Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 14 khách Trực tuyến
Thảo luận
Nghĩ về sắc thái văn học Hải Phòng

Dưới tiêu đề “Giữ gìn, phát huy sắc thái văn hoá địa phương trong sáng tác văn học nghệ thuật”, cuộc hội thảo truyền thống lần thứ VI năm 2011 của nhóm 8 Hội Văn học nghệ thuật các tỉnh, thành phố phía Bắc (VN8) được tổ chức ngày 24/11 tại Ninh Bình. Cửa biển xin giới thiệu tham luận của nhà thơ Nguyễn Thanh Tuyên (Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng) trong hội thảo.


Cửa biển Hải Phòng, thành phố Hoa Phượng Đỏ, nơi đầu sóng ngọn gió từ bao đời luôn phải gồng mình đối chọi với thiên tai, địch họa, hứng chịu bao gian lao vất vả. Từ thời Hai Bà Trưng, nữ tướng Lê Chân được giao trấn ải đất Hải Tần phòng thủ giữ vị trí tiền tiêu khu vực Đông Bắc. Hải Phòng trong lịch sử lâu dài đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, đã hình thành nên một vùng đất văn hiến vừa đậm đà văn hóa Việt vừa có sắc thái riêng độc đáo. Qua các thời đại đã để lại những kiến trúc đền miếu, đình chùa, đài tháp; những làng nghề, với nghệ thuật tạc tượng, múa rối nước, ca trù, hát Đúm, lễ hội chọi trâu... là những dấu ấn văn hóa đặc sắc giầu chất nhân văn.

Trong quá trình phát triển của thương cảng và phố thị, Hải Phòng thành chốn hợp lưu, quần cư. Người tứ xứ tha hương tới đây trú ngụ góp phần hình thành nét văn hóa đa dạng, đan xen, tạo ra nét đặc thù phong phú, sinh động cho văn chương xứ sở. Chính mảnh đất này đã nhen nhóm cảm hứng sáng tạo, đã làm nên tên tuổi nhiều văn nghệ sĩ. Hơi thở của vùng miền ăn sóng nói gió, đậm phong vị mặn mòi, giầu chất biển cả đã ùa vào trong tác phẩm của họ.

5

Nhà thơ Nguyễn Thanh Tuyên đọc tham luận tại hội thảo
Ảnh: Hoàng Vũ

 

Người Hải Phòng tự hào ngay từ những năm 30 của thế kỉ XX, Thế Lữ mở đầu cho phong trào Thơ mới. Trần Tiêu,  Khái Hưng khởi tạo một xu hướng sáng tác của Tự lực Văn đoàn. Rồi Văn Cao đa tài, Nguyễn Huy Tưởng sâu sắc ý nhị, Nguyễn Đình Thi lịch lãm, sang trọng...đều xuất phát điểm từ vùng cửa biển đầy sóng gió này.

Đặc biệt, Hải Phòng có một nhà văn gắn bó với những phận người cùng khổ lam lũ trong những ngõ hẻm, đường tàu, bến sông, bãi chợ, xóm nghèo... và nhức nhối đau với từng nỗi đau của những thân phận khốn cùng - Đó là Nguyên Hồng. Hiện thực chua chát được phơi bày trong thiên tiểu thuyết Bỉ vỏ sắc sảo, tài hoa của ông ngay từ tuổi vị thành niên. Những địa danh, những khuôn mặt bần hàn của bao kiếp người xô giạt vào trong ông , giúp ông viết hàng loạt truyện ngắn và bộ tiểu thuyết đồ sộ mang tên Cửa biển gồm 4 tập: Sóng gầm, Cơn bão đã đến, Thời kì đen tối, Khi đứa con ra đời. Mồ hôi, nước mắt của Nguyên Hồng đã hóa thành tài sản quốc gia .

Đất Cảng còn là nơi góp phần nuôi dưỡng nhiều văn tài khác. Thành phố Hải Phòng mãi mãi lưu giữ những kỉ niệm khó quên một thời từng sống, từng góp phần rèn giũa những cây bút như Nguyễn Quang Thân, Thanh Tùng, Nguyễn Khắc Phục, Chu Văn Mười, Nguyễn Thụy Kha, Vân Long, Trung Trung Đỉnh, Lê Điệp, Nguyễn Tùng Linh...

Văn nghệ thành phố Hoa phượng đỏ luôn có sự kế thừa và phát triển. Hiện nay Hội Nhà văn Hải Phòng (1 trong 9 thành viên của Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng) có 123 hội viên gồm 81 tác giả thơ và 42 tác giả văn xuôi (trong đó có 26 người là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam).

Một số nhà văn miệt mài lao động văn chương từ thời chống Pháp như Nguyễn Viết Lãm, Nguyễn Dậu, Mai Vui... Kế theo là lớp nhà văn thời chống Mỹ như Bùi Ngọc Tấn, Thi Hoàng, Trịnh Hoài Giang, Đoàn Lê, Lưu Văn Khuê, Phạm Ngà, Nguyễn Thanh Toàn, Trần Lưu, Vũ Hiển, Vũ Châu Phối,Trần Quốc Minh, Trần Tự, Nguyễn Thị Hoài Thanh...

Sau 1975, Hải Phòng xuất hiện nhiều tên tuổi mới như Bão Vũ, Vũ Thị Huyền, Dư Thị Hoàn, Mai Văn Phấn, Đồng Đức Bốn, Tô Ngọc Thạch, Phạm Xuân Trường, Hoài Khánh, Thúy Ngoan... Họ đã đóng góp đáng kể cho văn học thời kì đổi mới. Chỉ tính trong 10 năm gần đây, các nhà văn Hải Phòng đã cho ra mắt trên 100 đầu sách. Bao gồm hơn 10 tiểu thuyết, hàng chục tập truyện ngắn và hơn 60 tập thơ. Một số truyện đã được chuyển thể dựng phim nhựa, phim truyền hình. Tính từ năm 2000 đến nay các nhà văn, nhà thơ đất Cảng cũng giành được nhiều giải thưởng, đặc biệt nhà thơ Thi Hoàng được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Chúng tôi không có tham vọng trình bày toàn cảnh văn học Hải Phòng, cũng thật khó điểm qua được những tác phẩm góp phần làm lên diện mạo văn học trong giai đoạn đổi mới, chỉ xin nêu một số gương mặt tiêu biểu:

1. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn : Văn ông có sức nặng và chiều sâu chắt ra từ hiện thực đất Cảng, từ những oan trái của số phận người. Ngòi bút của ông tinh anh, thâm hậu, trầm tĩnh. Truyện của ông hấp dẫn người đọc bởi sự dung dị mà hài hước hóm hỉnh. Ông mổ xẻ bóc trần cái xấu, cái ác, khao khát vươn tới cái thiện, cái đẹp ở cõi người. Nhiều tập như Viết về bè bạn, Người chăn kiến , Biển và chim bói cá... Mấy ai hay, ông vừa là tác giả vừa là nhân vật trong truyện. Sách của ông được tái bản và đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp.

