Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 20 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Đôi điều với tập thơ “Yêu”

Người cùng, thơ dễ hay”, “Người đạt, thơ khó hay”. Cách chúng ta trên 160 năm Chu thần Cao Bá Quát từ giã cõi đời khi ấy mới 48 tuổi. Ông thánh họ Cao đã tổng kết như vậy với người làm thơ. “Người cùng” là người cùng khổ, cùng quẫn... thì thơ “dễ hay”. Tức là không tuyệt đối, chỉ là “dễ hay” thôi, còn “người đạt” có nghĩa là thành đạt, toại nguyện cả về danh vọng và tiền bạc, thì “thơ khó hay”. Ông khái quát và đúc kết một đời thơ của ông. Lấy các điển tích để cô đọng cho hậu thế, với hai câu thơ trên.

Vậy Thúy Ngoan rơi vào chữ “cùng” hay chữ “đạt” trong thơ của mình. Góa chồng năm 28 tuổi, nuôi mẹ già và 3 con, sống giữa thành phố mà nhà văn Nguyên Hồng đã để lại tiểu thuyết “Bỉ Vỏ” - một tiểu thuyết kinh điển về số phận con người. Một đô thành xô bồ, chụp giật. Là y sỹ của bệnh viện cấp huyện xin chuyển vào thành phố, được chấp nhận rồi lại bỏ nghề. Không họ hàng thân thích ruột thịt, vào những năm bao cấp sống bằng tem phiếu. Quả thật là táo bạo, liều lĩnh, hay dũng cảm, không biết nữa. Địa danh chợ Đồng Bún là ao tù và đầm lầy, rác rến và bèo tây tràn ngập. Thời của các thương binh và dân anh chị thi nhau “lập ấp, xây nhà”. Thúy Ngoan cùng mẹ và 3 con bán vườn ruộng ở quê mua được cái “ổ chuột” giấy dầu ở đấy để sinh nhai.

Từ đấy, sau ngày thành lập Nhà văn hóa lao động Hữu nghị Việt Tiệp năm 1989, rồi sau chuyển thành Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Tiệp, Câu lạc bộ thơ ra đời cùng ngày thành lập Nhà Văn hóa do nhà thơ Phạm Ngà làm Chủ nhiệm (hai Phó Chủ nhiệm là nhà thơ Trần Lưu và nhà giáo Đỗ Kim Thoa). Ngày đầu, hội viên có các đàn anh đàn chị như thi sỹ Lê Đại Thanh, Thanh Tùng, Nguyễn Thị Hoài Thanh, Nguyễn Đình Kiên, Hoàng Dũng, Nguyễn Hồng Văn..., sau đấy vài năm Thúy Ngoan tham gia CLB thơ này

Hai mươi mốt năm, bẩy đứa con tinh thần ra đời. Vậy là cứ 3 năm 1 tập. Mồ hôi và nước mắt cũng được đền đáp 4 giải thưởng. Tiền thưởng có là bao. Nhưng giá trị của giải thưởng mới là dấu triện đỏ đóng vào cuộc đời cầm bút suốt 27 năm của Thúy Ngoan. Trên tất cả giải thưởng ấy là thơ Thúy Ngoan được người đời thuộc vài câu hoặc cả bài thậm chí là tên bài. Đấy mới là giải thưởng lớn nhất. Thơ của Thúy Ngoan đã được nhiều cây bút thành danh viết bình với nhiều cung bậc cảm xúc trên văn đàn. Có thể ví thơ Thúy Ngoan nhiều câu thơ, bài thơ như mũi tên, như cái đinh tự găm vào trái tim bạn đọc. Không cần đánh bóng, tô son ồn ào, tiếp thị. Một thứ trang kim phết lên giấy dó.

“Yêu” là tập thơ thứ 6 của Thúy Ngoan. Vẫn mạch cảm xúc và điệu tâm hồn như 5 tập thơ trước. Nhưng tên tập thơ không khỏi làm bạn đọc giật mình. Phải chăng đấy là khát vọng của người đã bước sang bên kia dốc cuộc đời. Chẳng ai cấm, chẳng ai bắt. Mới đây VTV1 có cả một phóng sự về người đàn bà 62 tuổi lấy một người tuổi 26 làm chồng. Đại thi hào Gớt 80 tuổi yêu cô bé 18 tuổi là bạn của cháu nội mình, có sao đâu. Ngày xưa Nguyễn Công Trứ 70 tuổi lấy cô vợ 20 tuổi. Đấy là ý của tạo hóa, hoặc trái tim mách bảo. Tình yêu không có tội, chỉ con người làm tội tình yêu. Mở đầu tập thơ, Thúy Ngoan khẳng định “Tôi làm thơ để chống lại nỗi buồn và sự cô đơn!?”. Người dám sống cô đơn, hoặc chấp nhận cô đơn thì may ra thơ mới hay được (Có nhà thơ đã nói ý như thế). Tuy nhiên không phải là số đông. Bởi vậy nhà thơ Anh Vũ trong bài “Lưng lửng” có đoạn: “Thôi cứ gọi cô đơn vào đối mặt/ Ta quên ta có lúc cũng hai người/ Thôi cứ gọi trống không vào nhúc nhắc/ Lưng lửng mãi/ Lưng lửng bao giờ nuốt trôi một ngày”.

Thúy Ngoan có lẽ cũng vậy. Cô đơn là men của rượu. Nỗi buồn là rượu của thi ca. Buồn của riêng mình hay buồn cho nhân tình thế thái. Thúy Ngoan nói với con:

Bạn mà thành kẻ bon chen/ Người sang thì hiếm, đám hèn thì đông

Để rồi:

Lạy giời lành rách thảnh thơi/ Ở ăn tích thiện nhịn đời là vinh...

Phải chăng đấy là lý cho lẽ sống của Thúy Ngoan. Đã từng bị va đập, tỵ hiềm, đố kỵ và thị phi của thăng trầm đời sống mà đúc kết lại thành thơ để tâm sự với con trai. Hay đấy là lời an ủi chính mình. Đâu chỉ có than thân trách phận. Phổ quát trong đời sống xã hội hôm nay là phân định giầu nghèo, hèn sang, kệch cỡm ngày một rõ nét. Xem Thúy Ngoan nói về hai đám cưới cùng một ngõ phố:

“Đám cưới con quan mừng khấp khởi/ Ba ngày mở tiệc tràn trề vui/ Loa đài nhạc mở to hết cỡ/ Xóm phố mệt tai sập cửa ngoài”

Và đoạn kết bài thơ đó:

“Trong hẻm có nhà ở cạnh tôi/ Con gái rất ngoan nghỉ học rồi/ Theo mẹ bán hàng phơi đầu chợ/ Áo cơm hai bữa mãi lần hồi/ Hôm nay đám cưới mừng cho cháu/ Bản nhạc không lời nhè nhẹ trôi.”

