Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 13 khách Trực tuyến
VĂN CHƯƠNG VỚI ĐỀ TÀI THƯƠNG BINH LIỆT SĨ 27/7

Nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, Cửa Biển giới thiệu một số tác phẩm văn chương về đề tài thiêng liêng và đầy ý nghĩa này đến bạn đọc.Uống nước nhớ nguồn là truyền thống và nét đẹp văn hóa đạo đức của dân tộc ta bao đời nay. Điều đáng ghi nhớ trong đó là sự tôn vinh, nhắc nhớ đến những tập thể, cá nhân cùng gia đình thân nhân các thương binh, liệt sĩ.

 

Trời biên cương vẫn xanh

Bút ký: ĐẶNG THỊ THÚY

Lần đầu tiên tôi đến thăm và dâng hương tại Khu tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ Pò Hèn là một ngày cuối tháng Bảy, đúng dịp kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sỹ. Tuy đã biết, đã nhiều lần nghe kể về di tích và sự kiện lịch sử này, nhưng chỉ khi được đặt chân đến tận nơi đây, trực tiếp thắp dâng những nén hương thơm trên Đài tưởng niệm, trước những tấm bia ghi danh các anh hùng liệt sỹ, tôi mới thực sự có được những cảm xúc thật đặc biệt.

Khu tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ Pò Hèn nằm trên địa bàn thôn Pò Hèn, xã Hải Sơn - một xã vùng sâu biên giới, tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Tây Bắc thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Di tích lịch sử này ghi dấu một trong những trận chiến đấu ác liệt trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta, mở màn cho sự kiện Chiến tranh Biên giới vào lúc rạng sáng ngày 17/2/1979. Đây cũng chính là nơi ghi danh tưởng niệm 86 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới quốc gia, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Ngày tôi đến nơi đây, trời biên cương xanh lắm. Giữa hai hàng cây tùng tháp xanh mướt đứng nghiêm trang như hai hàng quân canh, cụm tượng đài hiện lên uy nghi, sừng sững. Ba cặp bàn tay úp chụm lại, hướng thẳng lên cao, vừa là biểu tượng cho sức mạnh đoàn kết của 3 dân tộc chính sinh sống ở vùng này gồm Kinh, Dao, Sán Chỉ, vừa là biểu tượng cho vòng tay ôm của đất mẹ và đồng đội. Ngôi sao năm cánh vàng tươi ở chính giữa những bàn tay ấy tượng trưng cho ý chí, khí phách kiên trung của mảnh đất và con người nơi biên cương phên dậu này. Ngôi sao năm cánh vàng tươi ấy cứ lấp lánh giữa nắng vàng, cứ ánh lên đầy tự hào, kiêu hãnh.

Khu tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ Pò Hèn

Ngày tôi đến nơi đây, từng bước chân trên mảnh đất thấm đẫm máu của các anh hùng liệt sỹ năm xưa là từng mường tượng về trận chiến đấu anh dũng hôm nào, trận chiến mà tôi chỉ được đọc và nghe kể, nhưng không hiểu sao nó cứ tự khắc vào trong tôi tuần tự như chiếu một thước phim:

