Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 5 khách Trực tuyến
Thảo luận
Ba câu chuyện ngụ ngôn về mèo

 

1. Tiểu hổ gặp họa


Chuyện xưa kể rằng có một thời mèo được một ông chủ nuôi yêu quý dám đặt tên cho mèo là Trời! Nhưng một người bạn của ông chủ đã bắt bẻ cho rằng mây che được trời. Thế là ông chủ đổi tên mèo thành Mây. Nhưng người bạn lại nói gió có thể thổi tan mây. Ông chủ lại đổi tên mèo thành Gió. Gió lại bị bức tường cản. Ông chủ lại đổi tên mèo thành Tường! Nhưng chuột lại đục khoét được tường. Ông chủ hồ đồ lại đổi tên mèo thành Chuột! Và mèo bắt được chuột. Thế là cuối cùng ông chủ nuôi lại đành phải gọi chú mèo cưng của mình là Mèo như cũ!
Câu chuyện mèo lại hoàn mèo vừa kể trên là nỗi “đau” của dòng họ nhà mèo đã lưu truyền qua nhiều thế kỷ. Cứ tưởng là sẽ có danh xưng mới để có thể “đổi đời” nhưng không ngờ do ông chủ của mèo quá kém thông minh nên đã bị người khác dạy cho một bài học về tội  dám “chơi trội”!
Nhân dịp năm hết tết đến, Thần Mèo lại về chầu trời để thay Thần Hổ nhận nhiệm vụ của một năm mới. Nhớ câu chuyện đau lòng cũ, Thần Mèo liền quì mọp khóc lóc trước Ngọc Hoàng xin được đổi tên tất cả loài mèo thành tên mới là Tiểu Hổ cho có chút “danh vọng”. Mặc dù Thần Hổ cực lực phản đối nhưng Ngọc Hoàng cũng xiêu lòng trước những lời năn nỉ của Thần Mèo nên cuối cùng đã chuẩn tâu.
Thế là từ đó các chú mèo được dịp vênh váo với đời với danh xưng mới là Tiểu Hổ của  mình. Nhưng thật không may thời thế đã thay đổi, các “dân chơi” muốn được chơi sang nên đua đòi thích ăn thịt chúa sơn lâm cho oai. Thế là các chú hổ bị săn lùng để dân nhậu lấy xương làm cao hổ cốt, lấy thịt làm món thịt hổ bảy món. Nhưng hổ không phải là thứ dễ bắt và dễ bị giết. Thứ nhất là do hổ dù sao cũng là hổ thật, không dễ bị người ta bắt nạt. Thứ hai hổ là thú quí hiếm, quán nhậu nào mà dám bày bán thịt hổ công khai có mà sập tiệm. Cái khó ló cái khôn, các chủ quán nhậu lý luận: “Các thực khách không ăn được thịt hổ được thì ăn tạm thịt tiểu hổ vậy. Hổ nào cũng là hổ cả! ”. Thật tội nghiệp cho các chú mèo bỗng dưng được người ta ưu tiên đưa lên bàn nhậu!
Thần Mèo vô cùng ân hận vì đàn con cháu của mình bỗng dưng bị gặp đại họa, sống thì bị truy lùng, chết thì không toàn thây vì bị xào nấu làm món nhậu. Thấy vậy, Thần Hổ mới cười nói: Có nhiều người thật sự thành công nên nổi danh. Nhưng cũng không hiếm những kẻ bị gặp hiểm họa chỉ vì cái bệnh háo danh của mình. Thương thay!


2. Mèo có bắt chuột?


Ngày xưa có một vị quan được giao nhiệm vụ trông coi kho lương thực cho nhà vua. Quan coi kho lương rất mẫn cán và thanh liêm. Hơn mười năm nhận nhiệm vụ ông không hề nhũng lạm dù chỉ là một hạt thóc lép trong kho. Nhưng không may đến một năm nọ, không hiểu sao lũ chuột lại sinh sản bùng phát rất nhiều. Kết quả là dù vị quan đã rất cố gắng gìn giữ, kho lương thực của nhà vua cứ bị hao hụt mỗi ngày.
Nghe lời thuộc hạ vị quan nuôi hơn hai mươi con mèo đem thả vào kho. Lúc đầu kết quả khá khả quan. Lượng lương thực thất thoát mỗi ngày đã giảm hơn một nửa. Ông quyết định nuôi thêm hai mươi con mèo nữa. Nhưng cũng thật bất ngờ, không hiểu sao lượng lương thực hao hụt mỗi ngày lần này không hề giảm sút mà lại có chiều hướng muốn tăng lên!
Vị quan vô cùng lo lắng vì sắp đến kỳ hạn quan khâm sai đại thần đến kiểm tra kho lương. Tình trạng mất mát lương thực kiểu này nếu cứ tiếp diễn chắc chắn ông không giữ được cái đầu trên cổ. Vị quan liền treo bảng trước cổng cần mua mèo quí gấp để trừng trị lũ chuột trong kho.
Vừa treo bảng buổi sáng thì buổi trưa đã có một lão đạo sĩ đến gỡ bảng và xin vào yết kiến. Viên quan mừng lắm liền mời vào. Lão đạo sĩ chào vị quan xong liền hỏi:
- Thượng quan cần mua mèo quí để làm gì?
- Ta cần mua mèo quí để bắt chuột.
- Thượng quan lầm rồi. Bắt chuột hay không không phải là do mèo quí hay không quí. Ông bà ta đã có câu “mèo nhỏ bắt chuột con” là muốn nói đến ý đó. Loài mèo từ thuở xa xưa con nào cũng biết bắt chuột. Nhưng từ khi ở chung với loài người. Nhiều con mèo đã nhiểm tật xấu từ chủ nuôi như ăn vụng, hoặc tệ hơn là móc nối với loài chuột để hưởng lợi cho mình!
- Có loại mèo biết móc nối với chuột ư? Ta chưa từng nghe!
- Thượng quan có đọc nhiều sách không?
- Từ nhỏ tứ thư ngũ kinh ta đều thuộc làu cả.
- Thượng quan có thường đọc sử, đọc thơ không? Có xem tranh nhiều không?
- Đạo sĩ khinh thường ta quá. Ta đã đọc trọn bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên, thơ của thi tiên Lý Bạch bài nào ta cũng thuộc, tranh của Tô Đông Pha hầu hết ta cũng đã từng xem qua…
- Thượng quan tỏ ra rất am hiểu văn hóa và học thuật của … nước ngoài! Lão chỉ xin thượng quan đến làng tranh Đông Hồ của nước ta để tìm mua bức tranh Đám cưới chuột về xem. Lúc ấy thượng quan sẽ hiểu ngài cần phải làm gì...
Nói xong lão đạo sĩ liền cười ngất và biến mất. Viên quan coi kho bỗng giật mình, toàn thân mồ hôi ướt đẫm. Ông liền vội sai thuộc hạ đến làng tranh Đông Hồ gấp. Khi bức tranh Đám cưới chuột được trình lên, nhìn lũ chuột dâng quà cho mèo trong tranh viên quan hoàn toàn tỉnh ngộ.
Cuối cùng qua điều tra viên quan coi kho cũng đã điều tra và phát hiện được có hai trong hai mươi con mèo nuôi tăng cường lần sau, đã dung dưỡng cho họ hàng nhà chuột và giúp cho lũ chuột có điều kiện ăn xén ăn bớt lương thực trong kho. Trị tội hai con mèo này xong nạn chuột trong kho từ đó xem như mất hẳn.
Sau này viên quan đã rút ra một kinh nghiệm quí báu để truyền lại cho các quan coi kho thế hệ sau: Không cần có mèo quí mới bắt được chuột và không phải con mèo nào cũng có sở thích bắt chuột!


