀ - Hội VHNT tỉnh Bắc Giang)



 
Một chuyến đi để học, để biết và để viết

 

Lưu Văn Khuê

 

Từ ngày 22 đến 26/4/2013, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (VHNT) thành phố tổ chức cho Ban Chấp hành, Ban Biên tập Tạp chí Cửa Biển và Văn phòng Hội chuyến đi trải qua hơn 1000 km, trong 5 ngày đến 6 nơi (Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình, Hưng Yên). Mệt mỏi nhưng học được, biết được nhiều điều bổ ích.

Đi để học là mục đích chính của chuyến đi.

Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng là Hội địa phương “có thương hiệu”. Đến đâu các Hội bạn cũng nhận định như vậy hoặc nghĩ phải là như vậy. Thành phố đô thị loại I cấp quốc gia tất yếu đem đến “thương hiệu” ấy và chính những người hoạt động văn học nghệ thuật của thành phố trong suốt nửa thế kỷ qua (Hội VHNT Hải Phòng thành lập năm 1964) đã làm nên điều đó. Thật hiếm Hội VHNT nào được như Hải Phòng khi có tới 600 hội viên, trong đó khoảng một nửa là hội viên các Hội chuyên ngành trung ương. Nhưng có đi mới biết và càng đi càng biết có những điều chúng ta còn chưa được bằng các Hội bạn.

Học được ở Hội VHNT Hưng Yên chỉ có hơn 100 hội viên nhưng bằng cách nào đấy đã được tỉnh cấp kinh phí hằng năm đến mức “ngưỡng mộ”: 1,9 tỉ đồng, trong đó 500 triệu dành cho Tạp chí. Nếu Hội có hoạt động đột xuất, tỉnh sẵn sàng cấp thêm, “xin thêm bao nhiêu được bấy nhiêu - Chủ tịch Hội VHNT Hưng Yên nói vậy. Đấy là chưa kể tỉnh còn đang xây cho Hội trụ sở mới.

Học được ở Hội VHNT Thanh Hóa về tầm nhìn xa đối với Tạp chí của Hội. Chủ tịch Hội VHNT Thanh Hóa tự nhận mình là một Hội trung bình, vậy mà từ năm 1997 đã có đề án đệ trình tách Tạp chí khỏi cơ quan Hội, trong khi năm ấy ở Hải Phòng chưa một ai nghĩ đến điều này, tất cả đều coi Tạp chí đương nhiên chỉ là một phòng ban của Hội! Thậm chí năm 2004 khi ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam tổ chức hội nghị ở Quảng Ninh để bàn việc tách các Báo và Tạp chí văn nghệ khỏi cơ quan Hội VHNT, 27 Tổng biên tập các tỉnh phía Bắc có mặt, thì Tổng biên tập Tạp chí Cửa Biển của Hải Phòng… không nhận được giấy mời - không được mời, giấy mời bị thất lạc hay vì lý do uẩn khúc nào, chẳng rõ (!) Giờ đây, nhờ được tách khỏi văn phòng Hội, Tạp chí Xứ Thanh có trụ sở riêng, tài khoản riêng, xe ô tô riêng và có riêng 7 biên chế. Các bạn Thanh Hóa, từ Chủ tịch Hội đến Tổng biên tập đều nhiệt tình chỉ bảo đường đi nước bước, đồng thời cung cấp những văn bản cần thiết để Tạp chí Cửa Biển nhanh chóng xứng đáng với tầm vóc của nó và với Hải Phòng. Trước đó Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ của Phú Thọ cũng đã đến Xứ Thanh hỏi về chuyện này. Còn Hải Phòng, việc nâng Tạp chí Cửa Biển từ 6 kỳ/năm lên 12 kỳ/năm là một thành công lớn, song việc đưa Tạp chí trở thành cơ quan báo chí độc lập hiện mới đang trong giai đoạn học tập kinh nghiệm và xây dựng đề án.

