Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 18 khách Trực tuyến

Video Cửa Biển

Lý luận phê bình

Đôi điều với tập thơ “Yêu”
Người cùng, thơ dễ hay”, “Người đạt, thơ khó hay”. Cách chúng ta trên 160 năm Chu thần Cao Bá Quát từ giã cõi đời khi ấy mới 48 tuổi. Ông thánh họ Cao đã tổng kết như vậy với người làm thơ. “Người cùng” là người cùng khổ, cùng quẫn... thì thơ “dễ hay”. Tức là không tuyệt đối, chỉ là “dễ hay” thôi, còn “người...
Muối thời con gái làm dưa ăn dần!!!

(Đọc "Muối dưa" của Phạm Xuân Trường)

Nguyễn Văn Nhượng

(Nam Định)

Từ lâu tôi rất thích đọc thơ của thi sĩ Phạm Xuân Trường, thích bởi cái tạng thơ giàu chất suy tư, triết lý về thế sự, đời tư; thích bởi cái giọng hóm hỉnh, chao chát, phả vào hơi thơ đầy chính khí, hừng hực không khí của thời đại và ngột ngạt nỗi đau nhân tình thế thái. Càng đọc thơ anh, càng thấy cay cay sự đời. Anh đã dùng thơ để ghi lấy cuộc đời với bộn bề nghiệp kế mưu sinh. Những gì anh gặp, anh nhìn, những thứ mà người vô tâm, theo quán tính, dễ bỏ qua, anh đem góp nhặt lại để suy ngẫm, ví như cây cỏ, chó đá đến ngai vàng đền miếu…đều được anh “công bằng” đưa vào  thơ một cách nhẹ nhàng tự nhiên, không khó nhọc cầu kì. Đọc bài nào cũng thấy động lòng trắc ẩn, thức tỉnh lương tri và quẩn vấn trái tim. Thi phẩm “Muối dưa” ám ảnh tôi nhiều lắm: Mải đi về phía cầu vồng/ Quay về cải đã lên ngồng… khổ chưa/ Em ngồi phơi kỷ niệm xưa/ Muối thời con gái làm dưa ăn dần!!!

Tôi đã nhờ người tìm mua tập thơ “Cỏ cháy” của anh từ lâu mà chưa được. Bỗng một ngày cuối thu, tôi được gặp nhà thơ tại nhà bạn văn. Anh tặng tôi liền ba tập “Cỏ cháy”, “Bến chuồn chuồn” và “Thần dược”. Cố nhiên là rất vui, vừa có trong tay những tập sách mình ước ao bấy lâu, lại vừa được gặp gỡ nhà thơ, từ Hải Phòng xuống. Hôm đó, nhà văn Lã Thanh An, lắc lư cây đàn nguyệt trên tay, í a í ơi điệu hát văn bài “Muối dưa” cho tác giả Phạm Xuân Trường và mọi người cùng nghe. Ai cũng ngơ ngẩn bần thần ruột gan, bởi mỗi dây đàn ngân lên hòa vào từng ca từ thì ai oán lắm, day dứt lắm. Tác giả của bài thơ lúc đó có vẻ không vừa ý bởi lão họ Lã tấu câu đầu thành “Mải mê đuổi nắng trên đồng…”. Có hề chi, tác giả có thể nghĩ người hát hát sai văn bản nhưng nó lại chứng minh một điều rằng, đằng sau một “Muối dưa” của Phạm Xuân Trường còn có nhiều “dị bản” “Muối dưa” khác trong lòng bạn đọc. Thơ ca hay tới mức, nó đã đi vào lời ăn tiếng nói, để tồn tại theo dạng thức truyền khẩu dân gian, hay tới  mức người ta quên bẵng tác giả của nó là ai, một mặt “thiệt” cho văn bản gốc, khi không được ghi nhớ chính xác; nhưng mặt khác tự thân nó lại thừa nhận một điều, nó đã có sức sống nhất định, có vậy mới tồn tại trong lòng mọi người đến thế. Minh chứng, có lần ngồi vui chuyện, tôi đọc “Muối dưa” của Phạm Xuân Trường cho các đồng nghiệp nghe, có thầy giáo ngẩn người bảo, vậy mà tôi lại được người ta đọc nguyên văn bài đó như sau, không biết là của ai: Mải mê ngắm nắng giữa đồng/ Khi về cải đã lên ngồng hay chưa/ Tôi ngồi nhớ kỷ niệm xưa/ Muối thời trai trẻ làm dưa ăn dần. Phải chăng người ta đã biến tấu bài của Phạm Xuân Trường cho hợp với hoàn cảnh phát ngôn, mà ở đây đích thị là lời của chàng trai nào đó. Còn đây, lại là một bản khác được cho là lời của nữ thanh niên xung phong những năm 70: Mải mê đuổi nắng giữa đồng/ Ngày về cải đã lên ngồng gió đưa/ Em về phơi kỉ niệm xưa. Muối thời con gái làm dưa ăn dần.

