Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 29 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Làm phim về NSND Hoàng Lan

Cùng với những anh chị em bạn nghề, cộng sự và học trò của chị…chúng tôi  tri ân chị bằng bài viết thay nén tâm hương gợi nhớ những kỷ niệm sâu sắc về NSND Hoàng Lan –một người “sinh ư nghệ, tử ư nghệ” đã có nhiều vai diễn để đời.

Cuối năm 1990 với lòng yêu mến và cảm phục nghệ sĩ ưu tú chèo Hoàng Lan, nhà báo Đào Hướng (Giám đốc Đài PTTH Hải Phòng) đã chấp thuận đề nghị của nhà báo Tô Hoàng Vũ - Trưởng ban Biên tập Văn nghệ (nay là Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng )làm phim tài liệu nghệ thuật về NSUT Hoàng Lan để tham dự Liên hoan Phim phóng sự, tài liệu truyền hình toàn quốc tại Huế hè 1991. Anh Đào Hướng nói với Tô Hoàng Vũ và tôi “Để tớ viết kịch bản cho các cậu nhé”.


Là người quen biết chị Hoàng Lan từ lâu lại vừa đạo diễn phim tài liệu nghệ thuật chân dung họa sĩ La Viết Sinh (Huy chương Bạc tại Cần Thơ) nên tôi được phân công đạo diễn; Tô Hoàng Vũ làm biên tập và viết lời bình; Hùng Thắng quay phim; Văn Vĩnh, Hoàng Việt dựng phim.


Hồi đó, thiết bị kỹ thuật của Đài PTTH Hải Phòng còn rất thô sơ. Chúng tôi được ưu tiên một camera M7 mới. Duy nhất hôm đi Hà Nội và về quê chị ở Hưng Yên thì được Đài cho mượn xe ô tô 7 chỗ Đatsu, còn khi làm ở nội thành phải đi bằng xe máy Ba bét ta và cả xe đạp. Kinh phí làm phim thì... rất khiêm tốn (mà mới được duyệt trên giấy). Để kịp triển khai công việc, Tô Hoàng Vũ về mượn của mẹ một chỉ vàng bán đi lấy tiền làm phim. Chúng tôi làm phim dự thi với sự say mê nghề nghiệp và lòng yêu mến, cảm phục người nghệ sĩ chèo đã dành cả cuộc đời mình, cả hạnh phúc gia đình cho nghệ thật chèo. Đó cũng là lý do Tô Hoàng Vũ quyết định lấy tên của bộ phim là “Với cả cuộc đời”.

Nghệ sĩ Hoàng Lan trong vai mụ Mối vở “Cây tre trăm đốt” 1983
Ảnh: Gia đình cung cấp


Đường 39 về xã Ngô Quyền, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đang trong thời kỳ đại tu. Mặc dù có xe ô tô mà cả đoàn phải cuốc bộ vì sợ xe nổ lốp giữa đường. Đến đầu làng,  chị Hoàng Lan chỉ cho chúng tôi cây đa mà thuở thiếu thời chị hay vui đùa cùng bè bạn. Từ năm 1948 chị đã tham gia đội du kích Hoàng Ngân nổi tiếng vùng quê nhãn. Thích ca hát từ hồi còn nhỏ, nhưng tính chị nhút nhát, hay xấu hổ. Căn nhà xưa (nay em trai chị là ông Phức ở) tuy đã được tu sửa nhưng vẫn khiêm tốn nằm nép mình dưới gốc nhãn xum xuê. Chị chỉ cho chúng tôi con đường bờ ruộng gồ ghề nơi chị ôm gói quần áo trốn nhà lội tắt đường cuốc bộ lên Hải Dương tìm đến Đoàn Văn công Tả ngạn sông Hồng” để xin tuyển. Đó là ngày mới hòa bình – năm 1954 (năm 1961 Đoàn chuyển về Hải Phòng và đổi tên thành Đoàn chèo Hải Phòng)


Không được làm diễn viên, chị năn nỉ xin ở lại làm cấp dưỡng. Từ đó, ngoài việc lo “cơm nóng, canh ngọt” cho cả đoàn, Hoàng Lan còn mò mẫm học nghề. Cứ ngơi tay bếp núc là chị bám lấy sàn tập. Chị âm thầm “học mót” các anh chị. Rỗi lúc nào là lại nhẩm lời hát, học cách đi, điệu múa. Chị vừa đun bếp, vừa gõ nhịp hát thầm, múa vụng vì sợ có người nhìn thì xấu hổ. Lòng yêu nghề đến mức say mê chính là động lực để Hoàng Lan vượt qua mọi sự mặc cảm và ánh mắt ngờ vực của anh chị em trong đoàn. Trong một buổi diễn có sự cố, diễn viên đóng vai chính bị ốm đột ngột. Khán giả đến rất đông, lịch diễn đã lên kế hoạch không thể thay đổi. Trong lúc nước sôi, lửa bỏng ấy, Hoàng Lan mạnh dạn gặp Trưởng đoàn xin được diễn thay. Rất ngạc nhiên và ít nhiều ngờ vực nhưng trước sự tự tin của Hoàng Lan và trong tình thế bắt buộc, ông Trưởng đoàn miễn cưỡng gật đầu, Cả đoàn được lệnh sẵn sàng “ứng cứu” để diễn cho qua đêm. Ai ngờ, đêm diễn “bất đắc dĩ” ấy đã chứng minh khả năng diễn xuất “thiên bẩm” của Hoàng Lan. Bạn diễn vui mừng, lãnh đạo thở phào, còn khán giả thì vỗ tay không ngớt. Thế là từ cô cấp dưỡng “nhọ nhem”, Hoàng Lan chững chạc có mặt trên sàn diễn sánh vai cùng các anh chị trong đoàn mang lời ca tiếng hát đi khắp nơi phục vụ bộ đội, nhân dân. Chị cùng các tốp xung kịch đi hát vận động bà con bị địch dụ dỗ vào Nam. Chị đến với công nhân các nhà máy, khi dạy múa, dạy hát, khi biểu diễn phục vụ. Phòng truyền thống Sư đoàn Phòng không Không quân 363 còn lưu trữ bức ảnh chị Hoàng Lan và tốp nữ múa hát phục vụ bộ đội ngoài trận địa và khi có máy bay Mỹ bắn phá, các chị trở thành những chiến sĩ tiếp đạn  cho bộ đội bắn trả kẻ thù.