Thật đau lòng khi đất nước sau chiến tranh chấm dứt thì “chiến tranh” khác lại bùng nổ trong chính ngôi nhà của không ít các gia đình. Nhất là nông thôn. Nhà nước tìm mọi cách thoát nghèo cho họ: Bằng cách xuất khẩu lao động: Thế là đoàn quân tóc dài lên máy bay đi xóa đói giảm nghèo: “Ban thờ con cúi lạy cha/ Ngôi sao trên mũ nhạt nhòa khói hương/ Ngày mai vạn bước dặm trường/ Con đi xuất khẩu tha hương xứ người”

Người đàn bà này hẳn là con một liệt sỹ. Vâng. Ưu tiên cho họ. Đấy cũng là cách tri ân với những người đã có công.

Thúy Ngoan đi cũng nhiều, mỗi địa danh cũng có những bài thơ ghi lại cảm nhận và dấu ấn: Cát Bà, Sa Pa, Bà Nà, Vân Đồn, Hội An, Điện Biên, Biển Hồ... Thương thay cho những kiều dân sống ở Biển Hồ Campuchia.

“Không quốc kịch, giấy tùy thân

Không trường, không trạm... oán ân ai người”

Một câu hỏi không có lời đáp. Nhà là thuyền, nổi chìm cánh bèo bọt nước và ai đó từ giã kiếp làm người thì đất đâu mà chôn. Đành ngậm ngùi: “Chết chờ nước cạn đành lòng/ Ủ treo thân xác đợi vồng đất phơi.”

“Yêu” cũng là tập thơ cũng ngổn ngang suy tư dằn vặt, rất nhiều bài thơ tặng bạn bè, Thúy Ngoan chia sẻ, an ủi. Với 101 bài thơ có tới 65 bài là lục bát. Lục bát cũng là sở trường của Thúy Ngoan. Đã có lần Thúy Ngoan nói như tuyên ngôn với tôi và nhà biên kịch Long Khánh gần 10 năm trước “Có lẽ từ nay em không làm thơ nữa”. Chúng tôi không tin. Và “Ngôi nhà không bình yên”(2008), Khách Xuân (2014), “Văn xuôi và lời bình”(2017), “Yêu” (2018) vẫn được trình làng. Ai đó nói tôi có thể tin. Bởi người đó lấy thơ làm phương tiện. Để có tem nhãn dán lên cái không có của chính mình. Còn Thúy Ngoan chắc chắn vẫn còn phải trả nợ cuộc đời này bằng trách nhiệm của một công dân của một nhà thơ. Nhớ ngày xưa nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã từng tự thề sau năm năm tai nạn văn chương sẽ bẻ bút. Vậy mà vẫn có “Chuyện kể năm 2000” làm chấn động văn đàn. Nguyễn Xuân Khánh sau những hệ lụy chữ nghĩa mất 11 năm nuôi lợn, làm thợ may để hôm nay có 3 tác phẩm lớn với rất nhiều giải thưởng. Đó là tiểu thuyết lịch sử “Hồ Quý Ly”, “Mẫu Thượng Ngàn” và “Đội gạo lên chùa” dầy cả ngàn trang. Một nhà văn Phùng Cung sau truyện ngắn “Con ngựa già của chúa Trịnh” mất 12 năm ở tù. Ông cũng tuyên bố gác bút. Vậy mà vẫn để lại một tuyển tập thơ “Xem đêm”, với một bài thơ “Trà” thể hiện một tinh thần sỹ phu Bắc Hà: “Quất mãi nước sôi/ Trà đau nát bã/ Không đổi giọng Tân Cương”. Và một nỗi buồn nhân thế ở bài “Bèo”: “Lênh đênh muôn dặm nước non/ Dạt vào ao cạn vẫn còn lênh đênh”

Vì vậy tôi tin ai đã gắn bó với văn chương đích thực thì khó lòng bỏ được. Thúy Ngoan cũng vậy thôi./.

PHẠM XUÂN TRƯỜNG

 
Nghệ thuật hát xẩm cần được bảo tồn và quảng bá trong học đường

Từ những năm 60 trở về trước, hát xẩm thông dụng ở các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hà Nam, Sơn Tây, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng… Sau đó vì những nguyên nhân khác nhau về môi trường xã hội, đặc biệt là những quan niệm sai lầm của chính quyền và cơ quan quản lý văn hóa, các phường xẩm dần tan rã. Những xẩm nhân được quy tụ lại trong những hợp tác xã vót tăm tre, đan lát hay bện chổi rơm. Nghệ nhân xẩm tài danh thì mất dần, mang theo những tinh hoa của nghệ thuật xẩm mà không truyền lại được cho thế hệ kế tiếp.

Những năm 80 của thế kỷ 20, nhiều nhà nghiên cứu, các nghệ sĩ tâm huyết đã gắng khôi phục lại nghề hát xẩm nhưng không thành công. Đến năm 2008, một số nghệ sĩ, nhạc sĩ thuộc Trung tâm Phát triển nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam đã từng bước đưa loại hình nghệ thuật này trở lại với công chúng ở Hà Nội. Nghệ sĩ tâm huyết với xẩm và người yêu xẩm ở các nơi cũng dần dần tìm cách khôi phục, bảo tồn nghệ thuật này. Ở Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang, Hưng Yên cũng đã hình thành các nhóm, câu lạc bộ hát xẩm (chiếu xẩm).

Có thể nói ở Hải Phòng, người góp nhiều công sức cho việc bảo tồn, quảng bá nghệ thuật xẩm là Nghệ nhân dân gian Việt Nam NNDG Việt Nam Đào Bạch Linh. Anh đưa xẩm về Hải Phòng vào đầu năm 2010 với việc tập hợp những người yêu thích nghệ thuật này lại để phổ biến, học hỏi lẫn nhau. Tháng 3/2013 nhóm xẩm của anh tham gia sinh hoạt tại Trung tâm Văn hóa quận Lê Chân với tên gọi Câu lạc bộ (CLB) hát xẩm Hải Thành (gọi nôm là Chiếu xẩm Hải Thành). Xuất thân không phải trong một gia đình nghệ thuật, bằng lòng đam mê và quyết tâm Đào Bạch Linh đã theo thầy ở tỉnh xa và tự học để có thể vừa miệng hát, tay kéo nhị, chân đạp phách.

