Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 20 khách Trực tuyến
Thảo luận
Ngày xuân lạm bàn về rượu và văn hóa rượu


Đinh Quyền


Ngày Xuân, nâng chén rượu chúc nhau sức khỏe, gặp nhiều may mắn, thành đạt là nét văn hóa của người Việt. Nói văn hóa rượu nghe có vẻ lạ tai, nhưng ngẫm ra thấý đúng. Bởi từ xa xưa, ngay sau khi ra đời rượu là thứ không thể thiếu trong mọi sinh hoạt văn hóa: Hội hè, đình đám, giỗ chạp, ma chay, cưới hỏi…đều cần đến rượu. Đời người, những khoảnh khắc vui buồn đều mượn rượu sẻ chia. Chia ly, sum họp, dùng rượu đưa đón. Mâu thuẫn, giận hờn, mượn cuộc rượu phân lẽ đúng sai và giải hòa. Bàn rượu là nơi giao kết, hẹn hò, mưu tính chuyện làm ăn xây dựng sự nghiệp…

Chuyện xưa, qua cuộc rượu ba anh em Lưu, Quan, Trương đào viên kết nghĩa và Tào Tháo - Lưu Bị cũng trong cuộc rượu mà luận anh hùng. Chỉ có trong cuộc rượu nhiều khi người ta mới giãi bày gan ruột, và qua đó mới hiểu hết lòng nhau. Có lẽ chính vì thế mà có lần nhà văn Nguyên Hồng đã thổ lộ tâm tình với các học trò: “Ông phục nhất nhân loại đã có hai phát minh: tìm ra lửa và tìm ra men rượu. Cũng có lẽ vì thế mà rượu được người đời tôn vinh bằng những tên cao quý: Tiên tửu, thần tửu, vương tửu, thánh nhân tửu…Rượu đã đưa tên tuổi nhiều hãng sản xuất đi khắp địa cầu: Napoleon, Mao Đài, Cô zắc…Rượu đã tạo nên những địa danh gắn liền với nó và trở thành quen thuộc: Bến rượu, quán rượu, phố rượu, chợ rượu…Xem thế đủ biết, rượu đã góp công làm cho cuộc sống con người trở nên đa dạng, phong phú biết bao!

Có điều lạ là, rượu gần như chỉ dành cho giới mày râu, ưa thích, hưởng thụ, nhưng lại do phái đẹp tìm tòi sáng chế ra. Theo sách Lã Thị Xuân Thu và sách Thế Bản thì men rượu “ngang” là do bà Nghi Địch vợ vua nhà Hạ nước Tầu làm ra và theo truyền thuyết thì rượu Sán Lùng là do một người con gái mười sáu tuổi họ Tẩn người dân tộc Dao được tiên dậy dùng lá cây ủ với thóc nếp thơm đã nẩy mầm rồi chế thành.

Ngày nay, nếu nói theo cách sản xuất thì rượu có hai loại chính là rượu ủ và rượu cất. Rượu ủ có rượu cái ( thường gọi là cái rượu ), rượu Cẩm…

Rượu cất có nhiều loại như Nếp hương, Lúa mới, và các rượu ngang nấu ở khắp làng quê…Rượu cất còn chia hai loại là thượng thủy và hạ thủy tùy theo cách ngưng giọt rượu .

Người sành rượu chỉ cần nhìn hoặc ngửi qua là biết rượu nấu bằng nguyên liệu gì, gạo nếp hay gạo tẻ, ngô hay sắn, bằng cách gì, mới nấu hay đã lâu, tay nghề người nấu cao hay thấp. Nhà văn Nguyễn Tuân có lần bảo rằng nhà văn Nguyên Hồng mách ông: Rượu đục vì hai nguyên nhân: Do nồi bã quá lửa, bồn lên, và do mới cất chưa kịp lắng nên uống hơi nồng, kém ngon.

Rượu Việt Nam có từ bao giờ? Theo sách Hán Toàn Thư, mỗi năm nước ta phải cống nạp cho vua nhà Hán 1000 vò rượu, từ đó các nhà nghiên cứu cho rằng, rượu ở nước ta có ít nhất là vào năm 111 trước Công nguyên.

Trải suốt chiều dài lịch sử, tới nay đã có hàng trăm loại rượu ra đời. Có thể kể đến một số loại rượu nổi tiếng: Rượu Làng Vân (Bắc Giang), rượu Bàu Đá (Bình Định), rượu Cần (dân tộc Thái, Sơn La ), rượu Sán Lùng (dân tộc Dao, Lào Cai)…

Từ rượu, người ta lại nghĩ ra cách ngâm tẩm với nhiều sản vật quý hiếm khác thành thứ rượu mang tên mới: Minh Mạng thang (gồm rượu ngâm với hơn 20 vị thuốc Bắc), rượu Rắn (có Tam Sà gồm rượu ngâm với ba loại rắn hổ mang, cạp nong và rắn ráo; Ngũ Sà gốm ba loại trên thêm rắn hổ trâu và một con rắn săn chuột nào đó hoặc  2 con hổ mang, 1 con cạp nong, 2 con rắn ráo); Rượu Bìm bịp; Rượu Mật gấu; Rượu Tắc kè v.v…

Nhân đây xin được nói đôi điều về rượu Làng Vân. Làng Vân Hà, sáp nhập từ hai làng Thổ Hà và Vân Hợp. Loại rượu nổi tiếng làng Vân  có từ thời Lê. Thần phả của làng ghi: Năm 1703 thành hoàng làng được sắc phong “Thượng đẳng thần”, các bô lão được làng cử đi nhận sắc, có mang dâng vua ba bình rượu quý. Vua uống thấy ngon liền ban cho bốn chữ: “Vân hương mỹ tửu ”. Nghề nấu rượu đã được lưu truyền suốt mấy trăm năm và giúp cho người dân nơi đây thịnh vượng. Thời Pháp thuộc, cả tỉnh Bắc Giang có 40 nhà tư sản thì làng Vân có 24 nhà nhờ sản xuất và kinh doanh rượu. Làng hiện có trên 300 gia đình chuyên nấu rượu, mỗi nhà có công thức sản xuất men và kỹ thuật nấu bí truyền riêng, không bao giờ tiết lộ ra ngoài.