2.Nhà văn Bão Vũ: Một kiến trúc sư lịch lãm, uyên bác. Hàng loạt tác phẩm phong phú về đề tài, văn phong sang trọng, trí tuệ và bay bổng như: Thung lũng ngàn sương, Vết thương trong không gian, Hỗn hương, Ván bài tỷ điểm tử, ...với các tập truyện ngắn, tiểu thuyết: Mây núi Thái Hàng, Cánh đồng mơ mộng, Biển nổi giận, Hoang đường, Vĩnh biệt vườn địa đàng,…đã khiến Bão Vũ đoạt nhiều giải cao của báo Người Hà Nội, báo Văn nghệ,  Hội Nhà văn Việt Nam. Tác phẩm của ông có mặt trong nhiều tuyển tập truyện hay của các nhà xuất bản. Một số tác phẩm của Bão Vũ được dịch ra tiếng Anh và nhiều truyện được đưa lên phim.

3. Nhà văn Đình Kính: Từng là lính Hải quân, nên ông rất thành công trong khai thác đề tài chiến tranh. Ông truy tìm và nhận diện thương tổn chiến tranh, phát hiện những éo le thân phận cũng như những bi kịch nghiệt ngã sau cuộc chiến. Ông xúc động trước sự hy sinh thầm lặng của bao đồng đội mình. Biển Đông đã cuộn sóng trong 14 tập sách bao gồm tiểu thuyết, truyện và kí của ông. Nhà văn Đình Kính đã được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cho tiểu thuyết Sóng chìm. Ông có một số kịch bản phim được trình chiếu trên màn ảnh nhỏ.

4. Nhà thơThi Hoàng: Là nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ. Sự cách tân bền bỉ đã đem lại hiệu quả thẩm mỹ cao đóng góp cho nền thi ca đất nước. Thi Hoàng kì công xây dựng hình tượng trong thơ và làm sang làm đẹp thơ bằng trau chuốt sáng tạo ngôn từ. Đọc Gọi nhau qua vách núi, Bóng ai gió tạt, Đom đóm và sao,  Ba phần tư trái đất ... ta thấy ông quan sát tinh tế, giàu suy tưởng và luôn bột phát những suy nghĩ xuất thần. Thơ Thi Hoàng chứa đựng những triết lí bền vững.

5. Nhà thơ Đồng Đức Bốn: Được gọi là Thi sĩ đồng quê bởi lục bát là bản năng của ông. Đồng Đức Bốn mang chất quê, ngông ngạnh nhưng biết kế thừa của thể thơ mang hồn cốt Việt lại hiện đại hóa nó bằng vốn từ vựng không quá giàu có của mình.Tài hoa của một người được công nhận bởi làm ra những câu lục bát lấp lánh từ ngôn ngữ dân dã, quê kiểng.  Một cuộc đời thơ không dài nhưng ông để lại tới 600 bài thơ thì thật đáng khâm phục.

6. Nhà thơ Mai Văn Phấn : Quê tận Kim Sơn, Ninh Bình, nhưng thơ có hồn biển trong gió lộng và cánh sóng Hải Phòng. Sau thời kì đầu làm thơ ghi lại cảm xúc bằng những thể thơ truyền thống, ông mạnh dạn rẽ ngang đi tìm hướng mới cho riêng mình. Ông dồn nhiệt huyết thể nghiệm thơ, quyết liệt đổi mới thi pháp. Và Mai Văn Phấn đã thành công. Thơ ông thường không vần điệu, ít nhịp phách, hiệu quả ngôn ngữ phát huy cao nhờ vào tài bố cục và sắp xếp từ vào những dạng thức khác nhau trong không gian nhiều chiều. Đọc thơ ông không dễ, đòi hỏi nghiền ngẫm và dành nhiều thời gian. Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn đã tạo ra hiện tượng văn học đất Cảng.

Còn có thể kể ra nhiều tên tuổi góp phần làm nên diện mạo đặc sắc của văn chương Hải Phòng như Phạm Ngà, Lưu Văn Khuê, Hồ Anh Tuấn, Kim Chuông, Vũ Thị Huyền...Lại có nữ sĩ đa tài như Đoàn Lê đã thành công trên nhiều lĩnh vực như văn học, điện ảnh và hội họa. Đặc biệt nhà thơ Trần Quốc Minh yếu đau nhưng đã viết về Hải Phòng với 1700 câu trong trường ca Gió thổi từ biển. Hay nhà văn Nguyễn Dậu có 30 đầu sách, nhưng những ngày lâm bệnh cuối đời vẫn run rẩy viết, để lại 100 trang bản thảo  cuốn tiểu thuyết dang dở về Hải Phòng nơi ông đã sống. Sự lao động nghệ thuật của họ thật đáng cảm phục.

Những văn nghệ sĩ chân chính thật sự tự hào khi góp phần điểm tô màu sắc rực rỡ cho mỗi cánh phượng đỏ của một Hải Phòng đang mở cửa hội nhập với cả nước và thế giới./.


 
Tầm nhìn từ năm con rồng
Nguyễn Hữu Tuấn


Theo thuyết “luân hồi” mười hai con giáp, thì năm nay là năm Nhâm Thìn 2012, chúng ta không thể không liên tưởng đến xuân Nhâm Thìn 1952, cách đây tròn 60 năm, theo phong tục tết cổ truyền, Bác Hồ gửi thơ chúc tết đồng bào và chiến sĩ cả nước, có những câu thơ mang tính dự báo thiên tài của vị lãnh tụ: “Xuân này, xuân năm Thìn/ Kháng chiến vừa 6 năm/ Trường kỳ và gian khổ/ Chắc thắng trăm phần trăm...”