3. Mèo dạy võ


Ngày xưa rất là xưa, hổ và báo là hai anh em chú bác họ. Tuy to xác nhưng hổ và báo đều rất vụng về nên thường bị các thú dữ khác trong rừng bắt nạt. Nghe đồn cô ruột của mình là mèo võ nghệ rất cao cường, cả hai bàn nhau cùng tìm đến xin cô mèo dạy cho vài miếng võ để phòng thân.
Nhận hai đệ tử lại là hai đứa cháu ruột nên cô mèo dạy võ rất tận tình. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, hổ và báo gần như đã lột xác hẳn, thân pháp trở nên thật nhẹ nhàng, các thế chụp vồ đều rất biến hóa uyển chuyển.
Một ngày nọ, mèo cho các đệ tử thử tài. Hai con lợn lòi hung dữ được thả ra để thi đấu với hổ và báo. Chỉ chưa đầy một khắc hai con lợn lòi đã bị hổ và báo vật chết. Tiếp đó hai con bướm nhỏ nhắn xinh đẹp được thả bay lên. Chỉ với một cái tát đầy móng vuốt cực kỳ chính xác của hổ, con bướm đã bị vỡ ra nhiều mảnh vụn. Riêng báo cứ chần chừ mãi vẫn chưa chịu ra tay, cuối cùng chú bướm còn lại bay đi mất. Mèo giận lắm kêu báo tới quở trách. Báo dập đầu khóc:
- Thưa cô mẫu, con bướm nhỏ đó như một đóa hoa biết bay, làm đẹp cho đời. Vả lại nó có hại ai đâu sao ta phải giết nó?
Mèo nghe xong gật gù, nhưng vẫn mắng nhiếc báo mãi không thôi…
Nửa năm sau mèo cho hai đệ tử xuống núi. Hổ vốn bản tính hung hăng nên đi gây sự khắp nơi. Với tài nghệ tuyệt luân vừa học được không bao lâu hổ trở thành vô địch với danh vị Chúa sơn lâm khiến muôn loài phải kính nể. Nghe tin báo cũng nổi danh không kém, hổ liền đến tìm báo để tranh tài. Báo do không to bằng hổ nên đánh không lại hổ, phút nguy khốn báo liền nhảy lên cây để tránh. Hổ vô cùng ngạc nhiên vì tuyệt kỹ leo cây cô mèo không hề dạy cho hổ. Hổ uất ức liền trở lại nơi học võ định giết mèo để trả thù. Không ngờ mèo cũng đã biết trước nên đã leo lên cây lánh nạn. Mèo cười nói:
- Báo tuy dũng mãnh nhưng cũng có lòng nhân hậu, nên nó xứng đáng được ta truyền hết các bí kiếp võ công. Còn ngươi chỉ là kẻ độc ác, chỉ thích dùng sức mạnh của mình hiếp đáp kẻ yêu hơn thì làm sao có thể lĩnh hội hết được các tuyệt kỹ của dòng họ mèo chúng ta?
Hổ nghe xong vô cùng ân hận. Và từ đó cho đến nay tuy hổ vẫn là Chúa sơn lâm nhưng vẫn không thể leo cây được như mèo và báo cũng chính là từ câu chuyện kể trên.


Thanh Trắc Nguyễn Văn
(Tp Hồ Chí Minh)

 
Sóng ngầm ở biển Đông Bắc (?)

 

Trần Phương

 

Những năm gần đây, số lượng tàu thuyền và hàng hoá thông qua các cảng biển khu vực Hải Phòng tăng bình quân 12%/năm. Trước nguy cơ quá tải khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Chính phủ đã phê duyệt Dự án cải tạo, nâng cấp Cảng Hải Phòng giai đoạn II, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc khai mở tuyến luồng mới ra vào cảng: Lạch Huyện – kênh Hà Nam. Ngày 19-1-2006, tuyến luồng mới này với độ sâu -7,2m được chính thức đưa vào khai thác, cho phép tàu đến 40.000 DWT ra vào cảng làm hàng an toàn, góp phần cải thiện đáng kể năng lực của hệ thống cảng biển khu vực Hải Phòng. Tuy nhiên, kể từ khi đưa vào khai thác đến nay đã hơn 3 năm mà luồng tàu Lạch Huyện – kênh Hà Nam không được duy tu, nạo vét nên nhiều đoạn  bị sa bồi chỉ còn xấp xỉ -5,3m. Theo tính toán của các chuyên gia, cứ với đà này thì chỉ vài ba năm nữa thôi hệ thống cảng biển khu vực Hải Phòng có nguy cơ bị biến thành cảng “cạn”.

Trong khai thác dịch vụ cảng biển, vấn đề luồng lạch ra vào cảng thông thoáng, có độ sâu lớn và đảm bảo an toàn đối với mọi hoạt động hàng hải là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để thu hút chủ tàu, chủ hàng tìm đến. Bởi thế, Dự án cải tạo nâng cấp Cảng Hải Phòng giai đoạn II rất quan tâm đến hạng mục khai thông tuyến luồng ra vào cảng. Theo đó, việc cải tạo nâng cấp luồng tàu được chia làm 2 giai đoạn: Luồng trong (thường gọi là luồng sông) gồm các đoạn sông Cấm, Đình Vũ và Bạch Đằng (từ km 0,0 đến km 18,8) được nạo vét tăng độ sâu theo tuyến cũ, đạt độ sâu -5,5 m; Luồng ngoài (thường gọi là luồng biển) gồm các đoạn kênh Hà Nam (kênh đào cắt ngang đảo Cát Hải) và Lạch Huyện (từ km 18,8 đến km 42,6) đạt độ sâu -7,2m. Đây là điều kiện thuận lợi góp phần nâng cao sản lượng hàng thông qua khu vực Cảng biển Hải Phòng và cũng nhờ đó doanh thu từ dịch vụ hàng hải tăng đáng kể. Chỉ tính riêng doanh thu của Cảng Hải Phòng: năm 2007 đạt 688,7 tỷ đồng, vượt 16,7% kế hoạch, tăng 40,1% so với năm 2006; năm 2008 doanh thu đạt 858,9 tỷ đồng, vượt 7,4% kế hoạch, tăng 22,4% so với năm 2007. Tương tự như vậy, năm 2008, Cảng vụ hàng hải Hải Phòng thu hơn 100 tỷ đồng dịch vụ gồm 32 tỷ đồng phí cảng vụ, 68 tỷ đồng phí bảo đảm hàng hải…ấy là chưa kể đến nguồn thu hải quan, dịch vụ vận tải và nhiều khoản dịch vụ, các sắc thuế, phí và lệ phí khác liên quan đến hoạt động của hệ thống cảng biển khu vực Hải Phòng.