Quan niệm và cách thưởng rượu thay đổi theo từng thời, từng vùng miền, từng dân tộc.  Thời xưa đã có lúc cho rằng thưởng rượu phải theo đẳng cấp, chẳng hạn Minh Mạng thang chỉ vua được dùng, Vân Hương mỹ tửu dùng cho quan văn, rượu Bầu Đá dùng cho quan võ, rượu nấu ở làng quê khác là của thứ dân…

Phong tục uống rượu của người Thái mang bản sắc văn hóa rất riêng; Rượu dùng trong cuộc vui là loại rượu cần. Vị trí ngồi trong cuộc rượu theo chiều dọc, chia làm hai hàng: Hàng trên, ngồi sát vách là dành cho các bậc cao niên, các vị có vị trí quan trọng trong họ tộc và các vị khách quý. Hàng đối diện là hàng dưới  dành cho con rể, cháu rể và những người có trách nhiệm phục vụ bữa tiệc. Ngay trong từng hàng cũng có sự phân biệt rõ rệt: Đàn ông ngồi gần bàn thờ, đàn bà ngồi gần bếp. Bắt đầu vào bữa tiệc, người chủ trì ( gọi là Cóng ), một bậc cao niên, có uy tín được quyền nếm trước, rồi xướng to một bài văn vẻ đã thuộc sẵn, chúc mừng mọi người theo thứ tự cao thấp tuổi tác, chức vị…Sau đó mọi người vào cuộc rượu, và cứ thế, vui vẻ, cười nói, hát hò đến tận khuya.

Người Nam bộ và Đông Nam bộ qua cuộc rượu mà tìm bạn và kết bạn. Ai không biết uống rượu thì ít bạn, thuộc loại kém cởi mở, khó chơi, không xài được! Điều này có nguồn gốc lịch sử. ấy là từ thuở hoang sơ, mở mang lập nghiệp, người đến sau cần người trước giúp đỡ, người đến trước ở nơi hoang vu, vắng vẻ, cũng cần có bạn chia ngọt, sẻ bùi, cần sự gắn bó bằng tấm lòng tốt, lấy sự hào hiệp, trong đối xử, để đo bụng dạ con người, để hiểu con người. Qua cuộc rượu và trong câu chuyện khi nâng ly, tôi biết anh có thật lòng không, có gan chơi không, có dám cùng tôi đương đầu với gian nguy đang thách thức trước mặt không? Cách suy nghĩ lấy bụng dò bụng ấy lâu ngày thành quen. Ngày nay, một số nơi ngoài trưởng làng, trưởng đảo còn có trưởng môn là người được suy tôn cầm đầu môn phái  rượu. Mỗi khi rỗi rãi, lại hẹn nhau và cuộc thi đấu không kém phần quyết liệt.

Miền Bắc và miền Trung, xưa các bậc chí sỹ tìm gặp nhau bên chén tạc  (chủ mời khách), chén thù (khách mời chủ) để giãi bầy tâm sự, đàm đạo thời thế, chia sẻ những suy tư về thế thái nhân tình, và ngâm vịnh thơ phú… Cuộc rượu diễn ra sang trọng và tao nhã là nét văn hóa đặc sắc mà đời nay cần học tập.

Với văn nghệ sỹ, rượu giúp cho tâm hồn đạt đến độ thăng hoa, để cống hiến cho đời những nét vẽ xuất thần, những áng văn chương bất hủ. Chả vậy mà nhà tiểu thuyết Anh K.Anus đã thốt lên :”Một cốc rượu là một tầu phá băng nguyên tử trong nghệ thuật.” Còn nhà thơ Cratimes thì cho rằng:  “Không có câu thơ nào hay hoặc bất tử mà lại viết bởi những người chỉ uống nước lã.”. Nhà thơ Lý Bạch (Trung Quốc) cũng nói về sự kỳ diệu của rượu: “Tam bôi thông đại đạo / Nhất đẩu hợp tự nhiên ” (Một ly hợp nhẽ tự nhiên / Ba ly đạo lớn thông lên tận trời).

Ở Việt Nam, chỉ nói riêng thời hiện đại thì theo nhà thơ Phạm Tiến Duật về rượu, dân vẽ là loại 1, dân viết là loại 2. Mỗi văn nghệ sỹ có cách thưởng rượu riêng : Họa sỹ Nguyễn Sáng uống rượu với cái bóng của mình  soi trong chén rượu. Ông vừa nhắp, vừa suy tư về bức tranh đang đến hay một cuốn sách hội họa nào đó đã đọc qua mà khi vẽ lãng quên. Nhạc sỹ Văn Cao uống rượu bằng cách “mượn rượu.” Ông ngồi thiền lặng lẽ lắng nghe, trò chuyện đôi câu tâm đắc với bạn bè, anh em, cũng có lúc hình như ông du hành trầm tư về một nơi xa xăm nào đó của tâm tưởng. Vì vậy cuộc rượu có khi dài mà lượng rượu vào ông không nhiều. Nhà văn Nguyễn Tuân lại thưởng rượu bằng cách “chơi rượu”. Bi đông rượu đã từng theo ông trong các cuộc xê dịch viễn du đến khắp mọi miền đất nước tìm cái đẹp và đưa vào trang văn. Nhà văn Nguyên Hồng trong cuộc đời sống và viết không thể thiếu rượu. Ông bảo: “Rượu là tinh hoa của lúa gạo, là kết tinh của trời đất, uống vào hết mệt mỏi, quên hết sự đời.” Nói vậy thôi chứ sự đời ông đâu có quên. Chính rượu đã giúp ông thăng hoa trên trang văn, để ông trở thành lực điền trên cánh đồng chữ và gặt hái những mùa vàng bội thu. Cây rượu trong văn giới có lẽ phải kể đến cụ Tản Đà. Nhà văn Ngô Tất Tố nhận xét: “Đức tiêu tiền của ông Tản Đà ngang với tài thơ và tài rượu…Nếu không có rượu thì ông Tản Đà đã không thành ông Tản Đà” .