Học được ở Hội VHNT Ninh Bình khi tỉnh thành lập được Quỹ hỗ trợ sáng tạo VHNT, nhờ vậy có tác giả được đầu tư tới 100 triệu đồng để hoàn thành một tiểu thuyết lịch sử - điều khiến giới sáng tác Hải Phòng lại thêm “ngưỡng mộ”! Việc thành lập quỹ này ở Hải Phòng cũng đã được đề ra khá sớm, từ năm 2008 trong Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết 23 Bộ Chính trị với mục tiêu phấn đấu hình thành trước năm 2010. Nhưng trải qua năm tháng, giờ đây có cảm giác sự việc đã bị lãng quên!

Học được ở Hội VHNT Thanh Hóa đề xuất với tỉnh cơ chế các tác giả được giải VHNT và báo chí, trung ương thưởng thế nào, tỉnh cũng thưởng thêm với mức như thế, riêng giải khuyến khích mức thưởng là 50%.

Học được Hội VHNT Hòa Bình về công tác cán bộ: Cán bộ chủ chốt của Hội đến tuổi hưu vẫn được nghỉ theo chế độ, nhưng nếu Hội cần, anh em vẫn tiếp tục trọng trách cũ và hưởng thêm lương kiêm nhiệm tương đương với lương khi còn trong biên chế.

Học được ở Hội VHNT Hà Nam sự chặt chẽ trong việc kết nạp hội viên để nâng cao chất lượng của đội ngũ, để chính các hội viên ý thức cao về  mình.

Học được các tỉnh trong việc gìn giữ nhà cửa và hiện vật của các văn nhân thi sĩ tên tuổi: Đó là nơi sống những năm cuối đời của Tú Xương ở Nam Định; nơi sinh thành và an trí của Nguyễn Khuyến ở Hà Nam. Dù đã trải qua nhiều đời chủ nhưng ai cũng nhận thấy trách nhiệm bảo quản, không những vậy còn tự hào với nơi được ở, nên hướng dẫn viên chính là chủ nhà. Còn chúng ta, ngày trước Thế Lữ, Nguyên Hồng, Văn Cao, Nguyễn Đình Thi ở đâu có mấy ai quan tâm! Mà dẫu có quan tâm và tìm được đến nơi thì cũng sẽ thất vọng, bởi ở đấy sẽ “chẳng còn gì cả”, thậm chí chủ nhà có khi vắt óc cũng không biết Thế Lữ, Nguyên Hồng… là ai!

Nhiều người đã biết họa sĩ Thành Chương cùng “biệt phủ” của ông. Đến Hòa Bình lại biết thêm điều tương tự: Đó là họa sĩ trẻ Vũ Đức Hiếu (sinh năm 1977) cùng cái tâm trong việc bảo tồn văn hóa dân tộc khi bỏ tiền ra lập Bảo tàng “Không gian văn hóa Mường” trên một vạt đồi thấp cho khách vãng lai thưởng ngoạn. Trước những căn nhà và bộ chiêng đồng, bên các đồ dùng hằng ngày và các công cụ canh tác, dệt cửi, săn bắn của dân tộc Mường hay qua các sách báo về văn hóa Mường, các bài Mo, những họa tiết độc đáo trên cạp váy… người xem sẽ được hiểu về sự phân biệt giai tầng trong xã hội Mường ngày trước với nhà lang, nhà ậu, nhà noóc, noóc trọi; mùa mưa sẽ được xem cọn nước quay tròn; mùa lễ hội được tham gia các trò chơi truyền thống trên sân chơi cộng đồng trong khu bảo tàng… Hải Phòng chưa có nơi nào như vậy, họa chăng có thể nhắc đến nhạc sĩ Đàm Hường với bộ sưu tập hàng trăm chiếc… cối đá, cái nguyên lành, cái vỡ, cái thủng chất đống đầy sân nhà của ông ở  quê xã Lâm Động, Thủy Nguyên…

Và tất nhiên đi để biết là điều thu nhận được từ bất kỳ chuyến đi nào của bất kỳ ai. Tôi nhớ mãi câu nói của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, lúc đó là Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, khi tới thăm Nhà xuất bản Hải Phòng khoảng năm 1990: “Biên tập viên phải biết la cà!”. Một lời khuyên thật dân dã và chí lí. Biên tập viên đã vậy, huống chi với những người sáng tác.

