Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 36 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Một hiện thân của sức bền văn chương

Có thể nói Đại hội lần thứ nhất thành lập Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng (ngày 4 và 5/1/1964) là một đại hội trẻ trung - trẻ từ không khí đại hội đến con người. Nhà văn Phùng Văn Ong có lần nói, mỗi khi Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tổ chức đại hội hay lễ kỷ niệm ở Nhà hát lớn thành phố, ông lại như trở về ngày Đại hội thành lập, một không khí thật vui mừng, phấn khởi, ai cũng xúc động với lời khai mạc của nhà văn Nguyên Hồng, giọng ông hồ hởi cuồn cuộn “rung chuyển như búa đe và máy chạy, tiếng sóng tiếng gió của biển khơi, tiếng cựa mình nảy nở của ngô khoai lúa đỗ, tiếng ca hát của một thành phố tưng bừng sản xuất...”, hệt như con người và văn chương ông. Sau lời khai mạc là tràng vỗ tay kéo dài vang động nhà hát. Niềm vui còn lân lan rạo rực mãi sau này khi được biết Chi hội VHNT Hải Phòng ra đời chỉ sau Chi hội Văn nghệ Việt Bắc (thành lập trong kháng chiến chống Pháp) và Chi hội Văn nghệ Quảng Bình - Vĩnh Linh (trực thuộc Ty Văn hóa Quảng Bình)(1). Tuổi đời văn nghệ sĩ ngày ấy hầu hết đều dưới 30, hơn chỉ có nhà thơ Lê Đại Thanh 57 tuổi, nhà văn Nguyên Hồng 46, nhà thơ Nguyễn Viết Lãm 45 và nhà văn Phùng Văn Ong 38. Vâng, ít ai nghĩ ngày đó Phùng Văn Ong đã tuổi ấy, còn hơn Trần Hoàn hai tuổi, mãi khi ông nằm xuống mới hay ông sống thật bền(2) và chỉ chịu ra đi khi ở tuổi 91.

Sống bền đã quý, làm việc bền còn quý hơn và càng quý khi lại luôn luôn bền bỉ một cách trẻ trung. Thật khó ai được như nhà văn Phùng Văn Ong khi năm 2005, ở tuổi 80 vẫn còn được giải nhất Cuộc thi thơ và truyện ngắn trên tạp chí Cửa Biển, mà lại là truyện nội dung yêu đương: Một chuyện tình! Ban chung khảo cuộc thi ấy là những nhà văn hàng đầu của cả nước nên việc đánh giá chắc chắn không nhầm: Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Vũ Quần Phương, Nguyễn Đức Mậu, Chu Lai, Khuất Quang Thụy. Mà đâu phải nhà văn của chúng ta chỉ có “một chuyện tình”, tạm kể sơ sơ: Chuyện tình của tôi, Giờ này em ở đâu, Hạnh phúc mỏng manh, Muộn mằn... Một hôm đến thăm ông, tôi nói đùa bảo bác gái phải xem lại thời trẻ bác giai thế nào, chứ nhiều nhân tình lắm, ông ấy lại chẳng giấu gì cả, viết ráo thành truyện. Cả ông bà đều cười: “Phải thế chứ!”. Rồi ông lại cười nữa, bảo: “Còn thua ông Mai Vui!” và nói thêm: “Thế mới gọi là truyện! Bịa mà thật, thật mà bịa! Toàn những con người tốt đẹp và mối tình đẹp nhưng dang dở nên đau khổ, tiếc nuối và ân hận, không dang dở thì cũng muộn màng!”. Ông bà Phùng Văn Ong sống rất hạnh phúc và tình cảm, khoảng những năm 1980 tôi đến thăm ông, vô tình gặp bà làm chuyên gia y tế ở Algeria vừa về, bà ôm lấy tay ông, bảo bà đi được là do ông động viên, ở nhà mọi việc lớn nhỏ ông gánh vác  “mà ông ấy lại còn bận sáng tác nữa chứ!”.  

Công việc của người sáng tác khó mà thành nền nếp được, bận không ra bận, nghỉ ngơi cũng không ra nghỉ ngơi, cảm hứng tưởng dào dạt nhưng ngồi vào bàn cả ngày lại chẳng được chữ nào, người cứ bần thần vơ vẩn nên có tài mà không kiên tâm và bền bỉ thì dễ nản và bỏ “nghề”. Đấy là chưa nói tới những tác động đến tư tưởng khiến nhà văn có thể giã từ nghiệp bút. Nhìn vào danh sách Ban Chấp hành Chi hội VHNT Hải Phòng nhiệm kỳ I và các nhà văn được kết nạp năm 1964 - những người được đặt nhiều kỳ vọng thì giờ đây chỉ lưu lại trong trí nhớ người đọc vài ba cái tên, trong đó có Phùng Văn Ong. Nhưng chính Phùng Văn Ong cũng từng giữa chừng bỏ cuộc. Năm 1955 ông sớm có truyện ngắn đăng báo Văn nghệ(3), năm 1962 truyện Người em gái được giải nhì (không có giải nhất) cuộc thi truyện ngắn của báo Hải Phòng kiến thiết; cùng năm 1962 tập truyện Cha và con do NXB Lao Động ấn hành được dư luận chú ý. Vào năm ấy có tập truyện là rất hiếm. Đang đà bỗng dưng Phùng Văn Ong buông bút! Mãi 40 năm sau trong kỷ yếu Hội viên  Hội Văn học (NXB Hải Phòng, 2001) ông mới có dịp bày tỏ, ấy là “thấy con đường văn chương vô cùng cực nhọc và cũng “rất lắm chuyện”. Nhưng đã mang lấy nghiệp vào thân, sau đó lại viết, âm thầm, lặng lẽ. 22 năm sau, 1984 xuất bản tập truyện ngắn thứ hai: Chuyện gia đình.

Phải lần lại quá khứ mới thấy cái nghiệp văn chương ở Phùng Văn Ong chập chờn dọa bỏ không chỉ một lần, nhưng sau mỗi lần như thế nó lại quấn quýt và càng bám riết hơn: Mầm mống từ những năm học tiểu học, lặng đi suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bật dậy vào những năm 1954-1962 rồi chìm nghỉm suốt hơn 20 năm tới mức tưởng như tắt hẳn thì bừng trở lại hết sức mạnh mẽ và sáng chói đến tận cuối đời. Bảo cái nghiệp văn chương ở Phùng Văn Ong mầm mống từ thuở còn là học  sinh tiểu học thật khó tinnhưng đúng là như vậy. Học sinh hồi đó lớn chứ không như bây giờ. Trong hồi ức Thầy giáo, nhà thơ Lê Đại Thanh và học trò (đăng Cửa Biển số 92 - tháng 8+9/2007) Phùng Văn Ong kể, những năm trước Cách mạng phong trào yêu nước đánh Pháp đuổi Nhật sôi nổi khắp nơi. Ông học lớp cuối trường tiểu học Hàng Kênh huyện Hải An, trường ngay sát nội thành nên học sinh rất nhạy cảm, họ cho ra đời tập san Vừng đông và trương hẳn tên “chủ bút” cùng các “văn nhân”, “thi sĩ”. Chỉ đến khi thầy giáo dạy tiếng Pháp là nhà thơ Lê Đại Thanh tịch thu tập san, phạt quỳ các tác giả, trong đó có Phùng Văn Ong, (chủ bút Trường Giang nhảy qua cửa sổ thoát được), tập san mới chịu đình bản. Một tuần sau, vào giờ ra chơi thầy bảo cả lớp ngồi lại và nói: “Vừa qua chắc các con oán thầy lắm. Các con đều biết con đường tiến tới độc lập, tự do của đất nước đang mở ra trước mắt. Bọn đế quốc và tay sai không dễ để yên cho chúng ta đào huyệt chôn chúng. Mật thám nhan nhản khắp nơi. Tập san của các con tuy chỉ là trò chơi văn hóa nhưng nếu rơi vào tay chúng, với những bài như Lên đường, Học sinh và tương lai chúng sẽ coi đấy là lò đào tạo thanh niên yêu nước. Khi ấy điều gì xảy ra chắc các con cũng hiểu...”.  

Nghiệp văn quay trở lại, khẳng định bằng tập Chuyện gia đình đã giúp nhà văn Phùng Văn Ong tự tin và từ đây một lòng gắn bó với văn chương, ông không ngừng viết và liên tiếp xuất bản các tập truyện ngắn Chị gái tôi (1996), Nỗi ám ảnh khôn nguôi (1997), Vùng sâu (2004), Cây phượng già (2010), tiểu thuyết Số phận nghiệt ngã (2009).

Mỗi khi có sách mới, nhà văn Phùng Văn Ong đều mang đến tận nhà tặng tôi, từ khi tôi chuyển nhà mà ông thì đã yếu, lúc có sách ông gọi điện nhắn tôi đến. Cuối năm 2014 ông gọi điện, bảo có rỗi đến góp ý giúp ông một việc. Thì ra ông định ra tuyển tập, dự kiến khoảng hơn 1000 trang, bìa cáctông, đang tính in 500 hay 1000 cuốn, “tay Quyết ở Nhà xuất bản Hải Phòng là cháu gọi tôi bằng chú, nhưng tôi không muốn in ở đấy. Anh tính hộ mất độ bao nhiêu tiền”. Tôi bảo cũng tùy loại giấy. “Giấy tốt.” - ông nói. “Vậy ít ra phải ba, bốn chục triệu”. “Thế thì được. Các con tôi bảo bố cứ in, tiền nong chúng con lo, cuốn sách để đời nên bố phải in thật đẹp, dưới 100 triệu là chúng con chịu đựng được!”. “Vậy thì vác lên Hà Nội, tội gì in ở Hải Phòng. Thế cụ chuẩn bị đến đâu rồi?”. “Con nó vi tính sắp xong. Tôi đã gọi điện cho Nguyễn Quang Thân ở Sài Gòn viết cho Lời giới thiệu”... Mấy tháng sau ông gọi điện bảo sách đã ra, nhà ở đâu để cho con mang đến tặng, con ông đã mang đến tận nhà tặng Vũ Hoàng Lâm. Tôi bảo không cần thế, tôi sẽ đến.  