Khi còn là sinh viên tại Hà Nội, cuối tuần anh lại lặn lội về Quảng Phúc, Yên Phong, Yên Mô, Ninh Bình học đàn, hát xẩm từ NNGD Hà Thị Cầu. Thạo nghề, Đào Bạch Linh truyền dạy cho những học viên yêu thích xẩm. CLB Hải Thành có hơn 20 hội viên từ 7 đến 76 tuổi. Năm 2015 trở thành một thành viên của Hội Văn nghệ Dân gian trực thuộc Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng). Hiện nay, Chiếu xẩm Hải Thành sinh hoạt 4 buổi/tuần tại nhà Đào Bạch Linh. Không chỉ sinh hoạt và dạy xẩm tại gia anh còn đến Trường Khiếm thị dạy nghề miễn phí cho các em nhỏ tàn tật, biểu diễn tại các sự kiện văn hóa thành phố như lễ hội truyền thống, liên hoan nghệ thuật quần chúng, giao lưu văn nghệ dân gian giữa các địa phương.

Những năm gần đây, vào ngày 22 tháng 2 và 22 tháng 8 âm lịch, Giáo phường xẩm Hải Thành đều tổ chức giỗ tổ nghề và giao lưu hát xẩm tại đình Niệm Nghĩa hoặc đình Hào Khê, có sự tham dự các tỉnh, thành Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, TP Hồ Chí Minh. Giáo phường Hải Thành cũng là thành viên tích cực của Giáo phường hát thuộc Hội Đình làng Việt Nam. Giáo phường còn giúp thành lập nhóm xẩm, hướng dẫn chuyên môn và cách duy trì chiếu xẩm tại một số đơn vị, trường học. Đó chính là hoạt động tích cực của Giáo phường Hải Thành trong việc giữ gìn, phát triển và quảng bá nghệ thuật xẩm.

Hát xẩm có hai dòng là xẩm hát hành nghề (hiện nay hầu như không còn) và xẩm sân khấu…với 8 làn điệu chính. Về thể loại có xẩm chợ (hát tại nơi công cộng như chợ búa, bến tàu, bến xe); xẩm nhà trò hay nhà tơ (hát tại hàng quán, tư gia), xẩm huê tình (hát giao duyên), Xẩm thập ân (kể công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy)...Trong mỗi thể loại,  làn điệu cơ bản giống nhau nhưng phong cách thể hiện khác nhau, môi trường diễn xướng cũng không giống nhau. Bên cạnh các loại xẩm chính như xẩm huê tình, xẩm ba bậc, xẩm thập ân... nghệ nhân xẩm đã kết hợp thêm các loại hình khác như sa mạc, trống quân, cò lả, hát ví... Việc kết hợp như vậy làm phong phú, mượt mà cho các câu hát xẩm, lại vừa phổ biến được các loại hình khác rộng rãi trong dân gian. Những làn điệu đó đều được “xẩm hóa” cho đúng với phong cách dân dã của các nghệ sĩ. Như điệu hát trống quân, vốn là một điệu hát đối đáp trai gái trữ tình đã được xẩm chuyên dùng để chuyển tải nội dung châm biếm, đả kích  thói hư tật xấu trong xã hội, như bài Dâu lười hay Rể lười...

 

Theo truyền thuyết, đàn bầu được coi là nhạc cụ đặc trưng của xẩm lúc ban đầu. Song, phần vì âm lượng hạn chế, phần vì khó học, khó chơi hơn đàn nhị nên không phải nhóm xẩm nào cũng sử dụng. Một nhóm xẩm thường có đàn nhị, sênh, phách và cặp trống mảnh (trống da một mặt). Nhưng với hoàn cảnh nay đây mai đó, chỉ cần một đàn nhị và cỗ phách hay cặp sênh cùng giọng ca lôi cuốn là đã có thể thu hút được khán giả.

Xẩm chợ (còn gọi là xẩm dân gian) hiện nay hầu như không còn. Giờ đây, xẩm được biểu diễn trên sân khấu, sân đình, tư gia như kiểu thính phòng hay phục vụ khách du lịch. Và người biểu diễn xẩm không chỉ là người khiếm thị mà còn là các nghệ nhân, nghệ sĩ chuyên nghiệp.

Xẩm được xếp vào thành phần âm nhạc cổ truyền chuyên nghiệp, nhưng rõ ràng xẩm là một thể loại chứa đựng hầu hết những đặc tố cơ bản của âm nhạc dân gian. Vậy nên có thể khẳng định hát xẩm là loại hình ca nhạc dân gian mang tính chuyên nghiệp. Xẩm ngày xưa là của những người khiếm thị than thân trách phận, kể vể sự kém may mắn của bản thân, còn xẩm ngày nay là của mọi người hát về những điều chướng tai gai mắt trong xã hội, đả kích và phê phán những thói hư tật xấu của con người hoặc những lời ca vẻ đẹp quê hương, đất nước, ca ngợi tình yêu đôi lứa, gây cười…

Theo thời gian, số người yêu thích nghệ thuật xẩm ngày một đông với đủ mọi lứa tuổi, tầng lớp xã hội, nên cũng giống như một số dự án thí điểm đưa nghệ thuật truyền thống (hát chèo, quan họ, cải lương, hát xoan, ca trù...) vào các trường phổ thông. Đào Bạch Linh - Chủ nhiệm Giáo phường xẩm Hải Thành mong muốn nghệ thuật xẩm cũng được truyền dạy rộng rãi cho các em học sinh, nhằm bảo tồn một loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc trước nguy cơ mai một./.

 

PHẠM VĂN THI

 
Nên chăng đặt tên Sơn Hà cho một công viên mới ở Hải Phòng

Dự án công viên Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt - Tiệp được thành phố Hải Phòng triển khai xây dựng tại số 51 Lạch Tray, quận Ngô Quyền.

Ít ai biết rằng, địa điểm này chính là khuôn viên cũ nằm trong khu biệt thự doanh nhân Sơn Hà ở cạnh hồ An Biên. Vì vậy, việc đặt tên Công viên Nguyễn Sơn Hà là mong muốn của đông đảo giới doanh nhân và văn nghệ sĩ đất Cảng cũng như cả nước.

Người cha mực thước, nhân hậu

Nguyễn Sơn Hà được biết đến là người khai sinh nghề làm sơn ở Việt Nam. Nhà yêu nước Phan Bội Châu đã ngợi ca ông: “Hóa học bác Âu trường, tô điểm sơn hà tâm hữu tất/ Công khoa tồn Việt chủng, chuyển di thời thế thủ vi cơ” (Lấy hóa học người Âu điểm tô cho sông núi bởi tấm lòng son sẵn có/ Làm công nghệ đất Việt, đổi thay thời thế từ tay trắng làm nên).

Họạ sĩ Sơn Trúc, con gái nhà tư sản dân tộc năm nay đã 75 tuổi nhưng vẫn rất minh mẫn. Bà là người con thứ tám trong gia đình, tới 12 người con cả trai lẫn gái của hai người vợ Nguyễn Sơn Hà. Bà Sơn Trúc nói rằng, cha mình là một người đàn ông nghiêm khắc nhưng  đôn hậu. Những năm cuối đời, ông cùng gia đình vẫn ăn ngô và bo bo như tất cả những người dân đất Cảng khi đó. Ông từ chối hầu như tất cả mọi sự ưu đãi của Nhà nước.