Qua diễn xuất của cháu Hải (con gái chị) chúng tôi đã “phục hiện” được quá trình lao động miệt mài để từ cô cấp dưỡng trở thành một diễn viên xuất sắc. Những cảnh chị trốn nhà, cảnh vừa đun bếp vừa tập hát, cảnh phục vụ bà con di cư ở bến đò “ông Vằng” (thôn Vĩnh Khê, xã An Đồng, huyện An Dương, Hải Phòng) được chúng tôi “mô ni phê” thành những thước phim tư liệu lịch sử đã gây cảm xúc tốt cho người xem.

 

Nghệ sĩ Hoàng Lan (bên trái) với chị Ba Định - Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam.
Ảnh: Gia đình cung cấp

Trong thời kỳ bao cấp, nhiều diễn viên nữ phải nhờ mẹ đẻ hay mẹ chồng đi bế con giúp. Đẻ được 2 tháng phải đi tập, đi diễn. Phía sau sân khấu hoặc dưới gầm sàn diễn là những chiếc võng đặt con. Ai không lên diễn bế con hộ người có vai diễn. Nhiều khi đang cho con bú, đến vai diễn phải dứt vội con ra. Bú dở miệng, đứa trẻ khóc ngằn ngặt. Chỉ 4, 5 tháng nhiều người đã phải cai sữa, gửi con ở nhà để theo đoàn lưu diễn các nơi. Hoàng Lan vất vả hơn vì chồng chị người miền Nam vì thế nội, ngoại chẳng có mẹ nào mà nhờ. Cháu Hải được mấy tháng tuổi phải gửi về nhờ cậu mợ Phức nuôi hộ. Đồng lương ít ỏi, chồng công tác xa nên mọi việc trong nhà một tay chị vun vén. May sao, ông trời thương cho chị cái sức khỏe bền bỉ, ít bị đau ốm. Nhiều khi trở trời yếu đau, chị cũng cứ bám sàn diễn. Sân khấu thành thánh đường tiếp thêm sức mạnh cho chị vượt mọi khó khăn.


Đất nước thống nhất, chồng chị vận động chị bỏ đoàn về Nam. Cái “ma lực” của ánh đèn sân khấu và các vai diễn đã không cho chị ra đi. Níu kéo chồng không được, anh chị đành chia tay kẻ Bắc, người Nam. Một mình chị nuôi hai con thơ. Nhiều lúc gió mưa, vất vả… cái nỗi nhớ chồng thương con làm lòng chị quặn đau. Tình cảnh ấy được chúng tôi đưa lên bằng hình ảnh cảnh trời mưa bão, một con thuyền cũ neo bến đợi chờ. Cảnh một con gà mẹ lúi cúi bới mồi nuôi lũ gà con… Cháu Hải diễn thành công cảnh đêm mưa, nhà dột, chị Hoàng Lan vừa ru con vừa học vai. Nước mắt chị thấm ướt quyền sổ ghi bài hát và bức ảnh vợ chồng chị chụp cùng hai cháu Hải-Long. Đó là những điểm nhấn nổi bật sự hy sinh vì nghệ thuật và lòng yêu nghề, yêu đến si mê của Hoàng Lan với “nghiệp chèo” mà qua màn ảnh nhỏ chúng tôi đã truyền tải đến khán giả cả nước.


Chính lòng yêu nghề đã tạo cho chị một cách “nhập vai” rất khác người. Trong mỗi đêm diễn, sau khi hóa trang, thay trang phục, chuẩn bị đạo cụ chu tất, chị Hoàng Lan chọn một chỗ ngồi vắng vẻ để suy nghĩ về vai diễn và cách diễn. Lúc này chị tập trung toàn bộ trí lực vào việc nhập vai nên đừng có ai dại gì mà làm ngắt mạch suy tư của chị. Chị sẵn sàng “chan tương, đổ mẻ” vào “kẻ phá ngang” làm đứt đoạn dòng suy nghĩ của chị. Có lẽ ít có diễn viên nào chú tâm với vai diễn như chị.


Cùng Đoàn chèo Hải Phòng về xã Trung Lập (huyện Vĩnh Bảo), tổ làm phim đã “thực mục sở thị” nỗi vất vả của cánh “văn công lưu động”. Đêm diễn đang cuốn hút khán giả thì bất chợt mưa giông kéo đến. Khán giả chạy nháo nhào tìm chỗ trú mưa. Anh em trong đoàn kẻ che phông cảnh, người thu đạo cụ, trang phục, người che dàn âm thanh, ánh sáng…Tất cả chui xuống dưới sàn sân khấu trú mưa. Nhiều diễn viên ngấm nước rét run cầm cập. Chị Hoàng Lan vẫn tỏ ra bình tĩnh. Chị bảo: “Mưa tạnh mà còn sớm bà con không về đâu, phải diễn tiếp đấy cậu ạ”. Đúng thế, mưa ngớt, bà con lại ùa ra vây quanh sân khấu. Đêm diễn lại tiếp tục. Những năm ấy bà con “khát” văn công lắm.


Khi đã về nghỉ hưu, nhiều khi có chương trình truyền hình, tôi mời chị tham gia. Có lần chị bị sốt, cháu Long lo cho sức khỏe của chị nên khi tôi đến đón, cháu có ý xin cho mẹ nghỉ. Chị Hoàng Lan vội xua tay: “Long ơi. Mẹ khỏe rồi. Để mẹ đi với cậu Tiến kẻo nhỡ việc chung”. Nể tôi, cháu Long để mẹ đi. Cả buổi quay, tôi vẫn lo sức khỏe cho chị. Nhiều lúc, mệt quá, tôi phải tạm dừng mời chị ngồi uống nước. Nghỉ không lâu, chị lại giục quay cho kịp. Khi về nhà, chị nói như reo: “Long ơi, mẹ khỏe hẳn rồi con ạ”. Được tham gia biểu diễn chính là liều “thuốc thánh” đã giúp chị khỏe thật.