Thế là, chỉ sau gần 5 năm rưỡi ngày đêm chiến đấu, cuộc kháng chiến đến đích cuối cùng bằng trận chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954), đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp, ghi mốc son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam.


Điều đặc biệt cũng vào ngày mồng một tết  Nhâm Thìn năm đó, Báo Nhân dân ngày 27/1/1952, đăng bài nói chuyện của Bác Hồ với đồng bào và bộ đội. Sau khi tóm tắt tình hình thế giới và trong nước, Bác Hồ nêu những việc làm cụ thể để phục vụ kháng chiến: “Muốn làm trọn nhiệm vụ thì chúng ta phải chống nạn tham ô. Tham ô là lấy của công làm của tư, tham lam gian lận, không thương tiếc tiền gạo do mồ hôi nước mắt của đồng bào và xương máu của chiến sĩ làm ra, là có tội với Tổ quốc. Người phạm tội có tội đã đành. Người thấy tội tham ô mà không nêu ra, cũng như có tội”.


Ngày nay, với thành tựu phát triển khoa học kinh tế văn hoá, trong khi tệ nạn tham nhũng tràn lan, không loại trừ bất cứ một châu lục, quốc gia nào; Thậm chí tham nhũng đã trở thành “quốc nạn” ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam, thì những lời căn dặn, chỉ bảo và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống tham nhũng mà Người khởi xướng cách đây 60 năm vẫn nguyên giá trị, nóng hổi tính thời sự, mang tầm nhìn chiến lược toàn cầu trong thời đại chúng ta.


Có thể nói, hiện nay cuộc chiến chống tham nhũng diễn ra trên quy mô toàn cầu. Đã có140 nước thành viên chính thức, trong đó có Việt Nam gia nhập Công ước của Liên hiệp quốc về chống tham nhũng. Tại Hội nghị quốc tế chống tham nhũng lần thứ 14 ở thủ đô Băng Cốc (Thái Lan) có 130 nước tham dự, thu hút gần 1.500 chuyên gia chống tham nhũng, tổ chức 50 cuộc Hội thảo trao đổi kinh nghiệm, vạch ra chiến lược và tìm giải pháp áp dụng có hiệu quả các hướng dẫn chống tham nhũng toàn cầu (Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh, ngày 9/11/2010). ở Lilbêria, Tổng thống Ellen Johson Sirleaf, công bố sắc lệnh bảo vệ người tố cáo tham nhũng, đồng thời thưởng cho người cung cấp thông tin 5% khoản tiền thu hồi từ hành vi tham nhũng. Ngạn ngữ có câu “Phía sau thành công của người đàn ông có bóng dáng người phụ nữ”, còn ngược lại, tại Trung Quốc những năm qua, sau lưng nhiều quan tham, đã bị các bà vợ đẩy chồng vào tù hoặc đưa chồng xuống “âm phủ”. Như vụ Mã Đức, nguyên Bí thư Thành uỷ Tuy Hoá (tỉnh Hắc Long Giang) bị tử hình, còn vợ là Điều Mã Chi - “túi tiền” của quan tham Mã Đức bị phạt tù chung thân vì can tội đồng loã  với chồng  7 lần nhận hối lộ với số tiền 3,7 triệu nhân dân tệ (7,4 tỷ đồng Việt Nam). Đã có nhiều quan tham khi lãnh án tù đã nói “Nếu tôi có một người vợ tốt, biết can ngăn, khuyên bảo chồng kịp thời thì sẽ không có sự việc như ngày hôm nay” (Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh, ngày 31/8/2005). Đây có thể coi như lời cảnh báo không chỉ đối với các quan tham Trung Quốc hãy tỉnh táo trong ứng xử các mối quan hệ trong gia đình có dính líu đến tiền bạc, đừng để “gậy ông không bằng còng bà” mà có ngày “quan bà” đưa các vị “quan ông” vào tù. ấn Độ, nước đông dân thứ 2 trên thế giới, mới đây đã đưa vụ tham nhũng mang tên “xì căng đan 2G” và mở phiên toà xét xử ngày 11/11/2011 được mô tả là kỷ lục của mọi kỷ lục, với số tiền gây thiệt hại 40 tỷ USD. Cùng trên ghế bị cáo là 14 nhân vật, trong đó có cựu Bộ trưởng Bộ Truyền thông (Báo Tuổi trẻ, ngày 16/11/2011).


Như vậy, mới chỉ điểm qua vài vụ tham nhũng nêu trên đây, cho chúng ta thấy cuộc chiến chống tham nhũng của Việt Nam cũng như cộng đồng quốc tế tuy không “khói súng” nhưng rất cam go, quyết liệt và còn lâu dài..., bởi lòng tham con người “gục ngã” trước ma lực đồng tiền, kéo theo  nó là  những vụ tham nhũng lớn, lại có ô dù bao che, “bảo kê” nên rất khó phát hiện phanh phui vì liên quan, dính líu đến quan chức có quyền lực, các “đại gia” có “máu mặt” (nhiều tiền)hoặc các “cậu ấm cô chiêu” (con ông cháu cha). Đó là lực cản lớn, không chỉ làm cho cuộc chiến chống tham nhũng có nhiều lúc, ở nhiều nơi “chùng xuống” mà nó còn kéo theo hệ luỵ xấu về mặt xã hội, đạo đức xuống cấp, bởi lối sống “gấp”, “thực dụng” của những kẻ làm ăn phi pháp, quan tham nhũng nhiều tiền, sống phè phỡn, bao gái, được phản ánh từ thực tế cuộc sống qua những câu truyền miệng trong dân “Tre già tre cọc/ Quan tham càng già, càng lắm lộc, nhiều mưu/ Ba tháng buôn đó, chạy đâu/ Không bằng nửa ngày bồ bịch với sếp”. Qua đó, nhân dân bức xúc, giảm lòng tin vào kết quả chống tham nhũng. Theo số liệu điều tra của phòng Nghiên cứu, thăm dò dư luận xã hội (Ban Tuyên giáo Thành uỷ  TP Hồ Chí Minh), năm 2009 chỉ có 19,3% người được phỏng vấn cho rằng việc chống nạn quan liêu, tham nhũng có chuyển biến tốt (năm 2008 tỷ lệ này là 22,8%). Tỷ lệ người dân cho rằng vấn đề chống tham nhũng vẫn như cũ không có gì thay đổi chiếm tỷ lệ 22% (Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh, ngày 5/3/2010). Tại buổi ứng cử viên đại biểu Quốc hội khoá 13 tiếp xúc cử tri ở các quận 1,3,4 (TP Hồ Chí Minh), đồng chí Trương Tấn Sang, ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư lúc đó, trước sự bức xúc, lo lắng của cử tri về tình trạng tham nhũng nghiêm trọng, không được ngăn chặn, đẩy lùi, đồng chí nói: “Tôi cảm giác mức độ phản ánh của vấn đề này nóng hơn so với trước  và trên phạm vi cả nước độ nóng còn tăng hơn nhiều, đã phản ánh thực trạng của đất nước. Chúng tôi hết sức hổ thẹn, mình là người đương chức và chức cũng to, thấy hết sức xấu hổ. Tôi xấu hổ trước, những anh em chức nhỏ xấu hổ sau”. (Báo Tuổi trẻ, ngày 8/5/2011).