Rượu, theo Đông y, có tác dụng kích thích tiêu hóa, lưu thông khí huyết, dùng đúng cách, có lợi cho sức khỏe. Thưởng rượu là một nét văn hóa. Chính rượu đã góp phần làm cho đời sống văn hóa phong phú, văn minh hơn. Nhưng chớ nên uống rượu quá đà, làm hủy hoại sức khỏe bản thân và gây đại họa cho gia đình, xã hội. Cách thưởng rượu cũng không nên theo kiểu “quần ngưu ẩm” (uống như trâu ). Ngày xuân hãy nâng chén mừng xuân! ./.



 
Nhà văn, tác giả và độc giả thời computer


Thời đại của  computer lên ngôi, internet nối mạng toàn cầu, các nhà văn ngoài việc sáng tác, còn phải  nhanh tay... nhấn chuột. Computer cũng làm thay đổi mối quan hệ giữa nhà văn- tác phẩm -  bạn đọc, trong đó tác phẩm của nhà văn đến với công chúng không chỉ có trên giá sách và trong một nhóm người đọc...Tuy nhiên, dù thay đổi phong cách làm việc (tĩnh lặng, kín đáo, hay  bộc lộ, ồn ào) thì  với họ cuối cùng vẫn là giá trị tác phẩm.

Nhân dịp đầu xuân Giáp Ngọ 2014, Cửa Biển có cuộc trò chuyện  với nhà văn Bão Vũ  - ủy viên  Hội đồng văn xuôi (Hội Nhà văn Việt Nam) về một số khía cạnh trên...


PV - Chào nhà văn Bão Vũ! Tôi đọc bài “ở  ẩn, viết và truyền thông xã hội” của  nhà văn Mỹ Peter Orner đăng trên Tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) và liên tưởng tới ông - một nhà văn của Hải Phòng ít khi xuất hiện trước đám đông. Phải chăng ông cũng đang “nhốt mình”, ở ẩn giữa những ồn ào, như nhà thơ Phạm Xuân Trường đã vẽ chân dung ông: “Am thiền tọa giữa phố đông / “Người muôn năm cũ” sang sông lâu rồi...” Ông đang viết tiểu thuyết và cũng thường online?

Nhà văn BãoVũ: - Như Peter Orner nói thì ông ta từng tham dự cả một Festival văn học có nhiều nhà văn ở ẩn. Tôi tự hỏi, đã ở ẩn mà vẫn còn tụ tập nhau trong một Festival ồn ào, thì còn gọi là ở ẩn không? Tôi không nghĩ như P. Orner. Một nhà văn lẩn trốn mọi người, hay luôn có mặt trong đám đông không quan trọng bằng tác phẩm của anh ta. Đó chỉ là thói quen, là cá tính, là cách làm việc của mỗi nhà văn. Một người bạn của Peter Orner đã nói rất chí lý với nhà văn này, rằng “Anh chưa đủ nổi tiếng để ở ẩn”. Phải. Khi chưa phải là một nhà văn lớn trong mắt công chúng thì sự ở ẩn chẳng có ý nghĩa gì. Trong các giai thoại về những nhà văn lớn trên thế giới, ta thấy có người viết trong túp lều giữa rừng, có người viết trên tàu thủy dọc chuyến đi dài; và cũng có người chỉ viết được trong quán rượu, nơi không bao giờ ngưng những cuộc ẩu đả của đám nát rượu. Còn tôi, tôi chẳng hề cố ý ở ẩn hay không ở ẩn. Nhưng những năm gần đây, tôi nhận thấy mình và đám đông hình như không “hợp nhau”. Và do vậy tôi cố gắng ít xuất hiện ở nơi đông người.

Có vài lần tôi khước từ những phỏng vấn trực tuyến của đài truyền hình, và tôi chưa bao giờ giao lưu trực tuyến về văn chương mang tính trình diễn (trừ khi giảng bài cho lớp học viết văn của Trung tâm Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du). Tôi không tham gia facebook, nhưng tôi đánh giá cao giá trị, công dụng của Interne. Có nhà văn như nữ văn sĩ Doris Lessing, người đoạt giải Nobel Văn học 2007, không thiện cảm với Internet. Trong diễn từ nhận giải Nobel của bà có đoạn, đại ý: Cuộc sống của chúng ta đã thay đổi nhiều vì internet – thứ cám dỗ cả cả một thế hệ bằng tất cả sự ngớ ngẩn của nó. Đến nỗi, ngay cả những người lý trí nhất cũng phải thừa nhận, rằng một khi đã mê, họ không thể nào thoát ra được, thậm chí có thể dành cả ngày để lướt website.

Riêng tôi thấy internet ngoài những thông tin về mọi mặt của đời sống, rất cần thiết đối với người viết văn. Dĩ nhiên phải có cách tinh lọc những thứ sưu tầm được. Trước khi viết dù một truyện ngắn hay chỉ là một tiểu luận, tôi thường bỏ thời gian vào mạng tra cứu tài liệu liên quan đến những gì sắp viết. Thường số lượng tài liệu tham khảo gấp nhiều lần những gì sẽ viết.

PV - Nhân nói về online, tôi được biết một nữ văn sĩ có tới 5000 fan hâm mộ. Chị hầu như lúc nào cũng bận rộn với việc trả lời để thấy rằng mình rất lịch sự. Ông có như vậy không? Và nếu thế, nhà văn sáng tác vào lúc nào?

Nhà văn Bão Vũ: - Tôi không rõ chị nói đến nữ nhà văn JK Rowling – tác giả của bộ truyện ma thuật “Harry Potter”, hay nữ văn sĩ Stephenie Meyer với cuốn tiểu thuyết “Chạng vạng” nói về ma cà rồng. Hai người này có số người hâm mộ rất cao, tuy không thấy nói rõ số fan là 5000 người. Có thể chỉ là con số giả định, ước lệ, như người ta nói rằng nhân vật James Bond trong phim “Điệp viên 007” có số fan là 5000 người; hoặc ca sĩ Lee Min Ho có 5000 fans. Nhưng nói chung, nếu bận rộn với các fan tất nhiên sẽ ảnh hưởng tới thời gian cho sáng tác, và cả tâm trí nữa. Thậm chí nhà văn sẽ dễ tự mãn, đến mức khó làm việc tiếp, tìm tòi tiếp.