Tuy là NSưT rồi NSND nhưng chị rất chịu khó trao đổi và học tập mọi người. Có lần quay hoạt cảnh chèo “Lời vàng dựng nước” (Kịch bản: Tuấn Tiến –Mạnh Thu), có đoạn hát điệu Đào liễu: “…Bác đã bôn ba khắp bốn phương trời/ Tìm đường cứu dân. Tìm đường cứu nước/ Tóc bạc da mồi Người vẫn xông pha/ Tấm lòng yêu nước thiết tha…”. Ghi âm, ghi hình xong, với tư cách đạo diễn, tôi đề nghị chị hát và diễn lại theo cách hát khác cho đúng với diễn biến tình cảm của nhân vật bà già nông thôn ghi nhớ công đức Bác Hồ. Chị vui vẻ thực hiện, đoạn ghi hình và tiếng khi hát lại đúng là hay hơn trước.


Khi làm kịch bản sân khấu truyền hình vở “Ngôi đình làng Hạ” tôi mời chị đóng vai Cụ Thủ. Đây là một nữ du kích có chồng bị địch bắn chết ngay dưới gốc đa đình làng. Người làng không gọi tên tục của cụ mà chỉ biết cụ nhận làm thủ từ trông coi đình và phần mộ các liệt sĩ nên dân làng gọi cụ là “Cụ Thủ”. Ban đầu, cụ Thủ không đồng ý việc chuyển đình làm khu chế xuất. Sau khi hiểu ra đây là yêu cầu phát triển của đất nước trên con đường hội nhập. Cụ Thủ hăng hái đi tiên phong. Thật bất ngờ, khi diễn cảnh chuyển đình, chị Hoàng Lan tự chuẩn bị trang phục. Chị bỏ tiền mua một bát hương sứ to, đốt nhiều hương lấy chân cắm vào bát hương. Chị cẩn thận làm bát hương cũ đi. Bát hương ấy chính là biểu tượng của lòng dân với các vị thành hoàng có công với dân, với nước. Đó cũng là tình cảm của những người còn sống với đồng đội đã anh dũng hy sinh. Đoạn diễn đầy cảm xúc với giọng hát nghẹn, với đôi mắt già nua ngân ngấn nước mắt. Bàn tay gân guốc run run trân trọng ôm chặt bát hương vào lòng… đã gây xúc động cho người xem. NSƯT Trọng Dũng (cố vấn nghệ thuật cho chương trình) phải thốt lên: “ …Đoạn diễn quá tuyệt vời, đến tôi cũng không cầm nổi nước mắt…”


Khi làm phim ngắn “Nọc độc” NSƯT  Lê Đức Tiến lại làm cố vấn. Anh bàn với tôi mời  NSND Hoàng Lan tham gia. Vai diễn ngắn thôi. Chỉ một đoạn bà nội đến đồn công an nhận cháu về. Khi biết cháu sử dụng ma túy. Bà không quát nạt mà ôm lấy cháu ân cần động viên, khuyên nhủ cháu từ bỏ con đường ma túy. Bà chậm rãi đưa đôi mắt già nua nhìn về nơi xa xăm tưởng như nơi đó có con trai, con dâu cụ đang sinh sống phía trời Tây mà nhắn nhủ: “Các con ơi, các con mải mê làm giàu nơi đất khách quê người làm gì nữa chứ. Về thôi, nếu không, con mày hỏng mất rồi”. Dòng nước mắt chảy dài trên gò má nhăn nheo đã làm cháu bé thức tỉnh. Cháu ôm lấy bà:  “Bà ơi. Cháu biết lỗi rồi. Cháu xin bà”.


NSƯT Lê Đức Tiến đề nghị chúng tôi chi “cát xê” cho chị Hoàng Lan cao hơn các diễn viên khác. Tuy chỉ được mấy trăm ngàn bồi dưỡng, chị bảo: “Sao nhiều thế cậu? Thế các diễn viên khác thì sao?”. Chưa bao giờ chị phàn nàn về tiền bồi dưỡng nhiều hay ít. Chị tâm sự với tôi. “Cứ có vai, cậu cho chị tham gia là tốt lắm rồi. Chị không nghĩ đến tiền thù lao đâu cậu ạ” . Thậm chí nhiều khi chị đạp xe đến trường quay chứ không cần xe đến đón. Chị bảo đạp xe cho khỏe người.


Sân khấu chèo thường có vai “đào thương” (như Thị Kính, Thị Phương, cô Tấm..), vai “đào lệch” (như Thị Màu, cô Cám, mụ Quán…), Nhiều diễn viên chỉ quen đóng một loại vai có “mô tuýp” na ná như nhau. Điều đặc biệt là NSND Hoàng Lan biểu diễn được cả hai loại vai này.


Nói về “Đào thương”  chị đã vào vai già Đa - một già làng nhân từ, bác ái… (chèo “Tấm Cám” tác giả Lưu Quang Thuận), bà mẹ - người mẹ châu thổ sông Hồng hiền lành, chất phác…(chèo “Cô gái sông Cấm” tác giả Phan Tất Quang), Trần phu nhân – bà mẹ thương con nhưng nghiêm khắc theo phong cách của một “mệnh phụ phu nhân”… ( chèo “Tấm vóc đại hồng” tác giả Trúc Đường - Trần Đình Ngôn), Bà mẹ bất hạnh hiền lành bị chính những đứa con đẻ của mình hắt hủi, bỏ rơi… (chèo “Nỗi đau tình mẹ” tác giả Vũ Hải), cụ Thủ từ - người nữ du kích thủy chung trong sáng luôn nêu tấm gương về phẩm chất người chiến sĩ cách mạng trung kiên (chèo “Ngôi đình làng Hạ” tác giả Trần Tuấn Tiến) … rất thành công. Nhiều vai diễn “đào lệch” được chi khắc họa nhân vật một cách sáng tạo mà người xem và bạn nghề không thể nào quên như vai Sùng Bà - một bà mẹ chồng cay nghiệt, độc ác (chèo cổ “Quan Âm Thị Kính”), mụ Quán – một mụ chủ tráo trở, mưu mô, chèo kéo khách hàng bằng đủ ngón nghề… (chèo cổ “Súy Vân giả dại”), mụ Mối – thâm độc, vụ lợi và kệch cỡm… (chèo “Cây tre trăm đốt” tác giả Phan Tất Quang)… Mỗi một vai diễn chị đều có những sáng tạo bứt phá để khắc họa nên nhưng nhân vật tiêu biểu mà hiếm có nghệ sĩ nào phát hiện và tái tạo thành công. Nhiều vai diễn của chị được trao tặng Huy chương Vàng trong các Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc.