Quả thật, từ thực tiễn cuộc sống cho thấy, muốn chống tham nhũng có hiệu quả trước hết phải có “Bàn tay sạch” trong bộ máy công quyền và “Bàn tay thép” nghĩa là luật pháp phải nghiêm minh, không nương nhẹ với bất cứ ai phạm tội tham nhũng. Ngay trong những năm kháng chiến, Bác Hồ đặc biệt coi trọng giáo dục cán bộ, đảng viên, luôn nhắc nhở, đồng bào, chiến sĩ thực hành tiết kiệm, bảo vệ của công. Bác nói: “Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình”.


Đón Xuân Nhâm Thìn năm nay, suy ngẫm trước sự quan tâm nhắc nhở của Bác Hồ về nhiệm vụ chống giặc nội xâm, chúng ta nghiêm túc nhìn nhận thật khách quan từ nhiều góc độ thì trong những năm qua, đi đôi với việc thực hiện tiến trình đổi mới, hội nhập phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước đã tỏ rõ quyết tâm chính trị cao, có nhiều quyết sách đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng. Nhưng phải đặt câu hỏi - vì sao đến nay, sau gần 5 năm (2007- 2011) thực hiện Nghị quyết 3 của Trung ương và Luật phòng chống tham nhũng, Việt Nam chỉ mới đạt mức chuyển biến bước đầu, qua số liệu khảo sát về chỉ số tham nhũng toàn cầu, do tổ chức Minh bạch quốc tết (TI) công bố thì Việt Nam hằng năm “nhúc nhích” đôi chút trên thang bậc xếp hạng toàn cầu: năm 2007 đứng thứ 123/180 nước; năm 2008: 121/180; năm 2009: 116/183; năm 2011: 112/183. Nguyên nhân mà nhiều người cho rằng hiệu quả chống tham nhũng đạt thấy là do chưa có “bàn tay sạch”, “bàn tay thép” thật sự như ở Trung Quốc, nước đang đi đầu toàn cầu trong cuộc chiến chống tham nhũng. Điều này dễ thấy, chẳng hạn như án treo còn chiếm tỷ lệ cao (34,6%) trong các vụ xử án tham nhũng, trở thành vấn đề “nóng” trong một số kỳ họp Quốc hội khoá 12; Chậm trễ ban  hành cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng, dẫn đến nhiều trường hợp người chống tham nhũng bị trù dập, đối xử phũ phàng... Báo Thanh niên, ngày 25/2/2011 đưa tin ông Trần Hữu Sửu, là một trong 18 người ở Nghệ An được ủy ban nhân dân tỉnh tuyên dương về thành tích chống tham nhũng nhưng ông Sửu đã bị bọn tham nhũng chém trả thù. Do đó, nhân dân và cán bộ biết chuyện tham nhũng ở địa phương, cơ quan mình, song e ngại không dám tố cáo.


Tại cuộc đối thoại quốc tế về phòng,chống tham nhũng diễn ra tại Hà Nội (ngày 29/11/2011) vừa qua, bà Victoria Kwakwa- Giám đốc Ngân hàng thế giới (WB) tại Việt Nam nói: “Mặc dù đã có Luật phòng, chống tham những nhưng Việt Nam cần hành động thực sự. Năng lượng của bộ máy chống tham nhũng chỉ có thể được khai thác tốt nhất nếu như có sự tham gia của người dân”.


Xưa kia chống ngoại xâm, nhân dân ta có câu “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” thể hiện ý chí và đường lối của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, giành độc lập dân tộc. Nay chống tham nhũng, mặt trận nóng bỏng “không tiếng súng’, thì ngoài quyết tâm chính trị ra, Nhà nước sớm có cơ chế, chính sách để động viên, huy động tổng lực toàn xã hội tham gia cuộc chiến chống thứ “giặc trong lòng” này như Bác Hồ đã nói. Có như vậy, mới mong thực hiện có hiệu quả chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 của Chính phủ, với mục tiêu ngăn chặn, đẩy lùi bằng được tham nhũng đang trở thành vật cản lớn cho thành công của công cuộc đổi mới, đe doạ sự tồn vong của chế độ mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra./.



 
Hội chẩn “bệnh oai”

 

Bá Chẳng

 

Từ xa xưa cho đến bây giờ, loài người vẫn phải gian truân gánh chịu nhiều loại bệnh tật hiểm nghèo và bao điều bất hạnh khác  xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, làm cho chúng ta phải lo lắng, tìm cách phòng chống!

Thực tế thì những căn bệnh quái ác “tứ chứng nan y” như phong lao cổ trướng, đậu mùa…ngày nay không còn là nỗi kinh hoàng nữa. Tuy nhiên một số bệnh, trong đó có những bệnh xã hội mà nhiều người hiện đang quan tâm, đó là “bệnh oai, bệnh điếu đóm, bệnh sĩ, bệnh vô cảm, bệnh cố chấp, bệnh chuyên quyền”… vẫn đang còn diễn ra.