Họa sĩ Sơn Trúc còn nhớ như in, sau chiến tranh phá hoại năm 1972, ngôi biệt thự của gia đình bị sạt một góc. Thành phố cấp cho ông một khoản kinh phí nhỏ để sửa chữa. Nhưng ông Sơn Hà nhất định không nhận. Ông nói, để dành cấp cho những gia đình lao động nghèo mất nhà mất cửa đang khó khăn hơn. Mỗi khi con cái trong nhà lỡ miệng phàn nàn cuộc sống khó khăn, lập tức bị ông chấn chỉnh: Phải hiểu đất nước còn nghèo, vừa thoát khỏi chiến tranh. Phải tin tưởng vào Đảng, Nhà nước đang ra sức khắc phục. Gia đình ta phải gương mẫu…

Nguyễn Sơn Hà cứ thế, lạc quan tin tưởng về tương lai đất nước đến những tháng ngày cuối cùng của cuộc đời mình. Con cái ông không ai bỏ ra nước ngoài sinh sống. Tất cả ở lại trong nước nhưng cũng không ai làm gì khác ngoài cán bộ, công nhân viên nhà nước. Đến nay cũng không ai thực sự giàu có. Người con cả là liệt sĩ Nguyễn Sơn Lâm – Đội trưởng Đội tự vệ Hải Phòng. Bà Sơn Trúc kể, khi anh em bà phải tham gia học tập cải tạo tư tưởng tư sản, người bố đã luôn động viên. Đôi khi đường công danh của ai đó bị ảnh hưởng vì thành phần lý lịch “tư sản” đều được cha an ủi.

Hết lòng cống hiến cho dân, cho nước

Nguyễn Sơn Hà sinh năm 1894 tại huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (nay là Hà Nội). Năm 1939, trong một lần vào Nam, Nguyễn Sơn Hà tới thăm cụ Phan Bội Châu đang bị Pháp quản thúc tại Huế. Cuộc gặp này đã tác động sâu sắc đến tư tưởng ông.

Trở về Hải Phòng, ông tích cực tham gia các hoạt động của Hội Trí tri, Hội Ánh sáng, thành lập Ban Cứu tế, Chi hội Truyền bá quốc ngữ. Đích thân cụ Nguyễn Văn Tố đã về Hải Phòng mời Nguyễn Sơn Hà làm Chi hội trưởng truyền bá Quốc ngữ. Là nhà tư sản lớn và có uy tín nên khi Nguyễn Sơn Hà đứng ra thì mọi tầng lớp nhân dân ở Hải Phòng, Kiến An ủng hộ rất mạnh.

Nguyễn Sơn Hà tích cực giúp đỡ người nghèo. Năm 1939, ông đã đem tiền về quê cứu đói người nghèo và chuyển hàng trăm cây dừa về trồng ở bên đường và đình làng để tạo bóng mát và thu hoạch quả. Ông còn cho người đến Hà Đông học nghề dệt vải về mở cơ sở sản xuất tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân và mua tặng dân làng 4 máy dệt.

Tại Hải Phòng, ông bà Sơn Hà còn đứng ra lập trường Dục Anh tại số nhà 46, phố Lạch Tray để nuôi dạy trẻ mồ côi.

Trong Tuần lễ Vàng Chính phủ phát động, bà Nguyễn Thị Ngọc Mùi vợ ông đã đem hiến tặng toàn bộ số nữ trang của gia đình, gồm vàng bạc, đá quý cân được 10,5kg. Riêng ông Sơn Hà không ngần ngại tháo chiếc nhẫn quý gắn kim cương bỏ vào thùng hiến tặng.

Theo kháng chiến lên Việt Bắc, ông giúp Cục Thông tin Bộ Quốc phòng làm vải nhựa cách điện, dùng cho kĩ thuật thông tin bằng cách đun nóng nhựa thông, nhựa trám với dầu luyn rồi đổ lên vải diềm bâu. Ông còn sản xuất ra giấy than, mực in lito, vải che mưa. Vải che mưa của ông có thể chống mưa, ngụy trang tốt, và làm chiếu nằm rất tiện cho bộ đội. Nguyễn Sơn Hà còn chế tạo được lương khô và thuốc ho cho Vệ quốc quân sử dụng.

Bà Sơn Trúc chia sẻ: Hòa bình lập lại, Chủ tịch thành phố khi đó là ông Đỗ Mười gặp Nguyễn Sơn Hà nói: “Thôi anh Hà không làm sơn nữa, để công ty cho Nhà nước làm”. Thế là không lưỡng lự, ông Sơn Hà bàn giao ngay cho Nhà nước toàn bộ cơ ngơi gần một héc-ta với mấy nhà máy sơn. Mảnh đất đó nằm giữa phố Lạch Tray, sau được thành phố bố trí cho 6 cơ sở sản xuất sử dụng. Chưa kể ông cũng đã hiến cho nhà nước hơn 2 nghìn mét vuông đất khuôn viên ngôi biệt thự. Căn biệt thự hơn

chục phòng, thành phố chỉ để lại cho gia đình 3 phòng để sinh hoạt. Các phòng khác thành phố điều động cán bộ các ban ngành đến ở, ông Sơn Hà vẫn vui vẻ.

Công viên Sơn Hà – tại sao không?

Nguyễn Sơn Hà là đại biểu Quốc hội từ khoá I đến các khóa II, III, IV, V. Ông mất tại Hải Phòng năm 1980. Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10/2006, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã truy tặng Nguyễn Sơn Hà cùng Bạch Thái Bưởi, Lương Văn Can, Trịnh Văn Bô danh hiệu Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu.

Họa sĩ Sơn Trúc cho biết, ngôi biệt thự của gia đình được xây dựng trong các năm 1938, 1939, do kiến trúc sư nổi tiếng Phạm Bá Chi thiết kế từng được giải thưởng kiến trúc Đông Dương. Các nhà cách mạng tiền bối Vũ Quốc Uy, tướng Nguyễn Bình từng lui tới đây nhiều lần. Năm 1946 phái bộ Pháp theo chân Hồ Chủ tịch về nước qua cảng Hải Phòng cũng đã được Bác nhờ ông Sơn Hà thu xếp cho ăn nghỉ tại đây. Vào năm 2010, ngôi biệt thự số 49 Lạch Tray, Hải Phòng, nơi ông cùng gia đình sinh sống đã được Nhà nước xếp hạng là di tích văn hóa. Tên của ông được nhiều thành phố Việt Nam đặt tên đường như Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh.