Khi làm phim “Với cả cuộc đời”, chúng tôi có phỏng vấn GS-NSND Trần Bảng về các vai diễn của Hoàng Lan. GS-NSND Trần Bảng trả lời ngay: “… Nói về yêu nghề, “sinh ư nghệ. tử ư nghệ” của Hoàng Lan thì khỏi bàn. Cả đời Hoàng Lan là dành cho sân khấu chèo. Đặc biệt Hoàng Lan đóng được đa dạng. Hoàng Lan không đi vào các  vai quen thuộc theo “mô tuýp” cổ bản mà dù là vai “đào lệch” hay “đào thương” thì Hoàng Lan đều để lại những vai diễn ấn tượng, giàu sức sáng tạo và không dễ gì làm được…”. Tôi được biết NSƯT Kim Liên và nhiều diễn viên (đoàn Chèo Hải Phòng) đã thành danh một phần nhờ sự chỉ bảo, uốn nắn của NSND Hoàng Lan.


Phim tài liệu nghệ thuật “Với cả cuộc đời” được trao Huy chương Bạc trong Liên hoan Truyền hình toàn quốc tổ chức tại Huế năm 1991.


Cho đến hôm nay, khi đứng trước bàn thờ tiễn NSND Hoàng Lan về cõi vĩnh hằng, những vai diễn “để đời” và cách làm việc trách nhiệm của chị vẫn sống mãi trong tâm tưởng của tôi và anh em bạn nghề xa gần. Dù đã cao tuổi, chúng tôi vẫn gọi chị như cách xưng hô hồi xưa, khi nghệ thuật còn thanh xuân và ai cũng muốn cho cái tuổi xuân ấy cứ kéo dài mãi mãi.


Chị Hoàng Lan ơi, khán giả yêu nghệ thuật chèo vẫn mãi nhắc đến chị qua các vai diễn đã thành “khuôn mẫu” mà bằng tình yêu nghề, sự lao động sáng tạo cần mẫn chị đã đề lại cho sân khấu chèo thành phố Cảng và nghệ thuật diễn chèo cả nước.


Chúng tôi luôn thấy như có chị đang lên sân khấu cùng tham dự các buổi biểu diễn với chúng tôi./.


Trần Tuấn Tiến

 
Hoài niệm đầu Đông

Đã qua rồi tiết thu nhưng năm nay thời tiết như không thuận. Thi thoảng một cơn mưa vội vã kéo theo chút gió lạnh đầu mùa nhưng  mùa đông vẫn như còn mải rong chơi đâu đó chưa về. Đúng vào tiết Lập Đông năm nay, Nghệ sĩ Nhân dân (NSND) Hoàng Lan đã từ biệt gia đình bè bạn và những người thân để ra đi mãi mãi.


Vẫn biết quy luật của trời đất là bất biến nhưng khi nhận được hung tin, ai cũng bàng hoàng thương tiếc. Hình ảnh nữ NSND với nụ cười hiền và mái tóc bạc trắng như vẫn còn đang hiển hiện đâu đây... Mới chưa đầy một năm trước, bà vẫn cùng chúng tôi đi dự Đại hội Sân khấu toàn quốc lần thứ 8 tại Hà Nội.


Hôm ấy, bà giao hẹn với tôi: “Tớ nghễnh ngãng lại chậm chạp nữa, các cậu đi đâu nhớ gọi bà lão này đấy nhá”. Bà còn nói vui: Đoàn Hải Phòng có “ba con khỉ”!!! (tôi, NSND Phi Nga và bà, hơn chúng tôi tròn một giáp)...


Thâm tâm, tôi luôn coi bà là một “tiền bối”.


Nửa thế kỷ trước, tốt nghiệp Trường Nghệ thuật Sân khấu Việt Nam tôi về nhận công tác tại Hải Phòng. Ngay từ những ngày đầu tiên, tôi đã nghe mọi người giới thiệu về giọng hát chèo của bà. Tôi từng tâm sự với bà về người mẹ của tôi, người mà tôi đã nhắc tới trong một bài viết có tựa đề “Mẹ tôi - Cô đào chèo vùng Kinh Bắc” và như có một mối dây đồng cảm mơ hồ nào đó khiến tôi ngay lập tức có thiện cảm với người đồng nghiệp lớn tuổi này...


Hoạt động ở hai kịch chủng khác nhau nhưng tôi luôn ngưỡng mộ giọng hát của bà. ấn tượng nhất cho đến tận bây giờ, khi bà đã đi xa, là vai Trần phu nhân trong “Tấm vóc đại hồng” và nhiều vai diễn khó thay thế sau này nữa.


Thời gian đó, tại Hải Phòng, đạo diễn Dương Ngọc Đức đã ghi dấu ấn tài hoa của mình lên “Tấm vóc đại hồng” của Đoàn Chèo và “Masa” của Đoàn Kịch... Hai vở diễn đã góp phần làm nên tên tuổi hai đoàn nghệ thuật của thành phố. Diễn viên hai đoàn đi xem vai diễn của nhau và cùng có những rung động nghề nghiệp, thán phục những sáng tạo trên sân khấu của bạn nghề.


Riêng với bà Hoàng Lan, một trong không nhiều tên tuổi NSND được nhà nước vinh danh ngay từ đợt đầu tiên, đã lập tức gây được ấn tượng với công chúng và với đồng nghiệp bằng giọng hát “thổ tận can tràng”, qua nhiều vai diễn ghi dấu ấn trong lòng khán giả. Tôi còn nhớ nguyên vẹn cảm xúc khi ngồi xem bà thể hiện vai bà mẹ trong “Nỗi đau tình mẹ”, một vở diễn hay và có tần suất hàng trăm đêm diễn của Đoàn Chèo tại Hải Phòng và các tỉnh thành nhiều năm về trước...


