Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 10 khách Trực tuyến
Thảo luận
Một cuộc gặp gỡ thú vị

 

Tại Hải Phòng, trong một cuộc họp mặt thân mật do Hội Liên lạc Việt kiều tổ chức, đã diễn ra cuộc trao đổi ý kiến thú vị giữa nhà thơ Nguyễn Viết Lãm và giáo sư M.GASPARD, là chồng của tiến sĩ sử học Thu Trang, Việt kiều Pháp. M. Gaspard là tiến sĩ sinh học, tiến sĩ khoa học kinh tế, giải thưởng Viện Hàm lâm y  khoa Pháp, người cộng tác về triết học với Giáo sư Trần Đức Thảo tại Paris (Trò chuyện trực tiếp bằng tiếp Pháp)

Tưởng nhớ nhà thơ Nguyễn Viết Lãm - người góp phần bắc nhịp cầu hữu nghị giữa hai nền thi ca, hai nền văn hóa Pháp - Việt, Cửa Biển xin trân trọng giới thiệu nội dung cuộc trao đổi trên


Thu Trang: Mời anh Nguyễn Viết Lãm ngồi bên cạnh Marcel để các bạn tâm sự với nhau, còn tôi, tôi xin ngồi ở góc này...

Nguyễn Viết Lãm (N.V.L): Xin cảm ơn chị. Đọc chị đã lâu, nay mới được gặp, thật không có nỗi vui nào bằng. Tác phẩm Nguyễn ái Quốc tại Paris của chị là một công trình sử học có giá trị, tôi cũng được nghe tiếng giáo sư Gaspard. Hôm nay, thật là một bất ngờ thú vị.

MARCEL GASPARD (M.G): Tôi được biết anh rất quan tâm đến văn học Pháp, đã dịch Aragon, Eluard, cả Andre Breton nữa. Anh tiếp thu ảnh hưởng của nền văn học Pháp như thế nào?

N.V.L: Thế hệ chúng tôi chịu ảnh hưởng của Đường thi do cha anh truyền lại, nhưng chủ yếu chịu ảnh hưởng của văn học Pháp nhiều hơn và từ ngày bé. Thầy dạy văn học Pháp đầu tiên của chúng tôi, cả của Chế Lan Viên bạn tôi, ở trường Quốc học Quy Nhơn là giáo sư Douris, một người thầy rất uyên bác. Ngày ấy chúng tôi say mê Andre Gide, đến nay tôi vẫn còn thuộc lòng những đoạn văn trong Nourritures terestres (Chất dinh dưỡng trần gian). Cuốn tiểu thuyết Le Grand Meaulnes (Anh chàng Môn lớn) của Alain Fournier đã đưa tâm hồn chúng tôi vào những mộng mơ của tuổi trẻ.

M.G: Tôi biết. Tác phẩm huyền ảo ấy cũng là niềm say mê của thanh niên Pháp chúng tôi thời ấy. Còn Gide thì tuyệt vời với những thiên tụng ca mang tính nghệ thuật Kinh Thánh của ông.

N.V.L: Nhân anh nhắc điều này, tôi xin nói thêm, theo tôi văn chương Pháp có những biến chuyển lớn trong hơn ba thập kỷ gần đây. Chắc anh cũng biết, người ta nhận thấy có hai văn phong chủ yếu ở Pháp cũng như ở phương Tây nói chung: văn phong Homère (style homérique) với đặc điểm dàn trải, thả mình theo dòng trữ tình và văn phong Kinh Thánh (Style bib - lique) với sự cô đọng đến lạnh lùng.

M.G: Thơ André Breton khó hiểu. Độc giả Việt Nam có thái độ thế nào đối với thơ André Breton?

N.V.L: Ngọn cờ của chủ nghĩa siêu thực này chưa được phổ biến rộng rãi ở nước chúng tôi. Nhưng năm 1992, khi tôi được phân công giới thiệu những bài thơ tiêu biểu của André Breton: bài Vợ tôi và bài Tình si trong Tuyển tập thơ hiện đại Pháp thì bạn đọc tỏ ý hoan nghênh, nhất là các bạn thơ trẻ. Thật ra yếu tố siêu thực cũng không xa lạ đối với chúng tôi, ví dụ trong sáng tác dân gian (trong folklore). Nhân đây, tôi xin được biết ý kiến của anh về nhóm Alain Rohbe Grillet, Nathalie Sarauthe...?

M.G: Tôi có quan hệ bạn bè riêng với Alain Robbe Grillet, ông ta đứng đầu nhóm Tiểu thuyết mới ở Pháp, nhưng tôi chỉ thích quan điểm triết học của ông ta mà thôi, còn tác phẩm văn học của họ thì tôi không thích, chắc anh có đọc Francoise Sagan?

N.V.L: Có. Tôi đọc lúc tác giả còn rất trẻ. Nhưng thành thật mà nói, tạng của tôi không thích hợp với tác phẩm của Sagan.

M.G: Đó là một cây bút thuộc phái suy đồi (déca - dent). Hiện nay, sách của Sagan không còn là best – seller nữa. Thời kỳ ấy, chủ nghĩa hiện sinh đang thịnh hành ở nước chúng tôi.

N.V.L: Xét về toàn bộ chủ nghĩa hiện sinh về mặt triết học thì tôi không tán thành, nhưng ở lĩnh vực văn học, họ cũng có những cống hiến có giá trị, ví dụ ở Kafka. Qua tiểu thuyết của họ, tôi được biết thêm thân phận con người bé nhỏ đến thế nào trong guồng máy đồ sộ của chủ nghĩa tư bản. Thác loạn (aliénation) và phi nhân hóa (déshumanisation), những đặc điểm của chủ nghĩa hiện sinh, không phải là do các nhà văn ấy sáng tạo ra, mà họ chỉ thể hiện hiện thực châu Âu sau chiến tranh mà thôi. Tiếc rằng họ không truy nguyên được về hiện thực ấy và họ không thấy được sung lực mới của xã hội.

M.G: Chúng ta đang đi vào lĩnh vực triết học. Vai trò con người được đề cao trong những triết thuyết những năm 60 ở Pháp.