Đặc biệt, hiện trên chính khuân viên cũ của ngôi biệt thự, thành phố đang cho xây dựng một công viên rất đẹp. Giới doanh nhân và văn nghệ sĩ Hải Phòng cũng như cả nước mong muốn thành phố giải tỏa những công trình cơi nới xung quanh, tôn tạo lại ngôi biệt thự và cho đặt tên công viên mới này là Công viên Sơn Hà./.

VŨ ĐỨC TÂM

 
Chuyện tên phố

1. ĐẶT TÊN TRẦN QUỐC TOẢN, GẮN LIỀN VỚI LẠCH TRAY

Theo một số trang thông tin điện tử của thành phố Hải Phòng trước đây như www.haiphong.gov.vn (mục “Lược khảo tên đường phố Hải Phòng”) hoặc www.haiphonginfo.vn thì con đường từ ngã tư Thành Đội đến ngã tư quán Bà Mau thời Pháp thuộc mới mở, gọi là Lạch Tray (Route Lach Tray). Sau Cách mạng tháng Tám, đổi thành phố Trưng Trắc. Năm 1954 đổi gọi là phố Trần Quốc Toản. Sau giải phóng vẫn giữ tên cũ là Trần Quốc Toản nhưng người dân quen gọi là đường Lạch Tray.

Như vậy từ sau khi đất nước giành được độc lập đến nay, chính quyền thành phố chưa bao giờ đặt tên cho phố này là Lạch Tray, vậy mà hiện phố này lại được gắn biển là phố Lạch Tray theo cách "nhân dân quen gọi” (!?). Hệ quả của việc này là tất cả các công trình, cơ quan, nhà dân đều phải lấy theo tên gọi tự phát này (như Sân vận động Lạch Tray, Khách sạn Tray (cũ), ngõ 18 Lạch Tray v.v..), còn tên hợp pháp chính thức duy nhất là phố Trần Quốc Toản thì bị “bỏ rơi”. Về vấn đề này, chúng tôi có mấy ý kiến như sau:

Về mặt pháp lý: Tên công trình công cộng, đường, phố phải do chính quyền địa phương đặt. Vậy phố này phải là Trần Quốc Toản và thực tế nó vẫn là Trần Quốc Toản, nhưng không hiểu tại sao lại được gắn biển Lạch Tray?

Theo Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng (NXB Hải Phòng 1998), về tên phố, Hải Phòng chỉ có phố Trần Quốc Toản và phố này được giới thiệu như sau:

TRẦN QUỐC TOẢN (còn gọi phố LẠCH TRAY): Phố thuộc quận Ngô Quyền, dài 2.820m, từ ngã tư Thành Đội đến Cầu Rào, có ý nghĩa lớn về giao thông và quân sự ở thành phố. Nối với đường 14 đến bán đảo Đồ Sơn, qua sân bay Cát Bi. Phố thuộc đất các xã cũ An Biên, Nam Pháp, Phụng Pháp, Hàng Kênh, An Khê. Thời Pháp thuộc, nội thành lấy giới hạn ở ngã tư Quán Bà Mau nên đường Lạch Tray (Route de Lach Tray) cũng chỉ đến ngã tư nói trên. Năm 1946, đoạn ngã tư Thành Đội đến Quán Bà Mau đổi là phố Trưng Trắc. Năm 1954, đường Lạch Tray đổi là phố Trần Quốc Toản, không tính đoạn Quán Bà Mau đến Cầu Rào. Sau năm 1955, vẫn giữ tên cũ là Trần Quốc Toản (dân quen gọi là Lạch Tray”).

Cũng theo Từ điển trên, tên Lạch Tray chỉ được đặt cho các địa danh sau: sông Lạch Tray, cửa sông Lạch Tray, kênh đào Lạch Tray, phường Lạch Tray, ngã tư Lạch Tray. Còn cách gọi phố Lạch Tray là tự phát nên Từ điển ghi rõ tên chính thức của phố này là Trần Quốc Toản và hướng dẫn tra cứu: xem Trần Quốc Toản (phố).

Từ điển trên có thống kê đầy đủ địa chỉ các cơ quan, doanh nghiệp trên phố này như: Công ty Công viên (số 9 Trần Quốc Toản), VOSCO (125 Trần Quốc Toản), Nhà văn hóa Thiếu nhi (55 Trần Quốc Toản), Sở Thể dục thể thao (17 Trần Quốc Toản) v.v...

Qua khảo sát thực tế chúng tôi được biết, giấy tờ tùy thân, giấy khai sinh của nhiều người dân sinh sống trên phố này vẫn ghi địa chỉ phố Trần Quốc Toản chứ không phải Lạch Tray.

Về mặt văn hóa, lịch sử: Đặt tên phố Trần Quốc Toản mới thể hiện ý chí độc lập, tôn vinh danh nhân có công với đất nước, có ý nghĩa giáo dục lịch sử truyền thống. Trần Quốc Toản, hiệu là Hoài Văn hầu, em họ của vua Trần Nhân Tông, là một thiếu niên yêu nước, được Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi chép, ca ngợi: “Vua thấy Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, Hoài Nhân Vương Kiện đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn (hội nghị Bình Than, vua quan nhà Trần bàn việc chống giặc Nguyên - tác giả chú thích). Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, phẫn khích, tay cầm quả cam, bóp nát lúc nào không biết. Sau đó Quốc Toản lui về, huy động hơn nghìn gia nô và người nhà thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, viết lên cờ sáu chữ:"Phá cường địch, báo hoàng ân" (Phá giặc mạnh, báo ơn vua, có sách viết là "phá cường tặc"- tg chú thích). Sau này, khi đối trận với giặc, tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám chống lại". Người anh hùng trẻ tuổi ấy đã anh dũng hy sinh trong một trận chiến ác liệt ở khu vực sông Như Nguyệt (sông Cầu). Còn tên "Lạch Tray" là do người Pháp đặt tên đường, không phải do chính quyền cách mạng của ta đặt.

Về mặt từ nguyên, Lạch Tray là từ vô nghĩa

Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng "là công trình có tầm vóc và quy mô lớn nhất ở Hải Phòng từ trước tới nay" do Thường trực Thành ủy và UBND thành phố chỉ đạo, huy động được trí tuệ tập thể của nhiều phó giáo sư, giáo sư, tiến sỹ, nhà nghiên cứu và chuyên gia từ điển học của Trung ương và địa phương, nghiên cứu rất công phu cho biết: “nhiều người địa phương cho rằng tên gọi Lạch Tray là tên lạch lớn nối sông Cấm với sông Lạch Tray hiện nay. Lạch này có nhiều trai, hến nên gọi Lạch Trai. Các hồ Tiên Nga, An Biên thuộc lạch ấy".

Vậy là nhân dân ta xưa gọi con lạch có nhiều trai, hến là Lạch Trai. Người Pháp theo tên gọi dân gian đó, đặt tên cho một số địa danh ở Hải Phòng (sông, đường), ghi là: Lac Tray, Lack-Tray, Lach Tray, Luch-Tray, Lach-Tray.