Đồn biên phòng 209 Pò Hèn, 4 giờ 43 phút ngày 17/2/1979, giữa cái tĩnh mịch yên ắng của rừng núi, chiến sĩ Nông Thế Điều trực gác. Bất chợt anh phát hiện phía Trung Quốc bắn một phát pháo hiệu. Anh báo động cho đơn vị để triển khai vị trí chiến đấu. Bên kia biên giới tiếp tục vọt lên hai phát pháo hiệu khác, đồng thời các hỏa lực mạnh của địch như pháo lớn, cối hạng nặng, DKZ, B40, B41 và các loại súng đại liên, trung liên bắn dữ dội, đồng loạt vào nhiều vị trí của ta, trong đó có Đồn Biên phòng 209 Pò Hèn, chỗ ở của các đội công nhân lâm nghiệp Hải Sơn và các khu dân cư dọc tuyến biên giới từ xã Lục Lằm đến Bắc Phong Sinh. Sau 30 phút bắn cấp tập, khoảng 2.000 lính đối phương vượt biên giới tràn sang. Lực lượng của đồn lúc này chỉ có hơn 60 người. Đồn trưởng lại đi công tác vắng, Trung úy Đồn phó Đỗ Sỹ Họa và Chính trị viên Nguyễn Xuân Tảo đảm nhiệm việc chỉ huy. Đồn phó trực tiếp nắm bộ phận hỏa lực, chỉ huy chính. Cán bộ, chiến sĩ ở trong đồn và ba điểm chốt nhất loạt nổ súng đánh trả địch. Địch dùng chiến thuật “biển người” ồ ạt tấn công nhưng quân ta quyết liệt kháng cự, đánh tan hết lớp này đến lớp khác. Trong suốt ba giờ liền tấn công ồ ạt, quân địch vẫn không thể lọt vào đồn. Sau mấy lần tấn công thất bại, địch rút quân ra xa, gọi pháo bắn vào trận địa ta cấp tập 30 phút. Phát hiện ra vị trí hỏa lực của ta trên Đồi Quế, quân địch tiếp tục nã pháo dồn dập, sau đó chúng mở cuộc tấn công mới. Cuộc chiến đấu giáp lá cà diễn ra ác liệt. Đạn dược hết, các chiến sĩ ta dùng báng súng, lưỡi lê, vũ thuật lăn xả vào đánh địch. Do trận chiến không cân sức, nên sau gần 6 tiếng đồng hồ kiên cường chiến đấu, đại bộ phận lực lượng của đồn đã anh dũng hy sinh. Tuy tạm thời chiếm được đồn Pò Hèn, nhưng địch đã phải trả giá đắt: 250 tên địch và 2 chó nghiệp vụ bị giết, hàng trăm tên khác bị thương. Phía ta, 73 người hy sinh bao gồm 45 cán bộ chiến sỹ, một nhân viên thương nghiệp cụm Pò Hèn và 27 công nhân lâm trường Hải Sơn.

Ngày tôi đến nơi đây, đứng trước những tấm bia đá ghi tên 86 anh hùng liệt sỹ trong cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia từ trận chiến khốc liệt năm ấy cho đến bây giờ, tôi lần tìm đọc tên từng người. Mỗi cái tên lại gợi lên trong tôi một vóc dáng, một chiến công: Đồn phó Đỗ Sỹ Họa bị thương ngất đi ba lần liền, nhưng cứ tỉnh lại là anh lại tiếp tục chỉ huy, chiến đấu ngoan cường; Chiến sỹ Nông Thế Điều - người đầu tiên phát hiện ra dấu hiệu tấn công của kẻ thù và báo động để đơn vị triển khai chiến đấu; Hạ sỹ Nguyễn Bá Chuyên phụ trách tiểu đội bảo vệ cổng chính của Đồn, đánh bật 4 loạt quân địch khi chúng dàn hàng ngang xông lên; Chiến sỹ cơ yếu Hoàng Tiến Phúc bị thương nặng đã nằm đè lên tài liệu, quyết không để giặc phát hiện lấy đi; Chiến sỹ Vũ Văn Mấp một mình chặn một mũi tiến công của địch, dũng cảm đánh giáp lá cà và tiêu diệt nhiều tên; Chị Hoàng Thị Hồng Chiêm vốn là cô nhân viên thương nghiệp của cửa hàng bách hóa Pò Hèn lên thăm người yêu, khi có chiến sự đã kiên quyết ở lại, cầm súng và chiến đấu anh dũng. Chị ngã xuống khi vừa tròn 25 tuổi và là nữ liệt sỹ duy nhất được ghi danh ở nơi này… Các anh chị hy sinh khi tuổi đời còn quá trẻ. Mỗi người mỗi quê, không sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm, nhưng họ đã cùng nhau nằm xuống trong một ngày. Mỗi cái tên đã trở thành bất tử đối với dải đất biên cương yêu dấu.

Ngày tôi đến nơi đây, đứng trước tấm ảnh chụp tập thể cán bộ chiến sỹ Đồn Biên phòng Pò Hèn vào tháng 12/1978, không gian quanh tôi bỗng lặng đi khi hiểu rằng, bức ảnh được chụp chỉ hơn một tháng trước ngày nổ ra cuộc chiến khốc liệt ấy. Đó là bức ảnh cuối cùng của rất nhiều người. Những gương mặt rạng ngời thanh xuân, những nụ cười trẻ trung tươi tắn giờ đã hòa vào với cỏ cây, với hồn thiêng sông núi nơi này.