N.V.L: Mỗi triết thuyết có cách nói về con người khác nhau. Có lẽ chúng ta nên lấy thực tiễn làm thước đo cho mọi chân lý (Critérium de la pratique) và cũng cần sự kiểm nghiệm của thời gian...

M.G: Đó là cách làm cách nghĩ  khoa học nhất. Tôi đồng ý với anh, mọi chân lý đều cần được sự kiểm nghiệm của thực tiễn và sự sàng lọc của thời gian.

N.V.L: Chúng ta là những người làm khoa học, không nên đặt một pháo đài siêu hình nào trên con đường nhận thức. Ví dụ tôi từng được vỡ lòng về quan điểm Mác nhờ nhiều tác phẩm phổ thông của Roger Garaudy ở Nhà xuất bản Politzez (Pháp) những năm cuối 30 lúc tôi 17 tuổi. Nhưng khi Garaudy đưa ra những luận điểm của ông ta về mỹ học, về đạo đức trong các tuần lễ macxit ở Paris những năm đầu 60 thì tôi khó lòng đồng ý với ông ta được nữa và tôi đã phát biểu ý kiến này trong bài Trách nhiệm đăng trong tạp chí Tổ quốc ở Hà Nội năm 1965. Nhưng gần đây, dưới ánh sáng đổi mới trên đất nước tôi và những dữ kiện mới trên thế giới, tôi lại tìm thấy ở ông ta những điểm cần được nghiên cứu. Ví dụ, với tác phẩm De I’anathème à I’entretien (Từ rủa nguyền đến đối thoại), rõ ràng Garaudy đã dự báo không khí hòa hợp, đối thoại hiện nay trên thế giới. Đảng chúng tôi cũng chủ trương một chính sách cởi mở, mọi dân tộc đều là bạn bè.

M.G: Trong những năm gần đây, ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ, trào lưu tôn giáo có chiều hướng phục hồi. ở Việt Nam có tình hình ấy không? ở đây, Khổng giáo, Phật giáo, Kitô  giáo, Lão giáo, tôn giáo nào có nhiều người theo nhất?

N.V.L: ở nước chúng tôi, không dùng từ phục hồi vì tôn giáo chưa bao giờ mất cả. Chính sách tự do tín ngưỡng là chính sách nhất quán được ghi trong Hiến pháp. ở Việt Nam, có lẽ Phật giáo được nhiều người theo do nguồn gốc lịch sử của nó. Khổng giáo, với tư cách là một học thuyết, còn ảnh hưởng khá đậm trong đạo đức truyền thống, nhưng hiện nay Khổng giáo cũng có nhiều điều không giống cũ. Dòng sông ngày đêm chảy mãi không ngừng, chính Khổng tử cũng đã thấy trước điều ấy. Còn Thiên Chúa giáo đối với lịch sử chúng tôi, là một tôn giáo tuổi đời còn trẻ so với các tôn giáo trên kia.

M.G: Thế còn Lão giáo? (Taoisme)

N.V.L: Dân tộc Việt Nam vốn là một dân tộc vị tha và cần cù lao động, cho nên khó chấp nhận cái vị ngã của Dương Chu, cái vô vị của Lão Trang. Lão giáo ở Việt Nam, khá thưa thớt.

M.G: ở châu Âu, các chức sắc tôn giáo có uy tín trong dân, nhất là đối với những tôn giáo mạnh. Các thầy tu Phật giáo có được nhiều người quý trọng không?

N.V.L: Phật giáo ở Việt Nam gần như là một quốc giáo, nhân dân rất quý trọng các bậc chân tu. Trong lịch sử chúng tôi, từ 10 thế kỷ trước đã có những nhà sư trí thức lớn, nhiều thiền sư thi sĩ, nhiều thiền sư anh hùng. Các thiền sư Việt Nam có bản lĩnh rất độc lập. Câu thơ: Hựu hướng Như Lai hành xứ hành (việc gì phải đi theo con đường Như Lai đã đi) của một nhà sư nổi tiếng thế kỷ 12 là một thái độ tiêu biểu. Trừ một số ít kẻ mạo danh tu hành theo đuổi tham vọng không lành mạnh của họ, tuyệt đại đa số các vị chân tu và phật tử đều yêu nước.

M.G: Một vấn đề gắn liền với ý kiến của tôi nói ở trên, theo tôi, con đường đi của khoa học và con đường đi của tôn giáo có hiện tượng ngày càng xích gần nhau.

N.V.L: Vâng, có lẽ có hiện tượng ấy. Có người đã thử dùng vật lý lý thuyết về hạt nhân để chứng minh sắc và không của Phật. Nhưng gần nhau hay xa nhau cũng tùy theo quan hệ tương ứng và tùy thuộc lẫn nhau để tồn tại (interdépendance). Chắc anh biết Lucien Sève nhà triết học nổi tiếng của Pháp? Ông ta nói: “Các nhà vật lý đã đuổi thánh thần ra khỏi các vì sao”, đó là câu nói của một nhà khoa học đứng trong hàng ngũ của quần chúng cách mạng. Nhưng khi linh mục triết gia Teilhard de Chardin chủ trương: Vật chất thần thánh (matière sainte), cũng như sau đó, thuyết Tân sinh (néonatalisme) nói đến quyền năng thần linh trong vật chất, thì chúng ta biết rằng những nhà thần học ấy không thể không quan tâm đến thế thượng phong của chủ nghĩa duy vật. Đã có lúc Giáo hoàng tuyên bố Jésus là con một người thợ thủ công (artisan), 10 năm sau, ở Cộng đồng Vatican 2, ông lại nhấn mạnh thêm: Jésus là con một công nhân (ou - vrier). Sự xích gần ấy thể hiện một sự uyển chuyển nào đó về ý thức chính trị trong quan hệ tương ứng của xã hội.

Ngược lại, chúng ta cũng thấy có sự tách xa nhau. Chủ nghĩa hiện sinh từ hữu thần của Kierkégard đến vô thần của J. Pôn Sartre là cả một sự chuyển hóa gần như là một sự chia tay.

M.G: Anh có theo đạo nào không?