Tôi không phải nhà nghiên cứu văn bản học, nên sẽ không chứng minh bản nào của ai, bản nào có trước, bản nào có sau, chỉ có điều, theo lẽ logic thì những năm 70, ta chưa giải phóng miền Nam, nghĩa là trong bối cảnh chiến tranh, chưa có độ lùi về thời gian thì rất khó xảy ra chuyện “ngày về”, khó có chuyện “phơi kỷ niệm xưa”. Nhiều người đưa ra phỏng đoán này nọ về bài thơ, riêng tôi tin văn bản thơ là của Phạm Xuân Trường. Bài thơ có tứ, đảm bảo tính logic chỉnh thể, câu từ chau chuốt chặt chẽ, còn chuyện ai đó đọc khác về bài thơ, tôi lại thấy vui vì “Muối dưa” của Phạm Xuân Trường đã hiển nhiên, đã “chễm chện” có một chỗ ngồi danh dự trong lòng bạn đọc, người ta thích thú rồi biến tấu theo kiểu ngẫu hứng, âu cũng là chuyện hằng thường, đáng tự hào chứ chẳng nên trách cứ nhau, rồi sinh nghi.

Hãy cứ đọc “Muối dưa”, ta thấy có khác gì ca dao trữ tình dân gian đâu. Rồi mai này, biết đâu người ta cũng sẽ  lại đọc “khác đi” một “Làm vua”, một “Chôn dọc” của Phạm Xuân Trường cũng nên, thì sao. Thì càng chứng minh thơ của Phạm Xuân Trường có sức sống riêng chứ sao. Một đời thơ tưởng thế cũng  đáng tự mình nhâm nhi sung sướng lắm rồi. Văn chương, có người viết cả đời, in cả chục cuốn, hỏi còn mấy ai để lại được một câu đắt, và được mọi người nhớ đến. Bây giờ thì ta hãy chậm chậm đọc lại “Muối dưa” của thi sĩ họ Phạm.