Để góp phần hội chẩn và điều trị loại bệnh này cho sạch, đẹp môi trường sống, người viết bài này đâu dám đa ngôn, xin bạn đọc gần xa hãy cùng tôi quan tâm đến “bệnh oai” trước.

Vâng! “Bệnh oai” thật trớ trêu đã có từ bao thuở, vẫn đeo đẳng theo mãi con người! ấy là muốn nói cái oai mà người ta cứ cố “lên gân” để cho oai phong, oai vệ, đạt “kẻ cả” lẫy lừng, anh hào nhất khoảnh. Nó không đơn giản như thịt, cá, tôm, cua… khi mà bị oai (thiu) là có mùi, dễ nhận biết. Đằng này, “bệnh oai” của con người rất đa dạng và oái ăm, lây truyền không kém gì “vi trùng”. Nó có thể truyền từ đời này qua đời khác và không loại trừ ai! Xem ra phòng chống loại bệnh này đến nay trên thế giới chưa thấy có thuốc gì đặc hiệu? Vậy nên “bệnh oai” vẫn cứ sống ngất ngưởng gây nhiều phiền hà, tai quái, nhiễu nhương, làm hại cho đời. Bao chuyện nực cười, mệt người, mà đang gây tốn công, tốn của!

Nhiều người muốn cải thiện môi trường sống sao cho văn minh, lễ độ, có văn hoá, đã mang “bệnh oai” ra hội chẩn. Nhiều ý kiến thống nhất rút ra một số triệu chứng thường gặp như sau:

- “Bệnh oai” rất háo danh, chuộng lợi, chuyên quyền, độc đoán, bảo thủ, cực đoan. Hay khuệnh khoạng, vênh váo, vỗ ngực hơn người, chưa đỏ đã lấy làm chín, nói năng thô kệch, phũ phàng, ngắn chữ, đôi khi còn tàn bạo. Thường hay ăn tục, nói to, vô lễ, dối trá, lừa lọc, lố bịch đến trơ trẽn, có hại tới cơ đồ và kinh tế…

- “Bệnh oai” thường hay khoe mẽ, thích làm sang, lười lao động, bất tài vô dụng, nhưng lại muốn người khác phải phục tùng, tôn trọng.

- “Bệnh oai” giấu dốt, sợ sai, ngang tàng, lý sự, “được cãi cùng, thua cãi cố”, hay thách đố “gắp lửa bỏ tay người”, thường lừa thày, phản bạn, mưu hại bề tôi.

- “Bệnh oai” thích ăn ngon, mặc đẹp và tỏ ra khó chịu khi thấy người khác giỏi giang, thành đạt.

- “Bệnh oai” khi có quyền, có tiền dễ vung tay quá trán, ưa nịnh bợ, sống vô cảm, dễ quên bạn bè, ít lắng nghe, thường lấy oán trả ân, học đòi, xa rời quần chúng, hay ba hoa, khoe mẽ.

Với người mắc “bệnh oai”, từ xa xưa ông cha ta đã từng phê phán:

Ra đường võng giá nghênh ngang

Về nhà vợ hỏi cám rang đâu mày

Đó là những người sống ưa mẽ, vô tích sự. Trớ trêu và hài hước hơn:

Cậu cai nón dấu lông gà

Cổ tay đeo nhẫn gọi là cậu cai

Ba năm được một bận sai

Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê

Hoạ cũng có người bị lầm để rồi phải luyến tiếc, ân hận với những điều oai mà rỗng, tưởng ghê gớm mà rất thường, hèn thấp, vô dụng đến vô duyên:

Tưởng anh bóng cả cây cao

Em tựa lưng vào che nắng, che mưa

Nào ngờ cành cộc, lá thưa

Giọt nắng cũng đến, giọt mưa cũng vào

Thế rồi khi biết ra đã muộn, chỉ biết tiếc công, tiếc của, ân hận.

Việc giải quyết “bệnh oai” cũng như các bệnh xã hội khác mà khuôn khổ bài viết này chưa có dịp đề cập, nhiều ý kiến của “hội chẩn” và hội thảo đã cho rằng nó giống như một thứ bệnh, phải phòng chống kiên trì, có biện pháp sắc bén, để hạn chế những “nọc độc”, biến chứng oái oăm, giảm thiệt hại đến mức thấp nhất cho cộng đồng trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đã và đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm./.


 
Chúng ta có một gia tài lớn đó là thành phố nằm nơi cửa biển

 

Nhân chuyến thăm và thực tế sáng tác tại thành phố Đà Nẵng, phóng viên Tạp chí Cửa Biển có cuộc phỏng vấn ngắn với nhà thơ Bùi Công Minh - Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật (VHNT) thành phố Đà Nẵng. Sau đây là nội dung cuộc trò chuyện.


Phóng viên: Được biết trước khi về công tác tại Liên hiệp các Hội VHNT Đà Nẵng, ông đã có nhiều năm là Uỷ viên Thường vụ Thành uỷ Đà Nẵng - địa phương kết nghĩa với thành phố Hải Phòng. Xin ông cho biết cảm nghĩ về mối quan hệ gắn bó giữa hai thành phố chúng ta.

Nhà thơ Bùi Công Minh: Với những nét tương đồng về vị trí địa lý và lịch sử hình thành, cả trong quá khứ lẫn hiện tại, Hải Phòng và Đà Nẵng thực sự là anh em kết nghĩa. Tình cảm này được xây dựng nên bằng cả mồ hôi và xương máu của bao thế hệ cha anh, những người Đà Nẵng đã từng sống và làm việc trên đất Hải Phòng, đặc biệt là những thanh niên Hải Phòng trong đoàn quân chi viện cho chiến trường Quảng Đà những năm tháng khốc liệt chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Trong số họ, có người đã hy sinh, có người trở về hậu phương với nhiều vết thương trên cơ thể và những nỗi chật vật trong đời sống thường ngày. Các thế hệ người Đà Nẵng luôn biết ơn những người đã ngã xuống và luôn vun đắp cho tình cảm của hai thành phố Cảng chúng ta ngày thêm bền chặt và thêm nhiều sắc thái mới. Trong thời kỳ đổi mới, nhất là từ khi được đứng trong đội hình các thành phố trực thuộc Trung ương, Đà Nẵng luôn nhận được sự quan tâm, động viên của Hải Phòng; nhất là từ những kinh nghiệm xây dựng một đô thị Cảng biển trong xu thế giao lưu hội nhập quốc tế, Đà Nẵng có thể rút ra nhiều bài học trong quá trình phát triển của mình..