Như vậy, hiệu quả từ hoạt động cảng biển ở Hải Phòng quá rõ ràng, nhưng không hiểu vì lý do gì mà thời gian qua việc đầu tư nạo vét, duy tu luồng tàu vào Cảng Hải Phòng lại ít được ngành hàng hải chú trọng. Cụ thể là: 2 năm 2006-2007 do không được cấp kinh phí nạo vét nên luồng Lạch Huyện – kênh Hà Nam đang phải đối mặt với nguy cơ sa bồi. Sau khi hoàn thành luồng Đình Vũ – kênh Hà Nam - Lạch Huyện của Dự án cải tạo Cảng Hải Phòng giai đoạn II, theo công bố thì luồng đạt -7m (đối với luồng ngoài) và -5,5m (đối với luồng trong), nhưng do không được duy tu bảo dưỡng thường xuyên nên luồng vào cảng Đình Vũ nay chỉ còn -5,3m (thiết kế -7m cho tàu 20.000 DWT). Nếu những năm trước đây, luồng tàu ra vào Cảng Hải Phòng chỉ cần đạt độ sâu -5m là lãnh đạo Cảng Hải Phòng, cảng vụ Hải Phòng, Hoa tiêu, Bảo đảm hàng hải khu vực Hải Phòng… có thể yên tâm kê gối ngủ ngon lành. Còn bây giờ, với độ sâu này thì đồng nghĩa với việc Cảng Hải Phòng có nguy cơ bị đóng cửa. Bởi lẽ, các hãng vận tải biển trên thế giới hầu hết đều sử dụng loại phương tiện chở hàng có trọng tải lớn. Năm 2008, tuy đã được đầu tư 60 tỷ đồng cho việc nạo vét, duy tu luồng, nhưng theo các chuyên gia thì vẫn chưa đủ để  khắc phục tình trạng sa bồi làm nông luồng tàu hàng năm, chứ chưa nói gì đến việc xử lý các “điểm đen” được hình thành từ những năm trước. Có thể khẳng định đây chính là nguyên nhân của tình trạng nhiều tàu buộc phải chuyển tải, sang mạn vợi hàng mới vào được các cảng khu vực Hải Phòng. Theo thống kê của Cảng Hải Phòng thì lượng tàu lớn phải chuyển tải vợi mớn năm 2007 là 90 tàu với lượng hàng là 0,9 triệu tấn; năm 2008 tăng lên 125 tàu với 1,484 triệu tấn và 5 tháng đầu năm 2009 có 58 tàu với 0,7 triệu tấn. Trong số các tàu chuyển tải thì số tàu chở hàng rời gồm thức ăn gia súc, quặng các loại chiếm hơn 50% mà mặt hàng này hiện chỉ bốc xếp tại Cảng Hải Phòng mà thôi. Xin được làm phép so sánh: trước khi triển khai Dự án cải tạo nâng cấp Cảng Hải Phòng giai đoạn II, ngành hàng hải vẫn tổ chức nạo vét duy tu định kỳ luồng tàu Hải Phòng hàng năm (do Bảo đảm an toàn hàng hải I thực hiện), khoảng từ 1,4 đến 2,7 triệu m3, tương đương với số tiền khoảng 40-50 tỷ đồng; vậy mà luồng Lạch Huyện – kênh Hà Nam được xác định là tuyến luồng quan trọng nhất của khu vực phía Bắc, do cấu tạo địa chất và điều kiện thủy văn khu vực luồng thường có khối lượng nạo vét duy tu hàng năm khá lớn, khoảng trên dưới 3 triệu m3/năm, cũng chỉ được đầu tư 60 tỷ đồng là chưa hợp lý. Nếu đem so sánh việc đầu tư  để nạo vét duy tu luồng tàu Cảng Hải Phòng với Cảng Cái Lân (Quảng Ninh) mới càng thấy hết sự bất hợp lý trong phân bổ ngân sách duy trì hoạt động của luồng tàu thuộc hệ thống cảng biển Việt Nam.

Trước đó, chẳng biết dựa vào đâu mà đột nhiên tại phần cuối của Điều 3, mục 4 tại Quyết định số 44 ngày 28-8-2007 của Bộ Giao thông vận tải (GTVT) về việc “Công bố vùng nước cảng biển thuộc địa phận thành phố Hải Phòng và khu vực quản lý của Cảng vụ hàng hải Hải Phòng” lại chua thêm một mệnh lệnh hùng hồn rằng: “Việc chuyển tải của tàu thuyền vào cảng biển thuộc địa phận thành phố Hải Phòng tại các vị trí quy định tại khoản này phải chấm dứt trước ngày 31 tháng 12 năm 2009”. Ai mà không thấu hiểu chuyện chuyển tải đã trở thành “định mệnh” của Cảng Hải Phòng. Thế rồi, hàng loạt các rắc rối, gây tâm lý hoang mang, lo lắng về việc làm, ách tắc lưu thông, tăng chi phí, dịch vụ... liên quan đến các hoạt động vận tải, bốc xếp hàng hoá xuất nhập khẩu của hệ thống cảng biển khu vực phía Bắc bỗng bùng lên dữ dội vào những ngày cuối năm 2009 đầu năm 2010. Theo các chuyên gia kinh tế thì nếu sự cố từ “tai nạn nghề nghiệp” này không được hoá giải nhanh sẽ gây tác động xấu đến hoạt động kinh tế của các tỉnh, thành phố phía Bắc và cả nước.

Sau khi chạy vạy khắp các cửa không đem lại kết quả gì, ngày 2-12-2009, ông Ngô Bắc Hà, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Cảng Hải Phòng buộc phải ký văn bản số 4604/KD gửi các cơ quan chủ hàng, chủ tàu, đại lý tàu biển khắp toàn cầu, để thông báo một nội dung mà biết chắc là các đối tác, bạn hàng chiến lược của mình không muốn nhận. Đó là: Căn cứ tình hình thực tế luồng tàu vào cảng hiện nay vẫn không đáp ứng đủ độ sâu và nhu cầu chuyển tải của khách hàng còn lớn, Cảng Hải Phòng đã có văn bản gửi các cơ quan chức năng liên quan đề nghị cho phép gia hạn thời gian sử dụng các điểm neo đậu nói trên tại vịnh Hạ Long nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết. Vì vậy, Cảng Hải Phòng xin thông báo để các chủ tàu, chủ hàng, cơ quan đại lý và khách hành biết để bố trí cỡ tàu phù hợp khi có nhu cầu vận tải đường biển đến Cảng Hải Phòng.