Cầm nặng tay Phùng Văn Ong tuyển tập (NXB Văn học, 7/2015) những 1040 trang, tôi không khỏi trầm trồ. Văn xuôi Hải Phòng cho đến lúc này sau nhà văn Nguyên Hồng và Mai Vui, ông là người thứ ba có được tuyển tập. 62 truyện ngắn, 4 truyện dài và tiểu thuyết. Hầu hết tác phẩm của ông tôi đều biết nên không khỏi ngạc nhiên khi lần đầu được thấy trong tuyển có truyện dài Chiến hào và hai tiểu thuyết Giữa lòng thành phố, Chuyện ở xã. Nhìn vào danh mục sách được xuất bản ở bìa 4 thì đúng là chúng được in lần đầu. Hóa ra nhà văn của chúng ta chục năm nay (2005-2015) vẫn viết, không những thế còn viết đến “khủng khiếp” khi tất cả đều nghĩ ông đã nghỉ ngơi và “có quyền” nghỉ ngơi khi đã sang tuổi 80. Ông quả là hiện thân hiếm thấy của sức bền văn chương. Năm 2005, nhân ông được giải truyện ngắn Một chuyện tình, nhà báo Anh Thơ đã tới phỏng vấn, ông bảo: “Tôi không từ bỏ được thói quen đọc sách mỗi ngày. Và cũng chưa có ý định ngừng viết. Tôi vừa xong hai truyện ngắn Con chó đá góc vườn, Giọt nước mắt muộn màng và đang hoàn thành tiểu thuyết Huệ”. Huệ chỉ là tên tạm đặt, sau này là tiểu thuyết Số phận nghiệt ngã mà Huệ là nhân vật chính.

Nhà văn Phùng Văn Ong sống thế nào thì truyện của ông cũng thế, ông hiền lành, sống có tình, không cầu kỳ, hình thức nên truyện của ông đôn hậu, đậm đà, nhân ái, văn chương giản dị, trong sáng và mực thước, thủ thỉ như lời tâm sự. Phùng Văn Ong viết không nhằm trở thành “nhà nọ nhà kia” mà viết như một sự ám ảnh, niềm ‘“Ám ảnh khôn nguôi”. Ông không tô hồng bất cứ điều gì mà chỉ bày tỏ niềm yêu bằng tất cả sự chân thành, trung thực; cũng không lên án điều gì mà chỉ nói lên nỗi day dứt về những cảnh đời ngang trái. Ông tin vào nhân cách con người và đề cao nhân cách trong tác phẩm.

Trong các đề tài, nhà văn Phùng Văn Ong đeo đuổi nhiều nhất là hai đề tài: Một, đề tài kháng chiến chống Pháp, như truyện dài Chiến hào, tiểu thuyết Giữa lòng thành phố và một số truyện ngắn; Hai, đề tài ngành y, như Cô y tá khoa Nhi, Cha và con, Đêm Nôen, Lanđa, Anna... Ông từng tham gia phong trào thanh niên cứu quốc trước Cách mạng tháng Tám; trong Đội tuyên truyền xung phong của Mặt trận Việt Minh; năm 1946 vào bộ đội, bị địch bắt trong một trận chiến đấu; sau khi được tự do, tiếp tục hoạt động trong đường dây bí mật của Liên hiệp Công đoàn tại Nhà thương thành phố (nay là Bệnh viện Việt Tiệp). Hòa bình lập lại làm trong ngành y tế, chuyên trách công tác thi đua tuyên truyền cho đến khi nghỉ hưu - đó là “vốn sống” để Phùng Văn Ong gắn bó với hai đề tài trên.  

Một nhân vật của Phùng Văn Ong nói: “Tuổi đã vào khung bảy mươi là mọi thứ khó rồi. Người ta cứ mất dần những người bạn, vài ba ngày có khi cả tháng mới ra khỏi nhà một vài lần và cũng chỉ đủ thời gian để trò chuyện với một người, gặp lại một đường phố”. Tình cảnh ấy ám vào tất cả mọi người nhưng với chính nhà văn Phùng Văn Ong nó chỉ đúng có một nửa, quả là khi đã “vào khung 70” ông ít ra khỏi nhà và “mất dần những người bạn” - mất Mai Vui, Bùi Ngọc Tấn, chưa mất Nguyễn Quang Thân nhưng ở xa không gặp được. Cái nửa không đúng đó là không phải “mọi thứ đều khó” - Hành trình sáng tạo của ông vẫn ầm ầm tiến về phía trước cho đến tận ga cuối cuộc đời - cái ga ít ai đến được bởi nó ngự xa tít tận cây số thứ 91!

Lưu Văn Khuê

(1) Mới đây, nhân dự Ngày thơ Việt Nam ở Hải Phòng (21/2/2016), nhà thơ Trần Nhuận Minh cho biết đáng lẽ Chi hội Văn nghệ Quảng Ninh thành lập trước hoặc ít ra cùng lúc với Chi hội Văn nghệ Hải Phòng nhưng “xảy ra sự cố” tiểu thuyết Những người thợ mỏ (1961) khiến tác giả là nhà văn Võ Huy Tâm phải xin lỗi trước công nhân nên mãi 5 năm sau, tháng 11/1969 Quảng Ninh mới tổ chức được đại hội thành lập.  
(2) “Sống bền” là cách nói của nhạc sĩ Trần Hoàn về nhà thơ Nguyễn Viết Lãm.
(3) Đúng ra nên gọi là tạp chí Văn nghệ (của Hội Văn nghệ Việt Nam), ra số đầu tháng 3/1948. Sau Đại hội I (4/1957) Hội Nhà văn Việt Nam mới ra báo Văn. Báo Văn sau đó “đi trệch đường” nên không thể tồn tại. ít lâu sau được thay thế bằng báo Văn học. Đến nhiệm kỳ II, Hội Nhà văn đổi tên báo Văn học thành báo Văn nghệ và coi số tháng 3/1948 của tạp chí Văn nghệ là số đầu tiên.

 
Giấc chiêm bao trong thơ Nguyễn Đình Di

Ở nơi ấy

Cái hạt mở ra hai bàn tay

N.Đ.D

 

Có tiếng rì rầm dưới trăng

Lời của người được đất ru

Ai đấy

Hát chậm cho tôi học lời.

 

Đó là khổ thơ được nhà thơ Nguyễn Đình Di viết riêng, không thuộc bài thơ nào, dùng làm đề từ tập thơ đầu tay của ông, mang tên Giấc mơ cây (Nxb Hải Phòng, 2001). Những câu thơ thật hồn nhiên, như mê đắm trong chiêm bao, mộng du. Đến độ, cảm thấy như khi ấy, có ai cố ý đến bên ông đánh thức hoặc lay gọi, thì nhà thơ cũng khó mà nhận ra thật-ảo của một đời sống hiện hữu lam lũ cùng cực nhưng rất đáng yêu đang bám đuổi, vây quanh ông. Những cơn chiêm bao như vậy đã nâng đỡ, che chở, giúp ông vượt thoát qua mọi khó khăn hiểm nghèo để đến được xứ đẹp.

Sau Giấc mơ cây, nhà thơ Nguyễn Đình Di xuất bản thêm 4 tập thơ: Cỏ khát (2006), Trường ca Lộ trình (2008), Tín chấp (2011), Vườn gió mặn (2015) đều do NXB Hải Phòng thực hiện. Tôi không muốn gọi những tập thơ này là cuộc hành trình của nhà thơ. Bởi hành trình thường có điểm xuất phát, rồi có thể gặp những khúc cua, lúc tăng tốc, và đích đến. Tôi đọc thơ Nguyễn Đình Di và cảm nhận các tập thơ của ông, tuy viết trong các thời điểm khác nhau, nhưng có cùng một đời sống, cùng một tâm trạng, một thân phận trong một cảnh giới.

Thơ Nguyễn Đình Di trước sau vẫn trung thành với hệ hình thi pháp truyền thống, nền tảng là hiện thực và lãng mạn. Đây là một khuynh hướng sáng tác mà gần như cả thế hệ ông chịu ảnh hưởng đến tận bây giờ. Sau mỗi tập thơ, cảnh giới thơ Nguyễn Đình Di được mở rộng, thêm phong phú. Nhưng những sự kiện, sự vật, những ước mơ, khao khát trong đó thường được lặp đi lặp lại trong những tình huống, tâm trạng khá giống nhau ở nhiều thời điểm. Người đọc gần như quen thuộc từng bóng dáng thi ảnh, nhịp điệu, ngôn ngữ thơ của ông. Từ vầng trăng, con sóng, cái cây, con cá, con công cống, vạt cỏ, cái chợ, giọt mưa, con thuyền, bình rượu… Đến bàn tay, đôi mắt, lời ru, tiếng khóc, sợi tóc, trái tim, hồn mình... Những hành động của con người, như đi câu, hát, vung rìu, rũ bụi, buột mồm, nhập đồng… Những tâm trạng, như nhớ, sự đa mang, thương đồng đội, lẩn thẩn, lỡ thì… Hầu như những hiện hữu, chuyển động trong đời sống thường nhật kia, tựa những con lắc đơn, cứ trở đi trở lại trong thơ ông như ngày tiếp ngày, mùa nối mùa. Ấy vậy mà đọc thơ Nguyễn Đình Di vẫn thấy hấp dẫn và bị mê dụ. Bí quyết của sự hấp dẫn ấy chính là cách ông chiêm bao và bản năng chiêm bao thông qua một số bài thơ thành công của ông.