Giữa không gian của núi rừng Đông Bắc, tôi thấy tượng đài Pò Hèn như cao hơn, tạc sắc nét hơn vào nền trời xanh ngăn ngắt. Mọi ngôn từ ngợi ca bỗng trở nên sáo rỗng, dư thừa. Tôi chợt liên tưởng đến lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: “Các liệt sỹ hy sinh, nhưng công trạng to lớn của các liệt sỹ đã ghi sâu vào lòng toàn dân và non sông đất nước. Các liệt sỹ đã hy sinh, nhưng chí khí dũng cảm của các liệt sỹ thấm nhuần vào tâm hồn của toàn quân và dân ta trong cuộc đấu tranh đặng giành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ trong nước. Máu nóng của các liệt sỹ đã nhuộm lá Quốc kỳ vẻ vang càng thêm thắm đỏ. Tiếng thơm của các liệt sỹ muôn đời lưu truyền sử xanh...Anh linh của các liệt sỹ bất diệt!Tổ quốc Việt Nam vĩ đại muôn năm!”.

Tạm biệt Pò Hèn, làn khói hương vấn vít bay theo, hòa vào trong gió, tỏa ấm cả núi đồi biên ải. Pò Hèn, nơi khí thiêng đã trở nên bất tử, nơi ngân mãi khúc tráng ca về tinh thần anh dũng, bất khuất, kiên trung của những người con nơi địa đầu Tổ quốc, không tiếc máu xương, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ chủ quyền biên giới và lãnh thổ quốc gia, nơi viết tiếp bản anh hùng ca bất diệt. Ở nơi ấy, trời biên cương vẫn xanh./.

Móng Cái, tháng 7/2018

 

 

 

Thung lũng những linh hồn bất tử

 

Tùy bút: NSND ĐÀO TRỌNG KHÁNH

Đêm Điện Biên, bên bếp lửa, trong nhà sàn của các lão du kích năm xưa, tôi nhớ lại giọng nói của Mùa Sống Lử “Chúng tao chống nhau với lính Pháp, với quân Đèo Văn Long ở thung lũng ấy, nó ở bên kia núi, tao ở bên này núi, bắn nhau mười ngày, chúng tao không thắng được chúng nó, chúng nó không thắng được chúng tao, chúng nó phải rút về Lai Châu, không xuống được Điện Biên. Nhưng về đến căn cứ, anh em tao cũng chết gần hết. Đau lắm mày ơi ! Tao hỏi mày: Đất có tim không! Có đấy! Điện Biên Phủ ở đây này...”. Mùa Sống Lử, lão du kích vùng Tam Luân nổi tiếng thời chống Pháp, uống rượu say, trỏ vào ngực mình nói với tôi, một đêm cuối xuân năm 1984, khi tôi làm bộ phim “Điện Biên Phủ – Niềm hy vọng”. Nhiều năm qua tôi thường nghĩ tới tấm huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” Bác Hồ gắn lên ngực các chiến sĩ ta ngày chiến thắng. Người đã đặt vào tấm huy hiệu ấy một trái tim - Trái tim Điện Biên Phủ. Cùng với thời gian, Trái tim Điện Biên Phủ ở thung lũng ấy vẫn còn trong tôi cho tới bây giờ.

Thung lũng Điện Biên Phủ có lẽ là một trong những nơi tập trung nhiều “Linh hồn bất tử” nhất trên đất nước ta từ xưa đến nay. Cổng ngoài nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên xây bằng đá xám, gợi cảm giác mơ hồ như mình đang đứng trước một cổng thành cổ từ thời xa xôi nào. Khoảng trống mênh mang, bạt ngàn những bia mộ trắng. Từ xa đã nhìn thấy hai cây đại cổ thụ không biết đã mấy đời, chuyển từ đâu về, tỏa hương dịu dàng. Cảm nhận từ đâu đây, một luồng khí thiêng thấm vào làn da, gờn gợn chân tóc. Nhòa mắt nhìn tên các liệt sĩ đúc bằng đồng gắn kín hai dãy tường đá, nắng sớm chiếu vào các con chữ, vàng rực, xúm xít như một bầy ong khổng lổ đang chuyển rừng. Trong nghĩa trang dưới chân đồi A1 chỉ có bốn anh hùng liệt sĩ có tên trên bia mộ. Đó là Cù Chính Lan, Bế Văn Đàn một bên và Phan Đình Giót, Trần Can một bên. Còn 600 bia mộ đều vô danh. Trên bảng vàng ghi tên các liệt sĩ có 5000. Nghĩa trang Him Lam có 900 mộ, nghĩa trang Độc Lập có 2000 mộ, tổng cộng 3.500 mộ. Đau đớn thay, còn hàng nghìn hài cốt liệt sĩ nữa, vẫn chưa tìm thấy.