Phóng viên: Vậy theo ông, văn học nghệ thuật hai thành phố phải làm gì để xứng đáng với quan hệ gắn bó sâu sắc ấy?

Nhà thơ Bùi Công  Minh: Nếu nói một cách “bài bản” thì văn nghệ sĩ của hai địa phương phải không ngừng nỗ lực đi vào đời sống, phản ánh chân thực cuộc sống của quê hương mình theo các mảng đề tài lịch sử, đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ quê hương trong sự nghiệp đổi mới v.v.... Nhưng tôi muốn nhấn mạnh điều này: Ông cha đã để lại cho chúng ta một gia tài lớn, đó là một thành phố nằm nơi cửa biển, có cảng biển, là đô thị biển. Ngày nay hai thành phố chúng ta đang đóng vai trò là một cực phát triển ở hai khu vực phát triển năng động ở phía

Đông Bắc và ở khu vực miền Trung đất nước. Văn học nghệ thuật hai vùng đất cố gắng làm sao nói được cái khát vọng đại dương, tâm hồn đại dương, làm bật lên cảm xúc đại dương với ý chí vươn ra biển lớn của dân tộc trong thời kỳ hội nhập với thế giới. Cái thế văn, thế bút phải mạnh để lột tả được hình ảnh con người dám nghĩ dám làm trước vận hội mới đang đặt ra trước nhân dân hai thành phố chúng ta. Làm được như thế là chúng ta đã gặp nhau trên ý tưởng “đồng thanh tương ứng” cùng nhau trong nhiệm vụ xây dựng sự nghiệp văn học nghệ thuật.


Phóng viên: Nhân dịp này, ông có thể giới thiệu đôi nét về Liên hiệp các Hội VHNT thành phố Đà Nẵng

Nhà thơ Bùi Công Minh: Liên hiệp các Hội VHNT thành phố Đà Nẵng được thành lập và phát triển đến nay đã qua bảy nhiệm kỳ với nhiều tên gọi. Tiền thân của LHH là: Phân hội Văn nghệ Quảng Nam (1947), Phân hội Văn nghệ Quảng Đà (1967), Hội Văn nghệ tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng (1978), Hội VHNT thành phố Đà Nẵng (1998), Hội Liên hiệp VHNT thành phố Đà Nẵng (2001) ; và từ năm 2003 đến nay là Liên hiệp các Hội VHNT thành phố Đà Nẵng.

Sau khi Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, Liên hiệp các Hội VHNT Đà Nẵng không ngừng phát triển về tổ chức với việc hình thành đủ 9 Hội chuyên ngành: Văn học, Âm nhạc, Sân khấu, Múa, Nhiếp ảnh , Mỹ thuật, Điện ảnh, Kiến trúc, Văn nghệ dân gian. Số hội viên các hội chuyên ngành là gần 800 người, trong đó gần 350 người là hội viên các hội chuyên ngành trung ương, có 01 Nghệ sĩ Nhân dân và 11 Nghệ sĩ Ưu tú. Cơ quan ngôn luận là Tạp chí Non Nước và Trang thông tin điện tử vannghedanang.org.com.vn giới thiệu được nhiều tác phẩm văn học-nghệ thuật đến với công chúng. Ngoài ra còn có Bản tin hằng tháng cập nhật và cung cấp nhiều thông tin về hoạt động văn học-nghệ thuật đến hội viên và các cơ quan ban ngành trong thành phố. Chúng tôi còn phối hợp với Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Đà Nẵng và Đài Phát thanh-Truyền hình Đà Nẵng xây dựng chuyên mục “ Văn nghệ và đời sống” và “ Tạp chí Văn nghệ” giới thiệu tác giả - tác phẩm trên sóng truyền hình.

Hoạt động văn học-nghệ thuật những năm qua đạt nhiều thành tựu phong phú ở tất cả các loại hình. Đáng chú ý như Tổng tập văn hóa, văn nghệ dân gian Đất Quảng (5 tập), Nhà văn Đà Nẵng đương đại, Mỹ thuật Đà Nẵng 1997-2007, Nhiếp ảnh nghệ thuật Đà Nẵng 10 năm, Văn học nghệ thuật trên chặng đường mới, Đồ án quy hoạch đường Bạch Đằng, Trung tâm hội chợ quốc tế, Nhà biểu diễn đa năng, Cung thể thao Tiên Sơn... Hội viên các Hội cũng đã giành được nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế, giải thưởng hằng năm của các Hội chuyên ngành trung ương, của ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam và giải thưởng của thành phố. Gần đây, văn nghệ sĩ đã sôi nổi hưởng ứng cuộc vận động “Sáng tác và quảng bá tác phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh” thông qua cuộc thi sáng tác, xuất bản tập thơ, xây dựng kịch bản múa v.v...

UBND thành phố thành lập Giải thưởng văn học- nghệ thuật của thành phố Đà Nẵng 5 năm/lần; đến nay đã xét giải lần thứ 2 (2005-2010). Liên hiệp các Hội VHNT Đà Nẵng trao Giải thưởng văn học- nghệ thuật hằng năm và các Hội chuyên ngành trao Tặng thưởng văn học nghệ thuật hằng năm.  Bằng những hoạt động thiết thực và hiệu quả, Liên hiệp các Hội VHNT thành phố Đà Nẵng đã làm cho văn học- nghệ thuật ngày càng hiện diện rõ nét hơn, tham gia tích cực vào mọi mặt của đời sống thành phố. Năm 2008, Liên hiệp các Hội VHNT thành phố Đà Nẵng đã được vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước.


Phóng viên: Ông có suy nghĩ gì về hoạt động phối hợp giữa văn nghệ sĩ hai thành phố trong thời gian tới?