Phải nói thêm về chiêm bao để rõ hơn trạng thái này trong thơ Nguyễn Đình Di. Đây vốn là một hiện tượng tâm lý, sinh lý và đôi khi cả bệnh lý xuất hiện trong giấc ngủ, một hoạt động thường nhật của đời sống con người. Từng có nhiều nhà khoa học, triết gia đã lý giải những hiện tượng chiêm bao bí ẩn và diễn ra ngẫu nhiên này. Trang Tử (~365 – 290 trước CN), một triết gia và tác gia Đạo giáo cho rằng: “Giấc mơ là tính của khí dương. Vui, giận đều từ tính khí”. Còn theo thuyết Phân tâm học của nhà khoa học thần kinh và tâm lý người Áo Sigmund Schlomo Freud (1856 – 1939), những  tưởng tượng, ẩn ức, khát vọng chính là những nguyên nhân dẫn đến những xung đột vô thức để nảy sinh những giấc mơ. Với thơ của Nguyễn Đình Di, tôi gọi một số bài thơ của ông là những giấc chiêm bao có thật. Người đọc có thể nhìn thấy giấc chiêm bao ấy của nhà thơ, rồi nhanh chóng bị chúng ám thị, thôi miên... Và trong tâm thế đồng sáng tạo, những câu thơ của Nguyễn Đình Di vẫy gọi, dẫn dụ người đọc tới cảnh giới mà nhà thơ đã thăng hoa khi sáng tạo.

Sống chân thành, trải nghiệm và sáng tạo trong những giấc mơ là lẽ sống còn, đương nhiên, có lúc khá dễ dàng với nhà thơ Nguyễn Đình Di. Dễ dàng, bởi lúc ấy ông viết như vui chơi, như say, như hít thở… Tôi linh cảm rằng, dường như nhà thơ có được nhãn quan và nhãn lực để nhìn thấy cái vong cái vía của vạn vật mà trò chuyện, tỏ bầy: Ở miền không còn đêm/ Thấy ban ngày ngồi khóc/ Triền sông hoang gió mọc/ Cỏ se vàng chân mây (Nỗi chiêm bao). Giọt nước mắt vỡ/ Thả những hạt cỏ/ Vào cơn gió khô/ Trên cánh đồng đời (Trầm cảm). Em trốn ở đâu mà thơm quá/ Chiếc lá bùa mê ơi/ Những câu thơ ngẩn ngơ tôi chôn dưới móng nhà/ Như chiếc neo đang đòi được nhổ/ Để ngôi nhà trôi…” (Lãng du). “Cái vong cái vía” ấy có lúc ông thấy nó “mờ mờ nhân ảnh” và nhiều khi cũng chỉ thấy được một phần. Do vậy, nếu tác giả không dồn đẩy được cảm xúc tới ngưỡng cần thiết, thì những hình ảnh đặt lên mặt giấy kia chỉ là những cái xác không hồn. Nhưng sự chân thành gan ruột và tình yêu mãnh liệt đã giúp nhà thơ neo giữ được những hình ảnh vốn đã quen thuộc với bạn đọc làm chúng trở nên sống động trong một thế giới thơ mộng mị, kỳ ảo: Đêm đêm khi em đã ngủ/ Bàn tay giấu em ủ những câu thơ/ Thay lời hát ru/ Vỗ về giấc ngủ của em thật sâu/ Và sau đấy giấc ngủ của anh cũng sâu (Nói hộ bàn tay chai).

Sự chân thành của câu thơ Và sau đấy giấc ngủ của anh cũng sâu đã vượt qua mọi thủ pháp, thi pháp. Chữ “cũng sâu” được tác giả viết lặp lại chữ “thật sâu” nằm ở ngay cuối câu thơ trên. Thông thường khi viết, đây là những từ đồng âm cùng nghĩa mà nhà thơ cần tránh dùng lại, bởi bạn đọc sẽ cho là tác giả bí từ. Nhưng trong trường hợp này, nhà thơ Nguyễn Đình Di đã cố ý dùng lại một chữ mà ông vừa dùng. Sự lặp lại này phù hợp với chuyển động “chậm dần đều” của giấc ngủ. Nó giống như một viên sỏi đang rơi vào miệng giếng, rồi liệng dần xuống đáy sâu. Nếu không có câu thơ này, cả bài thơ “Nói hộ bàn tay chai” sẽ đưa người đọc rơi vào cảm giác nhàm chán, cũ mòn (cliché). Câu thơ độc đáo trên có thể ví như cái “huyệt” trên “cơ thể” thơ đang ủ rũ, ngái ngủ…, bất ngờ được tác giả “bấm” vào thật đúng lúc, làm “toàn thân” bài thơ trở nên ấm nóng và vận động hoàn toàn khỏe mạnh.

Sự nồng mặn, thổn thức của tình yêu luôn là mạch sữa nguồn nuôi dưỡng cảm xúc sáng tạo của nhà thơ Nguyễn Đình Di. Trong trường hợp người thơ này, chỉ có tình yêu thương mãnh liệt và trọn vẹn mới đủ lực kéo ông từ sự trần trụi, thô nhám của thực tại đời thường về với cảnh giới thơ chiêm bao lung linh, u mặc của riêng ông: Tôi lạy hoa trặc trìu đừng thơm day dứt nữa/ Anh sẽ nói được lời chưa kịp nói em nghe/ Trong hương trặc trìu tóc bạc đã như mê (Hoa trặc trìu). Trong cảnh giới huyền hoặc và tuyệt đẹp ấy, nhà thơ đã thức nhận được bản chất của chân giá trị. Nó không xa vời, khó tìm kiếm, mà chính là những điều bình dị và rất gần gũi với mỗi con người: Chỉ có mỗi điều giản dị/ Cỏ xanh… mình cũng xanh đi (Cỏ ở phố).

Vẻ đẹp thơ Nguyễn Đình Di trong cõi chiêm bao khá đa dạng. Lúc tinh tế, mỏng manh như cánh ong bay: Sau gương/ Có tiếng cánh vỗ/ Có tiếng gọi nhỏ (Gương thu). Khi sâu lắng, quấn quyện, rồi vụt sáng ở cuối bài thơ như ngọn nến: Câu thơ váng vất nguồn cơn/ Đắng vào rễ cỏ cuối đường gọi hoa (Bâng quơ chiều). Lại có bài, ông viết như sự mặc khải, mặc định ngẫu nhiên: Hào hển vít gió khoe/ Nghe hạt hát đây này (Tiếng cây).

Tôi đọc trọn vẹn 5 tập thơ của Nguyễn Đình Di một cách mê mải. Không ngắt quãng. Để thấy mình bị mê dụ trong những giấc chiêm bao. Khi huyền hoặc, khi đột ngột trở về thực tại. Khi như tan chảy ra hoặc bị vo tròn lại. Trong 5 tập thơ ấy, tôi ấn tượng nhất với bài thơ “Khấn gọi cây”. Bài thơ này in trong tập thơ Giấc mơ cây, không biết chính xác tác giả viết thời gian nào. Song tôi chắc chắn đó là khoảng thời gian trước năm 2001.

KHẤN GỌI CÂY

Cây quéo cửa nhà tôi

Của ông nội tôi trồng

Tôi đã đeo khăn tang cho nó ngày bố tôi mất

Bây giờ tôi nói gì khi phải chặt nó đây

Cây ơi!

Mày bằng tuổi em tao

Mày đã cho tao tiếng chim trong phố

Cho tao bóng xanh dịu đi nắng lửa

Cho tao quả ngọt để đẩy cái đắng khỏi lưỡi

Cho tao thao thức nghe lá rụng và

gửi được vào trong trang thơ một loài lá

chỉ chịu rơi khi nõn đã xanh đầy

Cây ơi

Ta bầy lễ ra đây

Thắp hương

Khấn gọi

Mày hãy về mọc trong trang thơ này

Hãy tỏa bóng mày che mát vết bỏng đêm của tao

Hãy gọi chim về hát trong nỗi nhớ của tao

Và mang quả chín của mày đặt vào tay ông nội

Cây ơi

Tao bẻ lưỡi cưa rồi vì sợ sẽ ngã cùng với mày

Khi nghe hồn cây đang nói lời của người sắp bị chặt.