Các cựu chiến binh Điện Biên Phủ tham gia cùng cán bộ công nhân đi khảo sát, quy tập hài cốt đồng đội ngay từ buổi đầu, kể lại rằng : Sau giải phóng Điện Biên, quân ta đã chọn những thung lũng đẹp nhất làm nơi chôn các liệt sĩ, có biển ghi tên từng người với tất cả niềm trân trọng. Không ai lường được rằng những cơn lũ mạnh kéo qua thung lũng, chỉ vài tháng sau quay lại, các nghĩa trang đã tan hoang vì lũ cuốn, tất cả các bia mộ đã không còn, nên các ngôi mộ chiến sĩ Điện Biên bây giờ thành vô danh.

Nhớ lại buổi sáng tháng 5 năm 1984, chúng tôi theo Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, người anh cả của quân đội, đến nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên thắp hương tưởng niệm những đồng đội đã hy sinh. Tôi nhìn lên trời, những hàng cây long não cao vút nhòe trong mưa, không nhớ là mình đã khóc hay là cây khóc. Đứng trước những ngôi mộ không tên, Đại tướng không nói câu nào, cũng như chúng tôi, ông cũng khóc. Năm 1995, Tỉnh có dự án xây dựng lại nghĩa trang liệt sĩ. Nền nghĩa trang được nâng lên gần hai mét. Nhân dịp Đại tướng lên dự Lễ kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, các cán bộ tỉnh có trình bày ý kiến muốn cải lại mộ các chiến sĩ cho gần với mặt bằng. Vị tướng già ứa nước mắt: “Thôi, đừng đánh thức anh em dậy một lần nữa làm gì! Để cho anh em mình được yên nghỉ!” Giờ đây, nghĩa trang đã được xây dựng lại, mộ các chiến sĩ nằm yên chỗ cũ. Hai hàng cây long não không còn nhưng những gốc cây năm nay bất chợt bỗng trổ ra những mầm non xanh biếc. Ở nơi đất thiêng này, cây cũng giống như người, không chết ! Trái tim Điện Biên Phủ vẫn bồi hồi dưới cỏ, trong lòng đất.

Nhân dịp trùng tu tôn tạo các di tích lịch sử chiến trường Điện Biên Phủ, chuẩn bị kỷ niệm chiến thắng, cựu chiến binh Hoàng Ngọc Thế từng tham gia đánh đồi A1, hơn 70 tuổi, tóc bạc, mắt mờ, mặc bộ quân phục đã cũ sờn tham gia cùng mọi người sửa lại giao thông hào, bất ngờ tìm được hơn mười bộ hài cốt chiến sĩ ta vẫn còn nguyên vẹn ở tư thế ngồi chỉ cách mặt đất chừng hơn 30 cm. Có hài cốt chiến sĩ áo quần chưa bị hủy, ngực dắt chiếc bút máy Pilốt, lưng đeo cái bát sắt hoen gỉ, xung quanh còn 28 quả lựu đạn. Người chiến sĩ già vừa khóc vừa nói “Tóc nó còn nguyên, tay chân còn đủ cả. Xương nó trắng đẹp như ngà ...” Nhớ tháng 5 năm 2001, mùa mưa đến sớm, vào thăm Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp ghi lời kể của ông cho bộ phim “Một thế kỷ - Một đời người”. Nhìn ra khu vườn rộng ào ào mưa gió, ông ngậm ngùi: “Ở Điện Biên hồi ấy, các chiến sĩ ta đã hy sinh trong mưa gió, dưới chiến hào ướt sũng!”. Hầu hết các chiến sĩ Điện Biên ngày đó vào lứa tuổi hai mươi, theo anh Văn đi đánh giặc. Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhớ lại, bồi hồi: Chiều 7 tháng 5, giặc đầu hàng. Đại tướng qua cầu Mường Thanh. Đầu cầu, những chiếc lô cốt há miệng châu mai đen ngòm. Từ dưới giao thông hào, các chiến sĩ mình đầy bùn đất nhô lên, nụ cười sáng lóa. “Anh Văn ơi ! Anh Văn ơi ! Cho em bắt tay anh một cái ! Sống rồi anh ơi !” Tiếng reo ấy, chiều nay tưởng như còn vọng mãi trong gió lạnh giữa bạt ngàn bia mộ liệt sĩ, làm đau buốt trái tim!.