Thông báo này vừa được tung ra, đã vấp phải sự phản ứng dữ dội từ phía khách hàng truyền thống của Cảng Hải Phòng. Công ty CP hàng hải liên kết Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng là đại lý vận tải của một số hãng tàu nước ngoài, lập tức có văn bản số 1339/BLHP gửi Bộ GTVT, UBND thành phố Hải Phòng, Cục Hàng hải Việt Nam, Cảng vụ hàng hải Hải Phòng, Công ty TNHH MTV Cảng Hải Phòng kêu cứu.

Qua tìm hiểu được biết, thông thường mỗi tấn hàng hoá về Cảng Hải Phòng nếu phải qua khâu chuyển tải tại vùng biển Hòn Gai thì chi phí sẽ phát sinh thêm khoảng 31.000 đồng. Vậy mà, các chủ tàu, đại lý, chủ hàng vẫn chọn hệ thống cảng biển khu vực Hải Phòng làm điểm đến, điều đó đã chứng tỏ vị thế tự nhiên - xã hội không thể thay thế của nó. Ngược lại, khi chúng tôi đem câu hỏi việc gì cứ phải chuyển tải để vào được Cảng Hải Phòng mà lại không lấy Cảng Cái Lân (Quảng Ninh) làm địa chỉ thay thế đặt lên bàn các chủ tàu, đại lý và chủ hàng. Hầu hết các ý kiến phản hồi đều bày tỏ sự ngạc nhiên về việc trong ngày 28-8-2007 “định mệnh” ấy, Bộ GTVT cũng ký Quyết định số 42 “Công bố vùng nước cảng biển thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh và khu vực quản lý của Cảng vụ hàng hải Quảng Ninh”, nhưng lại không có bất kỳ dòng nào quy định việc chấm dứt hoạt động chuyển tải trên vịnh Hạ Long đối với tàu biển vào cảng khu vực Quảng Ninh. Và họ cũng biết Cảng Cái Lân vừa được ngành GTVT đầu tư hơn 100 tỷ đồng để nạo vét, khơi sâu luồng tàu ra vào để đón tàu có trọng tải lớn. Nhưng theo họ thì cơ sở hạ tầng kỹ thuật, máy móc, trang thiết bị xếp dỡ, hệ thống kho bãi của Cảng Cái Lân tuy khá hiện đại, nhưng mới chỉ phù hợp đối với việc xếp dỡ hàng container mà thôi, còn đối với các mặt hàng tổng hợp, hàng rời như: phân bón, thức ăn gia súc, nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc, sắt thép phế liệu, clinker, bột đá...vẫn đành bó tay. Nếu như vẫn cố tình làm, thì cũng không thể đáp ứng nhu cầu mùa vụ của chủng loại các mặt hàng tổng hợp, hàng rời “khó tính” này do thiếu hệ thống kho bãi, cầu tàu, thiết bị chuyên dùng, nguồn nhân lực... ấy là chưa nói đến các yếu tố liên quan đến yêu cầu giải phóng tàu và hàng hoá, giảm giá thành vận chuyển, dịch vụ hậu cần mà Cảng Cái Lân chưa thể đáp ứng. Các chuyên gia kinh tế tính toán rằng, từ Cảng Cái Lân duy nhất chỉ có đường bộ dẫn về trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, so với Hải Phòng thì dài hơn khoảng 60 km. Mặt khác, Cảng Cái Lân lại không phải là đầu mối mạng lưới đường thuỷ nội địa vùng đồng bằng sông Hồng như Hải Phòng... Chỉ cần giải bài toán vận tải hàng hoá, chứ chưa nói gì đến vấn đề năng suất, hao hụt, thời gian giải phóng phương tiện...đã thấy rõ những tác động bất lợi đến nền kinh tế đất nước, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước và đời sống của người tiêu dùng Việt Nam.

Trước vấn đề nóng bỏng và nhạy cảm này, UBND thành phố Hải Phòng đã có văn bản đề nghị Bộ GTVT tải tiếp tục cho phép tàu biển vào Cảng Hải Phòng được chuyển tải hàng hoá tại vùng nước cảng biển Hòn Gai - Quảng Ninh. Ngày 18-5-2009, Bộ GTVT có công văn số 3130 gửi UBND tỉnh Quảng Ninh bày tỏ quan điểm: “Về vấn đề này Bộ GTVT thấy cần thiết phải tiếp tục cho phép tàu thuyền vào cảng biển thuộc địa phận thành phố Hải Phòng được chuyển tải hàng hoá tại vùng nước cảng biển Hòn Gai thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh. Việc chuyển tải hàng hoá nêu trên sẽ chấm dứt khi cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng tại Lạch Huyện được đưa vào khai thác, sử dụng”. Đồng thời, Bộ cũng đề nghị UBND tỉnh Quảng Ninh cho ý kiến bằng văn bản về vấn đề này. Không dừng lại ở đó, đại diện lãnh đạo Bộ GTVT còn có cuộc làm việc trực tiếp với UBND tỉnh Quảng Ninh về nội dung trên.

Tiếp đó, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ GTVT, ngày 25-11-2009, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam và Cảng Hải Phòng đã tổ chức đoàn khảo sát khu vực Hòn Nét (Cẩm Phả) là địa điểm dự kiến thay thế các khu vực chuyển tải hiện hữu (theo giới thiệu của tỉnh Quảng Ninh). Từ kết quả khảo sát thực địa này, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam có văn bản số 2228 trình Thủ tướng Chính phủ, Bộ GTVT và Cục Hàng hải Việt Nam đề nghị xin gia hạn chuyển tải tại Hạ Long. Điều đáng quan tâm là, theo nội dung của văn bản thì vị trí Hòn Nét (Cẩm Phả) hoàn toàn không đủ tiêu chuẩn thay thế các điểm chuyển tải hiện nay, bởi các lý do kinh tế - kỹ thuật. Vùng này đang là khu vực chuyển tải than rất lớn, số lượng tàu thuyền ra vào nhiều, nếu thực hiện thêm chức năng chuyển tải hàng tổng hợp khác (thức ăn gia súc rời, quặng, sắt thép, đá xuất khẩu, than mỡ nhập khẩu, apatit xuất khẩu) sẽ bị quá tải do điều kiện dịch vụ hậu cần không đủ đáp ứng; từ trước tới nay chưa có quy hoạch những điểm neo nào có thể giao cho Cảng Hải Phòng thực hiện chuyển tải hàng hoá, tránh xung đột trong điều hành tàu với số lượng tàu vào nhận than lớn như vậy. Đặc biệt, khu vực chuyển tải Hòn Nét thuộc vùng nước quản lý của Cảng vụ hàng hải Quảng Ninh, việc đưa đón tàu từ phao số “0” luồng tàu Cẩm Phả thuộc hoa tiêu Quảng Ninh. Do vậy, khi tàu biển đến cảng phải được phép của Cảng vụ Hàng hải Quảng Ninh để hành thuỷ từ phao số “0” Cẩm Phả đến khu chuyển tải Hòn Nét, sau khi chuyển tải xong lại xin phép Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng để hành thuỷ từ phao số “0” Hải Phòng vào cập Cảng Hải Phòng. Việc làm này sẽ phát sinh thêm các thủ tục hành chính, gây ra nhiều khó khăn, phức tạp trong việc bảo đảm an toàn hàng hoá, đồng thời phát sinh nhiều khoản chi phí của chủ tàu do tăng thời gian chạy tàu và tăng gấp đôi chi phí hoa tiêu, tàu hỗ trợ. Mặt khác, cự li vận chuyển hàng hoá bằng đường thuỷ nội địa sẽ tăng dẫn tới tăng giá thành vận chuyển, giảm năng suất giải phóng tàu và tăng thêm chi phí của các chủ tàu, chủ hàng. Bên cạnh đó, các sà lan vận chuyển hàng hoá vẫn phải đi qua vùng nước vịnh Hạ Long để vào nội địa, vì thế mọi lý lẽ về làm giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường cho vùng nước Hạ Long tỏ ra thiếu tính thuyết phục. Trong khi đó, nhiều khách hàng, nhất là các chủ hàng thức ăn gia súc, sắt thép, nguyên liệu, xuất khẩu quặng...là những mặt hàng chủ lực tại Cảng Hải Phòng đã ký hợp đồng mua bán với nước ngoài cho năm 2010, thậm chí cả vài năm tiếp theo, với điều kiện sử dụng tàu lớn chuyển tải tại Hạ Long. Hơn nữa, thực tế cho thấy suốt khu vực từ Hải Phòng đến Quảng Ninh với thời gian quá cấp bách không thể bố trí được điểm chuyển tải nào khác phù hợp với hoạt động của Cảng Hải Phòng hơn các điểm hiện hữu...