Trải qua 5 ngày đường, hơn 1000 km, đến 6 nơi thì không cần phải kể, ai  cũng hiểu sự biết không phải là ít. Song do cái tính la cà mà những điều cần biết của văn nghệ sĩ có khác với thường tình nên ít nhiều vẫn phải kể. Chả nói đâu xa, đến các nơi trong khi các cô gái Văn phòng Hội mải mê chụp ảnh lưu niệm thì các nghệ sĩ nhiếp ảnh bận bịu với chút chồi non mới nhú của gốc si già nơi sân đình đến cái mênh mang trùng điệp của non nước, mây trời dăng dải nơi nơi. Vậy nên chúng tôi đã đến ngôi nhà xưa của Tú Xương, Nguyễn Khuyến, đến chùa Bà Đanh, đến Thành nhà Hồ…

Nhà Tú Xương (1870-1907) ở số 280 phố Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Nam Định. Thời cụ Tú là phố Hàng Nâu và cũng là bờ đê sông Vị, nơi có bến đò cho thuyền đậu đưa củ nâu lên bán cho người ta nhuộm vải. Từ Hàng Nâu ngược lên là Hàng Cót rồi từ đấy ra mom sông, nơi bà Tú “lặn lội thân cò” buôn bán nuôi chồng nuôi con. Thực ra Tú Xương ở đây chỉ có 7 năm, từ năm 1900 cho đến khi mất, nhưng đó là những năm thăng hoa nhất trong sáng tác và cay đắng nhất về thi cử của ông. Nay phần trước khu nhà đã xây mới, qua mảnh sân nhỏ là đến ngôi nhà cũ được bản tồn gần như nguyên vẹn: nhà cửa gỗ, có căn gác nhỏ nhưng nay cầu thang lên không còn, cửa sổ đằng sau nhìn ra sông Lấp - ngay vào thời cụ Tú “Sông kia rày đã nên đồng/Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”; nhà nhỏ hẹp và thấp đến mức đứng ở sân nhìn suốt cả mái ngói rêu phong - nó đã bị “thấp đi” đến bảy, tám mươi phân do đường phố được tôn cao, buộc nền nhà và sân cũng phải tôn cao lên.

Đến Hà Nam, chúng tôi về quê hương Nguyễn Khuyến. Cứ như sách nọ báo kia viết thì thời trẻ Nguyễn Khuyến (1835-1909) nhà nghèo, nghèo đến mức vợ ông phải bán nhiều thứ trong nhà để ông có tiền đi thi, vẫn không đủ, bà phải bán thêm cái yếm (!) mới đủ 5 quan cho ông yên tâm lên đường; ngày ông vinh quy về làng bà bận cấy mướn ở cánh đồng xa, nấn ná không về vì lo mất ngày công. Bản thân Nguyễn Khuyến thì bao giờ đến trường dự bình văn cũng đem theo cái dậm để khi về tranh thủ kiếm vài con cá! Sự thật không biết thế nào, khi mà ngày trước sách báo chỉ đề cao cái nghèo và né tránh nói đến sự giàu. Bởi có đến mới biết nơi cụ Tam nguyên Yên Đổ “nhà ngói” có mà “cây mít” cũng có! Thôi, cứ cho là sách báo nói đúng đi và hồi trẻ cụ Tam nguyên nghèo thật, thì hóa ra chỉ làm quan có 12 năm (1872-1883) cụ đã đổi đời! Xưa chỉ nhà khá giả mới có cổng xây, trên cổng nhà cụ Tam nguyên, đắp nổi ba chữ “Môn tử môn” cốt căn dặn môn sinh về sự lễ nghĩa khi qua cổng; sau cổng là mảnh sân rộng rồi đến nhà trên - nơi ngày trước cụ Tam nguyên ngồi dạy học, lại qua mảnh sân nữa mới tới nhà dưới, nhà nào cũng bảy gian gỗ lim bề thế; bao quanh là vườn - “vườn rộng rào thưa khó đuổi gà”… Lại liên tưởng đến Tú Xương, tôi ngờ rằng ông chỉ nói cho “có hình ảnh”: “một tuồng rách rưới con như bố” chứ chăm chỉ đi hát cô đầu đến nỗi mất ô thì không thể nghèo được và ngồi với các em thì ai lại ăn mặc rách rưới!