N.V.L: Xin tiến sĩ Thu Trang cho phép tôi được giây lát trở về lĩnh vực trữ tình của chúng ta. Về thơ, tôi thích câu nói của Lamartine: Con người là một trích tiên bị đọa xuống trần luôn nhớ về tiên cảnh (L’homme est un Dieu déchu qui se souvient descieux). Câu nói ấy chắp cánh cho thơ tôi. Nhưng tôi lại thích câu này của Stemdhal hơn: Cái lẽ độc nhất để miễn tội cho Chúa là Chúa không hề tồn tại (La seule excuse de Dieuc’ est qu’il n’existe pas). Anh Gaspard ạ, tôi xin nói với anh: tôi là một người vô thần. Nói thế không phải để phản đối những người hữu thần, vì tôn giáo là một nhu cầu tâm linh tự nhiên của con người.

M.G: Theo tôi, vẫn có những nét tương đồng trong nội dung các triết thuyết, các tôn giáo về phương diện nhân văn.

N.V.L: Tôi đồng ý với anh điều ấy. Sinh thời, Bác Hồ của chúng tôi có lần từng nói đại ý: Nếu ông Phật, ông Jésus còn sống đến hôm nay, chắc các ông sẽ ngồi cùng chúng ta, những người cách mạng. Tôi nghĩ rằng điều ấy không phải là thuyết hội tụ mà nên hiểu rằng những con người kiệt xuất ấy đều có những tình cảm yêu thương con người, tình cảm nhân văn đối với hàng triệu nhân dân lao động nghèo khổ, đối tượng mà Phật gọi là chúng sinh.

M.G: Nhân đề cập đến triết học, tôi nhớ đến Trần Đức Thảo một triết gia lỗi lạc mà chúng tôi vô cùng quý trọng.

N.V.L: Giáo sư Trần Đức Thảo mất là một tổn thất lớn đối với trí tuệ Việt Nam. Anh Thảo là một thiên tài. Thương quá, anh ấy chết trong cô đơn...

M.G (tiếp liền theo): Ghê gớm! (affreuse). Tôi được tin Trần Đức Thảo chết lúc tôi đang ở Coote d’lvoire (Bờ biển Ngà, một nước châu Phi), tôi vội bay về nhưng không kịp gặp anh lần cuối.

N.V.L: Tôi được gặp anh Thảo đôi lần ở Hà Nội những năm 56, 57. Tạp chí Nouvelles critiques (Phê bình mới – tạp chí lý luận của Đảng Cộng sản Pháp) nhiều lần trích dẫn Trần Đức Thảo. Anh Gaspard quen biết anh ấy nhiều không?

M.G: Khá thân, anh ấy là bạn của gia đình chúng tôi, tôi đang cộng tác với Trần Đức Thảo viết một phần trong công trình chung về triết học. Phần tôi đã xong, có thể xuất bản được vào giữa 1994. Lúc có sách, tôi sẽ xin gửi tặng anh. Cống hiến lớn của anh Trần Đức Thảo có nhiều mặt, trong đó một lĩnh vực rất quan trọng là nghiên cứu về quan hệ không gian và thời gian trong triết học. Gần đây, một phát kiến mới của anh ấy: Đưa thời gian vào thời gian (donner le temps au temps), môi trường không gian và ý thức con người có thể tạo nên những trạng thái thời gian không còn như cũ.

N.V.L: Vấn đề ấy có liên quan gì đến thuyết tương đối của Einstein không? Tôi chưa hiểu sâu về ý kiến của anh Thảo. Cảm thức co giãn về thời gian khi thì mang tính vật lý như trong các con tàu vũ trụ bay trong quỹ đạo quanh trái đất. Có khi lại là cảm thức triết học như trong các chuyện dân gian. Chuyện Từ Thức lên tiên, một năm ở cõi tiên bằng mấy kiếp người ở cõi trần. Trong thơ Nguyễn Du, một nhà thơ lớn của chúng tôi, cũng có sự biến dạng thời gian như thế trong lòng người: Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dồn lại một ngày dài ghê!

Ngược lại, không gian cũng biến đổi trong thời gian xa cách như trong một câu thơ khác của Nguyễn Du: Vẽ non xa, tấm trăng gần ở chung. Núi láng giềng thì xa, trăng vũ trụ lại gần! Điều ấy có vẻ phi  lý nhưng lại rất hiện thực trong quan hệ không gian triết học.

M.G: Trần Đức Thảo còn có cống hiến lớn lao hơn nữa nếu anh ấy có điều kiện thuận lợi hơn, có thời gian hữu ích trọn vẹn hơn.

N.V.L: Giáo sư Trần Đức Thảo là một nhân cách lớn. Qua bao nhiêu biến động trong cuộc đời anh, kể cả cuộc đời riêng, anh vẫn là anh với đầy đủ phẩm cách. Trần Đức Thảo từng đã chiến thắng bước ra cuộc giao tranh về triết học với J.P.Sartre, anh cũng chiến thắng bước ra cuộc giao tranh tâm lý của thời đại anh. Đến phút cuối đời, Trần Đức Thảo vẫn là một nhà marxiste hiện đại và yêu nước.

Thu Trang: Các anh say nhau thế! Đã đến lúc chia tay, xin cảm ơn bà Chủ tịch Hội và các bạn đã tổ chức cuộc gặp mặt thân mật và phong phú ý nghĩa này. Tạm biệt.

(Theo Tạp chí Kiến thức Ngày nay 11/1993)

-------------

Sau cuộc đối thoại, về Paris, giáo sư M.Gaspard viết thư cho nhà thơ Nguyễn Viết Lãm, thư có đoạn: “Trong cuộc đời tôi, có những giây phút hạnh phúc xiết bao mà ta được sống! đối với tôi, cuộc trò chuyện thân tình và phong phú này chính là những giây phút ấy, tôi dùng thì hiện tại vì nó luôn còn mới mãi” (Thư viết ngày 30/8/1993).




 
Một niềm tin lóe sáng!