Hai câu đầu, vừa khai thừa đã khái quát được cả hành trình phân nửa cuộc đời: Mải đi về phía cầu vồng/ Quay về cải đã lên ngồng… khổ chưa. Đây có thể là lời gián tiếp, lời của tác giả oán thán về/ cho cô gái xưng “em” ở câu sau, có thể là lời trực tiếp của nhân vật trữ tình là “em”, hoặc cũng có thể là lời nửa trực tiếp, tức là lời của tác giả nhưng mang suy nghĩ, giọng điệu của nhân vật. Cho dù hiểu theo cách nào đi nữa thì câu thơ đã mang mang một giọng điệu đay đả hờn mát, trách thương. Thơ ca hay văn xuôi, viết cho có giọng điệu không phải chuyện dễ. Tiếng  nói thì ai cũng có nhưng xác lập được giọng nói, giọng văn có khi cả đời không thành, bởi lẽ xưa nay câu thơ nào không có giọng thì đọc thấy nhạt nhẽo vô vị lắm. Nhiều người chỉ vì không tìm được giọng mà phải buông bút, hoặc có cố viết cũng không để lại phong cách. Vậy giọng của hai câu này là gì? Bắt được cái giọng cơ hồ ta sẽ thẩm thấu được nông nỗi trong bài thơ. Câu đầu giọng có vẻ nhẹ nhàng, thênh thang, nhưng chữ “mải” ở đầu câu thơ đọc lên thấy nằng nặng, vương vương bởi lẽ thường, đã “mải” cái này dễ đánh mất cái kia. Nhân vật trữ tình, tạm hiểu là tác giả thay lời cô gái, bởi còn “mải” mê theo đuổi những chân trời nhiều sắc màu huyễn hoặc ảo huyền mà quên đi bản thân mình. Cô say sưa mê mải sống cho lý tưởng cao đẹp, đáng trân trọng ở “phía cầu vồng”, đó là cái thời “Hứng lấy cái chết tranh nhau giận, hờn/ Tranh nhau chọn thiệt nhường hơn/ Tranh nhau chọn lấy từng cơn bom vùi” (Tự chọn – Phạm Xuân Trường). Đẹp như cầu vồng bảy sắc cơ mà, nhưng sắc ấy dẫu đẹp cũng chỉ là hiện tượng tán sắc của ánh sáng từ mặt trời khi khúc xạ và phản xạ qua các giọt nước thôi. Tự thân ánh sáng chưa đủ tạo ra cầu vồng nếu thiếu nước mưa, bởi vậy khi các giọt nước tan biến thì cầu vồng cũng mất. Cầu vồng tượng trưng cho lý tưởng cao đẹp nhưng cao xa, khó với tới được, nên qua thời thanh xuân đẹp nhất, mang hết sức sống tuổi trẻ đeo đuổi, cống hiến, cô gái trở về thì “cải đã lên ngồng” còn đâu? Giọng của câu hai đọc lên thấy chao chát đắng cay, giận hờn trách móc dứt day. Câu thơ ngắt theo nhịp 2/4/2, nhưng bị bẻ gãy ở sau tiếng thứ sáu, sau dấu ngắt quãng là hai tiếng “khổ chưa” dằn lại cật vấn mình, trách cứ cuộc đời. “Đi về” (phía cầu vồng) tưởng sẽ thênh thang rộng mở nhưng rồi lại “quay về” để rồi đổi lấy đắng cay khi biết “cải đã lên ngồng”, không kìm được phải đắng lòng mà thốt lên hai tiếng “khổ chưa”. Hai câu tạo ra một cặp thơ đối xứng khép kín: “mải đi về” đối với “quay về”; “phía cầu vồng”, phía vừa cao xa vừa nhanh tan biến với thực tại ngao ngán “cải đã lên ngồng”. Cải đã lên ngồng, là cải quá lứa lỡ thì, không phải giống cải ngồng ta vẫn thích. Có ngồng nghĩa là đã già, dự cảm về sự lụi tàn héo hắt. ở đất nước có hàng ngàn năm chiến tranh, giặc giã liên miên này, người phụ nữ cũng phải gánh gồng ra trận cùng nam giới, hỏi có biết bao nhiêu cuộc đời con gái nếu không bị vùi lấp ngoài chiến trường thời cũng lại dang dở ngày trở về , rồi khi “bão tan mưa nắng” họ lại “nuôi tình mồ côi”; để rồi, cái vết thương ngày ấy cứ “trở trời lại đau”. Thơ của Phạm Xuân Trường là thế, từng câu chữ viết ra, cứ cứa vào tâm can suy nghĩ của người đọc. Nỗi buồn đau của phận đời con gái là khó lòng khỏa lấp. Câu thơ chạm vào cái hiện thực trần trụi, đắng cay của nhiều nữ thanh niên xung phong trở về sau trận chiến. Không ít người, họ đã làm con, làm em, mà không, không thể, không bao giờ được làm vợ, làm  mẹ. Rồi họ hoặc ở vậy, buồn tẻ đến hết đời, hoặc đi làm ni cô, làm từ thiện trong các trại dưỡng lão, mồ côi…dâng hiến hết sức lực phần đời còn lại của mình cho cuộc đời thêm thắm. Họ đã sống và cả khi nằm xuống luôn ngời sáng sắc xanh của khoảng trời con gái. Thơ không nói mà người đọc hình dung được như thế mới là “ý tại ngôn ngoại”. Đi hết hai câu thơ đầu tôi mong manh liên tưởng đến câu ca dao quen thuộc mà các bà các mẹ hay hát ru con: Gió đưa cây cải về giời/ Rau răm ở lại chịu đời đắng cay. “Cây cải” trong ca dao chỉ người con trai, người chồng, nhưng vẫn cái thi liệu dân gian ấy, “cải” đi vào trong thơ của Phạm Xuân Trường mang hàm nghĩa mới, chỉ đời con gái. Hình ảnh thơ rót lại cái buồn thương da diết…