Giờ trông coi khu nhà của cụ Tam nguyên Yên Đổ là người cháu hậu duệ 5 đời. Ông xây cho mình ngôi nhà bên cạnh, dành hai ngôi nhà xưa cho khách tới thăm, trong nhà đáng chú ý là hai tấm biển vua Tự Đức ban năm 1871 cho Nguyễn Khuyến: “Nhị giáp tiến sĩ” và “Ân tứ vinh quy”.

Còn nói đến chùa Bà Đanh, người viết bài này muốn bạn đọc hiểu cho đúng sự thật. Cứ như sử sách thì chùa Bà Đanh là ở Hà Nội, nay không còn, chỉ biết vị trí nằm trong khuôn viên trường Chu Văn An hiện giờ. Thời Lê Thánh Tông, quân dân Đại Việt có đưa về đây một số người Chiêm Thành, sau đó lập chùa cho họ thờ cúng, gọi là chùa Châu Lâm, trong chùa có tượng Bà Đanh, có lẽ là tên gọi một nữ thần của người Chiêm, có sách lại nói là tên một công chúa đời Lý. Do chùa cạnh hồ Tây, cách xa khu dân cư, lối vào um tùm lau lách, lại toàn người Chiêm ở nên ít ai lai vãng, những người Chiêm trải qua năm tháng cũng khuất dần nên chùa mỗi lúc một vắng vẻ - “vắng như chùa Bà Đanh”, lâu dần thành hoang phế và bị dỡ bỏ. Bài phú Tụng Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng có câu : “Dấu Bố Cái rêu in nền miếu, cảnh Bà Đanh hoa khép cửa chùa” (1).

Thế nhưng đến Hà Nam lại thấy một chùa Bà Đanh nữa và xưa cũng rất vắng vẻ bởi bị bao quanh bởi 3 mặt sông (sông Đáy), đường vào xuyên qua rừng rậm. Mãi gần đây khi có cầu qua sông, chùa mới không vắng nữa nhưng đường vào vẫn còn nhiều cây cối. Khuôn viên chùa rộng, chùa khá lớn và đẹp. Hỏi chính ni cô Thích Đàm Đam mới hay do chùa thờ Đức thánh Bà và đặt ở làng Đanh (thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng) nên dân chúng quen gọi là Chùa Bà Đanh, chùa lại được “lên tivi” nên nhiều người biết.

Muốn đến Thành nhà Hồ, từ thành phố Thanh Hóa phải ngược về phía thượng nguồn sông Mã khoảng ba, bốn chục cây số, tới huyện Vĩnh Lộc. Dù không ít lần xuôi Nam nhưng do cách quốc lộ 1 nên lần này nhiều người trong chúng tôi mới có dịp được tới Thành nhà Hồ. Đó là một công trình bằng đá vĩ  đại, được Hồ Quý Lý cho xây vào năm 1397. Năm này Hồ Quý Ly chỉ là Phụ chính triều Trần nhưng thế lực rất lớn, ông ép vua dời kinh đô về Thanh Hóa và xây thành ở đây nhằm hạn chế thế lực nhà Trần và chuẩn bị chống quân Minh xâm lược. (Năm 1400 Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, năm sau nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương. Năm 1407 nhà Hồ mất bởi giặc Minh). Thành xây trong khoảng thời gian ngắn đến mức khó tin: 3 tháng! Khó tin nhưng tin được vì Hồ Quý Ly đ• chuẩn bị từ trước, đã lệnh cho 294 nơi, kể cả Thăng Long ngày đêm đẽo đá, nung gạch. Những khối đá được xếp bên nhau, không một chất kết dính nào, vững chãi được là nhờ thế “thượng thu hạ thách” của từng khối đá. Khối nhỏ nhất trên 10 tấn, khối lớn nhất trên 26 tấn; tạo nên một tòa thành chu vi hơn 3,5 km. Gần đấy, một nhà trưng bày được dựng thời gian gần đây giới thiệu tỉ mỉ về tòa thành cùng những hiện vật liên quan, trong đó có “súng” bắn đá với những viên đạn đá to không kém quả tạ 7 kg dành cho các vận động viên môn đẩy tạ. Xúc động nhất là câu chuyện về nàng Bình Khương: Thành xây mãi không được, chồng nàng vì vậy chết đau đớn; thương chồng oan ức, nàng đập đầu vào đá tự vẫn; đêm đến nàng báo mộng việc xây thành, từ đó thành được xây nhanh chóng. Truyền thuyết có lẽ bắt nguồn từ hình thù của một tảng đá nay được đặt tại nhà trưng bày: chỗ nàng đập đầu và tì tay, đá lõm hẳn xuống!