Nguyễn Thị Thúy Ngoan


Cùng với nghề dạy học, những người vinh dự đứng trong ngành Y tế luôn được mọi người tin cậy, yêu mến, kính trọng và tôn vinh là “Thầy”- thầy thuốc. Bởi họ đóng góp phần công lao to lớn vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe của nhân dân, chăm lo việc phát triển tầm vóc thể chất của giống nòi. Không phải ngẫu nhiên mà thầy thuốc được vinh danh: “Lương y như từ mẫu - Thầy thuốc như mẹ hiền.”

Thế hệ những người thầy thuốc từ thập niên 90 trở về trước gặp muôn vàn khó khăn. Dù đồng lương ít ỏi, cuộc sống thiếu thốn, vất vả,  họ vẫn vì dân phục vụ, với tấm lòng vô tư, trong sáng; chữa lành cho người bệnh là một niềm vui…Họ đã nêu cao đạo đức phẩm chất  đúng với danh hiệu người thầy thuốc XHCN.

Nhưng những năm gần đây, đất nước bước vào hội nhập và phát triển. Mặt trái của cơ chế thị trường đã làm cho không ít người trong ngành y tế thoái hóa, biến chất. Họ thu lợi nhuận để làm giàu trên nỗi đau của người bệnh, trái với y đức có tự lâu đời  và lời Bác Hồ từng dạy.

Đó là nỗi niềm vô cùng bức xúc trong nhân dân. Người ta phàn nàn và ca thán rằng: đến với bệnh viện, đến với thầy thuốc chỉ có tiền, chứ bây giờ nói đến tình thì quá hiếm hoi (!?)

Thiết nghĩ, người bệnh là người đang gặp nguy cơ về sức khỏe, về tính mạng. Họ vào viện vì bệnh hiểm nghèo, nhất là các bệnh phải cấp cứu, bệnh ngoại khoa phải mổ, hoặc sản phụ đến ngày sinh…nhất thiết phải nhờ đến thầy thuốc, và đã nhờ thì phải có phong bì, tùy theo mức độ, tùy theo vùng miền…ở các ngành khác, kẻ có chức quyền mới được nhận phong bì, còn ở bệnh viện, từ bác sĩ đến y tá, hộ lí đều nhận phong bì.

Trung tuần tháng 1/2013 tôi từ Hà Nội về Hải Phòng có ngồi cùng ghế với một bệnh nhân 32 tuổi ở Bệnh viện K về, bị ung thư vú đã cắt bỏ một bên. Cháu kể chuyện không tiện nói cụ thể ra đây, chỉ biết nghe mà đau đến thắt lòng. Thanh toán viện phí mà cũng còn phải kẹp vào giấy tờ làm thủ tục 200.000đ, nếu không thì cứ chờ!

Người dân nghèo đã khổ trăm bề, vào bệnh viện phải chạy vạy, vay mượn, bán lợn, bán gà, bán thóc, gom góp lấy từng đồng bạc mà vẫn phải chuẩn bị một thứ tiền thật vô lý là phong bì. Bệnh nhân mổ, phong bì đã có giá cả sẵn, nếu đưa ít, có người đã bị trả lại. Y tá chăm sóc sau hậu phẫu mỗi lần tiêm, thay băng, tắm bé… đều được đút vào túi một hai chục nghìn tùy theo, nếu không sẽ bị tỏ thái độ thiếu nhiệt tình, làm bệnh nhân và người nhà lo ngại. Bức xúc bao năm rồi mà không biết kêu vào đâu? Bởi kêu chẳng thay đổi được gì có khi thiệt chính người nhà mình.

Giờ đây đã có một tin mừng - một niềm tin vừa lóe sáng! Kỳ họp lần thứ hai Quốc hội khóa XIII vừa thông qua Luật Phòng chống tham nhũng (sửa đổi) đã tạo được niềm phấn khởi, niềm tin trong nhân dân. Riêng về ngành y tế Bộ trưởng Nguyễn Kim Tiến đã thẳng thắn phát biểu trước Quốc hội khi trả lời chất vấn của các thành viên. Tôi đã chăm chú theo dõi  chương trình thời sự của VTV1 và thấy rằng, đó là sự nhìn nhận sâu sát toàn diện, trung thực những tiêu cực của ngành mình. Từ thực tế đó, Bộ trưởng đã hạ quyết tâm cho ngành y tế “Nêu cao tinh thần thái độ phục vụ, không tham nhũng nhận phong bì…Nếu có tố giác, chụp ảnh, phát hiện đúng với tội danh sẽ kiên quyết xử lý kỷ luật nghiêm khắc…”

Nội dung không mới, nhưng là tinh thần quyết tâm mới  “Những vấn đề cần làm ngay” mà có một thời chưa xa ta đã từng làm. Vấn đề chỉ đạo từ cấp bộ xuống cho từng địa phương quán triệt, thực hiện về Luật Phòng chống tham nhũng trong ngành như thế nào? Đó là việc cấp bách của  ngành y tế hiện nay để cởi được cái nút thắt vô hình đau đớn ấy.

Đó cũng là nguyện vọng của toàn dân. Mong rằng, niềm tin đã lóe sáng thì hãy bừng sáng và sáng mãi để hình ảnh đẹp của người thầy thuốc được trả về với danh hiệu như đã từng có./.


 


 
Nỗi lo vào năm học mới

 

Nguyễn Thị Thúy Ngoan

 

Trong xã hội ta có hai nghề cao quý được gọi là thầy: Đó là thầy giáo và thầy thuốc.

Từ những năm ở thập kỉ 90 trở về trước, hình ảnh của hai mẫu người ấy được nhân dân vô cùng kính nể.

Thầy giáo chăm lo sự nghiệp trồng người. Dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, thầy đã trang bị cho học trò một hành trang với đầy đủ kiến thức, đạo đức, lối sống. Tạo dựng cho các em một phẩm hạnh, ý chí vươn lên với tất cả phẩm chất tốt đẹp nhất.

Học trò như bày chim non, được chim mẹ dạy cho từ cách tập bay chuyền, cách hót ca khi bình minh đến… Và những con chim đã đủ lông, đủ cánh, rời ghế nhà trường, từng đàn tung lên bầu trời bay đi về phía chân trời xa rộng trên mọi nẻo đường đất nước, xứng đáng là những người con hữu ích cho gia đình và xã hội.