Hầu hết các nhà văn đều yêu mến và muốn làm hài lòng độc giả của mình, bởi vì họ biết rằng, suy cho cùng, sách viết ra là để cho người đọc, nhà văn cần làm cho độc giả hài lòng khi đọc tác phẩm của mình. Nhưng, ta hãy thử liên tưởng đến những nghệ sĩ xiếc. Diễn viên khi đang dồn tâm lực cho những động tác trong tiết mục ở trên cao, có thể gặp nguy hiểm  khi bị phân tâm nếu chú ý đến thái độ của khán giả, dù là những tíếng la cổ vũ, tán thưởng. Có một anh bạn nhà văn khoe với tôi là anh ta đã làm cho một người hâm mộ phải bẽ mặt vì khen tác phẩm của anh ta là “hay”. Anh cau có: “Ông biết quái gì mà bảo là hay?” Và anh ta khoan khoái nói với tôi: “Thế là dứt được một gã hâm mộ dai dẳng”. Như vậy xem ra có vẻ tệ với một độc giả yêu văn mình. Nhưng nếu nhà văn vượt qua được sự khen chê sẽ tĩnh trí khi viết.

PV: - Theo ông, nhà văn có cần quảng bá, đúng hơn là quảng cáo tác phẩm của mình? Cái đích cuối cùng với nhà văn có phải là bán được sách trên thị trường?

Nhà văn Bão Vũ: - Tôi không nghĩ thế. Tác phẩm văn học là loại sản phẩm đặc biệt, có thể so sánh với những sáng tạo của thiên nhiên, như loài hoa chẳng hạn. Tác phẩm văn học có giá trị đích thực là kết quả của một quá trình hoài thai nghệ thuật, ngoài cả ý muốn tác giả. Hoa cũng nở tự nhiên, với sự đẹp đẽ tự nhiên về hình dáng, hương thơm, màu sắc... Các bông hoa không chung một khuôn mẫu. Không thể vì sự tán dương cố ý, hay vì công nghệ quảng cáo mà giá trị của tác phẩm tăng hơn giá trị thực của nó. Ví với loài hoa, vì ta thường nói đến thành ngữ “Hữu xạ tự nhiên hương” để nói đến giá trị của một tác phẩm văn học, hoặc với một người đẹp, tốt, (sản phẩm của thiên nhiên). Tuy vậy, có những tác giả coi việc bán tác phẩm của mình là cần thiết cho cuộc sống vật chất, hoặc danh tiếng của họ, thì điều đó cũng không có gì xấu. Chỉ có điều nếu quá ồn ào, khoa trương và có mục đích hạ thấp các tác phẩm, tác giả khác thì lại là chuyện không nên có ở người cầm bút. Và, ai cũng biết, sách bán chạy có thể chưa hẳn là tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao.

PV - Vậy những cuốn sách của ông như tập truyện ngắn “Mây núi Thái Hàng” từng được đề cử giải thưởng văn học ASEAN ra thị trường bằng cách nào? Hệ thống các nhà sách truyền thống hay cửa hàng sách điện tử?

Nhà văn Bão Vũ: - Theo dõi số phận những “đứa con” của mình trên internet, tôi thấy các tác phẩm “Mây núi Thái Hàng”, “Hoang đường”, “Vĩnh biệt vườn địa đàng”, “Bài hát cỏ vi” ngoài thị trường sách trong nước, đã được các nhà sách GoogleBooks, Amazon, WorldCat, Classifi,. Openlibrari, Locator... giới thiệu và có mặt trong thư viện ở các trường đại học, thành phố Iowa, Michigan, Chicago... (Hoa Kỳ) và một số thư viện ở Anh, Nga, Ukraina... Tôi không hề biết khi người ta sử dụng tác phẩm của mình, trừ nhà sách GooggeBooks có hỏi ý kiến, và tôi chấp thuận.

PV- Xin cảm ơn nhà văn Bão Vũ. Nhân dịp năm mới, chúc mừng những thành công của các nhà văn Hải Phòng và riêng cá nhân ông./.


Ngọc Anh thực hiện



 
Bác Hồ khởi xướng phong trào Tết trồng cây

 

Nguyễn Hữu Tuấn


Từ tầm nhìn chiến lược trong mối quan hệ hữu cơ trồng cây – trồng người, ngày 13/9/1958, Bác Hồ đến thăm, nói chuyện với giáo viên cấp 2, 3 toàn miền Bắc dự lớp bồi dưỡng chính trị tại trường Bổ túc văn hoá công nông trung ương. Người nói “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” (Báo Nhân dân 15/9/1958).

Thế rồi chỉ hơn 3 tháng sau đó, ngày 28/1 đầu xuân Kỷ Dậu (1959) năm ấy, Bác Hồ với bút danh T.L viết bài trên báo Nhân dân phát động, toàn dân hưởng ứng phong trào Tết trồng cây. Ngày 11/1 đầu Xuân Canh Tý (1960), Bác Hồ đến công viên hồ Bẩy Mẫu - Hà Nội, nay là công viên Thống Nhất) trồng cây đa, mở đầu phong trào Tết trồng cây do Người khởi xướng. Từ đó, trong suốt những năm 60 của (thế kỷ 20), Tết trồng cây trở thành tập quán của nhân dân mỗi độ Xuân về, Tết đến nhà nhà trồng cây, nơi nơi trồng cây: Mùa xuân là tết trồng cây/ Làm cho đất nước càng ngày càng xuân.