Một hình ảnh tư liệu quen thuộc trong bộ phim “Chiến thắng Điện Biên Phủ” từng được cả thế giới biết đến là hình ảnh tàn quân Pháp, Lê dương, Âu Phi từ “Địa ngục Điện Biên” lầm lũi kéo ra hàng từng đoàn dài vô tận. Tù binh Pháp kinh hoàng kể lại: “Điện Biên Phủ thực sự là một địa ngục đối với chúng tôi. Những trận mưa đã làm rũa nát các công sự. Chúng tôi sống trên bùn nước. Các nhà thương ngầm dưới đất chỉ đủ cho bốn chục giường nay phải chứa hàng ngàn thương binh, ngột ngạt chồng chất lên nhau. Những bộ phận thân thể thương binh bị cưa cắt chôn tạm trong hầm, khi trời mưa lại nổi lên trong bùn. Đi giầy dép không được, những nhân viên quân y phải ngâm chân hàng giờ trong lớp bùn trộn đầy cẳng chân, cánh tay, những khúc ruột, những nút bông băng, những ống tiêm vỡ, với máu mủ và những thứ bệnh nhân mửa ra, lẫn với phân và nước tiểu ... Ruồi nhặng từ các hố lộ thiên chứa xác chết bay vào ào ào khủng khiếp. Giòi bọ lúc nhúc trong chăn, cả trong băng buộc vết thương và bột bó của thương binh, bó trên tay, trên mặt những thương binh hấp hối...”.

Đại tá Nguyễn Hữu Đông từng được giao nhiệm vụ tiếp nhận tù binh ở Điện Biên Phủ kể lại : “Tôi đứng trên một gò đất cao dưới chân đồi Him Lam tiếp nhận bọn tàn quân Pháp. Mặt trời đã lặn sau dẫy núi phía Tây mà đoàn tù binh vẫn ùn ùn kéo ra tưởng như không bao giờ hết, trong lòng không khỏi lo âu. Một trận chiến đấu mới bắt đầu, nuôi hơn một vạn tù binh, chữa chạy và chăm sóc thương binh, bệnh binh, quản lý đám tàn quân này. Đêm xuống, tù binh được ngủ tạm trong khu rừng già gần đường 41. Các đơn vị hậu cần đã gắng hết sức trong hoàn cảnh thiếu thốn khó khăn, lo cho mỗi tù binh một nắm cơm to và thịt trâu kho mặn. Chúng được xuống con suối ở bìa rừng tắm giặt. Những tù binh bị thương hoặc đau ốm được bộ đội bảo vệ chăm sóc. Gần 1000 thương binh nặng cận kề cái chết đã được cứu sống”.

Theo yêu cầu của Bộ Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, Bộ Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam đã phóng thích ngay sau đó hơn 800 thương binh. Ngạc nhiên và đáng tiếc, không hiểu vì sao còn nhiều thương binh được cứu chữa và chăm sóc tại mặt trận Điện Biên Phủ, đã bị bỏ lại, không được Đoàn đại biểu Bộ Tổng chỉ huy quân đội Pháp kịp thời tiếp nhận. Bộ chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ đã khẩn trương ra lệnh thành lập một trại tù thương ở Tuần Giáo cùng các bác sĩ, y sĩ từ các binh đoàn chủ lực điều động về bắt tay ngay vào việc chăm sóc điều trị tù thương. Một lần nữa tù binh đã được cứu thoát khỏi cái chết và dần dần hồi phục.

Chuyến trao tù binh cuối cùng vào ngày 3/9/1954 thay mặt toàn thể các tù binh Pháp có mặt, viên quan năm Mác-xen La-Pa-giơ đọc lời cảm tạ : “Tôi đã tận mắt nhìn thấy những người phụ nữ Việt Nam tải thương cáng thương binh của chúng tôi trên những con đường mòn qua rừng sâu vực thẳm. Cùng với sự chăm sóc của các chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam, những người đã cho chúng tôi thuốc men và cơm ăn, cứu sống chúng tôi bằng cả trái tim nhân hậu, trái tim của những người lính Điện Biên Phủ, để dậy cho chúng tôi biết rằng hai dân tộc của chúng ta được sinh ra để hòa thuận với nhau”.