Bài thơ đạt tới sự thành công toàn bích. Từ cấu tứ, tạo vỉa ngầm, huyền ảo kết hợp với tự sự, mê và tỉnh… Cho đến ngôn ngữ thơ giản dị, tự nhiên… Sau khi công bố, bài thơ “Khấn gọi cây” cùng với 2 bài thơ “Lãng du” và “Những con chữ” đoạt Giải thưởng thơ hay tháng 11 năm 2011 của tuần báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn VN). Nét độc đáo ở đây là, tác giả dành hẳn 2 khổ thơ đầu chỉ để liệt kê “lịch sử” của cây đã gắn với “lịch sử” người viết - nhân vật xưng “Tao” ra sao. Với giọng điệu bông lơn nhưng thân thiết và gần gũi, ông nói cho cây nghe thấy: Mày bằng tuổi em tao/ Mày đã cho…/ Mày đã cho… Và, đây là câu thơ đặc sắc, mang thần khí vực dậy hồn vía của tất cả những sự kiện tưởng chừng khô khan, đơn điệu vừa kể: Cho tao thao thức nghe lá rụng và/ gửi được vào trong trang thơ một loài lá/ chỉ chịu rơi khi nõn đã xanh đầy. Khổ thơ tiếp theo là những khát vọng của cây xanh, của diệp lục, khát vọng sống của mọi sinh linh trên mặt đất. Tao bẻ lưỡi cưa rồi vì sợ sẽ ngã cùng với mày/ Khi nghe hồn cây đang nói lời của người sắp bị chặt. Câu kết bài thơ là sự hóa thân, đổi ngôi…, nói khác đi, chính là sự hóa giải cho tội lỗi phá hoại thiên nhiên của con người. Bài thơ “Khấn gọi cây” của Nguyễn Đình Di là một gợi ý cho chúng ta liên tưởng tới mối quan hệ sống còn giữa sinh thể và môi trường sống quanh ta. Mọi quan hệ giữa cơ thể con người với thế giới bên ngoài được ví như một cơ thể hoàn chỉnh. Tiểu vũ trụ người luôn cần hòa đồng, vận động song hành cùng với nhịp điệu của đại vũ trụ. Con người không chỉ là thực thể tự nhiên mà là một thức thể tự nhiên - xã hội. Những hành động phá hủy cây xanh, hủy hoại môi trường sống đều có nguy cơ làm mất sự cân bằng sinh thái, xâm hại trực tiếp vào đời sống con người và của vạn vật trên hành tinh này. Hành động của nhân vật “Tao” “bẻ lưỡi cưa” trong câu thơ kết là quyết định đúng đắn, cương quyết để bảo vệ những giá trị sinh tồn của thiên nhiên, vì sự sống của loài người trên trái đất.

 

 

Từ sự xuất hiện được đánh dấu với tập thơ đầu tay, Giấc mơ cây năm 2001, phải khẳng định rằng, thơ Nguyễn Đình Di đã đem đến cho thơ đương đại, đặc biệt cho thơ Hải Phòng một giọng nói đằm mặn và ám gợi. Chỉ tiếc rằng, những bài thơ có nền tảng vững chắc, có vỉa tầng chồng lấn, có ngôn ngữ tự sự hồn nhiên như “Khấn gọi cây” lại không nhiều. Thêm vào đó, về sau này, thơ ông có phần nào phai nhạt sự đắm mê, ngơ ngẩn và hồn hậu so với tập thơ đầu. Tuy cấu tứ bài thơ và câu chữ một số tập thơ gần đây có chặt chẽ hơn trước, nhưng chính điều đó lại làm thưa vắng cái dại khờ, vụng dại rất đáng yêu trong thuở sáng tạo ban đầu.

Nhà thơ William Wordsworth (người Anh) quan niệm, cuộc đời chỉ là một giấc mơ và chúng ta sẽ tỉnh thức khi không còn hiện hữu trên cõi đời này nữa. Cõi chiêm bao trong thơ Nguyễn Đình Di dẫn người đọc đến những miền trong veo tuyệt đẹp và níu giữ chúng ta ở đó mãi. Nơi ấy là địa chỉ tin cậy, một cõi sống thật, cõi yêu thương và đắm mê.

Nhà thơ Nguyễn Đình Di sinh năm 1947, tại tỉnh Hưng Yên, hiện sống và sáng tác tại thành phố Hải Phòng. Ông từng đoạt một số giải thưởng văn học, tiêu biểu: Giải thưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hải Phòng, 1997), Giải thưởng Văn học của Bộ Quốc phòng (2004 – 2009), Giải thưởng Cuộc thi thơ của tạp chí Cửa Biển (2006), Giải thưởng đề tài “”Đây biển Việt Nam” do báo Viẹtnam.net và Hội Nhà văn VN trao tặng (2012), Giải thưởng cuộc thi thơ “Hoa phượng” do Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng trao tặng (2012)…

Những bài thơ hay trong 5 tập thơ đã đến với nhà thơ Nguyễn Đình Di bằng nhiều nẻo của tư duy và cảm xúc, đôi khi bằng cả sự vô thức, bất ngờ trong quá trình sáng tạo. Chắc gì thơ tôi biết nghĩ/ Chắc gì hồn tôi biết nhìn (Khiếm thị). Đó là lời tác giả nói với một “bé gái mù”. Cách ông luôn cật vấn, phản tỉnh, chính là thái độ sống, trách nhiệm sống của ông, với tư cách người cầm bút trước cuộc đời đầy âu lo, thổn thức chờ đợi này. Ông cũng đã nhìn thấy con đường xa tít trước mặt mà quỹ thời gian có thể không còn nhiều. Gánh số phận mình/ Con chữ mơ mọc cánh bay giữa khoảng đặc giữa trời và đất (Những con chữ). Hình ảnh con chữ “mơ mọc cánh”, dù phải bay “giữa khoảng đặc…” là giấc mơ đẹp nhất của một nhà thơ suốt đời trăn trở, khao khát sự vươn vượt, bứt phá để mong đến với những giá trị đích thực, mới mẻ.

Tôi viết những dòng cuối của bài viết nhỏ này khi biết nhà thơ Nguyễn Đình Di đang phải vật lộn với căn bệnh hiểm nghèo. Xin được cầu mong cho ông được mau bình phục. Bạn đọc cũng đang lần theo từng câu thơ còn in dấu vân tay nhà thơ để chúc phúc an lành cho ông: Trong mỗi ngón tay/ Có một trái tim đang dịu dàng nói (Nói hộ bàn tay chai).

Hải Phòng, 24/1/2016

Mai Văn Phấn

 
Làm phim về NSND Hoàng Lan

Cùng với những anh chị em bạn nghề, cộng sự và học trò của chị…chúng tôi  tri ân chị bằng bài viết thay nén tâm hương gợi nhớ những kỷ niệm sâu sắc về NSND Hoàng Lan –một người “sinh ư nghệ, tử ư nghệ” đã có nhiều vai diễn để đời.

Cuối năm 1990 với lòng yêu mến và cảm phục nghệ sĩ ưu tú chèo Hoàng Lan, nhà báo Đào Hướng (Giám đốc Đài PTTH Hải Phòng) đã chấp thuận đề nghị của nhà báo Tô Hoàng Vũ - Trưởng ban Biên tập Văn nghệ (nay là Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng )làm phim tài liệu nghệ thuật về NSUT Hoàng Lan để tham dự Liên hoan Phim phóng sự, tài liệu truyền hình toàn quốc tại Huế hè 1991. Anh Đào Hướng nói với Tô Hoàng Vũ và tôi “Để tớ viết kịch bản cho các cậu nhé”.


Là người quen biết chị Hoàng Lan từ lâu lại vừa đạo diễn phim tài liệu nghệ thuật chân dung họa sĩ La Viết Sinh (Huy chương Bạc tại Cần Thơ) nên tôi được phân công đạo diễn; Tô Hoàng Vũ làm biên tập và viết lời bình; Hùng Thắng quay phim; Văn Vĩnh, Hoàng Việt dựng phim.


Hồi đó, thiết bị kỹ thuật của Đài PTTH Hải Phòng còn rất thô sơ. Chúng tôi được ưu tiên một camera M7 mới. Duy nhất hôm đi Hà Nội và về quê chị ở Hưng Yên thì được Đài cho mượn xe ô tô 7 chỗ Đatsu, còn khi làm ở nội thành phải đi bằng xe máy Ba bét ta và cả xe đạp. Kinh phí làm phim thì... rất khiêm tốn (mà mới được duyệt trên giấy). Để kịp triển khai công việc, Tô Hoàng Vũ về mượn của mẹ một chỉ vàng bán đi lấy tiền làm phim. Chúng tôi làm phim dự thi với sự say mê nghề nghiệp và lòng yêu mến, cảm phục người nghệ sĩ chèo đã dành cả cuộc đời mình, cả hạnh phúc gia đình cho nghệ thật chèo. Đó cũng là lý do Tô Hoàng Vũ quyết định lấy tên của bộ phim là “Với cả cuộc đời”.