Chắc hẳn có lẽ từ xa xưa, người ta coi trồng cây như một quy luật tự nhiên của tạo hóa để con người tồn tại, phát triển. Với tầm nhìn xa về tương lai, Bác Hồ đặc biệt quan tâm chăm lo sự nghiệp trồng cây - trồng người. Chuyện từ thực tế mà nhiều người cảm nhận cho rằng mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc về giá trị nhân văn cây - người - đời. Tại lễ kỷ niệm  đầu tiên ngày sinh của Bác (19/5/1946), hôm đó, Bác tiếp đại biểu thiếu nhi Thủ đô, tự vệ, hướng đạo sinh đến chúc mừng, Bác tặng các đại biểu thiếu nhi một cây bách trồng trong chậu và nói: “Bác có cây này tặng các cháu. Mai sau cái cây sẽ mọc ra một chậu trăm cái tán. Các cháu về chăm nom cho cây nhớn, cây tốt, thế là các cháu yêu Bác lắm đấy” (Theo “Bác Hồ chúc Tết”, NXB Chính trị Quốc gia 2010, trang 167).


Chủ tịch Hồ Chí Mình chăm sóc cây vú sữa miền Nam


Là người khởi xướng, Bác Hồ theo dõi sát phong trào Tết trồng cây, trong 10 năm (1960-1969) với bút danh T.L. Bác đã viết 5 bài trên Báo Nhân dân biểu dương, khen thưởng người tốt, việc tốt xuất hiện trong phong trào Tết trồng cây, đồng thời Bác căn dặn trồng cây nào sống, xanh tốt cây ấy; nói rõ lợi ích lâu dài trồng cây tạo ra cảnh quan đẹp cho các làng mạc, thành phố có cây xanh tỏa bóng mát, điều hòa khí hậu, giữ gìn môi trường sống, gần gũi với thiên nhiên, cân bằng sinh thái... Đầu xuân Kỷ Dậu (1969), bài báo cuối cùng Bác viết nhìn lại 10 năm phong trào Tết trồng cây (1960-1969) vẫn với bút danh T.L trên Báo Nhân dân (ngày 5/2/1969), Bác Hồ nghiêm khắc chỉ ra khuyết điểm, nêu đích danh những địa phương chạy theo thành tích phong trào tham trồng nhiều mà ít trông nom chăm bón nên cây trồng thì nhiều, cây sống thì ít, không hiệu quả.

Vào những dịp Tết cổ truyền dân tộc, Bác Hồ đi thăm chúc Tết nhân dân, bộ đội ở địa phương nào Bác đều tham gia trực tiếp trồng cây. Ngày nay, đi trên đường có hàng cây xanh tỏa bóng mát hoặt dạo chơi trong các vườn hoa, công viên cây xanh, chúng ta không khỏi bồi hồi nhớ lại trước lúc đi xa, ngày 16/2 (tức  mồng một Tết Kỷ Dậu 1969), Bác Hồ đến xã Vật Lại (huyện Ba Vì) lần thứ hai, nơi đây làm theo lời Bác đã biến các đồi trọc thành đồi cây xanh mang tên “Đồi cây đón Bác Hồ” và Người trồng cây xanh. Cũng Tết Kỷ Dậu năm đó, Bác Hồ đã thưởng huy hiệu của Người cho một số cụ ông, cụ bà ở các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nam Định, Thái Nguyên có thành tích xuất sắc trồng cây giỏi; động viên con cháu tích cực tham gia Tết trồng cây, gây rừng làm theo lời Bác, thực hiện Tết trồng cây, gây rừng mà nhiều vùng đất, đồi trọc trung du, các tỉnh ven biển đã được phủ xanh thành rừng thông nhựa, bạch đàn, vườn cây ăn quả... tạo nên không gian màu xanh bao la cho đất nước, đúng như ca từ trong một bài hát “xanh núi - xanh sông - xanh đồng - xanh biển”.

Có thể nói, nhìn nhận từ hai góc độ lợi ích kinh tế và khoa học môi trường càng thấy ý nghĩa to lớn của phong trào Tết trồng cây do Bác khởi xướng. Từ bài báo đầu tiên Bác viết trên Báo Nhân dân (ngày 28/1/1959) kêu gọi toàn dân trồng cây cách đây 55 năm (1959-2014) đến nay vẫn còn nguyên giá trị, phù hợp với đời sống- xã hội đương đại mà ngày nay nhiều nước trên thế giới xây dựng thành phố sinh thái, thành phố cây xanh, nền kinh tế xanh, năng lượng xanh. Trong đó, Hải Phòng đang phấn đấu thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố Cảng xanh, bền vững”.



 
Chuyện không ra gì nhưng cần phải kể


Vĩnh Thông (An Giang)


Số là chuyện bút danh. Chỉ đơn giản là chuyện bút danh chứ không phải gì to tát. Như ai cũng biết, người sáng tác văn học, nghệ thuật thường có hai xu hướng để ghi tên tác giả, xem như là sự “đánh dấu”, sự “chứng nhận” quyền của mình đối với tác phẩm do mình tạo ra. Một là, sử dụng tên thật - tên khai sinh cha mẹ đặt sao để vậy. Hai là, dùng một cái tên khác do mình tự đặt ra, gọi là bút danh hoặc bút hiệu. Nếu nói rằng số lượng tác giả sử dụng tên thật là nhiều thì số lượng tác giả sử dụng bút danh cũng không phải ít. Có người dùng tên thật, cũng có người dùng bút danh, thậm chí có người dùng cả tên thật và bút danh, hay dùng nhiều bút danh khác nhau. Từ xưa đến nay đã có nhiều trường hợp như vậy.

Nếu ai đó nghĩ rằng, bút danh là dành cho những người có tên khai sinh không được đẹp, họ dùng bút danh che giấu cái “chưa đẹp” trong tên thật của họ - thì suy nghĩ này hoàn toàn sai lầm. Bởi lẽ không phải tác giả nào có tên khai sinh “chưa đẹp” cũng đặt bút danh, và như thế, không phải tác giả nào có tên khai sinh đẹp đều dùng tên thật. Thí dụ như Nhất Linh tên thật Nguyễn Tường Tam, Hàn Mặc Tử tên thật Trần Trọng Trí, Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, hoặc có trường hợp người viết chọn bút danh vì một ẩn ý nào đó, như Thế Lữ là bút danh của Nguyễn Thứ Lễ, Nguyễn Đông Thức là bút danh của Nguyễn Đức Thông… Dĩ nhiên, tên những nhà văn, nhà thơ này rất đẹp, nhưng họ vẫn dùng bút danh. Hay như họa sĩ Nguyễn Hải Chí - cái tên rất đẹp, nhưng lại đặt cho mình bút hiệu trơ trọi có một chữ Chóe, vậy mà khi nói đến Nguyễn Hải Chí ít người biết chứ nói đến Chóe thì ai cũng biết.