Tháng 2 năm 1993, Tổng thống nước Cộng hòa Pháp Phơ-răng-xoa Mít-tơ- răng đến thăm chiến trường Điện Biên Phủ. Ông nói: “Hai nước đã trải qua một cuộc chiến tranh tàn khốc. Chúng ta hãy khép lại quá khứ, hướng tới tương lai !”

Nửa thế kỷ trôi qua, đối với những người lính Pháp, địa ngục Điện Biên Phủ đã trở thành thiên đường của hạnh phúc và hòa bình. Hoa hồng đã nở đỏ trên những cánh đồng quanh hầm Đờ Cát. Nhưng ở đâu đó trên trái đất những cuộc chiến tranh xâm lược vẫn còn đang nổ ra, máu lửa vẫn còn đang bao trùm địa ngục. Tôi nhớ tới các lão du kích chống Pháp người dân tộc H’Mông giờ đây hầu hết đã qua đời, trở về với “Thung lũng những linh hồn bất tử”, nơi có những Trái tim Điện Biên Phủ vẫn còn sống mãi. Đặt một bình rượu Pamông lên mộ Mùa Sống Lử người anh em kết nghĩa của tôi, nhớ lại đêm nào bên bếp lửa. Ông nói: “Mấy tháng trước con gái Đèo Văn Long ở Pháp về đây, muốn xin được xây lại dinh thự trên nền đất cũ. Tỉnh có hỏi ý kiến các cụ lão thành nhưng tao cũng chưa biết trả lời thế nào. Trái tim bảo tao phải khép lại quá khứ, nhưng cái đầu của tao lại nhắc tao đừng quên tội ác. Trước tao không hiểu vì sao thế giới này thiếu gì di tích chiến trường lịch sử mà người ở khắp nơi lại đến thăm Điên Biên Phủ đông như vậy. Giờ tao đã hiểu người ta đến đây không phải để chiêm ngưỡng vinh quang mà đến với lòng khao khát hòa bình, đến với tình thương và lòng nhân ái, đến với Trái tim Điện Biên Phủ - Trái tim Việt Nam, để tìm ra sức mạnh thắng được cái ác, cứu vớt con người. Có lẽ vì vậy mà Trái tim Điện Biên Phủ không bao giờ chết!”./.

 

 

ĐẶNG TOÁN

(Thái Bình)

Chiều nghĩa trang liệt sĩ


Nắng rời chầm chậm nghĩa trang

Gió về quạt mát những hàng mộ bia

Dọc ngang đội ngũ chỉnh tề

Các anh yên nghỉ chiều quê sáo diều…

 

 

 

VŨ THÀNH CHUNG

 

Nghĩa trang Điện Biên


Lá xanh, xanh đến xanh rờn

Cây dường như cũng cao hơn trên đồi

Bóng cây che mát đầu tôi

Xanh từ nhựa máu mồ côi tên người


Ngôi sao trên mũ gửi đời

Tan vào sông núi thành lời gió sương

Điện Biên - Dấu tích chiến trường

Bạt ngàn bia mộ khói hương ngút trời!


Gửi tên, quê quán trên đời

Gửi thương, gửi nhớ một thời toan lo

Gửi yêu ghét, trả hẹn hò

Trầu cau đã héo - Con đò sang ngang...


Xót lòng tôi thắp nén nhang

Gửi người dưới mộ những làn hương thơm

Khói bay quyện lá xanh rờn

Dáng người lính trận cao hơn tượng đài!