Nhà thơ Bùi Công Minh: Tôi nghĩ chúng ta sẽ đi vào những hoạt động thực chất hơn. 5 năm mới đến với nhau một lần là quá ít. Chúng tôi rất mong muốn có những góc nhìn mới về thành phố của mình. Mà cái ấy lại là thế mạnh của những người từ xa đến. Có lẽ các anh các chị cũng vậy. Nên có những nhóm sáng tác nhỏ, đến với nhau lâu hơn, quan sát, trải nghiệm nhiều hơn để nói được cả cái hay lẫn cái dở, cái chưa được. Văn nghệ sĩ là người không bằng lòng với cái đang có, cần tạo tự do sáng tạo, và từ trong những phát hiện rất “nghệ sĩ” như vậy, các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách sẽ tìm ra những lời giải đáp cho bài toán kinh tế xã hội của mỗi địa phương. Về kế hoạch cụ thể, chúng ta sẽ cùng bàn bạc cho thấu đáo, đạt hiệu quả cao.

P.V: Xin cảm ơn ông.



 
"Thơ chỉ đổi mới thực sự khi hình thức chuyển hoá thành nội dung"

Nhà thơ Mai Văn Phấn

Nhà thơ Mai Văn Phấn


Nhân dịp Festival Thi ca và Văn học Hàn Quốc- ASEAN với chủ đề “Sáng tạo của nhà thơ châu á, tinh thần cho điểm đến”diễn ra đầu tháng 12/2010 tại 3 thành phố Seoul, Ansan và Sokcho của Hàn Quốc, Tạp chí Thi Bình- Tạp chí thơ hàng đầu Hàn Quốc đã phỏng vấn nhà thơ đất Cảng Mai Văn Phấn là một trong hai thành viên của đoàn Việt Nam (cùng Nguyễn Quang Thiều) tham dự Festival và giao lưu với bạn đọc xứ Kim Chi. Cuộc phỏng vấn được thực hiện bằng Anh ngữ.