Vậy thì, việc dùng bút danh hay tên thật chỉ đơn giản là bắt nguồn từ sở thích, hay từ một dấu ấn nào đó trong đời, hay một ẩn ý nào đó… Nhưng tựu trung lại, dù có ý nghĩa gì, thì bút danh cũng là “sản phẩm” được sinh ra từ… cá nhân và hoàn toàn thuộc về cá nhân.

Nói hơi dài dòng một tý, bởi vì câu chuyện tôi sắp kể đây lại xoáy vào việc bút danh và tên thật. Chuyện thì không có gì to tát, thậm chí còn “không đâu vào đâu”, nhưng xét lại thì nên kể, vì đây không chỉ là chuyện của riêng tôi, mà có lẽ nhiều người cũng có thể gặp tình huống tương tự.

Đó là vừa rồi, có một bác nhà văn (tôi gọi vì tôn trọng tuổi đời và nghiệp viết) gửi tặng tôi một quyển tạp chí mới xuất bản để “đọc chơi”. ở trang đầu, phần ký tặng bác ấy không ghi bút danh của tôi như nhiều người từng tặng sách cho tôi, mà lại ghi tên thật. Điều đó cũng không sao. Nhưng quan trọng hơn là ở phía dưới, bác ấy còn ghi thêm một câu (nguyên văn): “Lưu ý: Thời văn minh này các nhà văn nhà thơ dùng tên khai sinh (bố mẹ đặt thế nào ghi như vậy) không ai dùng bút danh như thời lạc hậu”. Đọc câu này, không biết mình nên tức hay nên cười. Theo phép tắc thì phải báo bác ấy biết mình đã nhận được sách tặng và cám ơn, còn chuyện tranh luận, thôi thì để bàn sau qua email cho được rõ ràng, cụ thể hơn. Nhưng sau đó tôi lại quyết định nói kèm nội dung này vào tin nhắn điện thoại luôn, vì cũng không cần thiết phải nói dài dòng, quan trọng là cho bác ấy hiểu quan điểm của tôi.

Tôi gửi: “Cháu đã nhận được sách bác tặng. Bút danh không phải lạc hậu hay hiện đại mà là ý thích cá nhân mỗi người. Cám ơn bác”.

Bác ấy trả lời lại: “Không phải hiện đại hay không hiện đại, vấn đề chính ở chỗ là bây giờ không mấy ai dùng bút danh. Các nước phương Tây mấy trăm năm nay các nhà văn, cả những nhà khoa học nổi tiếng chỉ dùng tên khai sinh thôi”.

Tôi không chịu cách lập luận thế này, nên tiếp tục trả lời: “Ai thích dùng tên thật là quyền của họ, còn ai thích dùng bút danh cũng là quyền của người ta. Không thể vì nhiều người không dùng bút danh mà bắt người khác cũng không được dùng. Sống thì quan trọng là chính mình chứ đừng chạy theo người khác. Mình thích cái gì thì mình hãy tự do thể hiện”.

Bác ấy tức giận và bảo rằng: “Cháu mắc bệnh xấu của người viết là hay cãi. Thôi nhé bác không dạy được cháu thì thôi không liên lạc nữa”.

Nếu bác ấy đã nói thế thì tôi cũng chẳng còn gì để tiếc nuối cho mối quan hệ giữa tôi và bác ấy, tôi gửi tin nhắn cuối: “Cháu nói đúng chứ không nói sai nên không sợ, bác không thích cháu thì thôi, cháu đành chịu. Nhưng bút danh là chuyện cá nhân, cháu sẽ là cháu chứ cháu không muốn chạy theo trào lưu gì hết. Người thích ăn phở thì không thể nào ép họ phải ăn cơm được. Cám ơn bác đã góp ý”.

Ôi ! Thật không thể hiểu nổi, tôi đã làm sai gì chứ. Tôi chọn cho mình một bút danh, chính thức dùng và nhất quyết muốn giữ nó, vậy là sai sao ? Giống như bạn mình mới mua quyển sách, mình đến nhà chê là sách này dở quá, xưa quá, kêu bạn bỏ đi, nhưng bạn không bỏ, vậy là mình giận bạn sao, trong khi đó chuyện tài sản của bạn thì có liên quan gì đến mình. Dĩ nhiên, có thể có người không thích bút danh của tôi, nhưng đó là sở thích của tôi, làm sao có thể phản bác sở thích người khác được. Giống như trong thí dụ mà tôi gửi bác ấy, một người thích ăn phở, thì dù anh có đem đến cho họ một mâm cơm tuyệt ngon, họ cũng chê là dở. Vậy thì mỗi người có ý thích, chủ kiến của riêng họ, sao lại bắt ép người ta làm theo ý mình. Người ta dùng bút danh, vì một lý do cá nhân nào đó của riêng người ta, mà mình không thể nào biết được, vậy thì sao lại bàn tán, cản ngăn, bất bình? Chỉ vì tôi không chịu từ bỏ bút danh (tài sản của tôi) mà một mối quan hệ đã bị cắt đứt. Thử hỏi câu chuyện này có phải là “không ra gì” không ?