Từ những phân tích trên, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam cho rằng: việc chuyển tải tại Hạ Long có ý nghĩa sống còn đối với Cảng Hải Phòng nói riêng và cảng trong khu vực phía Bắc nói chung. Thời gian qua, các tàu thuyền hoạt động trong khu vực chuyển tải rất coi trọng việc bảo vệ môi trường. Mặc khác, các điểm neo đậu này còn có vai trò quan trọng trong việc tránh lũ, tránh bão, góp phần làm giảm thiệt hại do thiên tai gây ra. Việc duy trì khu vực chuyển tải sẽ trực tiếp hỗ trợ, phối hợp khai thác cảng mang lại hiệu quả cao cho cả Cảng Hải Phòng và Cảng Cái Lân. Với các lý do nêu trên, cùng với kiến nghị của các chủ tàu, chủ hàng và đại lý tàu biển, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam kiến nghị Thủ tướng Chính phủ, Bộ GTVT và Cục Hàng hải Việt Nam xem xét, chấp thuận gia hạn đối với hoạt động chuyển tải tại Hạ Long, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra.

Nhân đây, cũng xin nhắc lại cho rõ: Quyết định số 44/2007/QĐ-BGTVT và Quyết định số 42/QĐ-BGTVT ký cùng ngày 28-8-2007 của Bộ GTVT chỉ đơn thuần về việc công bố vùng nước cảng biển thuộc địa phận thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh mà thôi, chứ không phải xuất phát từ yêu cầu bảo vệ môi trường vịnh Hạ Long. Còn vì sao chỉ cấm hoạt động chuyển tải đối với tàu thuyền vào cảng biển khu vực Hải Phòng mà không cấm việc chuyển tải đối với các tàu thuyền vào cảng biển khu vực Quảng Ninh, câu trả lời này thuộc các cơ quan chuyên

môn và tham mưu của Bộ GTVT. Hơn nữa, trong quá trình lập các thủ tục hồ sơ, trình duyệt tổ chức UNESCO đến xem xét công nhận vịnh Hạ Long là di sản thiên nhiên thế giới thì đã hiện hữu hoạt động chuyển tải này rồi. Vấn đề cốt lõi là phải tăng cường việc kiểm tra, giám sát các hoạt động chuyển tải này để góp phần bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái vịnh Hạ Long theo khuyến nghị của UNESCO và các tổ chức quốc tế, quốc gia khác mà thôi.

Được biết, Văn phòng Chính phủ vừa ra Công văn số 73/TB-VPCP thông báo ý kiến của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại cuộc họp bàn về chuyển tải hàng hoá tại vùng nước Hòn Gai - Quảng Ninh. Theo đó, Phó Thủ tướng đồng ý với đề nghị của Bộ GTVT về việc tiếp tục cho phép chuyển tải hàng hoá tại các điểm HL 11, HL 12, HL 15 thuộc vùng nước cảng biển Hòn Gai (Quảng Ninh) cho tới khi cảng cửa ngõ Lạch Huyện được đưa vào sử dụng. Phó Thủ tướng cũng lưu ý Bộ GTVT chỉ đạo đầu tư sớm các bến hàng tổng hợp của dự án cảng cửa ngõ Lạch Huyện để đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Những hàng hoá gây ô nhiễm, độc hại phải chuyển tải tại khu vực Hòn Nét, khu vực Cái Lân./.


 


 
Đâu chỉ là mê sách


Bùi Ngọc Tấn


Là một người viết sách, được gặp những người mê sách, thật không gì thú vị bằng.

Một buổi sáng như trăm ngàn buổi sáng, tôi nhận được một cú điện thoại:

- Cháu là Phương ở Hà Nội. Cháu đã đến thăm bác tháng trước. Cháu đang ở Hải Phòng. Nửa tiếng nữa cháu và một anh bạn đến thăm bác có được không ạ?

Tất nhiên tôi nhận lời ngay, dù chưa nghĩ ra Phương Hà Nội là ai. Chỉ cần biết một bạn đọc tìm đến với mình cũng đã vui rồi.

Khi Phương đẩy cửa bước vào tôi đã nhận ra anh. Phương, guide một công ty du lịch ở Hà Nội, đồng thời là một người sưu tầm sách.

- Đây là Bách, bạn cháu.

Hai người đặt hai túi xách xuống sàn gỗ. Những chiếc túi nặng trĩu. Sau chén trà, các anh lấy từ trong túi ra gần như toàn bộ số sách của tôi đã in từ khi cầm bút trở lại để lên bàn. Tôi trố mắt:

- Kiếm ở đâu mà nhiều thế này hai cháu?

Thực ra từ khi viết trở lại tôi chỉ in chừng dăm sáu đầu sách. Nhưng số sách các anh để trên bàn đâu chỉ mỗi đầu sách một quyển. Này đây, Một thời để mất in lần đầu tiên, bìa nền trắng của Trần Vũ, và in lần thứ 7 do Trần Đại Thắng vẽ bìa, cùng xuất bản một ngày với Rừng xưa xanh lá. Này đây Những người rách việc, tôi phải bỏ tiền túi ra in và tự phát hành. Và những tập Chuyện kể năm 2000, quyển nhầu nát, quyển còn mới tinh như vừa xuất ở nhà in...