Và không chỉ một vai diễn này, NSND Hoàng Lan, qua nhiều vai diễn khác nữa được giới chuyên môn và khán giả đánh giá là một nghệ sỹ chèo đích thực với đầy đủ tiêu chí đòi hỏi một người diễn viên trên sàn diễn phải có: Thanh, Sắc, Thục, Tinh, Khí, Thần.


Tôi vẫn còn rưng rưng xúc động khi nhớ đến sự chia sẻ của bà mặc dù  không có nhiều dịp ngồi tâm sự. Từ cách thức lo đơn từ đề nghị thành phố cấp phát nhà ở đến những kinh nghiệm của bà trong thủ tục hồ sơ phong tặng danh hiệu nghệ sỹ... Bà tự nguyện tìm gặp hướng dẫn cho tôi như muốn dành cho người đối diện sự  cảm thông nhân ái và  không vụ lợi...


Vậy mà khi bà ra đi, tôi đã không có mặt để tiễn đưa lần cuối...


Bài viết này xin thay nén tâm nhang gửi tới NSND Hoàng Lan, một đồng nghiệp, một người chị của tôi, một tiền bối của sân khấu Hải Phòng... Cầu chúc NSND Hoàng Lan yên giấc ngàn thu...

Hải Phòng 9/11/2015
NSƯT Ngọc Hiền

 
Thơ tự sự của Trần Nhuận Minh

Tự sự bằng thơ khó hơn tự sự bằng văn xuôi, bởi thơ bị vần điệu, cấu tứ, số chữ trong câu, số câu trong bài chi phối. Trên văn đàn hiện nay, Trần Nhuận Minh nổi lên như một trong số ít các nhà thơ có biệt tài làm thơ tự sự. Điều đó được thể hiện qua một loạt bài: Mợ Hữu, Thím Hai Vai, Ông Hủi, Dì Nga, Cô Bổng, Bá Kim, Cháu Thủy, Ông Vọng... Tài làm thơ tự sự không chỉ góp phần tạo nên nét riêng trong phong cách thơ Trần Nhuận Minh mà còn tạo nên sức hấp dẫn đến khó tin của thi phẩm Nhà thơ và hoa cỏ (có số lần tái bản vào loại kỉ lục).


Phong cách thơ Trần Nhuận Minh khá đa dạng: vừa hiện thực vừa lãng mạn; vừa nôm na, bình dị vừa lịch lãm, uyên bác; vừa hóm hỉnh, đáo để vừa triết lí, thâm trầm… Nhưng cái chủ yếu làm nên thương hiệu Trần Nhuận Minh gần đây, theo tôi chính là nghệ thuật kể chuyện bằng thơ hết sức tài tình của anh. Nếu lược bỏ đi tất cả những bài được anh viết theo lối tự sự, tôi tin là giá trị và sức hấp dẫn của Nhà thơ và hoa cỏ sẽ giảm đi đáng kể. Trước Trần Nhuận Minh, Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ có lối kể chuyện khá độc đáo. Nhưng yếu tố tự sự trong những bài thơ kể chuyện của Nguyễn Bính chỉ đóng vai trò phụ. ở các bài thơ ấy, chủ yếu là tác giả diễn tả nội tâm nhân vật. Chất trữ tình trong thơ kể chuyện của Nguyễn Bính lấn át chất tự sự. Còn Trần Nhuận Minh thì ngược lại. Ngay cách đặt tiêu đề đã phần nào nói lên điều đó. Các tiêu đề của Nguyễn Bính: Hoa và rượu, Lỡ bước sang ngang, Mưa xuân… mang đậm chất trữ tình. Các tiêu đề của Trần Nhuận Minh: Mợ Hữu, Thím Hai Vai, Ông Hủi… mang đậm chất tự sự. Nhà thơ Nguyễn Bính hầu như không quan tâm đến việc miêu tả ngoại hình nhân vật. Ta không biết nhân vật người chị trong Lỡ bước sang ngang, người em trong Hoa và rượu, cô gái trong Mưa xuân… vóc dáng, da dẻ, mặt mũi, tóc tai, áo quần… như thế nào. Còn Trần Nhuận Minh lại rất chú tâm đặc tả ngoại hình nhân vật trong những bài thơ tự sự của mình. Bá Kim suốt ngày mò cua, bắt ốc “mu bàn tay chéo chằng vết xước”; ông Vọng làm nghề đánh giậm “người như thỏi sắt cháy thui”; dì Nga lấy chồng cảnh sát, lắm tiền nhiều của, tha hồ ăn diện “chuỗi bạc trong ngực áo”, “vòng vàng ngoài cổ tay”…