Với cách ghi âm như trên, người Pháp có làm biến âm Tiếng Việt không? Chúng ta cùng khảo sát một số địa danh của Việt Nam thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân đã ghi chép, phiên âm:

Yên Bái → Yen-Bay/ Móng Cái →  Mon-Cay/ Hồng Hải → Hong-Hay/ Cao Hải → Koua-Hay,

Vậy, tương tự: Lạch Trai → Lach-Tray

Theo nghiên cứu của chúng tôi, âm của chữ: "Lac Tray", "Lack-Tray", "Lach Tray", "Luch-Tray", "Lach-Tray" chính là Lạch Trai. Chính quyền thực dân đã dùng chữ "Lach-Tray" để ghi âm theo đúng cách gọi của dân gian về con lạch có nhiều trai, hến. Nhưng sau này, tam sao thất bản, chúng ta lại đọc thành Lạch Tray, vừa không đúng với tên do nhân dân ta xưa gọi, vừa không đúng với cách ghi âm trên bản đồ, giấy tờ thời Pháp thuộc. Tên gọi Lạch Tray không có ý nghĩa gì cả.

Để khắc phục vấn đề này, đề nghị trong thời gian tới, HĐND, UBND thành phố chỉ đạo cơ quan chức năng gắn đúng biển tên phố Trần Quốc Toản thay cho tên phố Lạch Tray như hiện nay, như vậy vừa tôn vinh được danh nhân, vừa đảm bảo tính pháp lý, đúng với giấy tờ của các cơ quan, doanh nghiệp thành lập từ trước đây, đúng với giấy tờ tùy thân, giấy khai sinh của nhiều người sinh sống trên con phố này đã được cấp từ xưa.

2. KHÔNG NÊN ĐẶT TÊN PHỐ THEO BIỆT HIỆU CỦA DANH NHÂN

Ở nước ta, một số danh nhân, nhà văn ngoài tên hiệu, bút danh còn có một số biệt hiệu tự đặt cho vui như Tú Xương nhận mình là “Phỗng sành” (Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành/ Mặt thời lơ láo, mắt thời xanh - Tự cười mình), Nguyễn Công Trứ tự nhận mình là “ông ngất ngưởng” (Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì/ Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng - Bài ca ngất ngưởng).

Thời hiện đại, nhà thơ trào phúng Hồ Trọng Hiếu bởi yêu kính tài thơ Tú Xương ông mới lấy bút danh Tú Mỡ, chứ thực ra ông rất gầy (Màu mỡ vì chưng ra cả bút/ Thân hình nên mới ngẳng như que). Còn nhà văn Phù Thăng (tác giả truyện phim Biển lửa, tiểu thuyết Phá vây, tên thật là Nguyễn Trọng Phu, Phù Thăng nói lái đi thành ‘‘Thằng’’ Phu (Nguyễn Trọng Phu) v.v..

Ở quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng có phố Lãn Ông đặt theo tên hiệu của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác - một danh y ở thế kỷ 18. Hải Thượng Lãn Ông có nghĩa là “Ông Già Lười ở phủ Thượng Hồng - Hải Dương”. “Ông Già Lười” là một danh hiệu do Lê Hữu Trác tự trào lộng, tự giễu mình, một biệt hiệu vui kiểu “ông ngất ngưởng”, “phỗng sành”, “Tú Mỡ”, “Cử Nạc”, “Phù Thăng - Thằng Phu”… như đã nói ở trên, chứ thực chất ông là một tấm gương sáng về y đức, y đạo, y thuật của nền y học cổ truyền Việt Nam. Lười ở đây là không màng danh lợi, quyền thế để hiến thân cho nghề thuốc cứu người. Do vậy đặt tên phố là Lãn Ông (Ông Già Lười) thì không tôn vinh được danh y đức độ này, nên đặt lại là phố Lê Hữu Trác theo đúng tên chính thức của ông.

3. KHÔNG NÊN TỰ Ý CHỈNH SỬA TÊN NGƯỜI ĐÃ KHUẤT

Vào năm 1841, hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Tông lên ngôi vua, lấy đế hiệu là Thiệu Trị. Từ đó, vì kỵ huý ông vua nhà Nguyễn này mà người ta phải đọc Tông thành Tôn (Lê Thánh Tông bị đọc chệch thành Lê Thánh Tôn, Tông Đản thành Tôn Đản v.v...

Đó cũng là lý do vì sao mà ở Hải Phòng có đường Lê Thánh Tông, còn ở thành phố Hồ Chí Minh lại có đường Lê Thánh Tôn; ở Hà Nội có phố Tông Đản, còn thành phố Hải Phòng lại có phố Tôn Đản.

Theo Cổng thông tin kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng (haiphonginfo.vn) thì: “Phố Tôn Đản bắt đầu từ phố Nguyễn Thái Học đến phố Tôn Thất Thuyết, dài 565m, rộng 5,4m... Lúc mới mở gọi là phố Quảng Đông (Rue Canton)... Sau Cách mạng tháng Tám đổi là phố Lý Thường Kiệt. Từ năm 1954, phố mang tên như hiện nay”.

Nhưng tên thực của danh nhân được lấy tên đặt cho con phố này lại là Nùng Tông Đản - một thủ lĩnh người Nùng cùng với Lý Thường Kiệt mang quân sang phá tan các căn cứ phục vụ xâm lược nước ta ở Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu của nhà Tống theo sách lược: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc”.

Thời đại dân chủ cộng hòa ngày nay, chúng ta không phải kỵ húy ông vua Thiệu Trị nhà Nguyễn nữa, cũng không có lý do gì mà con cháu đời sau lại sửa tên cho người đã khuất khi không được cho phép, do vậy, việc phục hồi cách phát âm chuẩn cho tên của danh nhân là việc cần thiết, đồng thời thể hiện được lòng tôn kính với người xưa.

Được biết, trước đây thành phố Hà Nội cũng đặt tên không chuẩn là phố Tôn Đản, gần đây đã sửa lại thành phố Tông Đản - con phố bên hông Nhà hát lớn Hà Nội. Một số trí thức, học giả ở thành phố Hồ Chí Minh cũng đã lên tiếng đề nghị khôi phục tên gọi đúng phố Lê Thánh Tông chứ không phải Lê Thánh Tôn như hiện nay ở thành phố mang tên Bác./.