Nghệ sĩ Hoàng Lan trong vai mụ Mối vở “Cây tre trăm đốt” 1983
Ảnh: Gia đình cung cấp


Đường 39 về xã Ngô Quyền, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đang trong thời kỳ đại tu. Mặc dù có xe ô tô mà cả đoàn phải cuốc bộ vì sợ xe nổ lốp giữa đường. Đến đầu làng,  chị Hoàng Lan chỉ cho chúng tôi cây đa mà thuở thiếu thời chị hay vui đùa cùng bè bạn. Từ năm 1948 chị đã tham gia đội du kích Hoàng Ngân nổi tiếng vùng quê nhãn. Thích ca hát từ hồi còn nhỏ, nhưng tính chị nhút nhát, hay xấu hổ. Căn nhà xưa (nay em trai chị là ông Phức ở) tuy đã được tu sửa nhưng vẫn khiêm tốn nằm nép mình dưới gốc nhãn xum xuê. Chị chỉ cho chúng tôi con đường bờ ruộng gồ ghề nơi chị ôm gói quần áo trốn nhà lội tắt đường cuốc bộ lên Hải Dương tìm đến Đoàn Văn công Tả ngạn sông Hồng” để xin tuyển. Đó là ngày mới hòa bình – năm 1954 (năm 1961 Đoàn chuyển về Hải Phòng và đổi tên thành Đoàn chèo Hải Phòng)


Không được làm diễn viên, chị năn nỉ xin ở lại làm cấp dưỡng. Từ đó, ngoài việc lo “cơm nóng, canh ngọt” cho cả đoàn, Hoàng Lan còn mò mẫm học nghề. Cứ ngơi tay bếp núc là chị bám lấy sàn tập. Chị âm thầm “học mót” các anh chị. Rỗi lúc nào là lại nhẩm lời hát, học cách đi, điệu múa. Chị vừa đun bếp, vừa gõ nhịp hát thầm, múa vụng vì sợ có người nhìn thì xấu hổ. Lòng yêu nghề đến mức say mê chính là động lực để Hoàng Lan vượt qua mọi sự mặc cảm và ánh mắt ngờ vực của anh chị em trong đoàn. Trong một buổi diễn có sự cố, diễn viên đóng vai chính bị ốm đột ngột. Khán giả đến rất đông, lịch diễn đã lên kế hoạch không thể thay đổi. Trong lúc nước sôi, lửa bỏng ấy, Hoàng Lan mạnh dạn gặp Trưởng đoàn xin được diễn thay. Rất ngạc nhiên và ít nhiều ngờ vực nhưng trước sự tự tin của Hoàng Lan và trong tình thế bắt buộc, ông Trưởng đoàn miễn cưỡng gật đầu, Cả đoàn được lệnh sẵn sàng “ứng cứu” để diễn cho qua đêm. Ai ngờ, đêm diễn “bất đắc dĩ” ấy đã chứng minh khả năng diễn xuất “thiên bẩm” của Hoàng Lan. Bạn diễn vui mừng, lãnh đạo thở phào, còn khán giả thì vỗ tay không ngớt. Thế là từ cô cấp dưỡng “nhọ nhem”, Hoàng Lan chững chạc có mặt trên sàn diễn sánh vai cùng các anh chị trong đoàn mang lời ca tiếng hát đi khắp nơi phục vụ bộ đội, nhân dân. Chị cùng các tốp xung kịch đi hát vận động bà con bị địch dụ dỗ vào Nam. Chị đến với công nhân các nhà máy, khi dạy múa, dạy hát, khi biểu diễn phục vụ. Phòng truyền thống Sư đoàn Phòng không Không quân 363 còn lưu trữ bức ảnh chị Hoàng Lan và tốp nữ múa hát phục vụ bộ đội ngoài trận địa và khi có máy bay Mỹ bắn phá, các chị trở thành những chiến sĩ tiếp đạn  cho bộ đội bắn trả kẻ thù.


Qua diễn xuất của cháu Hải (con gái chị) chúng tôi đã “phục hiện” được quá trình lao động miệt mài để từ cô cấp dưỡng trở thành một diễn viên xuất sắc. Những cảnh chị trốn nhà, cảnh vừa đun bếp vừa tập hát, cảnh phục vụ bà con di cư ở bến đò “ông Vằng” (thôn Vĩnh Khê, xã An Đồng, huyện An Dương, Hải Phòng) được chúng tôi “mô ni phê” thành những thước phim tư liệu lịch sử đã gây cảm xúc tốt cho người xem.

 

Nghệ sĩ Hoàng Lan (bên trái) với chị Ba Định - Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam.
Ảnh: Gia đình cung cấp

Trong thời kỳ bao cấp, nhiều diễn viên nữ phải nhờ mẹ đẻ hay mẹ chồng đi bế con giúp. Đẻ được 2 tháng phải đi tập, đi diễn. Phía sau sân khấu hoặc dưới gầm sàn diễn là những chiếc võng đặt con. Ai không lên diễn bế con hộ người có vai diễn. Nhiều khi đang cho con bú, đến vai diễn phải dứt vội con ra. Bú dở miệng, đứa trẻ khóc ngằn ngặt. Chỉ 4, 5 tháng nhiều người đã phải cai sữa, gửi con ở nhà để theo đoàn lưu diễn các nơi. Hoàng Lan vất vả hơn vì chồng chị người miền Nam vì thế nội, ngoại chẳng có mẹ nào mà nhờ. Cháu Hải được mấy tháng tuổi phải gửi về nhờ cậu mợ Phức nuôi hộ. Đồng lương ít ỏi, chồng công tác xa nên mọi việc trong nhà một tay chị vun vén. May sao, ông trời thương cho chị cái sức khỏe bền bỉ, ít bị đau ốm. Nhiều khi trở trời yếu đau, chị cũng cứ bám sàn diễn. Sân khấu thành thánh đường tiếp thêm sức mạnh cho chị vượt mọi khó khăn.


Đất nước thống nhất, chồng chị vận động chị bỏ đoàn về Nam. Cái “ma lực” của ánh đèn sân khấu và các vai diễn đã không cho chị ra đi. Níu kéo chồng không được, anh chị đành chia tay kẻ Bắc, người Nam. Một mình chị nuôi hai con thơ. Nhiều lúc gió mưa, vất vả… cái nỗi nhớ chồng thương con làm lòng chị quặn đau. Tình cảnh ấy được chúng tôi đưa lên bằng hình ảnh cảnh trời mưa bão, một con thuyền cũ neo bến đợi chờ. Cảnh một con gà mẹ lúi cúi bới mồi nuôi lũ gà con… Cháu Hải diễn thành công cảnh đêm mưa, nhà dột, chị Hoàng Lan vừa ru con vừa học vai. Nước mắt chị thấm ướt quyền sổ ghi bài hát và bức ảnh vợ chồng chị chụp cùng hai cháu Hải-Long. Đó là những điểm nhấn nổi bật sự hy sinh vì nghệ thuật và lòng yêu nghề, yêu đến si mê của Hoàng Lan với “nghiệp chèo” mà qua màn ảnh nhỏ chúng tôi đã truyền tải đến khán giả cả nước.


Chính lòng yêu nghề đã tạo cho chị một cách “nhập vai” rất khác người. Trong mỗi đêm diễn, sau khi hóa trang, thay trang phục, chuẩn bị đạo cụ chu tất, chị Hoàng Lan chọn một chỗ ngồi vắng vẻ để suy nghĩ về vai diễn và cách diễn. Lúc này chị tập trung toàn bộ trí lực vào việc nhập vai nên đừng có ai dại gì mà làm ngắt mạch suy tư của chị. Chị sẵn sàng “chan tương, đổ mẻ” vào “kẻ phá ngang” làm đứt đoạn dòng suy nghĩ của chị. Có lẽ ít có diễn viên nào chú tâm với vai diễn như chị.


Cùng Đoàn chèo Hải Phòng về xã Trung Lập (huyện Vĩnh Bảo), tổ làm phim đã “thực mục sở thị” nỗi vất vả của cánh “văn công lưu động”. Đêm diễn đang cuốn hút khán giả thì bất chợt mưa giông kéo đến. Khán giả chạy nháo nhào tìm chỗ trú mưa. Anh em trong đoàn kẻ che phông cảnh, người thu đạo cụ, trang phục, người che dàn âm thanh, ánh sáng…Tất cả chui xuống dưới sàn sân khấu trú mưa. Nhiều diễn viên ngấm nước rét run cầm cập. Chị Hoàng Lan vẫn tỏ ra bình tĩnh. Chị bảo: “Mưa tạnh mà còn sớm bà con không về đâu, phải diễn tiếp đấy cậu ạ”. Đúng thế, mưa ngớt, bà con lại ùa ra vây quanh sân khấu. Đêm diễn lại tiếp tục. Những năm ấy bà con “khát” văn công lắm.


Khi đã về nghỉ hưu, nhiều khi có chương trình truyền hình, tôi mời chị tham gia. Có lần chị bị sốt, cháu Long lo cho sức khỏe của chị nên khi tôi đến đón, cháu có ý xin cho mẹ nghỉ. Chị Hoàng Lan vội xua tay: “Long ơi. Mẹ khỏe rồi. Để mẹ đi với cậu Tiến kẻo nhỡ việc chung”. Nể tôi, cháu Long để mẹ đi. Cả buổi quay, tôi vẫn lo sức khỏe cho chị. Nhiều lúc, mệt quá, tôi phải tạm dừng mời chị ngồi uống nước. Nghỉ không lâu, chị lại giục quay cho kịp. Khi về nhà, chị nói như reo: “Long ơi, mẹ khỏe hẳn rồi con ạ”. Được tham gia biểu diễn chính là liều “thuốc thánh” đã giúp chị khỏe thật.


Tuy là NSưT rồi NSND nhưng chị rất chịu khó trao đổi và học tập mọi người. Có lần quay hoạt cảnh chèo “Lời vàng dựng nước” (Kịch bản: Tuấn Tiến –Mạnh Thu), có đoạn hát điệu Đào liễu: “…Bác đã bôn ba khắp bốn phương trời/ Tìm đường cứu dân. Tìm đường cứu nước/ Tóc bạc da mồi Người vẫn xông pha/ Tấm lòng yêu nước thiết tha…”. Ghi âm, ghi hình xong, với tư cách đạo diễn, tôi đề nghị chị hát và diễn lại theo cách hát khác cho đúng với diễn biến tình cảm của nhân vật bà già nông thôn ghi nhớ công đức Bác Hồ. Chị vui vẻ thực hiện, đoạn ghi hình và tiếng khi hát lại đúng là hay hơn trước.