Thế hệ thầy, cô của thời xa ấy hoàn toàn chỉ sống với đồng lương mỏng như lá lúa, cơm hôi, mì mạch cũng không đủ no. Ngoài tiết dạy chính, còn bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém mà chẳng bao giờ có thêm một xu đồng bồi dưỡng, vẫn vô tư, tận tâm yêu nghề, yêu trò đến thế ! Họ xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ  Vì sự nghiệp trăm năm trồng người” và đúng nghĩa với danh hiệu nhân dân phong tặng “ Thầy giáo là kĩ sư tâm hồn”.

Còn bây giờ khi đất nước hội nhập và phát triển, số đông trở nên đua đòi hưởng thụ vật chất, không còn đúng nghĩa là tầng lớp trí thức nhà giáo, họ đang chạy đua với cơ chế thị trường. Chăm chăm kiếm tiền và mưu cầu địa vị, vun vén cho lợi ích cá nhân, làm giàu trên đồng tiền mồ hôi nước mắt của nhân dân.

Tôi thường ăn sáng ở quán đông người, được mắt thấy tai nghe những lời phàn nàn cay đắng của người cha, người mẹ, một nỗi lo đến thắt ruột, vào năm học mới chạy tiền đâu ra để đóng các khoản cho con.

Muốn xin cho con vào lớp mẫu giáo của trường mầm non, một phụ huynh nói: “Quen thân nên chỉ mất có 3 triệu, không quen thì 5,6 triệu”.

Còn xin vào các lớp chọn từ Tiểu học đến THPT ở thành phố đều phải chạy bằng phong bì, rải từ cô xin giúp đầu tiên, cuối cùng là đi cảm ơn thầy, cô hiệu trưởng với phong bì khá nặng tùy theo từng cấp. Lại còn các khoản tiền đóng học đầu năm.

Chiều 1/8/2012 tôi xem VTV1 đúng lúc phóng viên đang phỏng vấn phụ huynh học sinh ở một xã của tỉnh Phú Thọ. Nhân dân bức xúc đến vô cùng. ở vùng nông thôn nghèo mà đầu năm học đóng 3 triệu, và còn đóng đến 19 khoản thu khác. Riêng khoản xây dựng trường được miễn phí, thì cô giáo bảo phải đóng để xây dựng văn phòng Đảng ủy xã. Có gia đình hai, ba con đi học thì đứa lớn phải nghỉ cho đứa bé đi học.

Đó là một nỗi đau cho số phận những người dân nghèo. Trong khi đất nước đang phát triển, thì đó là một chuyện lạ.

Tìm hiểu thêm mới biết, chạy được cái chân hiệu trưởng, hiệu phó, hoặc sinh viên học xong xin được đi dạy học phải chạy mất số tiền khá lớn. Bây giờ muốn làm hiệu trưởng, hiệu phó phải thi, nghe có vẻ dân chủ và chất lượng lắm! Nhưng thực chất cấp dưới phải chạy cấp trên, chạy xong rồi về thu hồi vốn, về sau thu lãi…Tất cả là dân chịu hết!

Thiết nghĩ nghề thầy giáo thuộc tầng lớp trí thức, được đào tạo học hành bài bản, nhân dân

kì vọng ở họ rất lớn. Ra trường có công ăn việc làm, có lương ổn định với hệ số cao, thế là hạnh phúc lắm rồi. Nhưng đại đa số, nhất là ở thành phố họ mải mê làm giàu, quên mất “chữ tâm” của người thầy cao quý.

Xin chia sẻ cùng những người cha, người mẹ có con đang đi học. Kiến nghị với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo: Hãy quan tâm sâu sát nhiều hơn nữa. Đầu tư xây dựng thêm nhiều trường lớp cho con em nhân dân được đến trường vô tư, để những bậc cha, mẹ vơi bớt nỗi lo.

Người dân phải được đặt niềm tin và kì vọng vào những người được gọi là thầy với đủ lương tâm và trách nhiệm của họ. Vì trẻ thơ là mầm non tương lai tươi sáng của đất nước. Các cháu phải được chăm lo giáo dục, giáo dưỡng từ môi trường xã hội trong lành./.


 
Tọa đàm tiểu thuyết “thuyền nghiêng”

Tổng thuật

Phương Huyền

 

Tiểu thuyết “Thuyền nghiêng” (NXB Quân đội Nhân dân, 2011) của nhà văn Dương Thị Nhụn được khá nhiều độc giả, nhất là các nhà văn quan tâm. Đến tháng 6/2012, nghĩa là chỉ hơn nửa năm kể từ khi cuốn sách ra mắt bạn đọc, đã có năm bài viết gửi đến Tạp chí Cửa Biển, trong đó bài của nhà văn Đặng Văn Sinh (Hải Dương) được giới thiệu trên Cửa Biển tháng 5/2012. Nhà văn Cao Năm có tới ba bài đăng trên các báo An ninh Hải Phòng tháng 5/2012, tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam tháng 7/2012, báo Văn nghệ Công an ngày 6/8/2012. Nhận thấy việc thảo luận tiểu thuyết này không những giúp tác giả trong quá trình sáng tạo mà còn đặt ra những vấn đề cho sáng tác nói chung, ngày 2/8/2012 Hội Nhà văn Hải Phòng (Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng) đã tổ chức tọa đàm với sự tham gia của đông đảo các nhà văn và phóng viên các cơ quan báo chí trong thành phố.

Trên cơ sở các bài viết đã có, các nhà văn Cao Năm, Nguyễn Quốc Hùng, Phạm Xuân Trường và thạc sĩ Lương Kim Phương đã được mời tham luận; bài của các tác giả không có điều kiện có mặt như Bão Vũ (Hải Phòng), Nguyễn Duy Liễm (Quảng Ninh), Đặng Văn Sinh (Hải Dương) cũng được Ban tổ chức đọc thay. Không tham luận bằng văn bản nhưng phát biểu của nhà văn Vũ Hoàng Lâm, đánh giá của nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ và tổng kết của nhà văn Đình Kính với tư cách điều khiển tọa đàm cũng rất sâu sắc.