NGUYỄN DƯƠNG

 
Nhạc sĩ Văn Cao từ "Bến xuân" đến "Làng tôi "

HÀ ĐÌNH NGUYÊN

Văn Cao tên thật là Nguyễn Văn Cao, sinh năm 1923 tại phố Lạch Tray (Hải Phòng), cha của ông vốn là giám đốc nhà máy nước Hải Phòng. Văn Cao bắt đầu học âm nhạc trường dòng Saint Josef. Sau khi học năm thứ hai bậc Thành chung, vì gia đình sa sút, Văn Cao phải bỏ học khi mới 15 tuổi (1938)... Cùng giai đoạn đó, nền âm nhạc cải cách (tân nhạc) Việt Nam ra đời. Ở Hải Phòng, Văn Cao gia nhập nhóm Đồng vọng của nhạc sĩ Hoàng Quý cùng với các nhạc sĩ Hoàng Phú (Tô Vũ), Canh Thân, Đỗ Nhuận...

Không ai có thể phủ nhận sự tài hoa của nhạc sĩ Văn Cao - 16 tuổi đã có sáng tác đầu tay (Buồn tàn thu, năm 1939) và các tình khúc tiếp theo của ông đã được sánh vào hàng “siêu phẩm”: Suối mơ, Thiên thai, Cung đàn xưa, Bến xuân, Thu cô liêu, Trương Chi... Vào đầu những năm 40 của thế kỷ trước, những bài hát của Văn Cao đã lan tỏa từ Bắc chí Nam, người có công đầu là ca sĩ Phạm Duy  (lúc đó chưa sáng tác nhạc mà đi theo Đoàn Cải lương Đức Huy - Charlot Miều lưu diễn xuyên Việt, Phạm Duy chuyên hát “phụ diễn”, bài hát ruột là Buồn tàn thu). Tri âm đến nỗi Văn Cao đã đề tặng dưới cái tựa Buồn tàn thu dòng chữ: “Tương tiến Phạm Duy, kẻ du ca đã gieo nhạc buồn của tôi đi khắp chốn”. Còn những người hát nhạc Văn Cao ở phía Bắc là ca sĩ Kim Tiêu (nam), Thương Huyền, Thái Thanh (nữ)... Cũng chính ở thành phố biển này, Văn Cao đã gặp một giai nhân để rổi dòng nhạc tiền chiến có thêm một viên ngọc lấp lánh: ca khúc Bến xuân!

“Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước, em đến tôi một lần...”

Trong cuốn băng vidéo Văn Cao - Giấc mơ đời người (đạo diễn Đinh Anh Dũng, hãng phim Trẻ sản xuất năm 1995, tái bản năm 2009), trong phần giới thiệu ca khúc Bến xuân, nhạc sĩ Văn Cao tâm sự: “Ngày xưa tôi có thầm yêu một người con gái mà không dám nói ra. Nhưng người ấy hiểu lòng tôi và đến với tôi. Vì thế nên mới có câu hát “Em đến tôi một lần” và có bài hát này”...Người con gái ấy chính là Hoàng Oanh, nữ ca sĩ ở Hải Phòng (sau này ở trong miền Nam cũng có nữ ca sĩ Hoàng Oanh hiện ở hải ngoại, không phải là Hoàng Oanh trong bài viết). Nhưng tại sao nhạc sĩ Văn Cao yêu mà không dám nói? Là bởi con tim của nhạc sĩ “chậm xao động” hơn hai ông bạn thân. Biết được cả Kim Tiêu lẫn Hoàng Quý đều đem lòng yêu thương Hoàng Oanh, chàng nhạc sĩ trẻ đành nín lặng, ôm mối tình đơn phương...Tuy thế, sau những lần gặp gỡ, qua ánh mắt, nụ cười nàng đã hiểu tấm chân tình của chàng. Rồi một hôm, Văn Cao đang ở Bến Ngự (Hải Phòng) thì nàng tìm đến. Không chỉ thăm suông mà nàng còn ngồi làm mẫu cho chàng vẽ (Văn Cao là một nhà thơ kiêm họa sĩ), rồi ân cần ngồi quạt cho chàng sáng tác nhạc...Có thể nói ca khúc Bến xuân không chỉ là một bài hát làm xuyến xao lòng người mà còn là mội bức tranh hết sức sống động, một bài thơ với những ca từ đầy biểu cảm.Tóm lại cả ba năng khiếu (thơ, nhạc, họa) tài hoa của Văn Cao đều dồn vào Bến xuân: “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước, em đến tôi một lần, bao lũ chim rừng hợp đàn trên khắp bến xuân...". Hình ảnh thẹn thùng, khép nép của giai nhân trong nhạc của Văn Cao sao mà đáng yêu chi lạ: “Mắt em như dáng thuyền soi nước. Tà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân..!”. Hôm đó có lẽ nàng cũng có hát nữa nên mới “nghe réo rắt tiếng Oanh ca...”. Bản nhạc được NXB Tinh Hoa ấn hành năm 1942 với lời ghi “nhạc: Văn Cao, lời Văn Cao - Phạm Duy” (sau này nhạc sĩ Văn Cao đặt lời mới và đổi tựa thành Đàn chim Việt). Chẳng biết nhạc sĩ Phạm Duy “đóng góp” như thế nào trong phần lời nhưng ở đoạn cuối, rõ ràng là tâm trạng của Văn Cao: “Nhà tôi sao vẫn còn ngơ ngác. Em vắng tôi một chiều. Bến nước tiêu điều còn hằn in nét đáng yêu. Từng đôi chim trong nắng khe khẽ ru u ù u ú. Lệ mùa rơi lá chan hòa..." (dùng chữ “lệ mùa rơi lá” quá hay! ). Cái cảnh chàng gột áo phong sương trở vế bến cũ sao mà buồn đến nao lòng: “Người đi theo mưa gió xa muôn trùng. Lần bước phiêu du về chốn cũ. Tới đây mây núi đồi chập chùng. Liễu dưỡng tơ tóc vàng trong nắng. Gột áo phong sương du khách còn ngại ngùng nhìn bến xưa”.

Nàng đến thăm chàng một lần, rồi... thôi, chừng đó cũng đủ hiểu lòng nhau và đã quá lãng mạn. Sau này gia đình ca sĩ Kim Tiêu có dạm hỏi Hoàng Oanh nhưng hôn sự bất thành vì gia đình nhà gái thách cưới cao quá. Bản thân Kim Tiêu cũng gặp phải nhiều sóng gió và nghe nói chết trong nghèo đói ở thềm ga Hàng Cỏ (Hà Nội). Rồi Hoàng Anh lên xe hoa, trở thành vợ của nhạc sĩ Hoàng Quý.

Nhạc sĩ Hoàng Quý lớn hơn Văn Cao 3 tuổi. Là thủ lĩnh nhóm Đồng vọng, khi chia tay người yêu (có thể là Hoàng Oanh), từ Hải Phòng để lên Sơn Tây trông coi trang trại, Hoàng Quý đã viết  ca khúc bất hủ Cô láng giềng: “Hôm nay trời xuân bao tươi thắm, dừng bước phiêu du về thăm nhà...”. Tiếc rằng tài hoa yểu mệnh; Hoàng Quý bị lao phổi, mất khi mới 26 tuổi (1946). Người góa phụ trẻ Hoàng Oanh, nửa đường gãy cánh, không biết số phận sau này thế nào?!