Tôi và bác ấy có thể vẫn tiếp tục cuộc tranh luận, nhưng cả hai thấy không cần thiết. Ai cũng có quan điểm riêng và ai cũng ra sức bảo vệ quan điểm của mình, thì tranh luận sẽ chẳng bao giờ ngã ngũ, trái lại còn làm tăng ấn tượng xấu về nhau. Bác ấy nói không sai, và tôi thì cũng chẳng sai. Bởi vì tôi có đặt bút danh thì cũng có ảnh hưởng tới ai đâu. Và thí dụ cả thế giới này không ai dùng bút danh, mà một mình tôi dùng, thì cũng chẳng ảnh hưởng tới ai. Bản thân bút danh, chỉ đơn thuần là những chữ cái ghép lại, nó không có tội, cũng không độc hại gì đến ai, vậy thì sao phải cố chấp để gán tội cho nó. Mà nếu nó có tội, chắc là tội “không giống thế giới” vì “cả trăm năm nay không ai dùng bút danh” như lời bác nhà văn ấy nói.

Thật ra thì tên khai sinh, hay bút danh, hoặc tên thường gọi nào khác đi nữa, thì cũng chẳng quan trọng, gọi ra tên nhau là để tránh lầm lẫn nhau mà thôi. Cái tên thì không thể hiện được con người, nên đừng chấp vào cái tên phải thế này hay thế khác. Cũng như có người đi học tên đẹp, về bên ngoại có tên gọi khác, về bên nội lại gọi khác, rồi cha mẹ thì gọi tên khác… thì cũng vậy, không có gì quan trọng cả. Như Nguyên Ngọc tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu, lại có bút danh khác là Nguyễn Trung Thành. Hai bút danh “đứng tên” cho hai tác phẩm khác nhau là với “Đất nước đứng lên” và “Rừng xà nu”. Nếu có ai nói “Đất nước đứng lên” là của Nguyễn Trung Thành, “Rừng xà nu” là của Nguyên Ngọc thì “Đất nước đứng lên” vẫn là “Đất nước đứng lên” và “Rừng xà nu” vẫn là “Rừng xà nu”, và tác giả cũng là một, đâu có đổi khác. Tuy nhiên, nếu nói vậy thì có thể nhiều người sẽ không biết. Vậy thì cứ nói như ý tác giả cho mọi người dễ biết, bởi vì thực tế cái tên Nguyên Ngọc đã gắn liền với “Đất nước đứng lên”, cái tên Nguyễn Trung Thành đã gắn liền với “Rừng xà nu”, còn cái tên Nguyễn Văn Báu thì gắn liền với… giấy chứng minh nhân dân !

Thực ra cũng do cái suy nghĩ của nhiều người quá lớn, họ muốn đem suy nghĩ của họ để “lấn át”, “đè bẹp” suy nghĩ người khác. Bởi vì khi cái suy nghĩ của họ lớn như thế, trong đầu họ chỉ biết rằng họ là đúng, luôn luôn đúng, còn người khác đều sai. Lời kết cho câu chuyện “không ra đâu” này, xin mượn ý của Đức Phật: “Dù cho cha mẹ đặt tên hay một tên nào khác, thì chẳng qua cũng chỉ là những tên suông, đặt ra để phân biệt người nọ với người kia mà thôi. Trong những cái tên đó không hề có cái “ta” hay cái “của ta” như chấp ngã thường lầm nhận”./.



 
Vấn nạn bằng cấp giả, kiến thức giả


Nguyễn Hữu Tuấn


Đề thi tự luận môn văn tốt nghiệp Trung học phố thông quốc gia năm 2012: “Thói dối trá là biểu hiện sự suy thoái đạo đức trong xã hội. Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên”. Đây là đề văn hay, mang tính định hướng cho các cô tú, cậu tú thời @ (a còng), gắn việc học hành với thực tế đời sống xã hội, khiến tôi liên tưởng đến tình trạng “chạy bằng cấp”, “học hộ”, “thi hộ”, khai man “học hàm – học vị”, “đạo văn” ... diễn ra ngày càng phổ biến như “đại dịch” lây lan vào bộ máy công quyền (từ cấp xã đến tỉnh, trung ương) và trong cả các lĩnh vực truyền thông, giáo dục, y tế, khoa học, ngân hàng... trở thành vấn nạn mà báo chí đã nêu.

Từ nguồn tin của quần chúng tố cáo, qua kiểm tra đã phát hiện nhiều người sử dụng văn bằng giả để thăng quan tiến chức, được tuyển dụng vào cơ quan Nhà nước, đoàn thể... Năm 2012, huyện Bố Trạch (Quảng Bình) kiểm tra văn bằng của 440 giáo viên mầm non, có đến 28 người dùng bằng giả, bị xử lý buộc thôi việc (Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh, ngày 2/4/2013); Huyện Hồng Dân (Bạc Liêu) 29 quan xã - huyện  mua và “xài” bằng giả (Báo Công an nhân dân, ngày 18/11/2010); chỉ riêng tỉnh Sóc Trăng tổng kiểm tra văn bằng, phát hiện 284 người dùng bằng giả, chứng chỉ bất hợp pháp, trong số này có nhiều cán bộ đảm đương chức vụ chủ chốt từ xã đến huyện (Báo Tuổi trẻ, ngày 13/4/2011).

ở Hải Phòng hai quan chức quận Hải An, Lê Chân rất “sòng phằng”, chưa tốt nghiệp cấp 3 bổ túc văn hóa vẫn học đại học, cốt có mảnh bằng để trả “món nợ” còn thiếu khi được bổ nhiệm làm Chủ tịch, Phó Chủ tịch quận. Trong làng báo chí cũng có nhiều chuyện tai tiếng về bằng cấp như trường hợp của ông Đỗ Sơn Hùng được đề bạt Phó Giám đốc Đài Phát thanh Truyền hình Phú Thọ, chưa ngồi “nóng ghế” liền bị đồng nghiệp tố cáo dùng văn bằng bất hợp pháp học Đại học báo chí, nên Phân viện Báo chí – Tuyên truyền (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) đã ra quyết định thu hồi bằng (Báo Công an nhân dân ngày 22/10/2002).

Thậm chí có chuyện thoạt nghe tưởng như đùa mà thật 100%. Ví dụ như chuyện về sự “thông minh” của bà Võ Thị Nhị, Trưởng phòng nghiệp vụ Đài Phát thanh Phú Yên, chưa học hết lớp 9, trong tay đã có 2 bằng cử nhân kế toán – tài chính và cao cấp lý luận chính trị đạt “chuẩn hóa” cán bộ và ngấp nghé... chức cao hơn (Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh, ngày 12/10/2008).