Cũng trong cái sự “đi để biết”. Trong buổi tối giao lưu văn nghệ tự biên tự diễn giữa Hội VHNT Hòa Bình và Hải Phòng chúng tôi khá bất ngờ khi được đồng chí Hoàng Việt Cường - Bí thư tỉnh ủy đến thăm và cùng giao lưu văn nghệ với các văn nghệ sĩ - điều mà chúng tôi chưa từng được chứng kiến. Trong câu chuyện, đồng chí tiết lộ là bạn học ở Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 2 năm 1991-1993 với Chủ tịch Hội của chúng tôi. Đồng chí phát biểu, du khách đến với Hòa Bình có thể chỗ nghỉ chưa thật sang, món ăn chưa thật ngon nhưng tấm lòng người Hòa Bình thì luôn rộng mở. Sự thẳng thắn, chân tình và cởi mở từ người l•nh đạo cao nhất của tỉnh đã khiến cuộc giao lưu tối đó diễn ra rất vui và cảm động.

Còn đi để viết ư? Hình như Lê Qúy Đôn có nói: “Bụng không có nghìn cuốn sách, mắt không có nghìn núi sông kỳ thú trong thiên hạ thì không thể viết văn được”.  Để có ngay tác phẩm may chăng chỉ là nhiếp ảnh, ký họa, là thơ, nhạc hoặc phóng sự, bút ký. Nên nói chung việc đi chỉ là sự tích lũy, mong sao một lúc nào đó những gì được biết hiện về trong cảm hứng chứ đừng nằm mãi trong ký ức mà nhòa dần theo năm tháng.

Riêng tôi, giá như có được chuyến đi này cách đây bảy, tám năm thì khi viết tiểu thuyết Mạc Đăng Dung đã bớt được nhiều ngày lục tìm sách vở. Xưa con đường thiên lý chẳng những

không trùng với quốc lộ 1 như bây giờ mà thời Lý, Trần muốn xuôi Nam ngược Bắc bằng đường bộ phải đi đường núi, đại thể từ Thăng Long theo hướng Tây tới Hòa Bình, vào Thanh Hóa ở mạn Tây Bắc cách Lào không xa, rồi men theo sông Mã về xuôi. Sau này mới có con đường gần như trùng với quốc lộ 1 hiện nay, gọi là Hạ đạo; cũng vì thế con đường cũ được gọi là Thượng đạo. Từ khi có Hạ đạo, ít ai theo lối Thượng đạo nên lâu ngày cây rừng mọc lên và con đường trở thành hoang phế. Nhà Mạc mấy lần theo đường biển vào đánh Thanh Hóa không được nên một năm quyết định khai phá lại Thượng đạo khiến nhà Lê Trịnh bị đánh bất ngờ “từ sau lưng” và thiệt hại nặng. Nhưng “gậy ông đập lưng ông”, mấy chục năm sau chính chúa Trịnh lại bí mật theo Thượng đạo đánh Hòa Bình, vượt sông Đà sông Hồng đánh lên Tuyên Quang, qua sông Lô sang phía Đông đánh Thái Nguyên rồi quay xuống đánh Thăng Long khiến quân Mạc bị đánh “từ trên trời xuống” và trở tay không kịp!

Nay chúng tôi từ Thanh Hóa theo hướng thượng nguồn sông Mã lên Cẩm Thủy rồi theo Đường Hồ Chí Minh ngược Bắc lên Hòa Bình. Phải chăng chỗ này chỗ khác gặp lại con đường Thượng đạo xưa?



 
«Bắt đầuLùi123456Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)