Bao giờ nhìn những tập sách của mình thuộc sở hữu của người khác tôi cũng cảm động. Nó như những đứa con mình rứt ruột đẻ ra, giờ đây có một cuộc sống độc lập, phiêu bạt mọi nơi trên cuộc đời này, được người đời đón nhận, thương xót chở che. Nhất là khi nhìn bộ tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000, tập tiểu thuyết có số phận long đong nhất của tôi.

Không đợi hai bạn trẻ nói, tôi cũng biết mình phải làm gì: Ký vào sách tặng hai bạn Nguyễn Bình Phương và Nguyễn Thế Bách đang ngồi trước mặt tôi đây.

Tôi viết. Và ký. Ngó tờ lịch: 7 – 11- 2009. Tôi kêu lên:

- Không có các cháu, chú quên mất ngày hôm nay là ngày 7 tháng 11. Ngày mai 8 tháng 11 là kỷ niệm 41 năm ngày chú đi lang thang.

Thế là ghi: Tặng Nguyễn Bình Phương, tập sách đầu tiên chú in sau 25 năm im lặng. Hải Phòng, ngày mai là ngày 8-11.

Chắc chẳng ai hiểu được nội dung lời đề tặng ấy ngoài chú cháu tôi. Tôi ký đến mỏi tay. Vì đâu chỉ có sách của 2 người. Anh còn mang theo sách của nhiều bạn khác, cũng máu mê sách như các anh. Anh đọc tên để tôi ghi, và gọi điện cho những người bạn cùng hội cùng thuyền ấy ở Bắc Ninh, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, báo tin các anh đang ở nhà tôi, tôi đang ký sách cho họ rồi chuyển máy cho tôi. Tôi lại phải ngừng ký để nói chuyện với những bạn đọc ở xa...

Tôi sững người khi Phương tặng tôi hai tập Một thời để mất và Rừng xưa xanh lá in lần cuối, hai quyển tôi rất cần mà không mua được:

- Kiếm đâu ra thế này. Chú lùng mãi. Để tặng một bạn đọc ở Matxcơ va vừa mời chú sang Nga.

Phương hứa sẽ kiếm thêm cho tôi hai quyển nữa. Lại còn nói:

- Anh X bạn cháu sẽ về Hải Phòng gặp chú, biếu chú một bộ Chuyện kể năm 2000 mới tinh. Cháu biết anh ấy mua 10 bộ.

Đó là một món quà tôi không dám nghĩ tới. Phương đưa cho tôi một tờ giấy dó rất đẹp rộng bằng một tấm chiếu cá nhân làm bằng vỏ cây anh mua được của người Dao ở Hà Giang và xin chữ của tôi.

Tôi hoàn toàn bất ngờ khi biết trong cuộc sống thực dụng hôm nay vẫn có những thanh niên như Phương như Bách. Những người có những tiêu chí sống khác, những hệ quy chiếu khác, đam mê những giá trị khác, đồng tiền không là độc tôn với họ.

Kể từ hôm ấy chúng tôi là những người bạn của nhau. Trao đổi  email, gọi điện thoại cho nhau. Qua đó tôi biết Phương thích đọc sách từ nhỏ. Đọc mọi lúc, mọi nơi. Vừa chăn trâu vừa đọc Ngụ ngôn của La phông ten. Lớn lên đọc Nam Cao, Vũ Trọng Phụng. Rồi Ruồi trâu, Đỏ và Đen, Những người khốn khổ. Cái thư viện xã Kim Sơn (Gia Lâm) có bao nhiêu sách, Phương đọc hết. Cháu đọc lan man lắm chú ạ. Nói chung cháu đọc thập cẩm. Cháu mê Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Thạch Lam. Cháu thấy người mình rẻ văn và rẻ người quá. Cháu muốn có thủ bút của các nhà thơ nhà văn Việt Nam để lưu giữ và đang tập trung vào các nhà thơ trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân và đã có được chữ của 20 người rồi chú ạ. Cháu cũng có thủ bút của Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán, Lưu Trọng Lư, Hữu Loan, Xuân Diệu, Huy Cận, Hoàng Đạo Thuý, Vũ Ngọc Phan, Tô Hoài, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giáp, Tào Mạt, Tạ Tỵ, Vũ Đình Liên và...cả của bác nữa! Cháu cũng mới kiếm được chút bản thảo của Sơn Nam, vài bức thư của Nguyễn Vỹ, Vũ Đình Liên, Mộng Tuyết... Công việc tốn nhiều thời gian và tiền bạc lắm ạ. Gặp bác, cháu nhớ đến bác Kim Lân. Người hiền ngày càng hiếm...

Còn anh bạn Bách của cháu đã ba mươi tuổi rồi, có thể gọi là cuồng sách, nhịn ăn nhịn mặc để mua sách. Cháu chỉ có hơn 3000 cuốn thôi, chứ bạn ấy thì nhiều lắm...

Cú điện thoại gần nhất anh nói: Cháu vừa đi xe máy với một người bạn về Thanh Hoá thăm nhà thơ Hữu Loan. Vất vả nhưng vui lắm. Nhà thơ Hữu Loan yếu lắm rồi bác ạ...

Trở lại buổi sáng 7-11-2009 khi tôi ký tặng sách xong. Phương và Bách lấy từ trong túi ra 5 chiếc bánh gai. Phương nói:

- Nhiều người muốn gửi quà cho bác lắm, nhưng chúng cháu đi vội quá.

Tôi nói vui:

- Chú rất thích bánh gai Hàng Than. Cho quà phải đúng ý thích mới hay, đúng không? Vậy nên lần sau về các cháu nhớ nói với các bạn là chú thích 100 mét vuông đất ven Hồ Tây. Đơn giản thế thôi. Cứ tặng chú món quà ấy nhé.

Tất cả chúng tôi cười vang trước món quà “nhỏ nhoi” ấy.

Tiễn các anh xuống thang, tôi hiểu rằng cuộc đời thật đáng sống và những người này đâu chỉ là mê sách. Các anh còn lưu giữ những giá trị văn hoá của dân tộc. Và cũng không chỉ hai anh. Có cả một trang web mang tên sachxua.net với lời đề từ “Cảo thơm lần giở trước đèn” quy tụ hơn ngàn người như vậy. Các bạn có thể gặp Nguyễn Bình Phương mang nick name Yêu Văn, Nguyễn Thế Bách với nick name cafe_ sach và 1142 người yêu sách khác.

Đọc những entry và những comment của họ, ta bỗng thấy người nhẹ đi...



 
Cái uy của Nguyên Hồng

 

Trong một lần vào thành phố Hồ Chí Minh, tới thăm Nguyễn Khải, tôi đã được nghe anh kể nhiều điều thú vị về các nhà văn. Tham gia nhiều khoá chấp hành, lại ở ngay Hà Nội, luôn gặp gỡ với đủ loại nhà văn nhà thơ, trong đó có nhiều cây đa cây đề, anh biết bao chuyện về các nhà văn lớn chê bai châm chọc khích bác nhau, nói khi vắng mặt cũng như nói đốp vào mặt nhau những câu chẳng ra làm sao một cách nửa đùa nửa thật. Gần như không chừa một ai. Thế nhưng không một người nào đụng đến Nguyên Hồng. Nguyên Hồng có cái uy riêng. Nguyễn Khải nói với tôi như vậy. Tự nhận mình là đệ tử của Nguyên Hồng, tôi rất thú vị về điều ấy.