Có thể nói tình trạng sử dụng văn bằng như “chuyện thường ngày ở huyện”, “biết rồi nói mãi... mãi không biết” vì hiện nay bằng cấp được coi như “bùa hộ mệnh”, giấy thông hành bước lên nấc thang danh vọng. Tại hội thảo dự thảo Nghị định Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giáo dục, Phó Giáo sư Trần Ngọc Dũng - Trường Đại học Luật Hà Nội phát biểu khiến nhiều người giật mình, khi ông đưa ra con số “mỗi năm Trường Đại học Luật Hà Nội phát hiện 40 đến 45 bằng giả ở hệ vừa học vừa làm. Có cán bộ đi học văn bằng hai về Luật nhưng văn bằng trước đó lại là văn bằng giả. Có lớp văn bằng giả chiếm tới 10%” (Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh, ngày 20/3/2013).

Thời bao cấp, trong công tác tổ chức cũng có chuyện tiêu cực “bằng lòng hơn bằng cấp...”. Nay Nhà nước thực hiện chủ trương “tiêu chuẩn hóa” cán bộ, công chức là cần thiết, mục đích nhằm đáp ứng trình độ xây dựng, phát triển nền kinh tế tri thức. Nhưng do công tác tổ chức, đề bạt, bổ nhiệm... mắc căn bệnh “sính bằng cấp”, bỏ qua năng lực thực tế, không nhìn nhận hiệu quả công việc... mà lấy bằng cấp làm thước đo thang giá trị thực lực của con người nên nhiều người sẵn sàng sử dụng văn bằng giả, bất chấp lời cổ nhân răn dạy “Nhân vô sỉ, bất thành nhân”; làm đổ vỡ chuẩn mực đạo đức xã hội. Sinh thời Bác Hồ nói “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Mà con người ở đây chính là cán bộ nói thật, học thật, làm thật, đó là cái gốc của mọi công việc và sự thành công.

Lịch sử khoa bảng nước ta, thời nào cũng trân trọng tôn vinh, ghi danh những người hiền tài, có đạo đức, học rộng, đỗ đạt cao, trong đó nhiều tiến sĩ được khắc tên vào bia đá ở Văn miếu - Quốc tử giám. Tuy thế, trong khoa cử thời Pháp thuộc (thế kỷ 19) cũng có những chuyện không hay bị người đời trách cứ. Chẳng hạn như  cụ Tam nguyên Yên Đổ (nhà thơ Nguyễn Khuyến) có hai bài thơ trào phúng đều lấy tên “Tiến sĩ giấy” châm biếm mỉa mai thói tự đắc, hợm hĩnh, hư danh, hư vị của những “Tiến sĩ giấy”  thời bấy giờ ở nước ta. Bài hai “Tiến sĩ giấy” còn gọi là “Ông nghè tháng tám’ gồm 8 câu thể thất ngôn bát cú Đường luật: “Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai/ Cũng gọi ông Nghè có kém ai/ Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng / Nét son điểm rõ mặt văn khôi/ Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?/ Cái giá khoa danh ấy mới hời!/ Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe/ Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!”.

Bài “Tiến sĩ giấy” của cụ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến là bức biếm họa chân dung những “Tiến sĩ giấy” dưới thời Pháp thuộc bất tài, vô dụng. Hiện tại cả nước có 14.000 tiến sĩ. Dư luận cho rằng đây là thành tựu giáo dục- đào tạo đáng mừng nhưng cũng có không ít người băn khoăn đặt câu hỏi liệu trong số này bao nhiêu tiến sĩ có đề tài nghiên cứu khoa học, công trình công bố hay chỉ có cái “mác” học vị, hữu danh vô thực (?). Vừa qua, báo chí nêu đích danh trường hợp ông Cao Minh Quang học 2 năm (1992-1994) nghiên cứu về dược phẩm tự nhiên tại Trường Đại học LIPPSALA (Thụy Điển) được cấp chứng chỉ (chứ không phải văn bằng). Nhưng ông Quang khai “khống” là bằng tiến sĩ để chễm chệ ngồi “ghế” Thứ trưởng Bộ Y tế, đã bị quần chúng bóc mẽ (Báo Thanh niên, ngày 16/9/2011); cũng vẫn chuyện “học hàm – học vị” nói về một quan chức thuộc hàng “chóp bu” tỉnh Yên Bái đi tu nghiệp ở nước ngoài sáu tháng, về nước cũng khai bằng tiến sĩ. Có người hài hước gọi “tiến sĩ ngoại” sáu tháng. Trước công luận, cơ quan chức năng trung ương phải vào cuộc xác minh thật giả của tấm bằng “tiến sĩ ngoại” sáu tháng này (Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh ngày 4/8/2010).

Như chúng ta biết, bằng cấp giả đồng nghĩa với trình độ kiến thức hiểu biết giả nhưng lại được ngồi vào “cái ghế” thật nắm quyền lực, mà quyền đẻ ra tiền, tất sẽ phát sinh nhiều cái giả khác, như đạo đức giả, học vị giả, tri thức giả, thành tích giả,... vô cùng nguy hại, làm nghèo đất nước. Đại văn hào Lep Tônxtôi (Nga) có

câu triết lý xã hội sâu sắc “Không phải sự dốt nát mà sự hiểu biết giả là đáng sợ nhất. Tất cả mọi tội ác trên thế gian đều bắt đầu từ đó”. Trước vấn nạn bằng cấp giả, kiến thức giả hiện nay, chúng ta không thể không suy ngẫm câu nói đó của Lep Tônxtôi. Đây là vấn đề thời sự “nóng’ thật đáng lo ngại cần sớm có biện pháp (như loại thuốc đặc hiệu chữa bệnh) ngăn chặn, loại trừ tện nạn này ra khỏi đời sống xã hội. Có như vậy, nước ta mới có nền học vấn thực sự, nâng cao dân trí ngang tầm với thế giới./.


 

 
«Bắt đầuLùi123456Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)