Đề dẫn của nhà văn Lưu Văn Khuê nêu ba vấn đề được đặt ra từ “Thuyền nghiêng”: 1) Dòng họ; 2) Tâm linh; 3) Nghệ thuật của tác phẩm. Nhìn chung các tham luận và phát biểu trong tọa đàm cũng tập trung vào ba vấn đề này.


1) Về vấn đề dòng họ:

Sau khi nêu dẫn chứng về mâu thuẫn dòng họ ở một xã tại Thái Bình được đọc trên báo và từ bản thảo tiểu thuyết cũng về sự kiện đó của một người bạn nhờ góp ý, Lưu Văn Khuê cho rằng dòng họ là hiện tượng đáng quan tâm, chứng tỏ Dương Thị Nhụn bắt mạch đúng một trong những vấn đề lớn ở của nông thôn hiện nay. Cao Năm trong tham luận “Thuyền nghiêng - Lời cảnh báo về văn hóa dòng họ” và Nguyễn Duy Liễm trong bài “Thuyền nghiêng” - một phát hiện của Dương Thị Nhụn” cũng nhấn mạnh nội dung này. Cao Năm viết: “Trong cái bề bộn và phức tạp của nông thôn thời thể chế thị trường, chị tách ra một vấn đề còn ít người nói tới, nhưng lại không kém phần thời sự ở nông thôn hiện nay, đó là làm thế nào để bảo tồn và phát huy truyền thống, hay rộng ra là văn hóa, dòng họ trước thử thách ngày càng gay gắt của thể chế thị trường, mà rõ nhất là sức mạnh của đồng tiền và sự phân hóa giàu nghèo đang len lỏi vào tận các dòng họ, làm xói mòn tập tục tốt đẹp từ bao đời trong dòng họ nói riêng, làng quê nói chung”. Nguyễn Duy Liễm cho rằng “Dòng họ là một kết cấu thu nhỏ của xã hội. Làng Đông Phong đang là một xã hội ồn ã! Câu chuyện được kể ra và khai thác đến triệt để mối quan hệ chằng chéo giữa một cộng đồng cùng huyết thống nhằm chuyển tải một ý tưởng văn học.”.

Các tham luận khác cùng chung quan điểm, cho rằng “Thuyền nghiêng” là lời cảnh báo về vấn đề dòng họ ở nông thôn, một sự cảnh báo cần thiết. Tác phẩm có những đoạn toát lên lời cảnh báo ấy: “Ba bề bốn bên là nước. Mảnh đất làng Đông Phong, nơi trú ngụ của dòng họ Hoàng cùng với ba chục dòng họ khác giống như một con thuyền mà bên này chênh vênh với bên kia đến mười lăm độ - con thuyền ấy đang nghiêng”, “Mỗi con dân đang nghĩ chuyện làm thế nào để làng tránh khỏi tai ương; làm thế nào để các dòng họ đoàn kết muôn người như một; làm thế nào để trai gái trong làng có thể kết thân với nhau… và làm thế nào người ta sống bằng chính những điều tốt đẹp làm nên bản chất người thôn quê? Làm thế nào bây giờ? Đình chùa có cân bằng phong thủy được không? Một thủ lĩnh có thể đứng ra giải quyết các mối bất hòa hay không?... Có lẽ phải chờ thời gian”.

Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng giá như tác giả nhìn con người và cuộc sống nông thôn tươi sáng hơn một chút thì hay bao nhiêu! Trong “Cảm hứng giải thiêng trong tiểu thuyết Thuyền nghiêng” - Lương Kim Phương viết: “Trong Thuyền nghiêng, cái Đẹp không hoàn toàn vắng bóng nhưng thưa thớt”. Duy nhất một cặp đôi hạnh phúc là Hãn và Vớ trong tác phẩm. Nhưng “làm sao có thể bình an với niềm tin cổ tích pha thứ tín ngưỡng dân gian ấy”- Lương Kim Phương nghĩ về cặp đôi đó như vậy và những ai đã đọc “Thuyền nghiêng” chắc chắn cũng nghĩ như vậy, chỉ có điều phải cảnh tỉnh để nhận thức rằng “những giá trị ngoại vi, phi chính thống cũng đều cần được thừa nhận”.

Từ thực tế tham gia Hội Khuyến học, Vũ Hoàng Lâm nói đến mặt tích cực trong dòng họ ở nông thôn hiện nay như việc nhiều họ tích cực xây dựng quỹ khuyến học để con em mình không lâm vào cảnh thất học. Bão Vũ trong “Tiểu thuyết viết về nông thôn và tác phẩm Thuyền nghiêng” lại cho rằng ruộng đất mới là vấn đề quan trọng ở nông thôn và với người nông dân: “Đó là điều sống còn của nông dân nhiều đời nay. Ruộng đất chi phối đời sống tinh thần và vật chất của người nông dân. Những phát triển kinh tế xã hội, quá trình đô thị hóa nông thôn luôn đi đôi với những bi kịch về ruộng đất như chúng ta đã thấy và đang thấy”.


2) Về vấn đề tâm linh:

Lưu Văn Khuê cho rằng tâm linh là hiện tượng xã hội cần được tôn trọng nhưng nói đến thì nhiều viết ra còn ít, vậy mà những vong nhập, hướng nhà, thế đất, tai vạ từ việc phá đình chùa được Dương Thị Nhụn nhận thức một cách nghiêm túc và viết ra không hề e ngại, thậm chí còn coi đó là nguyên nhân dẫn đến mọi điều tồi tệ. Cái chính là tác giả viết và người đọc chấp nhận được. Nguyễn Duy Liễm viết: “Vì không tìm ra căn nguyên gây nên cái không khí hỗn độn, u ám bế tắc ở làng Đông Phong làm họ Hoàng lúng túng khiến người ta tìm cách xoay trở lại hướng từ đường – xoay một thứ tĩnh mong thay đổi để trấn được cái động, đó là con người”.