Điện Biên - Hà Nội, 5/2004

 

 

VŨ NHANG


Mẹ vẫn ngóng trông con

Nhớ các liệt sĩ trên đảo Gạc Ma


Bao năm  rồi mẹ vẫn ngóng trông con

Dẫu biết rằng con mẹ không về nữa

Đảo Gạc Ma vẫn hiện lên vòng tròn lửa

Giữa lá cờ Tổ quốc đỏ tươi


Có máu các con tô thắm thêm rồi

Con của mẹ sáu mươi tư chiến sĩ

Dù hy sinh đã trở thành bất tử

Hiên ngang sừng sững một tượng đài


Từ khơi xa những con sóng nối dài

Như cánh tay các con ôm vào đất mẹ

Mẹ Tổ quốc ngày đêm che chở

Ấm hồn con giữa lòng biển mênh mông


Khi đêm về có ánh trăng trong

Khi ngày lên có mặt trời soi bóng

Hoa đồng đội gửi vào con sóng

Nén hương thơm an ủi những linh hồn


Để mẹ chờ dịu bớt những đau thương

Cái nỗi đau của nỗi đau dân tộc

Bao năm rồi có khi nào nguôi được

Bao đêm nằm mẹ ngủ chẳng được yên


Nhớ con yêu đôi mắt mẹ hiền

Nhìn di ảnh mà hai hàng lệ nhỏ

Ngày con đi vẫn còn nguyên đó

Rồi không về mãi mãi với Trường Sa


Thương các con mẹ không cần mộ gió

Có biển ôm con như lòng mẹ quê nhà.

 

 

 

NGUYỄN ÁNH TUYẾT TRINH

(Quảng Nam)

 

Nước mắt tháng tư

 

Những ngày tháng tư

Nội thường hay khóc

Nước mắt trong

Tóc trắng phiêu bồng

Có ai đứng đầm mình trong mưa bão

Mới quặn lòng trước nước mắt nội tôi


Ngày chia tay chồng

Nội mới tròn mười tám tuổi

Ba ngày làm đàn bà nội có được ba tôi

Thời gian trôi

Bom đạn đói rét

Và oanh liệt nhiều lên gấp bội


Tay ôm con

Tay cầm súng

Nội xung phong vào du kích

Góp sức mình chiến đấu cùng quê hương

Ngày 30 tháng 4 năm 1975

Cả đất nước hào hùng trong chiến đấu

Hạnh phúc, vinh quangchiến thắng trăm miền


Rừng cờ hoa tung bay phấp phới

Những nụ cười rạng rỡ mùi khói bom

Nội bồng ba tôi đi dọc con đường

Đón chồng mình chiến thắng trở về quê


Năm tháng vẫn trôi bóng người không thấy

Đau đớn

Nhận về giấy báo tử...

Sự thật đau thương không xóa mờ hi vọng

Ngày qua ngày

Nước mắt vẫn chờ mong.

 

 

HOÀNG KHÔI

 

Lời hẹn bến sông

Tặng em trai liệt sĩ Hoàng Văn Bảng

 

Nơi ấy, tôi vẫn thường đi qua

Nơi ấy, con đò vừa rời bến

Nơi ấy, vẫn vẹn nguyên lời hẹn

“Ra đi hết giặc mới về...”


Bến sông quê mang nặng lời thề

Trăng cũng thể bồn chồn không yên được

Cơn gió thoảng vô tình hôn mặt nước

Làm chạnh lòng người trai đi xa


Bến sông, mỗi lần tôi đi qua

Lại nhớ về một thời trai trẻ

Em tôi tóc vẫn xanh mãi thế

Chỉ riêng mình tóc đã ngả màu mây


Lời hẹn bến sông thương nhớ vơi đầy!

 

 

BÙI THÔNG

(Quảng Ngãi)

Anh sống mãi

(Tưởng nhớ nhà giáo đi B)


Chiến tranh qua rồi, anh còn nằm lại

Nghĩa trang nào, hay đại ngàn Trường Sơn

Gió núi mưa rừng sương phủ dày hơn

Anh thấm lạnh mỗi đông về buốt giá


Ngày ấy anh đi giã từ tất cả

Giảng đường xưa khuyết những chỗ ngồi

Dõi mắt chờ mong lòng mãi đơn côi

Em con gái, giờ trở thành thiếu phụ


Vì miền Nam anh lên đường nhập ngũ

Lội suối băng rừng đâu ngại gian nguy

Tổ quốc cần anh cầm súng ra đi

Đem con chữ khai hóa vùng giải phóng


Nhà giáo đi B với bầu máu nóng

Trường địch đốt rồi anh lại dựng xây

Mái đình cong vùng đất hẹn xanh cây

Vừa dạy chữ vừa sẵn sàng đánh giặc


Giáo dục miền Nam bước đi vững chắc

Có mồ hôi xương máu bao cô thầy

Cách mạng thành công rộng mở tương lai

Một dạ vì dân, hiến thân cho nước


Chiến thắng hôm nay nước ta giành được

Có biết bao nhà giáo đã hy sinh

Trên con đường Tổ quốc đến quang vinh

Anh sống mãi trong lòng cùng dân tộc...