Ko Hyeong Ryeol (Tổng Biên tập Tạp chí Thi Bình, Hàn Quốc): Chào nhà thơ Mai Văn Phấn. Trước hết xin thay mặt Ban tổ chức cảm ơn ông và nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã nhận lời tham dự Festival Thi ca và Văn học Hàn Quốc-ASEAN tại Seoul. Sau khi đọc kỹ các tác phẩm của ông, tôi có vài điều muốn hỏi liên quan tới tinh thần chủ đạo của festival “Sáng tạo của nhà thơ châu á, tinh thần cho điểm đến”. Điều này sẽ giúp chúng tôi hiểu rõ về ông hơn trước khi ông đến Hàn Quốc. Câu hỏi “Nhân loại, trong đó có các nhà thơ đang đi về đâu?”. “Nhà thơ, anh là ai trong thế giới đương đại này” là chủ đề tất cả chúng ta đang quan tâm. Vậy xin ông cho biết quan niệm riêng của ông về thơ ca?
- Nhà thơ Mai Văn Phấn (Hải Phòng, Việt Nam): Các nhà thơ lần theo thơ ca nhằm khai mở tiếng nói mới, hoặc tìm lại âm sắc thuở hoàn nguyên đã mất. Từ khi hình thành ngôn ngữ, tiếng nói loài người luôn bị biến dạng, vừa đào sâu vào bản chất sự vật… vừa làm chúng méo mó, dị hình trong vỏ bọc ngôn ngữ. Vậy phải chăng, thơ ca ngoài mục đích tải đạo, tuyên truyền, mô phỏng, diễn tả…, nó còn tìm cách đặt tên lại sự vật, định hình lại thế giới.
Việc sáng tạo thi ca gần giống trạng thái bàng hoàng của một đứa trẻ lần đầu được nhìn thấy những hiện tượng kỳ lạ của thiên nhiên và khám phá những bí ẩn, phức tạp của con người. Một bình minh vừa rạng, con sâu trong nách lá, hay tiếng thở dài của một thiếu phụ… tất cả hiện lên trong thơ ca luôn tươi non, mới mẻ, như vừa được thấy lần đầu.
Cùng một hiện tượng, sự vật đời sống, nhưng chúng hoàn toàn khác nhau trong cách nhìn mỗi nhà thơ. Có bao nhiêu nhà thơ là bấy nhiêu con đường đến với thi ca. Tầm vóc nhà thơ càng lớn dung chứa không gian thi ca càng rộng, càng riêng biệt, cũng như ảnh hưởng, áp lực lên cộng đồng càng mạnh. Nó như bóng cây lớn có thể làm râm mát thảo mộc ở gần.
Nhà thơ là người được chọn (tạm gọi Thượng đế chọn), được “ơn gọi” trong tinh thần của Jesus Christ, gặp được “nhân duyên” trong Phật giáo. Là người được may mắn nhìn thấy một thế giới khác, mang hình hài nó, nhưng không phải nó. Gọi tên vẻ đẹp cụ thể nhưng khó nắm bắt ấy chính là lý tưởng thi ca mà nhà thơ vươn tới. Vẻ đẹp này không phải lúc nào cũng hiển hiện truớc mắt nhà thơ, mà xuất hiện như một “cơ duyên”, hoặc đột khởi trong những biến động tinh thần con người. Thường được ra đời trong những cơn dư chấn, nên nhiều người đã lầm tưởng thơ ca chính là lòng phẫn nộ, nỗi tuyệt vọng, hay sự quá khích của hưng phấn. Tất cả đều nhầm lẫn và ngộ nhận. Mọi trạng thái tình cảm con người, như mừng, giận, yêu, ghét, buồn, vui, muốn… đều là cái cớ cho thi ca chứ hoàn toàn không phải mục đích.
Mục đích của thi ca là tạo lập một từ trường, để trong không gian đặc biệt ấy, tất cả từ đồ vật đến linh hồn đều được cất tiếng nói, được công bằng như nhau trong một trật tự mới. Những hình ảnh hiện lên trong không gian ấy là cánh cửa mở ra tương lại hoặc tìm về với quá khứ, hoặc tất cả cùng đồng hiện và đồng hành trong những thời khắc đặc biệt.
- Ko Hyeong Ryeol : Trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên báo Poetry Kit của Anh ông có nói: “Bằng những quan niệm tiên tiến, đổi mới quyết liệt trong cách tiếp cận vấn đề, hoà đồng với hơi thở của đời sống đương đại, mỗi nhà thơ như vậy đều có trách nhiệm làm phong phú tính truyền thống”. Ông đồng thời cũng nhấn mạnh quan hệ giữa nội dung và hình thức. Vậy ông đã tìm được nội dung và hình thức mới cho mình chưa?
- Nhà thơ Mai Văn Phấn: Đổi mới thi pháp không phải như thay đổi mẫu mốt, hay thay bình cho rượu mà chính là “cuộc cách mạng” giữa nội dung và hình thức. Trong thi ca, hiện thực đời sống được viết đi viết lại nhiều lần nhưng vẫn giữ nguyên nội dung, thì đó mới là dạng chất liệu. Nội dung phải là chất liệu đã mang một hình thức được xác định và hình thức không bao giờ tồn tại độc lập với nội dung của chính nó. Hình thức được chuyển hoá thành nội dung, đó mới là đổi mới thực sự.
Nội dung mới trong thơ tôi là những quan tâm mang tính thời đại và thời sự, như lý tưởng sống của thế hệ trẻ, vấn đề ý thức hệ, quan niệm về tự do, công bằng, dân chủ… Tôi đau đáu và trăn trở về đời sống khổ cực của những người dân nghèo đói, khao khát cho dân tộc tôi không thua kém bất kỳ dân tộc nào. Nội dung ấy phải được dung chứa trong hình thức mới của thi ca. Hình thức mới ấy nằm trong nhịp điệu, tiết tấu nhanh trong chuyển động tốc độ của đời sống hiện đại. Cách diễn đạt dứt khoát, tối giản, liên kết rời và xa nhau tạo cho thơ một hơi thở mới, người phương Đông chúng ta quen gọi là “Khí”. Theo tôi, “Khí” làm nên cốt cách thi sỹ và phân biệt được các thế hệ thi ca.
- Ko Hyeong Ryeol: “Rất nhiều những bóng dáng đang loay hoay nằm ì trong bản năng với vẻ mặt coi thường học vấn”. Vậy xin hãy giải thích thêm về  “học vấn”?
- Nhà thơ Mai Văn Phấn: Quan niệm học vấn đối với một nhà thơ không đơn giản như phải có học hàm học vị. Nhà thơ phải tự trang bị cho mình  kiến thức tổng hợp ở mọi lĩnh vực. Nhà thơ, theo tôi phải là nhà văn hoá. Kiến thức văn hoá ấy lắng sâu vào nhà thơ một cách tự nhiên, và tới một hoàn cảnh “hữu duyên” nào đó, nó đột khởi dâng lên thành cảm xúc thi ca. Lúc ấy tứ bài thơ vụt đến bất ngờ, tưởng như “của nhặt được”, nhưng thực ra nó đã được tích luỹ vô tình ở đâu đó đã lâu. Một bóng cây lạ, ngôi nhà lá đơn sơ, một gương mặt… Tất cả tưởng như vô tình thoáng qua, nhưng vào một thời khắc đặc biệt, nó sẽ hiển hiện trong không gian thơ thật riêng biệt và lộng lẫy.
Ko Hyeong Ryeol: Câu thơ “Ngọn đèn lặng phắc càng tỏ” trong bài thơ Tắm đầu năm, theo tôi, dường như tiêu biểu cho phong cách thơ Mai Văn Phấn. Thơ hiện đại đang tìm kiếm sự vận động chống lại cuộc “giao tranh” giữa văn xuôi theo lối “tư bản” và phong cách thơ bảo vệ tính vần điệu truyền thống. Ông có nghĩ rằng sự súc tích trong những bài thơ của ông ở một mức độ nào đó phù hợp với thi ca hiện đại?
- Nhà thơ Mai Văn Phấn: Về bài thơ Tắm đầu năm của tôi, nhà văn Bão Vũ đã viết: là sự tắm ánh sáng trong nỗi cô đơn chơ vơ vào một đêm đầu năm chống chếnh. ánh đèn xối vào những góc khuất của tâm hồn làm sạch những ngóc ngách. Sự vệ sinh tâm hồn vào đêm đầu năm là sự thanh toán với quá khứ xám ngắt, một sự sám hối.  Cái ánh sáng ấy cũng bồng bềnh hoài thai, sắp sinh nở những điều rực rỡ mà ta đang kỳ vọng… Ngọn đèn lặng phắc càng tỏ. Trong hoàn cảnh này, tôi gọi một ai đó, một người bất kỳ, cũng không một tiếng vang, không một sự  hưởng  ứng, nỗi cô đơn tột cùng. ở đây chẳng có gì ngoài vừng sáng trong sạch và cao quý.
Đúng như ông nói: Thơ hiện đại đang tìm kiếm sự vận động chống lại cuộc “giao tranh” giữa văn xuôi theo lối “tư bản” và phong cách thơ bảo vệ tính vần điệu truyền thống. Khuynh hướng cách tân của tôi, là xoá nhoà ranh giới giữa văn xuôi và thi ca. Tôi đã từng thử nghiệm thành công, viết nhiều bài có hình thức văn xuôi, nhưng quyến rũ bạn đọc vào một không gian thơ rộng lớn và thậm phồn. Thơ hiện đại ít chú trọng vào nhịp điệu, tu từ, đặc biệt tránh dùng mỹ từ. Nhưng, những câu văn xúc tích, giản dị được đặt trong một “từ trường thơ”, có sức mạnh thôi miên gấp nhiều lần những câu mang nhịp điệu quen thuộc. Những bài thơ của tôi viết theo cách này, lúc đầu bị bạn đọc phản đối quyết liệt, bởi họ đã quá quen với quan niệm truyền thống. Nhưng thời gian qua đi, những giá trị thi ca đích thực vẫn còn đó. Những giá trị thi ca mới mẻ, thậm chí xa lạ hôm nay sẽ dần chinh phục được bạn đọc và nó sẽ trầm tích thành “truyền thống”. Tôi rất biết sở thích của số đông bạn đọc, nhưng không bao giờ có chủ ý làm thơ để “ve vuốt” sở thích đó. Thơ tôi là ngôi nhà của riêng tôi, trước hết, ai muốn vào xin hãy gõ cửa và tuân theo những nghi thức nhất định.
Ko Hyeong Ryeol: Cảm ơn ông!



 
«Bắt đầuLùi123456Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)