Lời thoại trong các bài thơ kể chuyện của Nguyễn Bính rất ít, chỉ chêm vào một đôi câu, kiểu như Em ơi, nói nhỏ câu này với em (Lỡ bước sang ngang) hoặc Mẹ bảo: Mùa xuân đã cạn ngày (Mưa xuân). Khác với Nguyễn Bính, trong các bài thơ tự sự của mình, Trần Nhuận Minh sử dụng khá nhiều lời thoại. Về điểm này, có lẽ nhà thơ học Nguyễn Du chăng. Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã đưa lời thoại vào thơ rất đắc địa. Tôi phục nhất là đoạn cụ để cho mụ Tú Bà xỉa xói nàng Kiều: Lão kia có giở bài bây/ Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe/ Cớ sao chịu lép một bề/ Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao… Đúng là thứ ngôn ngữ chợ búa không lẫn vào đâu được! Trần Nhuận Minh thường chọn thể năm chữ, sáu chữ để sáng tác thơ tự sự nên dễ đưa lời thoại vào hơn là thể lục bát. Cách đưa lời thoại của Trần Nhuận Minh hết sức tự nhiên, linh hoạt. Có đôi chỗ anh “nhại” cụ Nguyễn Du:  Hỏi vợ Vợ bỏ tớ/ Hỏi con Nó vượt biên/ Hỏi nhà Nhà tớ bán/ Hỏi thơ Đếch ai in (Bạn cũ). Đọc đoạn hội thoại này, ta liên tưởng ngay đến mấy câu thơ trong Truyện Kiều: Hỏi ông, ông mắc tụng đình/ Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha… Có khi trong cả bài thơ Trần Nhuận Minh chỉ chen vào một vài lời thoại, như các bài: Thăm bạn, Tinh chất, Nhà thơ áp tải… Có trường hợp toàn bộ bài thơ là lời thoại, như bài Dặn con: Chẳng ai muốn làm hành khất/ Tội trời đày ở nhân gian/ Con không được cười giễu họ/ Dù họ hôi hám úa tàn/ Nhà mình sát đường, họ đến/ Có cho thì có là bao/ Con không bao giờ được hỏi/ Quê hương họ ở nơi nào/ Con chó nhà mình rất hư/ Cứ thấy ăn mày là cắn/ Con phải răn dạy nó đi/ Nếu không thì con nên bán/ Mình tạm gọi là no ấm/ Ai biết cơ trời vần xoay/ Lòng tốt gửi vào thiên hạ/ Biết đâu nuôi bố sau này… Nhà thơ Tố Hữu trước đây cũng từng “dặn con” bằng lời thoại, nhưng tác giả đã cách điệu hóa trong lời ru ngọt ngào của thể lục bát: Con ong làm mật yêu hoa/ Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời/ Con người muốn sống, con ơi/ Phải yêu đồng chí, yêu người anh em… Còn Trần Nhuận Minh thì nói bằng thứ ngôn ngữ đời thường, nôm na, bình dị. Nhưng ẩn đằng sau những câu nói bình dị, nôm na ấy chất chứa tình yêu thương con người và triết lí nhân sinh.


Trong những bài thơ tự sự, Trần Nhuận Minh tỏ ra rất có tài quan sát, nắm bắt chi tiết và thấu hiểu tâm lý người đời. Bài Mợ Hữu là một minh chứng. Khi nghe tin cậu Hữu vừa làm nhà ba tầng xong thì mất đột ngột: Cô bác từ quê ra viếng/ Thấy mợ dịu dàng mảnh mai/ Mà nhà thì to đẹp thế/ Biết rồi sẽ về tay ai?/ Em chồng mắt lườm miệng nguýt/ Vô tâm mợ có hay đâu/ Thương cậu mợ không biết khóc/ Thỉnh thoảng lại hờ một câu… Cô bác thì chỉ nghĩ trong bụng không nói ra, em chồng thì tỏ thái độ khó chịu với chị dâu ra mặt, cái tiếng “hờ” của mợ Hữu là khóc thật hay khóc giả khó lòng biết được. Phần lớn những bài thơ tự sự, Trần Nhuận Minh thường dùng khổ kết để bày tỏ thái độ, cảm xúc, suy nghĩ của mình trước những điều tai nghe, mắt thấy. Với mợ Hữu - vừa đáng thương, vừa đáng trách, nhà thơ có cách nghĩ riêng: Trời ơi! Tách bạch mà chi/ Dòng sông muôn đời vẫn thế/ Đục trong thì cũng trôi đi (Mợ Hữu); với bá Kim - một bà cụ hiền hậu và thơm thảo, nhà thơ bày tỏ lòng cảm phục, yêu mến: Tôi chắp tay trước màu xanh muôn thuở/ Vẫn từng xanh trên làng xóm ruộng đồng (Bá Kim); với cô Bổng - trước cán bộ hết sức gương mẫu về hưu lại làm nghề bói toán, đồng bóng, nhà thơ trăn trở, băn khoăn: Sự thế buồn vui lẫn lộn/ Nào ai hiểu được vì sao (Cô Bổng).


Nhân vật trong thơ tự sự của Trần Nhuận Minh mỗi người một số phận. Có người thoái hóa, biến chất (Thăm bạn); có người rơi vào tình cảnh éo le (Mợ Hữu); có người trước khi mất mới tỉnh ngộ (Phút lâm chung của cụ Hãn)… Tất cả đều được Trần Nhuận Mình đánh giá và bày tỏ thái độ dưới góc nhìn của một người giàu tính nhân văn, độ lượng. Anh đặc biệt quan tâm đến thân phận những người dân lao động: bá Kim “trước móc cua, bây giờ cũng móc cua”, ông Vọng đánh giậm “quanh năm chỉ mặc quần đùi”, thím Hai Vui “cấy cày đến quắt người”, cháu Mừng đi đào than thổ phỉ, sập lò, bị gẫy nát “xác buộc túm trong vải bạt”… Trần Nhuận Minh đã viết những vần thơ đầy thương cảm về họ. Nhưng nếu chỉ thế thôi thì anh cũng giống như bao nhà thơ, nhà văn hiện thực khác. Có người còn viết sâu sắc và xúc động hơn anh.


Điều làm tôi cảm phục Trần Nhuận Minh là anh dám “nói thẳng, nói thật” những vấn đề nhức nhối trong xã hội chúng ta hiện nay - điều mà trước những năm chín mươi của thế kỷ trước (khi chưa được “cởi trói”), ít ai dám nói. Có thời ở nước ta, do thất nghiệp, do nghèo đói, do sự suy thoái về đạo đức… mà nạn trộm cướp hoành hành khắp nơi. Nhà thơ Thanh Tùng của Hải Phòng (tác giả Thời hoa đỏ) làm nghề áp tải cho biết: Thỉnh thoảng lại gặp cướp/ Còn trộm… thì mênh mông… Người ta thường nói biển mênh mông, rừng mênh mông, cánh đồng mênh mông… không ngờ những kẻ chuyên nghề ăn trộm cũng “mênh mông”, nghĩa là nhiều vô kể. Chính điều này đã tạo nên tình trạng bất an trong dân chúng. Nhà văn Võ Huy Tâm (tác giả tiểu thuyết Vùng mỏ) nói một cách hóm hỉnh: Trông mình như hành khất/ Trộm cướp nó sẽ tha. Có nhà thơ cho cả hai cô con gái học võ, với lí do: Đâu cũng có cướp giật/ Biết cậy nhờ vào ai? Trần Nhuận Minh thốt lên chua chát: Đất nước có một thời/ Kẻ gian nhiều như nấm/ Không ngờ một nhà thơ/ Lại sống bằng… nắm đấm. Bên cạnh nạn trộm cướp là tệ nạn tham nhũng, nghiện ngập, cờ bạc, vàng thau lẫn lộn: Đứa viết gì cũng giả/ Lại được đài, báo khen (Nhà thơ áp tải).