Trong một lần vào thành phố Hồ Chí Minh, tới thăm Nguyễn Khải, tôi đã được nghe anh kể nhiều điều thú vị về các nhà văn. Tham gia nhiều khoá chấp hành, lại ở ngay Hà Nội, luôn gặp gỡ với đủ loại nhà văn nhà thơ, trong đó có nhiều cây đa cây đề, anh biết bao chuyện về các nhà văn lớn chê bai châm chọc khích bác nhau, nói khi vắng mặt cũng như nói đốp vào mặt nhau những câu chẳng ra làm sao một cách nửa đùa nửa thật. Gần như không chừa một ai. Thế nhưng không một người nào đụng đến Nguyên Hồng. Nguyên Hồng có cái uy riêng. Nguyễn Khải nói với tôi như vậy. Tự nhận mình là đệ tử của Nguyên Hồng, tôi rất thú vị về điều ấy, về chuyện Nguyên Hồng có cái uy khiến ai cũng phải tôn trọng mà Nguyễn Khải nói cùng tôi.
Cái uy của Nguyên Hồng là gì nhỉ?
Chắc chắn cái uy ấy không phải toát ra từ vẻ mặt đôn hậu của anh, bộ quần áo nâu giản dị anh mang trên người cùng với toàn bộ dáng vẻ quê mùa chân chất của anh mà trong lần gặp đầu tiên, Pi-e A-bra-ham, chủ nhiệm tạp chí Europe đã gọi là Người-Của-Đất. Càng không thể là cái làn ràng ràng trong đó lủng củng chai lọ anh luôn xách theo như một thứ samsonite tuỳ thân của các thủ trưởng hôm nay, cũng không thể là thú vui ăn uống vỉa hè cổng chợ của anh. Tôi hiểu rằng người ta có thể không đánh giá cao sáng tác nào đó của anh, người ta có thể không thích cách sống xuề xoà tới mức luộm thuộm của anh, nhưng tất cả đều kính trọng nhân cách của anh, nhân cách nhà văn và nhân cách công dân. Anh chính là lương tâm văn học của tất cả, nhất là lớp trẻ chúng tôi. Cho đến bây giờ chúng tôi vẫn nói cùng nhau chuyện sau khi thôi giữ chức chủ bút tuần báo Văn, sau khi bị kiểm điểm lên xuống vì “tội” đã lãnh đạo báo Văn “đi trệch đường”, Nguyên Hồng xin nghỉ hưu và đưa cả gia đình từ Hà Nội về Yên Thế. Hành động treo ấn từ quan này chỉ có ở Nguyên Hồng, mà phải chờ đến gần nửa thế kỷ sau mới có một, hai quan chức đủ dũng khí, đủ tự trọng thực hiện.
Ngoài cuộc đời rất trong sạch của mình mà ai cũng phải kính nể, cái uy của Nguyên Hồng có lẽ còn ở chỗ anh đến với nghệ thuật như một tín đồ, với niềm si mê trong trẻo của mối tình mãi mãi là mối tình đầu. Không gì có thể làm vẩn đục được nó. Tiền bạc, chức vụ, danh vọng, nhà cao cửa rộng, sự tín nhiệm yêu mến của cấp trên, hay đơn giản chỉ là một chuyến đi nước ngoài mà bao người khao khát, tất cả không có chỗ trong sự suy nghĩ của anh. Anh đắng cay với nó, sung sướng với nó, khổ cực với nó. Anh vinh quang với nó và nhọc nhằn với nó. Tất cả đều coi anh là một bậc thánh tử vì đạo. Trong nghệ thuật anh chưa một lần dối trá. Có thể về cuối đời, sự dũng cảm, cái gan góc tự do kiểu ấy (chữ của Vương Trí Nhàn) trong anh ít dần đi, nhưng anh chưa một lần dối trá. Anh là nhà văn của những người cùng khổ. Hơn thế, toàn bộ sáng tác của anh còn trùng hợp với quan niệm của Elffriede Jelinek, nhà văn Áo, Nobel văn học 2004 “Văn học không đứng về phía kẻ mạnh.” Một bài thơ một câu của Dương Tường mang tên “Để ghi trên mộ chí sau này” có thể nói trọn châm ngôn sống và sáng tác của anh: Tôi đứng về phe nước mắt.
Nhiều lúc tôi lẩn thẩn tự hỏi: Nếu Nguyên Hồng còn sống tới hôm nay thì anh sẽ viết gì nhỉ. Chắc chắn sẽ có một quyển hồi ký mà anh đã nói với nhà thơ Thanh Tùng và người anh con cô con cậu Vũ Quốc Phan. Thanh Tùng đã hỏi anh: Sao bố không viết Bỉ Vỏ tập hai đi? Xã hội bây giờ còn bỉ vỏ hơn ngày trước đấy. Và ông Vũ Quốc Phan, trong một lần từ Paris về đã nói với anh: Anh ngạc nhiên về sự im lặng của em. Trước khi anh ra đi sang Pháp em còn dám viết Bỉ Vỏ. Tình trạng hiện thời không thiếu Bỉ Vỏ mà em không viết gì cả. Và Nguyên Hồng đã trả lời với cả hai người rằng anh sẽ viết một quyển hồi ký, đến khi anh chết người ta sẽ biết anh. Quyển hồi ký chưa được viết ấy, tiếng hót của con chim khôn trước lúc lìa đời ấy, chắc chắn sẽ chứa đựng nhiều điều thú vị, bởi khi sắp vào quan tài Nguyên Hồng mới viết, hẳn nó sẽ lại “đạt tới cái tầm chân thực mà chỉ các nhà văn Anh hay các nhà văn Nga mới đạt tới”để chúng tôi lại một lần nữa “sửng sốt về cái khả năng chân thực ghê gớm mà cũng là cái gan góc tự do kiểu ấy” của Nguyên Hồng như Vương Trí Nhàn đã viết về quyển hồi ký đầu tiên “Những ngày thơ ấu” của anh.
Nguyên Hồng đã nhìn thấy những Tám Bính, Năm Sài gòn thế hệ mới. Khi trả lời Thanh Tùng, anh đã khóc. Khóc vì thấy mình không còn là mình nữa, mình mắc nợ với họ, không làm tròn trách nhiệm nhà văn với họ. *
Nguyên Hồng đã bước vào cõi vĩnh hằng, đã xa tất cả chúng ta, nhưng đọc anh, ta thấy trái tim Nguyên Hồng vẫn còn rên rỉ cùng ta. Chúng tôi, lớp con em anh tóc cũng đã bạc trắng đầu. Tôi đã nhiều lần làm tổng kết cuộc đời. Bản tổng kết nào cũng có những ngày may mắn được quen anh. Đó là những tháng năm vừa hạnh phúc vừa bất hạnh, vừa ngọt ngào vừa cay đắng, vừa hy vọng vừa thất vọng của tôi. Và vì tất cả đã thành quá khứ nên càng làm tôi xao xuyến.