Khi làm kịch bản sân khấu truyền hình vở “Ngôi đình làng Hạ” tôi mời chị đóng vai Cụ Thủ. Đây là một nữ du kích có chồng bị địch bắn chết ngay dưới gốc đa đình làng. Người làng không gọi tên tục của cụ mà chỉ biết cụ nhận làm thủ từ trông coi đình và phần mộ các liệt sĩ nên dân làng gọi cụ là “Cụ Thủ”. Ban đầu, cụ Thủ không đồng ý việc chuyển đình làm khu chế xuất. Sau khi hiểu ra đây là yêu cầu phát triển của đất nước trên con đường hội nhập. Cụ Thủ hăng hái đi tiên phong. Thật bất ngờ, khi diễn cảnh chuyển đình, chị Hoàng Lan tự chuẩn bị trang phục. Chị bỏ tiền mua một bát hương sứ to, đốt nhiều hương lấy chân cắm vào bát hương. Chị cẩn thận làm bát hương cũ đi. Bát hương ấy chính là biểu tượng của lòng dân với các vị thành hoàng có công với dân, với nước. Đó cũng là tình cảm của những người còn sống với đồng đội đã anh dũng hy sinh. Đoạn diễn đầy cảm xúc với giọng hát nghẹn, với đôi mắt già nua ngân ngấn nước mắt. Bàn tay gân guốc run run trân trọng ôm chặt bát hương vào lòng… đã gây xúc động cho người xem. NSƯT Trọng Dũng (cố vấn nghệ thuật cho chương trình) phải thốt lên: “ …Đoạn diễn quá tuyệt vời, đến tôi cũng không cầm nổi nước mắt…”


Khi làm phim ngắn “Nọc độc” NSƯT  Lê Đức Tiến lại làm cố vấn. Anh bàn với tôi mời  NSND Hoàng Lan tham gia. Vai diễn ngắn thôi. Chỉ một đoạn bà nội đến đồn công an nhận cháu về. Khi biết cháu sử dụng ma túy. Bà không quát nạt mà ôm lấy cháu ân cần động viên, khuyên nhủ cháu từ bỏ con đường ma túy. Bà chậm rãi đưa đôi mắt già nua nhìn về nơi xa xăm tưởng như nơi đó có con trai, con dâu cụ đang sinh sống phía trời Tây mà nhắn nhủ: “Các con ơi, các con mải mê làm giàu nơi đất khách quê người làm gì nữa chứ. Về thôi, nếu không, con mày hỏng mất rồi”. Dòng nước mắt chảy dài trên gò má nhăn nheo đã làm cháu bé thức tỉnh. Cháu ôm lấy bà:  “Bà ơi. Cháu biết lỗi rồi. Cháu xin bà”.


NSƯT Lê Đức Tiến đề nghị chúng tôi chi “cát xê” cho chị Hoàng Lan cao hơn các diễn viên khác. Tuy chỉ được mấy trăm ngàn bồi dưỡng, chị bảo: “Sao nhiều thế cậu? Thế các diễn viên khác thì sao?”. Chưa bao giờ chị phàn nàn về tiền bồi dưỡng nhiều hay ít. Chị tâm sự với tôi. “Cứ có vai, cậu cho chị tham gia là tốt lắm rồi. Chị không nghĩ đến tiền thù lao đâu cậu ạ” . Thậm chí nhiều khi chị đạp xe đến trường quay chứ không cần xe đến đón. Chị bảo đạp xe cho khỏe người.


Sân khấu chèo thường có vai “đào thương” (như Thị Kính, Thị Phương, cô Tấm..), vai “đào lệch” (như Thị Màu, cô Cám, mụ Quán…), Nhiều diễn viên chỉ quen đóng một loại vai có “mô tuýp” na ná như nhau. Điều đặc biệt là NSND Hoàng Lan biểu diễn được cả hai loại vai này.


Nói về “Đào thương”  chị đã vào vai già Đa - một già làng nhân từ, bác ái… (chèo “Tấm Cám” tác giả Lưu Quang Thuận), bà mẹ - người mẹ châu thổ sông Hồng hiền lành, chất phác…(chèo “Cô gái sông Cấm” tác giả Phan Tất Quang), Trần phu nhân – bà mẹ thương con nhưng nghiêm khắc theo phong cách của một “mệnh phụ phu nhân”… ( chèo “Tấm vóc đại hồng” tác giả Trúc Đường - Trần Đình Ngôn), Bà mẹ bất hạnh hiền lành bị chính những đứa con đẻ của mình hắt hủi, bỏ rơi… (chèo “Nỗi đau tình mẹ” tác giả Vũ Hải), cụ Thủ từ - người nữ du kích thủy chung trong sáng luôn nêu tấm gương về phẩm chất người chiến sĩ cách mạng trung kiên (chèo “Ngôi đình làng Hạ” tác giả Trần Tuấn Tiến) … rất thành công. Nhiều vai diễn “đào lệch” được chi khắc họa nhân vật một cách sáng tạo mà người xem và bạn nghề không thể nào quên như vai Sùng Bà - một bà mẹ chồng cay nghiệt, độc ác (chèo cổ “Quan Âm Thị Kính”), mụ Quán – một mụ chủ tráo trở, mưu mô, chèo kéo khách hàng bằng đủ ngón nghề… (chèo cổ “Súy Vân giả dại”), mụ Mối – thâm độc, vụ lợi và kệch cỡm… (chèo “Cây tre trăm đốt” tác giả Phan Tất Quang)… Mỗi một vai diễn chị đều có những sáng tạo bứt phá để khắc họa nên nhưng nhân vật tiêu biểu mà hiếm có nghệ sĩ nào phát hiện và tái tạo thành công. Nhiều vai diễn của chị được trao tặng Huy chương Vàng trong các Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc.


Khi làm phim “Với cả cuộc đời”, chúng tôi có phỏng vấn GS-NSND Trần Bảng về các vai diễn của Hoàng Lan. GS-NSND Trần Bảng trả lời ngay: “… Nói về yêu nghề, “sinh ư nghệ. tử ư nghệ” của Hoàng Lan thì khỏi bàn. Cả đời Hoàng Lan là dành cho sân khấu chèo. Đặc biệt Hoàng Lan đóng được đa dạng. Hoàng Lan không đi vào các  vai quen thuộc theo “mô tuýp” cổ bản mà dù là vai “đào lệch” hay “đào thương” thì Hoàng Lan đều để lại những vai diễn ấn tượng, giàu sức sáng tạo và không dễ gì làm được…”. Tôi được biết NSƯT Kim Liên và nhiều diễn viên (đoàn Chèo Hải Phòng) đã thành danh một phần nhờ sự chỉ bảo, uốn nắn của NSND Hoàng Lan.


Phim tài liệu nghệ thuật “Với cả cuộc đời” được trao Huy chương Bạc trong Liên hoan Truyền hình toàn quốc tổ chức tại Huế năm 1991.


Cho đến hôm nay, khi đứng trước bàn thờ tiễn NSND Hoàng Lan về cõi vĩnh hằng, những vai diễn “để đời” và cách làm việc trách nhiệm của chị vẫn sống mãi trong tâm tưởng của tôi và anh em bạn nghề xa gần. Dù đã cao tuổi, chúng tôi vẫn gọi chị như cách xưng hô hồi xưa, khi nghệ thuật còn thanh xuân và ai cũng muốn cho cái tuổi xuân ấy cứ kéo dài mãi mãi.


Chị Hoàng Lan ơi, khán giả yêu nghệ thuật chèo vẫn mãi nhắc đến chị qua các vai diễn đã thành “khuôn mẫu” mà bằng tình yêu nghề, sự lao động sáng tạo cần mẫn chị đã đề lại cho sân khấu chèo thành phố Cảng và nghệ thuật diễn chèo cả nước.


Chúng tôi luôn thấy như có chị đang lên sân khấu cùng tham dự các buổi biểu diễn với chúng tôi./.


Trần Tuấn Tiến

 
Hoài niệm đầu Đông

Đã qua rồi tiết thu nhưng năm nay thời tiết như không thuận. Thi thoảng một cơn mưa vội vã kéo theo chút gió lạnh đầu mùa nhưng  mùa đông vẫn như còn mải rong chơi đâu đó chưa về. Đúng vào tiết Lập Đông năm nay, Nghệ sĩ Nhân dân (NSND) Hoàng Lan đã từ biệt gia đình bè bạn và những người thân để ra đi mãi mãi.


Vẫn biết quy luật của trời đất là bất biến nhưng khi nhận được hung tin, ai cũng bàng hoàng thương tiếc. Hình ảnh nữ NSND với nụ cười hiền và mái tóc bạc trắng như vẫn còn đang hiển hiện đâu đây... Mới chưa đầy một năm trước, bà vẫn cùng chúng tôi đi dự Đại hội Sân khấu toàn quốc lần thứ 8 tại Hà Nội.


Hôm ấy, bà giao hẹn với tôi: “Tớ nghễnh ngãng lại chậm chạp nữa, các cậu đi đâu nhớ gọi bà lão này đấy nhá”. Bà còn nói vui: Đoàn Hải Phòng có “ba con khỉ”!!! (tôi, NSND Phi Nga và bà, hơn chúng tôi tròn một giáp)...