Trong mảng thơ tự sự của Trần Nhuận Minh, tôi đặc biết chú ý những bài thơ anh đề cập đến những cảnh ngộ đau lòng thời hậu chiến. Nhân vật trong bài Bạn cũ từng đánh bộc phá, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, sau 10 năm gặp lại thì: vợ bỏ, con vượt biên, nhà đã bán, anh ta chỉ còn trơ hai bàn tay trắng.. Tác giả hỏi: Bây giờ bác muốn gì? Người bạn cũ trả lời: Tớ muốn làm liệt sĩ! Câu trả lời vừa hài hước vừa xót xa này có lẽ nằm ngoài sức tượng tượng của nhiều người. Một người bạn khác của nhà thơ thuộc diện gia đình chính sách nên vợ anh ta mới được chọn đi làm ôsin nước ngoài (bởi ngành than đang lúc giảm biên chế). Anh ta động viên vợ: Thôi vui mà đi mình nhé/ Dùng dằng người khác sẽ thay/ Lương tám trăm đô, mỗi tháng/ Ơn giời còn một cơ may…/ Anh sẽ bỏ bồ, chừa rượu/ Tảo tần nuôi mẹ, dạy con/ Vài năm nhớ về, mình nhé/ Trông mình như vẫn còn son… Chẳng lẽ cha anh hy sinh xương máu để con cháu được “ưu tiên” đi làm ôsin ư? Lời của người chồng động viên vợ “nghe ra ngậm đắng, nuốt cay thế nào”. Trong những bài thơ tự sự  viết về thời hậu chiến, có lẽ bài Thím Hai Vui là đáng để chúng ta suy ngẫm hơn cả: Những năm chú ra trận/ Thím buồn vui một mình/ Thím bảo những ngày ấy/ Là những năm hòa bình/ Có tin đồn chú mất/ Thím thầm cắn chặt môi/ Nuôi hai con ăn học/ Cấy cày đến quắt người/ Bỗng đột nhiên chú về/ Tung huân chương đầy chiếu/ Thím cười mà như mếu/ Nước mắt chả buồn lau/ Thế rồi… biết vì đâu/ Yên lành không chịu được/ Vợ con chú đánh trước/ Xóm giềng chú đánh sau/ Chớ dại mà can chú/ Chú nhất cả huyện rồi/ Giặc nào chú cũng thắng/ Có thua, thua ông trời!/  Chỉ thương thím Hai Vui/ Mặt mũi luôn thâm tím/ Đến bây giờ chiến tranh/ Mới đến thật với thím… Tất cả “gan ruột” nhà thơ đều đã được “phơi bày” trong từng câu chữ. Bao nhiêu nghịch lí chất chồng: tên thím là Vui nhưng đời lại buồn; thời chiến tranh, xa chồng tuy cực khổ, vất vả mà cuộc sống bình yên. Hết chiến tranh, chồng trở về thì tai họa lại giáng xuống gia đình chị. Thơ viết gan ruột đến như thế làm sao mà không xúc động lòng người cho được.


Với sự thành công của mảng thơ tự sự, nhiều người gọi Trần Nhuận Minh là nhà thơ hiện thực. Anh biết đi sâu tìm hiểu đời sống thực tế; phát hiện những ngõ ngách trong  tâm hồn con người; cảm thông, chia sẻ với những số phận bất hạnh; cùng đau với nỗi đau đất nước trước tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống; dũng cảm bày tỏ chủ kiến của mình… bằng giọng kể mộc mạc, chân chất, bình dị như lời ăn tiếng nói hàng ngày. Tôi rất đồng tình với nhận xét sau đây của nhà thơ Vũ Quần Phương: “Trần Nhuận Minh đủ độ từng trải và đủ tài thơ, để cảm nhận thời thế, nhân tâm, để giải bày nó lên trang giấy, gọn, chắc, xúc động lòng người”


(Lời giới thiệu tập Trần Nhuận Minh - Thơ, Nxb Kim Đồng, 2003).

Huế, tháng 9-2015

Mai Văn Hoan (Thừa Thiên Huế)

 
Họa sĩ Quốc Thái - Niềm đam mê bất tận

Cách đây vài năm tôi được biết họa sĩ Quốc Thái cùng những tác phẩm của ông. Được xem tranh ông vẽ trong từng giai đoạn với nhiều chủ đề tái hiện cuộc sống một thời, có chiến tranh và hoà bình, có tĩnh có động, có niềm vui và nỗi buồn...


Lần đầu bước vào xưởng vẽ của ông, tôi không khỏi choáng ngợp bởi những bức tranh với nhiều gam màu khác nhau, thể hiện các cung bậc cảm xúc của tác giả.


Trước khi đến nhà riêng thăm ông, tôi có cảm giác hơi ngại, khi đến mới thấy mình lo lắng thừa. Ông cởi mở chia sẻ về hội hoạ, về những bức tranh, về đồng nghiệp và niềm đam mê là cái nghiệp gắn bó cả đời.


Sau đấy thỉnh thoảng tôi đến chơi nhà ông, xem những tác phẩm mới, nghe ông tâm sự về tranh, về cuộc sống và những thăng trầm đã qua. Ông bảo: bao khó khăn, vất vả rồi cũng qua, giờ chú chỉ chuyên tâm vào vẽ, ngày nào bận hay ốm đau không vẽ được thấy khó chịu lắm!


Ở tuổi ngoài 70 mà sức làm việc của ông thật đáng nể phục. Ông khiến những người trẻ như tôi phải ngầm so sánh: đến tuổi như ông liệu tôi có thể sống với nhiều hoài bão và đam mê như thế không?


Tháng 4/2012, ông bày triển lãm cá nhân lần thứ 3 tại Hà Nội, ở tuổi 70. Lão hoạ sĩ đã dành nhiều tâm huyết cho lần triển lãm này. Ông bảo: ở tuổi này chẳng biết thế nào, cũng có thể đây là triển lãm cuối, vì tuổi cao chẳng còn sức mà làm nữa.