Tiếp cái mạch khai thừa ở hai câu trên, hai câu dưới đã chuyển hợp một cách “tự nhiên thành”: Em ngồi phơi kỷ niệm xưa/ Muối thời con gái làm dưa ăn dần!!! Buồn khổ vì “cải đã lên ngồng”, cô gái chỉ còn biết về ngồi phơi, hong kỷ niệm xưa. Nhiều đồ vật muốn dùng được thì phải đem phơi đem hong, đến kỷ niệm mà đem phơi thì còn gì để nói. Câu thơ đọc lên, nghe buôn buốt, xót xa. Nhân vật trữ tình giờ lộ diện xưng “em”, kèm sau hai tiếng “ngồi phơi” nghe quắt lại. Kỉ niệm xưa còn ám ảnh  dai dẳng lắm, nay đem ra “phơi”, “phơi” mà chẳng biết để làm gì. Và cái logic “phơi” là để “muối dưa” đã tuột ra cái tứ Muối thời con gái làm dưa ăn dần!!! Dưa muốn nhanh chua, người ta thường phơi lá rau cho quắt rồi mới muối. Xác lập trường từ vựng “phơi – muối” chỉ hoạt động lên men cho thành món dưa chua để chỉ đời người con gái thì thực là chua chát lắm. Muối dưa thời con gái thì chưa nghe ai nói được vậy bao giờ. Từ “cải đã lên ngồng” đến “muối thời con gái” thì kể như hết một vòng đời. Dưa dẫu có ngon, có để “ăn dần” cũng chỉ dăm ba ngày là sẽ bị chuyển dạng. Viết Muối thời con gái làm dưa ăn dần!!! thì xót quá! đắng đót quá!. Ba dấu chấm cảm của tác giả như để bộc bạch, đồng cảm, sẻ chia cho nỗi lòng thân phận người con gái vậy. Cái “lời chung” muôn thuở mà cụ Tố Như đã đúc kết hơn hai trăm năm trước, phải chăng nay vẫn còn hiện hữu ám vào những phận đời bến nước. Bao cuộc đời con gái héo hon, mỏi mòn chờ đợi, dâng hiến hy sinh, đáp lại chỉ những bất hạnh buồn thương là sao?. Câu thơ dứt mà tình thơ còn tràn trề khôn dứt.

Trước tới nay, thơ ca đã gây bao nỗi xúc động trong lòng người về những “Đồng Lộc” khắp rộng dài đất nước, về những người con gái, họ đã sống, “như sao trời lấp lánh, như hương lùa trong gió, như chim rừng thánh thót; trái tim họ lúc nào cũng ngây ngất nắng chiêm bao”; họ quen dần trong gian khổ, “vác đạn oằn vai, tấm thân gầy chẳng ngại/ Đạn nổ, bom gầm em vẫn xung phong” ( trích Nhớ em, cô thanh niên xung phong của Phương Hà); họ đã sống “ - Cần gì ư?, lời ai hỏi trong chiều/ Chúng tôi chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu” (trích Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc của Vương Trọng). Tên của những nữ thanh niên xung phong đã thành tên chung, thành tên đất nước…

Viết về người đã sống, cống hiến và hi sinh hẳn nhiên không ít, và sẽ còn dày thêm nữa những trang thơ viết về họ, bởi trước sau, họ vẫn là những con người đẹp nhất, đáng tự hào và ngưỡng mộ nhất. Viết về những nữ thanh niên sau ngày kết thúc chiến tranh, may mắn trở về thì sao? Thơ ca vẫn còn nhiều khoảng trống cho sự sáng tạo và rung động. Họ trở về, may mắn hơn so với đồng đội đã ngã xuống nhưng nghiệt ngã thay chính họ lại  không tìm được hạnh phúc cho riêng mình, di chứng chiến tranh vẫn ám ảnh, vẫn lấy đi phần đời còn lại. Trong tiếng thăm thẳm tơ đồng, tác giả Nguyễn Tất Thủy viết: “Tuổi trẻ bảo vệ non sông/ Giặc tan, cải đã lên ngồng tắm mưa/ Cò về bắt tép như xưa/ Rênh rang đi sớm về trưa mặc lòng” (http://chieulang.com.vn/ ). Cái “rênh rang” là cái “rênh rang” buồn đấy chứ? Ta lại bắt gặp người con gái thanh niên xung phong sau ngày trở về, được tác giả hình tượng hóa bằng hình ảnh “cải đã lên ngồng”, chỉ khác, Phạm Xuân Trường thì đem “phơi”, rồi “muối dưa”, còn tác giả Nguyễn Tất Thủy lại trở về với hình tượng “cò về bắt tép”. Dù “cò bắt tép” hay “cải muối dưa”, ta đều thấy hai tác giả gặp gỡ nhau ở cảm thức về phận người hắt hiu, mười hai bến nước của những nữ thanh niên xung phong thời chống Mỹ. Chính họ, không ai khác, đã hoàn thành sứ mệnh cao cả “gánh đất nước trên vai”, mà ngày về lại sống cảnh đơn chiếc, buồn thương.

Có thể nói, “Muối dưa” của Phạm Xuân Trường đã góp thêm một tiếng lòng đau đáu, một tiếng thở dài đồng cảm sẻ chia với số phận dang dở của các cô gái  “tình riêng bỏ chợ, tình người đa đoan”. Nếu nói thơ hay là hay ở ý, ở tình, ở hình, ở nhạc, hay ở câu từ hàm súc, thì phải chăng bài thơ này dường như thỏa mãn được ngần ấy tiêu chí vậy./.

 
 
 
 
   
 
 

Tạp chí Cửa Biển số 203 (5/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 202 (4/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 201 (3/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 199,200 (1,2/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 198 (12/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)