Thâm tâm, tôi luôn coi bà là một “tiền bối”.


Nửa thế kỷ trước, tốt nghiệp Trường Nghệ thuật Sân khấu Việt Nam tôi về nhận công tác tại Hải Phòng. Ngay từ những ngày đầu tiên, tôi đã nghe mọi người giới thiệu về giọng hát chèo của bà. Tôi từng tâm sự với bà về người mẹ của tôi, người mà tôi đã nhắc tới trong một bài viết có tựa đề “Mẹ tôi - Cô đào chèo vùng Kinh Bắc” và như có một mối dây đồng cảm mơ hồ nào đó khiến tôi ngay lập tức có thiện cảm với người đồng nghiệp lớn tuổi này...


Hoạt động ở hai kịch chủng khác nhau nhưng tôi luôn ngưỡng mộ giọng hát của bà. ấn tượng nhất cho đến tận bây giờ, khi bà đã đi xa, là vai Trần phu nhân trong “Tấm vóc đại hồng” và nhiều vai diễn khó thay thế sau này nữa.


Thời gian đó, tại Hải Phòng, đạo diễn Dương Ngọc Đức đã ghi dấu ấn tài hoa của mình lên “Tấm vóc đại hồng” của Đoàn Chèo và “Masa” của Đoàn Kịch... Hai vở diễn đã góp phần làm nên tên tuổi hai đoàn nghệ thuật của thành phố. Diễn viên hai đoàn đi xem vai diễn của nhau và cùng có những rung động nghề nghiệp, thán phục những sáng tạo trên sân khấu của bạn nghề.


Riêng với bà Hoàng Lan, một trong không nhiều tên tuổi NSND được nhà nước vinh danh ngay từ đợt đầu tiên, đã lập tức gây được ấn tượng với công chúng và với đồng nghiệp bằng giọng hát “thổ tận can tràng”, qua nhiều vai diễn ghi dấu ấn trong lòng khán giả. Tôi còn nhớ nguyên vẹn cảm xúc khi ngồi xem bà thể hiện vai bà mẹ trong “Nỗi đau tình mẹ”, một vở diễn hay và có tần suất hàng trăm đêm diễn của Đoàn Chèo tại Hải Phòng và các tỉnh thành nhiều năm về trước...


Và không chỉ một vai diễn này, NSND Hoàng Lan, qua nhiều vai diễn khác nữa được giới chuyên môn và khán giả đánh giá là một nghệ sỹ chèo đích thực với đầy đủ tiêu chí đòi hỏi một người diễn viên trên sàn diễn phải có: Thanh, Sắc, Thục, Tinh, Khí, Thần.


Tôi vẫn còn rưng rưng xúc động khi nhớ đến sự chia sẻ của bà mặc dù  không có nhiều dịp ngồi tâm sự. Từ cách thức lo đơn từ đề nghị thành phố cấp phát nhà ở đến những kinh nghiệm của bà trong thủ tục hồ sơ phong tặng danh hiệu nghệ sỹ... Bà tự nguyện tìm gặp hướng dẫn cho tôi như muốn dành cho người đối diện sự  cảm thông nhân ái và  không vụ lợi...


Vậy mà khi bà ra đi, tôi đã không có mặt để tiễn đưa lần cuối...


Bài viết này xin thay nén tâm nhang gửi tới NSND Hoàng Lan, một đồng nghiệp, một người chị của tôi, một tiền bối của sân khấu Hải Phòng... Cầu chúc NSND Hoàng Lan yên giấc ngàn thu...

Hải Phòng 9/11/2015
NSƯT Ngọc Hiền

 
Thơ tự sự của Trần Nhuận Minh

Tự sự bằng thơ khó hơn tự sự bằng văn xuôi, bởi thơ bị vần điệu, cấu tứ, số chữ trong câu, số câu trong bài chi phối. Trên văn đàn hiện nay, Trần Nhuận Minh nổi lên như một trong số ít các nhà thơ có biệt tài làm thơ tự sự. Điều đó được thể hiện qua một loạt bài: Mợ Hữu, Thím Hai Vai, Ông Hủi, Dì Nga, Cô Bổng, Bá Kim, Cháu Thủy, Ông Vọng... Tài làm thơ tự sự không chỉ góp phần tạo nên nét riêng trong phong cách thơ Trần Nhuận Minh mà còn tạo nên sức hấp dẫn đến khó tin của thi phẩm Nhà thơ và hoa cỏ (có số lần tái bản vào loại kỉ lục).


Phong cách thơ Trần Nhuận Minh khá đa dạng: vừa hiện thực vừa lãng mạn; vừa nôm na, bình dị vừa lịch lãm, uyên bác; vừa hóm hỉnh, đáo để vừa triết lí, thâm trầm… Nhưng cái chủ yếu làm nên thương hiệu Trần Nhuận Minh gần đây, theo tôi chính là nghệ thuật kể chuyện bằng thơ hết sức tài tình của anh. Nếu lược bỏ đi tất cả những bài được anh viết theo lối tự sự, tôi tin là giá trị và sức hấp dẫn của Nhà thơ và hoa cỏ sẽ giảm đi đáng kể. Trước Trần Nhuận Minh, Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ có lối kể chuyện khá độc đáo. Nhưng yếu tố tự sự trong những bài thơ kể chuyện của Nguyễn Bính chỉ đóng vai trò phụ. ở các bài thơ ấy, chủ yếu là tác giả diễn tả nội tâm nhân vật. Chất trữ tình trong thơ kể chuyện của Nguyễn Bính lấn át chất tự sự. Còn Trần Nhuận Minh thì ngược lại. Ngay cách đặt tiêu đề đã phần nào nói lên điều đó. Các tiêu đề của Nguyễn Bính: Hoa và rượu, Lỡ bước sang ngang, Mưa xuân… mang đậm chất trữ tình. Các tiêu đề của Trần Nhuận Minh: Mợ Hữu, Thím Hai Vai, Ông Hủi… mang đậm chất tự sự. Nhà thơ Nguyễn Bính hầu như không quan tâm đến việc miêu tả ngoại hình nhân vật. Ta không biết nhân vật người chị trong Lỡ bước sang ngang, người em trong Hoa và rượu, cô gái trong Mưa xuân… vóc dáng, da dẻ, mặt mũi, tóc tai, áo quần… như thế nào. Còn Trần Nhuận Minh lại rất chú tâm đặc tả ngoại hình nhân vật trong những bài thơ tự sự của mình. Bá Kim suốt ngày mò cua, bắt ốc “mu bàn tay chéo chằng vết xước”; ông Vọng làm nghề đánh giậm “người như thỏi sắt cháy thui”; dì Nga lấy chồng cảnh sát, lắm tiền nhiều của, tha hồ ăn diện “chuỗi bạc trong ngực áo”, “vòng vàng ngoài cổ tay”…


Lời thoại trong các bài thơ kể chuyện của Nguyễn Bính rất ít, chỉ chêm vào một đôi câu, kiểu như Em ơi, nói nhỏ câu này với em (Lỡ bước sang ngang) hoặc Mẹ bảo: Mùa xuân đã cạn ngày (Mưa xuân). Khác với Nguyễn Bính, trong các bài thơ tự sự của mình, Trần Nhuận Minh sử dụng khá nhiều lời thoại. Về điểm này, có lẽ nhà thơ học Nguyễn Du chăng. Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã đưa lời thoại vào thơ rất đắc địa. Tôi phục nhất là đoạn cụ để cho mụ Tú Bà xỉa xói nàng Kiều: Lão kia có giở bài bây/ Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe/ Cớ sao chịu lép một bề/ Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao… Đúng là thứ ngôn ngữ chợ búa không lẫn vào đâu được! Trần Nhuận Minh thường chọn thể năm chữ, sáu chữ để sáng tác thơ tự sự nên dễ đưa lời thoại vào hơn là thể lục bát. Cách đưa lời thoại của Trần Nhuận Minh hết sức tự nhiên, linh hoạt. Có đôi chỗ anh “nhại” cụ Nguyễn Du:  Hỏi vợ Vợ bỏ tớ/ Hỏi con Nó vượt biên/ Hỏi nhà Nhà tớ bán/ Hỏi thơ Đếch ai in (Bạn cũ). Đọc đoạn hội thoại này, ta liên tưởng ngay đến mấy câu thơ trong Truyện Kiều: Hỏi ông, ông mắc tụng đình/ Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha… Có khi trong cả bài thơ Trần Nhuận Minh chỉ chen vào một vài lời thoại, như các bài: Thăm bạn, Tinh chất, Nhà thơ áp tải… Có trường hợp toàn bộ bài thơ là lời thoại, như bài Dặn con: Chẳng ai muốn làm hành khất/ Tội trời đày ở nhân gian/ Con không được cười giễu họ/ Dù họ hôi hám úa tàn/ Nhà mình sát đường, họ đến/ Có cho thì có là bao/ Con không bao giờ được hỏi/ Quê hương họ ở nơi nào/ Con chó nhà mình rất hư/ Cứ thấy ăn mày là cắn/ Con phải răn dạy nó đi/ Nếu không thì con nên bán/ Mình tạm gọi là no ấm/ Ai biết cơ trời vần xoay/ Lòng tốt gửi vào thiên hạ/ Biết đâu nuôi bố sau này… Nhà thơ Tố Hữu trước đây cũng từng “dặn con” bằng lời thoại, nhưng tác giả đã cách điệu hóa trong lời ru ngọt ngào của thể lục bát: Con ong làm mật yêu hoa/ Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời/ Con người muốn sống, con ơi/ Phải yêu đồng chí, yêu người anh em… Còn Trần Nhuận Minh thì nói bằng thứ ngôn ngữ đời thường, nôm na, bình dị. Nhưng ẩn đằng sau những câu nói bình dị, nôm na ấy chất chứa tình yêu thương con người và triết lí nhân sinh.