Tuy nhiên với tham luận “Cảm nhận Thuyền nghiêng”, Nguyễn Quốc Hùng lại băn khoăn: “Mọi tình tiết dẫn tới xung đột thì người làng Đông Phong, người họ Hoàng đều bất lực, phải nhờ tới những yếu tố tâm linh như nhập đồng, người âm giải quyết. Đọc xong “Thuyền nghiêng” độc giả không khỏi day dứt, bão qua đi vạn vật sẽ yên bình mà không cần sự tác động của con người ?”.

Tuy cho rằng các yếu tố tâm linh trong “Thuyền nghiêng” là chấp nhận được, Lưu Văn Khuê cũng nghĩ tác giả hơi lạm dụng, nhiều hiện tượng có thể chọn cách khác chứ không nhất thiết phải bằng vong nhập, cũng có thể do tác giả gặp bí khi cần thúc đẩy câu chuyện nên đưa chuyện tâm linh ra để “gỡ nút”. Cao Năm cũng đồng tình như vậy và còn cụ thể hơn: “Trong ba lần nhà văn sử dụng yếu tố tâm linh để “gỡ nút” tiểu thuyết này, có lẽ chỉ một lần Công “nhập hồn” Hải nói ra vanh vách sự thật về ông Húng ở chiến trường là có tính “bước ngoặt” nâng tầm tư tưởng của tiểu thuyết hơn cả. Còn lại hai lần “nhập hồn”, nhất là lần Công “nhập hồn” cụ tổ họ Hoàng xưng xưng nói chỉ có ngu mới xoay lại hướng nhà thờ họ thì ít tác dụng, vì việc xây nhà thờ họ đến đấy cũng đã ngã ngũ, có tình tiết “nhập hồn” này chỉ làm câu chuyện thêm tròn trặn và có phần khiên cưỡng”.

Vũ Hoàng Lâm nhìn vấn đề ở khía cạnh khác, cho rằng chúng ta “nhìn” tâm linh bằng con mắt người trần. ở thế giới bên kia các vong hồn sống nhân hậu chứ không làm điều ác, thằng Tố không đáng bị gãy chân! Nhà văn cho rằng, không phải từ tâm linh mà bản thân mỗi chúng ta cần biết sống sao cho tốt đẹp. Làng Đông Phong và họ Hoàng cần phải có đường lối đúng đắn và người lãnh đạo đủ năng lực và uy tín.

Cần phải lưu ý đến vấn đề cảm hứng nghệ thuật chủ đạo của tác giả. Cảm hứng chủ đạo là tình cảm mãnh liệt nhất xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, thể  hiện ở mọi yếu tố trong tác phẩm, từ nội dung đến hình thức, ở tầm bao quát nó là cảm hứng bi, hùng, cảm thương, ngợi ca, phê phán, lãng mạn, trữ tình hay trào lộng… ở tầm chi tiết rất có thể nó là cảm hứng giải thiêng như  nhận định của Lương Kim Phương: “Tôi ngờ rằng Dương Thị Nhụn không nhìn văn hóa làng xã, văn hóa dòng họ mà chủ yếu chị muốn nhìn đời sống xã hội từ cảm hứng giải thiêng”, “chi tiết chiếc xẻng đâm phập vào làm bay một ống chân Tố trong lúc làm lễ xoay hướng nhà thờ tổ dù là chi tiết lộ rõ sự can thiệp của người viết nhưng càng làm sáng tỏ ý đồ, cảm hứng giải thiêng của tác phẩm”.


3) Nghệ thuật của tác phẩm:

Hầu hết các tham luận đều khẳng định thành công của “Thuyền nghiêng” trong cách dựng chuyện, kể chuyện, trong cách xây dựng nhân vật. Phạm Xuân Trường trong “Thuyền nghiêng” trên cạn viết: “Bức tranh làng quê được nhà văn với ngòi bút sắc sảo như dao lá lúa lách vào từng thớ thịt của xã hội mà lật ra từng mảng… “Thuyền nghiêng” với đầy hình ảnh lớp lang cuộn xoắn vào nhau, lời thoại ngắn, đanh và suy tư nội tâm của các nhân vật được thể hiện bằng ngôn ngữ mộc mạc…”.

Tựu trung lại có thể đồng tình với Đặng Văn Sinh: “Là tiểu thuyết đầu tay nhưng “Thuyền nghiêng” được xem như một tác phẩm viết khá chuyên nghiệp. Tính chuyên nghiệp ở đây không chỉ dừng lại ở nội dung phản ánh hoặc hình thức biểu hiện mà dường như đã đạt đến độ cân đối khi tác giả xác lập được một tiêu chí thẩm mỹ của riêng mình”.

Các tham luận cũng mạnh dạn góp ý với tác giả. Cao Năm cho rằng “đôi chỗ cần sự chăm sóc kỹ hơn nữa”. Lương Kim Phương nghĩ “tác giả cần bớt miên man trong một số đối thoại để gia tăng các dòng độc thoại nội tâm, dòng ý thức, hồi ức để tăng tính khơi mở” ở bạn đọc, đồng thời cũng cần công phu hơn trong kỹ thuật tiểu thuyết…

Tổng kết tọa đàm nhà văn Đình Kính khẳng định những thành công của “Thuyền nghiêng”: Cái mạnh của văn học chúng ta là viết về nông thôn. Nhà văn Dương Thị Nhụn đã bắt mạch đúng một trong những vấn đề của nông thôn hiện nay. Tên sách hàm ý sâu sắc, cách viết hấp dẫn, câu chuyện ấn tượng với nhiều yếu tố bất ngờ. Chi tiết tâm linh trong “Thuyền nghiêng” hay chỉ tiếc chưa được nhuyễn. Nó làm liên tưởng đến chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của Gabriel García Marquez. Văn chương là hư cấu để nói lên bản chất của sự thật. Giá tác giả trau chuốt hơn nữa trong văn chương tác phẩm sẽ thành công hơn.

Hoàn toàn có thể khẳng định thành công của tọa đàm về tiểu thuyết “Thuyền nghiêng”.