Má tựa vai kề bản “Làng tôi”...

Cuối năm 1944, Văn Cao tham gia Việt Minh. Nhiệm vụ đầu tiên của ông là sáng tác bài Tiến quân ca, tại căn gác số 171 phố Mongrant (45 Nguyễn Thượng Hiền) Hà Nội, Quốc hội khóa I nước Việt Nam mới đã ghi trong Hiến pháp năm 1946 chọn bài hát này làm quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau này là quốc ca của nước CHXHCN Việt Nam). Sau đó, Văn Cao làm phóng viên và trình bày cho báo Độc Lập. Cũng trong thời gian này, ông gặp một giai nhân Hà thành - như một định mệnh gắn liền với cuộc đời ông: cô Nghiêm Thúy Băng...

Dạo ấy ở Hà Nội, ông Nghiêm Xuân Huyến rất nổi tiếng vì là chủ nhà in Rạng Đông, đồng thời là chủ bút hai tờ báo Bắc kỳ thể thao (1939-1940) và Con Ong (1941-1942). Là con gái thứ của một gia đình thế lực và giàu có như vậy nên tiểu thư Nghiêm Thúy Băng (sinh năm 1929) , được giáo dục một cách rất nghiêm cẩn trong cảnh giàu sang, nhung lụa...Tuy thế, cũng như các thiếu nữ Hà Nội lúc đó, Thúy Băng cũng rất thích hát những bài hát cải cách, nhất là những Buồn tàn thu, Thiên thai... Rồi cô được bố mẹ cho ra đứng coi sóc một tiệm sách nhỏ, kiêm luôn việc giao - nhận với khách hàng đặt in. Nhạc sĩ Văn Cao lại phụ trách in ấn cho báo Độc Lập. Duyên gặp gỡ bắt đầu từ đó. Và, từ chỗ yêu mến những bài hát của người nhạc sĩ chưa hề quen biết đến sự ngưỡng mộ chàng nghệ sĩ tài hoa mỗi lần chàng đến tiệm sách của nàng. Con tim “xanh thẳm và băng trinh” của Nghiêm tiểu thư đã biết thế nào là... lỗi nhịp!

Tuy nhiên, một đám mây đen đã phủ lên cuộc tình mới manh nha này: ông Nghiêm Xuân Huyến bị Nhật bắt và bắn chết chỉ trước ngày Cách mạng tháng Tám thành công 3 ngày... Trong những năm tháng đầy biến động này, từ sau khi ông Nghiêm Xuân Huyến mất, công việc kinh doanh bị đình trệ, gia cảnh ngày càng sa sút nhưng tình yêu của Văn Cao - Thúy Băng ngày càng thắm thiết. Rồi Văn Cao nhờ người bạn cùng làm chung với mình là Nguyễn Thành Lê, (cũng là bạn với người anh của Thúy Băng) làm mai mối. Đầu năm 1947, bà Nghiêm Xuân Huyến quyết định hiến nhà in Rạng Đông cho cách mạng để tản cư rời Hà Nội. Lễ hỏi của Văn Cao - Thúy Băng được tổ chức tại quê ngoại đàng gái: làng Cự Đà, huyện Thanh Oai, Hà Tây. Sau đó họ tản cư về làng Lưu Xá (huyện Chương Mỹ). Đó là một làng quê nghèo, yên tĩnh, nằm bên bờ một con sông hiền hòa. Phía bên kia sông, vươn lên khỏi lũy tre xanh ngắt là tháp chuông của một ngôi nhà thờ nhỏ; xinh xắn. Đều đặn mỗi ngày, cứ khoảng mờ sáng là tiếng chuông nhà thờ lại lảnh lót vang lên kêu gọi giáo dân ở cả hai bờ đến dâng lễ sớm... Ông Trần Huy Liệu, lúc đó là Bộ trưởng Tuyên truyền của Chính phủ Cách mạng non trẻ cũng chọn một nơi yên tĩnh nằm cách ngôi nhà thờ ấy non cây số để làm việc nên nhạc sĩ Văn Cao trở thành thuộc cấp trực tiếp của ông Trần Huy Liệu. Cai quản xứ đạo là một linh mục người Ý nhưng rất thạo tiếng Việt; thường được gọi là cha Minh. Ông Trần Huy Liệu và Văn Cao thường xuyên tiếp xúc với vị linh mục này bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp (có khi phải cải trang thành giáo dân)... Nhưng chỉ một thời gian ngắn không lâu sau đó, không khí chiến tranh đã ập đến vùng xứ đạo yên lành. Người ta hối hả đào hào, đắp lũy, thanh niên trai tráng nhộn nhịp tập luyện trong các đội du kích, tự vệ... Cảm khái trước tinh thần chống giặc của giáo dân làng Lưu Xá, Văn Cao nói với người vợ chưa cưới: “Anh sẽ viết một bản nhạc về ngôi làng này”.

Đám cưới Văn Cao - Thúy Băng được tổ chức đơn giản tại làng Lưu Xá. Ngay tuần trăng mật, họ được dọn về nơi ở mới - chính là nơi làm việc của ông Trẩn Huy Liệu khi ông được Trung ương điều lên Việt Bắc. Trước khi chia tay, ông Liệu còn đùa vợ chồng Văn Cao: “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ nhé!”. Và thế là, trong ngôi nhà nhỏ của đôi vợ chồng son vào tuần trăng mật năm 1947, Văn Cao đã thực hiện lời hứa với vợ, sáng tác một ca khúc về cái làng đạo Lưu Xá, bài Làng tôi ra đời: “Làng tôi xanh bóng tre, từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ rung...”. Trong căn phòng nhỏ ấm cúng, chàng nhạc sĩ vừa đàn vừa hát cho vợ mình nghe. Cô tiểu thư Hà thành vừa từ bỏ cuộc sống nhung lụa để làm vợ một chàng nghệ sĩ cách mạng lòng ngập tràn hạnh phúc bởi mình là người đầu tiên được nghe bài hát ấy... Sau đó, ca khúc này được in trên báo Độc Lập  và trở thành niềm tự hào của người dân Lưu Xá rồi trở thành bài ca tiêu biểu của mọi làng quê thời kháng chiến chống Pháp... Cũng trong giai đoạn này, Văn Cao đã sáng tác những ca khúc nổi tiếng khác như: Ngày mùa (1948), Tiến về Hà Nội (1949)... và đặc biệt là Trường ca Sông Lô (1947).

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

 

 

 

 

Tạp chí Cửa Biển số 201 (3/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 199,200 (1,2/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 198 (12/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)