Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 14 khách Trực tuyến
Cần có hình thức vinh danh tiến sĩ đời Lê

 

Ngô Đăng Lợi


Xã Hà Dương, tổng Hạ Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, xứ Hải Dương (nay là thôn Hà Dương, xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng) có 2 di tích lịch sử được UBND thành phố cấp Bằng Di tích lịch sử năm nay.

Đó là chùa Hà Dương (tên chữ Hoa Am tự) do quan nghè Dương Đức Nhan, người làng cùng vợ hưng công xây dựng, nên ông bà được bầu là hậu Phật; Đền thờ tiến sĩ Dương Đức Nhan do con cháu ngài trong đó có Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa là môn sinh vừa là rể cùng các bạn xây dựng trên nền nhà giảng học sau khi ngài qua đời. Đền ban đầu có tên Dương Tướng công từ. Cả chùa và đền đã qua nhiều lần sửa chữa tôn tạo đến trước chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ. Năm 1963 do nhu cầu cải tạo đồng ruộng, chùa Hoa Am và đền thờ tiến sĩ Dương Đức Nhan bị rỡ bỏ. Tượng chùa ở đền cho thiêu hủy. Riêng tượng quan Nghè đốt mãi không cháy, những người đốt hoảng sợ để lại, con cháu họ Dương rước về thờ ở từ đường, nay đã chuyển về đền.


Năm 2009 nhân dân địa phương phục dựng 2 di tích cổ trên nền đất cũ. Họ Dương là một họ lớn có truyền thống học hành, nhà thờ đại tông, phần mộ tổ tiên, trong đó có lăng mộ tiến sĩ Dương Đức Nhan. Tộc phả tuy còn nhưng qua loạn lạc không thực đầy đủ, tiểu sử tiến sĩ Dương Đức Nhan do dòng trực hệ định cư ở Thăng Long lưu giữ. Hiện nay dòng họ cùng dân làng làm lễ chung vào 3 ngày 13,14,15 tháng 2 âm lịch.


Căn cứ vào các sách đăng khoa lục như: Lịch đại đăng khoa, Liệt huyện đăng khoa bị khảo cho biết: Dương Đức Nhan đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Hữu Thị lang bộ Hình (như chức Thứ trưởng bộ Tư pháp ngày nay) tước Dương Xuyên hầu. Khi đỗ tiến sĩ chắc đã cao tuổi, thế mà từ chức có phẩm hàm Chánh bát phẩm đến năm 65 tuổi về hưu, ông đã thăng đến chức Thị lang hàm Tòng nhị phẩm. Chắc ông phải có nhiều công lao nên mới được ban tước hầu.


Nhưng cống hiến lớn lao của ông là bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc. Ta biết phong kiến nhà Minh xâm chiếm nước ta, đặt châu quận, biến nước ta thành một bộ phận của chính quốc. Chúng lại có âm mưu vô cùng thâm độc hủy hoại văn hóa nước ta qua chỉ dụ của Minh Thành tổ ngày 21/8/1406: “Phải tìm bắt hết thợ thuyền và người tài giỏi về phương Bắc, tịch thu bản đồ và sổ ruộng đất hộ khẩu; Đặc biệt là một khi binh lính đã vào nước Nam, trừ các sách kinh và đạo Phật, đạo Lão thì không tiêu hủy, còn hết thảy mọi sách vở, văn tự cho đến sách chép ca lý dân gian, sách dạy trẻ... một mảnh một chữ phải đốt hết”. Khắp trong nước những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ cũng không để.


Chính sử cho biết bọn quan lại tướng sĩ nhà Minh tuân hành khá nghiêm chỉnh lệnh của Minh Thành tổ. Do đó, việc sưu tầm biên khảo thơ văn của tiền nhân là vô cùng khẩn thiết. Thư sinh Dương Đức Nhan đang lúc còn ngồi trên ghế nhà trường, lẽ ra phải ra sức nấu sử sôi kinh để chiếm bảng vàng. Nhưng ông lại dồn tâm trí sức lực để làm bộ Tinh tuyển chư gia luật thi với sự hướng dẫn của thầy học Thám hoa Lương Đắc Bằng. Sách này hiện còn lưu được 2 cuốn, một cuốn chép tay tập hợp được 409 bài thơ luật của 12 tác giả đời Trần, Hồ, Lê sơ; một cuốn in mộc bản mất đầu mất đuôi, chỉ còn quyển III + IV với 219 bài thơ của 4 tác giả thời Lê sơ. Tổng hợp lại được 472 bài của 12 tác giả.


Việc làm tuyển tập rất khó, ngay cả ngày nay, tài liệu phong phú nhưng chọn ai, bỏ ai, một tác giả chọn bài nào, bỏ bài nào đều làm đau đầu Ban tuyển chọn. Thế mà Dương Đức Nhan với lòng yêu nước, tự tôn dân tộc dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ông còn băn khoăn “chỗ thiếu sót là chưa sưu tầm được rộng rãi, nên các vị có tên tuổi ở đời Trần không còn dựa được vào lời thơ để hiểu tâm sự của họ. Mong các bậc quân tử đời sau thu nhặt ghi chép thêm, ngõ hầu khỏi phải than thở là bỏ sót mất hạt ngọc” (Tựa sách Tinh tuyển). So sánh với sách “Việt Âm thi tập” của Phan Phù Tiên thấy Phan Tiên sinh có điều kiện thuận lợi hơn, vì ngài làm quan ở Quốc Tử Giám, được phép của nhà vua, lại được các bạn đồng liêu Lý Tử Tấn, Chu Xa cộng tác ròng rã trên 10 năm, Phan Phù Tiến cũng chỉ sưu tập được 617 bài thơ và văn.


Đối chiếu cương vị, chức vụ, điều kiện của hai soạn giả tiên phong Phan Phù Tiên và Dương Đức Nhan chúng tôi không dám có ý so sánh mà chỉ nhằm lưu ý các nhà nghiên cứu biên khảo trẻ chúng ta ngày nay cần học gương dám nghĩ dám làm của tiền nhân.
Điều băn khoăn nhất của chúng tôi là tiến sĩ Dương Đức Nhan(*), một danh nhân đất nước chưa được Hải Phòng vinh danh, chưa có một trường học, một đường phố mang tên ông./.


(*) Di cảo của danh nho Dương Đức Nhan hiện được lưu giữ tại Viện Hán Nôm, bản sao chụp được lưu tại Từ đường họ Dương

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)