 

 
Lục bát có phải là Lộc phát

Người Trung Quốc dùng chữ tượng hình. Nó không chỉ để ghi lại phát âm mà còn biểu hiện chữ đó có nội dung thuộc lĩnh vực nào. Vì vậy, chữ tượng hình của Trung Quốc tương đối đa dạng, số lượng chữ cũng khá nhiều.

Phát âm của người Trung Quốc thường đơn giản, phụ âm và nguyên âm ít, cho nên từ phát âm Trung Quốc cũng ít. Âm của người Trung Quốc phát ra cũng có các thanh, đó là: Bình, thượng, khứ, nhập.

Khác hẳn với tiếng Việt dùng chữ quốc ngữ, một âm được biểu diễn bằng một chữ, và ngược lại một chữ chỉ được đọc thành một âm (ở đây chỉ tính đến từ ngữ chuẩn phổ thông, không tính đến phát âm có yếu tố vùng miền). Một từ phát âm của người Trung Quốc có thể viết thành nhiều chữ, hoặc ngược lại, nhiều chữ Trung Quốc được đọc cùng bằng một âm.

Người Trung Quốc có cách chơi chữ đồng âm, nghĩa là dùng các chữ viết khác nhau, có nghĩa khác nhau để thay thế cho nhau trong một số trường hợp cụ thể.

Có câu chuyện vui về một cậu bé lười học, nhưng lại mê Thủy Hử của Thi Nại Am. Cậu bé bị bố mắng: “ Con không học hành cho tử tế, lớn lên sẽ thành vô dụng!”. Cậu bé reo lên: “ Bố bảo con sau này sẽ trở thành Ngô Dụng ư! Thế thì hay quá!”. Trong câu chuyện này Vô dụngNgô Dụng, viết khác nhau và nghĩa hoàn toàn khác nhau, nhưng âm Bắc Kinh đều đọc là “wú yòng”. Khi viết không thể nhầm lẫn, nhưng khi nói do phát âm nên có thể bị nhầm lẫn. Người Trung Quốc thường chơi chữ theo cách này.

Chữ “Phúc” trong hạnh phúc, nghĩa là tốt đẹp, may mắn có phát âm theo tiếng Bắc Kinh là “phu” (fú), chữ “Bức” nghĩa là con dơi cũng phát âm là “phu” (fú), cách viết gần giống nhau, chỉ khác là ở chữ Phúc có bộ Y, còn chữ Bức có bộ Trùng. Người ta dùng hình ảnh con dơi để tượng trưng cho chữ Phúc. Trên nhà cửa, vật dụng, đồ trang trí có hình ảnh con dơi cách điệu được vẽ ở vị trí trang trọng. Người Việt ta cũng học theo cách chơi này, trên một số nhà xây dựng cách đây vài chục năm, trên quan tài cũng được vẽ hình ảnh con dơi cách điệu.

Ở nước ta, trong dân gian, người ta cũng chơi chữ đồng âm, khác nghĩa. Ví dụ: Bà già đi chợ Cầu Đông/Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng/Thày bói gieo quẻ phán rằng/Lợi thì có lợi, nhưng răng chẳng còn.

Trong câu này, bà già muốn đi xem bói việc lấy chồng có lợi (ích lợi) không, nhưng thày bói lại bảo rằng: “Lợi thì có lợi, nhưng răng chẳng còn”, lợi ở đây là răng-lợi, già rồi răng rụng hết thì chỉ còn trơ lợi. Cách chơi chữ Lợi đã gây tính hài hước trong bài ca dao này.

Người chơi số xe, số sim điện thoại coi số 6-8 là con số lục-bát, và giải thích là theo cách chơi chữ đồng âm của người Trung Quốc sẽ là chữ “Lộc-Phát”, nghĩa là có lộc phát, còn cặp số 7-8, thì họ lại gọi là “Thất- Bát”, có nghĩa là mất mát ngay, chả cần nói trại.

Người ta xuất bản tập thơ lục bát, họ cũng  gọi là tập thơ Lộc Phát, ngày 6-8 âm lịch cũng được gọi là ngày Lộc Phát. Thực ra cách gọi lục bát thành lộc phát chưa có cơ sở  và cách chơi đồng âm khác nghĩa cũng chưa chuẩn xác.

Theo cách phát âm của tiếng Bắc Kinh, chữ  6 và 8  mà theo âm Hán-Việt viết là lục-bát được đọc là liù bã. Âm “liù” trong tiếng Bắc Kinh chỉ có các từ đồng âm khác nghĩa là các từ: liù - số 6, liù - dòng chảy, liù – trát, chít, liù - dạo chơi, liù - hấp…không liên quan gì đến chữ lù fã (lộc),  âm “” có các từ đồng âm: - số 8, – cái bừa, – bám bíu,- sẹo, - bờ giậu… không liên quan gì đến chữ lù fã (phát) cả. Như vậy, nếu chơi chữ đồng âm khác nghĩa theo liù bã khác hẳn với lù fã.

Vì vậy, chữ lộc phát theo âm Hán Việt được đọc là lu fa, khác hẳn cách đọc của lục bát liu ba, nên không thể chơi đồng âm liu ba thành lù fã được.Kiến trúc sư Phạm Cương, một chuyên gia phong thủy cũng cho rằng:  “Nếu phát âm theo đúng nghĩa tiếng Việt là lục bát lại không mang ý nghĩa tài lộc, không chứa nhiều giá trị.”

Như vậy, cách gọi trại lục bát thành lộc phát là không có cơ sở. Theo cách chơi đồng âm khác nghĩa của người Trung Quốc  và theo cách gọi của người Việt thì lục bát chỉ đồng nghĩa với lục đĩa, lục nồi, lục niêu như một số người thường nói vui.

Cách chơi đồng âm khác nghĩa của người Việt chỉ mang tính hài hước và truyền miệng trong dân gian, ít khi được coi là văn chính thống đăng trên báo chí, không có cơ sở khoa học.  Việc chơi số xe, số sim điện thoại không mang nhiều ý nghĩa, còn việc một trang thơ lục bát chính thống trên mạng lại dùng cách chơi này vừa không chính xác, vừa không có giá trị gì cho lắm./.


Phạm Thanh Cải



 
«Bắt đầuLùi123456Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)