Trong những bài thơ tự sự, Trần Nhuận Minh tỏ ra rất có tài quan sát, nắm bắt chi tiết và thấu hiểu tâm lý người đời. Bài Mợ Hữu là một minh chứng. Khi nghe tin cậu Hữu vừa làm nhà ba tầng xong thì mất đột ngột: Cô bác từ quê ra viếng/ Thấy mợ dịu dàng mảnh mai/ Mà nhà thì to đẹp thế/ Biết rồi sẽ về tay ai?/ Em chồng mắt lườm miệng nguýt/ Vô tâm mợ có hay đâu/ Thương cậu mợ không biết khóc/ Thỉnh thoảng lại hờ một câu… Cô bác thì chỉ nghĩ trong bụng không nói ra, em chồng thì tỏ thái độ khó chịu với chị dâu ra mặt, cái tiếng “hờ” của mợ Hữu là khóc thật hay khóc giả khó lòng biết được. Phần lớn những bài thơ tự sự, Trần Nhuận Minh thường dùng khổ kết để bày tỏ thái độ, cảm xúc, suy nghĩ của mình trước những điều tai nghe, mắt thấy. Với mợ Hữu - vừa đáng thương, vừa đáng trách, nhà thơ có cách nghĩ riêng: Trời ơi! Tách bạch mà chi/ Dòng sông muôn đời vẫn thế/ Đục trong thì cũng trôi đi (Mợ Hữu); với bá Kim - một bà cụ hiền hậu và thơm thảo, nhà thơ bày tỏ lòng cảm phục, yêu mến: Tôi chắp tay trước màu xanh muôn thuở/ Vẫn từng xanh trên làng xóm ruộng đồng (Bá Kim); với cô Bổng - trước cán bộ hết sức gương mẫu về hưu lại làm nghề bói toán, đồng bóng, nhà thơ trăn trở, băn khoăn: Sự thế buồn vui lẫn lộn/ Nào ai hiểu được vì sao (Cô Bổng).


Nhân vật trong thơ tự sự của Trần Nhuận Minh mỗi người một số phận. Có người thoái hóa, biến chất (Thăm bạn); có người rơi vào tình cảnh éo le (Mợ Hữu); có người trước khi mất mới tỉnh ngộ (Phút lâm chung của cụ Hãn)… Tất cả đều được Trần Nhuận Mình đánh giá và bày tỏ thái độ dưới góc nhìn của một người giàu tính nhân văn, độ lượng. Anh đặc biệt quan tâm đến thân phận những người dân lao động: bá Kim “trước móc cua, bây giờ cũng móc cua”, ông Vọng đánh giậm “quanh năm chỉ mặc quần đùi”, thím Hai Vui “cấy cày đến quắt người”, cháu Mừng đi đào than thổ phỉ, sập lò, bị gẫy nát “xác buộc túm trong vải bạt”… Trần Nhuận Minh đã viết những vần thơ đầy thương cảm về họ. Nhưng nếu chỉ thế thôi thì anh cũng giống như bao nhà thơ, nhà văn hiện thực khác. Có người còn viết sâu sắc và xúc động hơn anh.


Điều làm tôi cảm phục Trần Nhuận Minh là anh dám “nói thẳng, nói thật” những vấn đề nhức nhối trong xã hội chúng ta hiện nay - điều mà trước những năm chín mươi của thế kỷ trước (khi chưa được “cởi trói”), ít ai dám nói. Có thời ở nước ta, do thất nghiệp, do nghèo đói, do sự suy thoái về đạo đức… mà nạn trộm cướp hoành hành khắp nơi. Nhà thơ Thanh Tùng của Hải Phòng (tác giả Thời hoa đỏ) làm nghề áp tải cho biết: Thỉnh thoảng lại gặp cướp/ Còn trộm… thì mênh mông… Người ta thường nói biển mênh mông, rừng mênh mông, cánh đồng mênh mông… không ngờ những kẻ chuyên nghề ăn trộm cũng “mênh mông”, nghĩa là nhiều vô kể. Chính điều này đã tạo nên tình trạng bất an trong dân chúng. Nhà văn Võ Huy Tâm (tác giả tiểu thuyết Vùng mỏ) nói một cách hóm hỉnh: Trông mình như hành khất/ Trộm cướp nó sẽ tha. Có nhà thơ cho cả hai cô con gái học võ, với lí do: Đâu cũng có cướp giật/ Biết cậy nhờ vào ai? Trần Nhuận Minh thốt lên chua chát: Đất nước có một thời/ Kẻ gian nhiều như nấm/ Không ngờ một nhà thơ/ Lại sống bằng… nắm đấm. Bên cạnh nạn trộm cướp là tệ nạn tham nhũng, nghiện ngập, cờ bạc, vàng thau lẫn lộn: Đứa viết gì cũng giả/ Lại được đài, báo khen (Nhà thơ áp tải).


Trong mảng thơ tự sự của Trần Nhuận Minh, tôi đặc biết chú ý những bài thơ anh đề cập đến những cảnh ngộ đau lòng thời hậu chiến. Nhân vật trong bài Bạn cũ từng đánh bộc phá, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, sau 10 năm gặp lại thì: vợ bỏ, con vượt biên, nhà đã bán, anh ta chỉ còn trơ hai bàn tay trắng.. Tác giả hỏi: Bây giờ bác muốn gì? Người bạn cũ trả lời: Tớ muốn làm liệt sĩ! Câu trả lời vừa hài hước vừa xót xa này có lẽ nằm ngoài sức tượng tượng của nhiều người. Một người bạn khác của nhà thơ thuộc diện gia đình chính sách nên vợ anh ta mới được chọn đi làm ôsin nước ngoài (bởi ngành than đang lúc giảm biên chế). Anh ta động viên vợ: Thôi vui mà đi mình nhé/ Dùng dằng người khác sẽ thay/ Lương tám trăm đô, mỗi tháng/ Ơn giời còn một cơ may…/ Anh sẽ bỏ bồ, chừa rượu/ Tảo tần nuôi mẹ, dạy con/ Vài năm nhớ về, mình nhé/ Trông mình như vẫn còn son… Chẳng lẽ cha anh hy sinh xương máu để con cháu được “ưu tiên” đi làm ôsin ư? Lời của người chồng động viên vợ “nghe ra ngậm đắng, nuốt cay thế nào”. Trong những bài thơ tự sự  viết về thời hậu chiến, có lẽ bài Thím Hai Vui là đáng để chúng ta suy ngẫm hơn cả: Những năm chú ra trận/ Thím buồn vui một mình/ Thím bảo những ngày ấy/ Là những năm hòa bình/ Có tin đồn chú mất/ Thím thầm cắn chặt môi/ Nuôi hai con ăn học/ Cấy cày đến quắt người/ Bỗng đột nhiên chú về/ Tung huân chương đầy chiếu/ Thím cười mà như mếu/ Nước mắt chả buồn lau/ Thế rồi… biết vì đâu/ Yên lành không chịu được/ Vợ con chú đánh trước/ Xóm giềng chú đánh sau/ Chớ dại mà can chú/ Chú nhất cả huyện rồi/ Giặc nào chú cũng thắng/ Có thua, thua ông trời!/  Chỉ thương thím Hai Vui/ Mặt mũi luôn thâm tím/ Đến bây giờ chiến tranh/ Mới đến thật với thím… Tất cả “gan ruột” nhà thơ đều đã được “phơi bày” trong từng câu chữ. Bao nhiêu nghịch lí chất chồng: tên thím là Vui nhưng đời lại buồn; thời chiến tranh, xa chồng tuy cực khổ, vất vả mà cuộc sống bình yên. Hết chiến tranh, chồng trở về thì tai họa lại giáng xuống gia đình chị. Thơ viết gan ruột đến như thế làm sao mà không xúc động lòng người cho được.


Với sự thành công của mảng thơ tự sự, nhiều người gọi Trần Nhuận Minh là nhà thơ hiện thực. Anh biết đi sâu tìm hiểu đời sống thực tế; phát hiện những ngõ ngách trong  tâm hồn con người; cảm thông, chia sẻ với những số phận bất hạnh; cùng đau với nỗi đau đất nước trước tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống; dũng cảm bày tỏ chủ kiến của mình… bằng giọng kể mộc mạc, chân chất, bình dị như lời ăn tiếng nói hàng ngày. Tôi rất đồng tình với nhận xét sau đây của nhà thơ Vũ Quần Phương: “Trần Nhuận Minh đủ độ từng trải và đủ tài thơ, để cảm nhận thời thế, nhân tâm, để giải bày nó lên trang giấy, gọn, chắc, xúc động lòng người”


(Lời giới thiệu tập Trần Nhuận Minh - Thơ, Nxb Kim Đồng, 2003).

Huế, tháng 9-2015

Mai Văn Hoan (Thừa Thiên Huế)

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

 

Tạp chí Cửa Biển số 199,200 (1,2/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 198 (12/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)