Sinh thời Nguyên Hồng rất thương tôi. Tình thương ấy chưa một lần nói thành lời ngoại trừ mấy hàng chữ anh đề tặng trên tập Một tuổi thơ văn: Cho Bùi Ngọc Tấn rất thương. Mùa đông nhớ năm xưa. Và ba lần anh khóc ở nhà tôi. Chỉ chẩy nước mắt thôi. Không nói. Lần thứ nhất: Gặp lại tôi sau năm năm xa cách. Lần thứ hai khi tôi cho anh xem bộ quấn áo số của tôi. Và lần thứ ba khi anh tặng tôi tập hồi ký Một tuổi thơ văn.
Đã 23 năm Hải Phòng vắng bóng anh, và phỏng theo cách En-xa Tơ-ri-ô-lê khóc Mai-a, vắng Nguyên Hồng ở mọi nơi cần có Nguyên Hồng. Xã hội chúng ta đang sống đây nơi nào chẳng cần có Nguyên Hồng. Tôi thèm được đạp xe lang thang cùng anh tới Trại lính Cát dem, Sở thầu Tây cụt, Máy nước hai vòi, phố Sau nhà lốp… và càng khao khát biết bao được đưa anh tới phố Nguyên Hồng, một phố nhỏ, vắng, chỉ khoảng 60 số nhà, lam lũ, chẳng thể nào bì được với phố Văn Cao. Tôi chắc anh bằng lòng với cái phố nhỏ ấy. Anh đâu phải là người của những đại lộ. Phố Nguyên Hồng Hải Phòng một đầu nối với phố Lán Bè còn gọi là phố Bờ Sông, một phố mà thời bao cấp, gần như toàn bộ dân phố khi lĩnh tem phiếu đều đem bán hết để lấy vốn làm ăn buôn bán sinh nhai. Còn đầu kia thông ra đại lộ Tôn Đức Thắng, nơi những Tám Bính mới đứng ven đường chào khách.
Không chỉ dành cho anh một tên phố, Hải Phòng nơi khai sinh ra anh với tư cách nhà văn, còn dựng tượng Nguyên Hồng. Cho tới nay tôi vẫn giữ giấy mời buổi lễ xúc động ấy. Trường Trung học Văn hoá Nghệ thuật Hải Phòng. Hai ngày trước Thiên Chúa giáng sinh. Cả trường tưng bừng trong ngày hội lớn. Tượng Nguyên Hồng dựng trong sân trường, dưới một tán lá, bên một gốc cây. Đèn đuốc sáng trưng. Các cháu ca hát, nhẩy múa. Sau buổi lễ, một bữa rượu được ghi trong chương trình: Dự tiệc rượu cùng cố nhà văn Nguyên Hồng. Một bữa rượu rất Nguyên Hồng được tổ chức ngay giữa sân trường. Chỉ có rượu trắng và thịt đựng trong đĩa lớn. Tất cả quây quần. Có thể dùng đũa hoặc bốc bằng tay. Tôi ngồi cùng bàn với Nguyễn Vũ Giang, con trai thứ hai của anh rất giống anh, sau khi về hưu, trở về ở hẳn Cầu Đen Yên Thế trông nom phần mộ hương khói cho bố mẹ. Và tiến sĩ tin học Bùi Quốc Tuấn, con rể anh, chồng Thanh Thư, cô con gái cũng mang rất nhiều nét Nguyên Hồng. Giang đem rượu từ Yên Thế xuống, thứ rượu gia truyền, sinh thời Nguyên Hồng vẫn uống. Chúng tôi đã uống cùng nhau thứ rượu này ở Cầu Đen trong ngày giỗ Nguyên Hồng hồi giữa năm, sau khi thắp hương trên mộ vợ chồng nhà văn.
Mắt tôi cay cay ngày giỗ anh đầu hè ấy và mắt tôi tràn đầy niềm vui đêm nay, đêm trước mùa lễ Giáng Sinh, khi anh đã có một hoá thân mới: Tượng đồng. Và tôi ngồi uống rượu với các con anh bên chân tượng. Sáng hôm sau ba anh em, tôi, Nguyễn Vũ Giang và Bùi Quốc Tuấn ngồi chung một chiếc xích lô tới phố Nguyên Hồng. Chúng tôi bước chậm dọc phố từ phía Lán Bè qua những hiệu tạp hoá nhỏ, những gánh quà rong, những cửa hàng bán tre nứa… và tôi cứ có cảm giác Nguyên Hồng ở đâu đó đang dõi nhìn những bước chúng tôi đi. Tới đầu phố phía đại lộ Tôn Đức Thắng, chúng tôi dừng ở một hàng nước chè chén vỉa hè. Ngồi xuống ghế. Giang giở bị bọc, lôi ra chai rượu chưa dùng đến tối qua. Và một túi lạc rang. Chúng tôi rót rượu mời mọi người. Mấy khách thanh niên đang ngồi liền bên hút thuốc, anh xe ôm cùng vài bác xích lô đón khách dưới gốc cây, ông chủ quán và cả hai ông già dáng vẻ hưu trí mải miết vào bàn cờ tướng chắc là rất gay go trên vỉa hè cạnh đó ngẩng cả đầu lên ngạc nhiên nhìn chúng tôi rót rượu ra các chén của ông hàng nước và mời tất cả. Để mọi người yên tâm vui vẻ uống, tôi giới thiệu Nguyễn Vũ Giang và Bùi Quốc Tuấn là ai. Và tại sao hai người lại có mặt ở đây. Một tiến “a” gần như đồng thanh. Sau đó là những nụ cười cởi mở. Không có gì là ngăn cách giữa những người vừa mới gặp nhau. Uống. Những người ở phố Nguyên Hồng uống rượu với các con của Nguyên Hồng ngay trên phố Nguyên Hồng, thứ rượu Nguyên Hồng vẫn uống mang từ Bắc Giang xuống. Uống và chuyện. Chuyện về việc dựng tượng Nguyên Hồng tối qua mà báo Hải Phòng và các hãng thông tấn vỉa hè đã loan đi. Chuyện về Nguyên Hồng. Tôi nghĩ trong số dự bữa rượu vỉa hè với chúng tôi hôm ấy có người chưa đọc Nguyên Hồng lấy một dòng. Nhưng tất cả đều biết anh. Đều nói tới anh với một vẻ yêu mến và kính trọng.
Tôi bỗng nhớ đến câu nói của Nguyễn Khải về cái uy của Nguyên Hồng. Và tôi hiểu thêm một nét nữa trong cái uy ấy. Nó còn bắt nguồn từ tình cảm của tầng lớp đông đảo những người đang ngồi chung quanh tôi, trên một đầu phố Nguyên Hồng này.


 


 
«Bắt đầuLùi123456Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)