 

 

 

 

VŨ MINH THOA

(Hà Nội)

Anh sống mãi

Nhớ liệt sỹ Lê Thị Tám*


Từ khi em đi xa

Tháng tư về những chiều trống vắng

Từ ngày trăng vụt tắt

Bởi những làn pháo giặc

Con suối buồn nức nở giữa rừng sâu!


Từ ngày trăng đi

Suối biếng gội đầu

Chùm vả bên bờ không chịu chín

Lũ chim không về gõ kiến

Tháng tư buồn cô đơn!


Nhớ khi trăng cùng tôi nơi biên cương

Đường đá tai mèo dốc cao thác lũ

Pháo giặc chặn đường

không cản được ta đi...


Trăng đi xa

Để nỗi đau cho núi

Để nỗi buồn cho cây

Rừng chiều xào xạc tiếng ve rơi!

Tôi gom vào lòng nén những chơi vơi

Làm hàng trang vượt thác

Đồng đội nhớ em đêm ngày mải miết

Vững bước quân hành qua những thung sâu!



Anh bước đi

Lòng dạ thương đau

Thương nụ hôn đầu trao nhau vội vã

Thương những ước mơ còn trong phôi nụ

Đã mây trời trắng núi vùng biên!


Em hóa phù sa xanh bờ bãi quê mình

Nước sông Hồng nhuộm máu em thêm đỏ!

Vầng trăng ơi!

Nơi xa thẳm nào em có tỏ

Lồng lộng Thủ đô tháng tư về mộc miên thắp lửa

Ánh hào quang Khuê Văn Các lung linh

Sông Hồng nhớ em ôm trong mình vầng trăng bé nhỏ

Lòng riêng anh vằng vặc trăng xưa...


Tháng tư này anh đứng với già nua

Cây cầu sắt vắt qua dòng sông ấy **

Vắt qua những ước mơ

và tình yêu lửa cháy...

Nhớ em nhiều... anh gửi bóng xuống cùng trăng!


1/4/2017

 

* Lê Thị Tám hy sinh ở biên giới phía Bắc 1979

** Cầu Long Biên

 

 

 

ĐẶNG VĂN THƯỚC

(Tác giả mới)

Mãi mãi gần nhau


Nghĩa tình đồng đội thân thương

Thời gian chứng kiến con đường đã qua

Bạn gần cho đến bạn xa

Tấm lòng chiến hữu, thiết tha bao tình !


Anh em đồng đội chúng mình

Một thời máu lửa nhà binh đã từng

Hôm nay vừa tủi vừa mừng

Biết bao đồng đội, trong rừng, sông sâu


Linh hồn sáng mãi trên đầu

Chiến trường Quảng Trị, nơi đâu cũng còn

Bốn sáu năm mãi mỏi mòn

Mẹ cha già yếu chẳng còn để mong


Chỉ còn tình nghĩa thắm lòng

Những người còn sống, niềm mong, nỗi chờ

Tâm hương phảng phất vần thơ

Chiến tranh là vậy... nào ngờ mãi xa!


Hải Phòng 6/7/2018

 

 

PHẠM THẾ LUẬT

Nơi nao cha nằm

 

Mấy chục mùa sen, nơi nao cha nằm

Ngọn núi, bìa rừng, đáy sông, dòng suối...?

Mẹ quặn thắt tấm thân gầy lam lũ

Con xé lòng giấc ngủ chập chờn mơ:


Mừng thay cha viết tiếp những vần thơ

Tổ quốc vinh quang, mùa xuân rực rỡ

Vóc dáng đẹp thay, lưng trần vạm vỡ

Góp sức dựng xây non nước thắm tươi.


Trầm ấm tiếng cha, vụt chạy tới nơi

Cùng đồng đội đưa cha về gặp mẹ,

Xanh ngát hương quê, dòng sông cửa bể

Yên giấc nồng mây trắng kể ngày qua.


Để mỗi chiều con bên mẹ dâng hoa

Gọi tên cha mãi nhớ thương, ngóng đợi

Sao chỉ thấy bóng hoàng hôn vời vợi

Ôm ảnh cha tiếng chiều gọi thiết tha.

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)