Ông nói vậy mà không phải vậy. Niềm đam mê đã ngấm vào máu thịt, là một phần cuộc sống của lão hoạ sĩ để sáng sáng ông vẫn ngồi bên khung toan khoác màu sắc vào tranh.


Cuộc sống bận rộn cuốn tôi đi, đã lâu rồi lần lữa mãi chưa có thời gian đến thăm ông và xem tranh. Trong lòng áy náy lắm mà đành chịu.


Hôm trước ông có gọi điện báo sẽ tổ chức triển lãm cá nhân vào ngày 28/9/2015 tại trụ sở Hội Liên hiệp VHNT thành phố ở 19 Trần Hưng Đạo, Hồng Bàng, Hải Phòng. Sau cuộc điện thọai tôi thấy háo hức lạ. Bất ngờ hơn nữa khi nhìn thấy “Sắc chiều” (tên triển lãm lần thứ 4 của ông). Đúng như tên gọi những bức tranh ông bày ở triển lãm lần này, đầy khắc khoải nhưng vẫn ào ạt cảm xúc. Mang lại cho tôi cái nhìn mới về tranh của ông. Hiện đại, phóng khoáng.


Rất đông các đồng nghiệp, văn nghệ sĩ và người yêu mỹ thuật đến dự khai mạc triển lãm. Mọi người háo hức đến thưởng ngoạn những bức tranh ông mới sáng tác và mừng cho ông khi thấy sức làm việc, mạch cảm xúc của ông vẫn mạnh mẽ như ngày nào. Một đồng nghiệp phát biểu vui: Họa sĩ lấy tên triển lãm là “Sắc chiều” với ý nghĩa tác giả đã cao tuổi đang ở chặng cuối  cuộc đời, nhưng qua những tác phẩm trong triển lãm, ta lại thấy tác giả mới ở đầu giờ chiều. Chắc chắn sau triển lãm này, chúng ta còn tiếp tục được xem nhiều tác phẩm, nhiều triển lãm cá nhân nữa của Quốc Thái.


Ở Hải Phòng, những cuộc triển lãm cá nhân không nhiều, “Sắc chiều” của họa sĩ Quốc Thái thật đáng trân trọng, tạo thêm điểm nhấn cho các hoạt động văn hóa của thành phố Cảng thân yêu.


Mừng cho ông, tôi luôn mong ông có sức khỏe để vẽ, tìm nguồn vui và hạnh phúc qua các tác phẩm của mình./.

Bùi Bảo Ngọc

 
Con cháu người Đồ Sơn xa xứ và Truyện Kiều

Người Việt định cư ở khắp thế giới. ở Việt Nam, người Việt (người Kinh) là dân tộc đa số, nhưng ở các nước khác, cộng đồng người Việt lại là dân tộc thiểu số như tại Séc, Trung Quốc v.v..


Trung Quốc có 56 dân tộc, trong đó cộng đồng hơn 2,2 vạn người Việt được gọi là dân tộc Jing (người Kinh). Theo bài “Lịch sử hình thành cộng đồng người Kinh (Việt) ở Trung Quốc” đăng trên Tạp chí Dân tộc học số 5/2009 (có tham khảo, trích dẫn một số nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Duy Bính, Nguyễn Thị Phương Châm, Tô Quang Duy, Hán Minh v.v..) thì tổ tiên người Kinh ở Trung Quốc vốn ở Đồ Sơn, Hải Phòng, Việt Nam:


Ngồi buồn nghĩ lại đời xưa/ Cha ông truyền lại là người Đồ Sơn/ Từ thời Hồng Thuận tam niên/ Cha ông lưu lạc Phúc Yên chốn này


Khi di cư tới đây, người Kinh tập trung chủ yếu trên ba hòn đảo Vu Đầu, Vạn Vĩ, Sơn Tâm, hình thành nên tam đảo hay còn gọi là Kinh Đảo, nay thuộc trấn Giang Bình, thành phố Đông Hưng, Quảng Tây. Thôn Vạn Vĩ (Đông Hưng) chỉ cách thôn Tràng Vĩ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái một con sông.


Văn sớ ở đình Vạn Vĩ ghi: “Tổ tiên quán tại Đồ Sơn, đời Hồng Thuận tam niên đến chốn này đặt tên làng là Phúc Yên” (Phúc Yên là tên dân gian của làng Vạn Vĩ đến nay vẫn tồn tại). Còn Hồng Thuận tam niên (âm khác là Hùng Thuận) chính là năm thứ 3 niên hiệu Dực Đế triều hậu Lê ở Việt Nam  (1511). Sau đó là những ngư dân ở các vùng biển lân cận khác của Việt Nam cũng đến định cư ở đây, hòa nhập với các thế hệ con cháu người Đồ Sơn, cùng thờ cúng tổ ở Đồ Sơn để tưởng nhớ những người khai phá đầu tiên ở chốn này.


Báo điện tử Biên phòng Việt Nam (bài Kết nghĩa cụm cư dân biên giới: Từ thực tế ở Tràng Vĩ - Trà Cổ, tỉnh Quảng Ninh) cho biết: “Nhân dân khu Tràng Vĩ (Móng Cái, Việt Nam) và thôn Vạn Vĩ (Đông Hưng, Trung Quốc) đều tổ chức lễ hội cúng đình tương đối giống nhau. Đình làng của hai bên đều thờ 12 vị Thành hoàng người gốc Đồ Sơn (Hải Phòng), những bậc tiền nhân đặt dấu ấn đầu tiên trên vùng đất địa đầu Tổ quốc” vì “Giang Bình, Trà Cổ có tổ Đồ Sơn”.


Hiện cộng đồng người Kinh Đảo ở Trung Quốc có họ Lưu, họ Nguyễn là lớn nhất. Còn tại quê hương, họ Lưu và Nguyễn cũng là hai trong bốn họ lớn nhất Đồ Sơn hiện nay.


Theo GS Kiều Thu Hoạch (Viện Nghiên cứu Văn hoá): “Khi di cư sang Trung Quốc, người Kinh đã mang theo cả một số phong tục tập quán của người Việt, và trong gần 500 năm cư trú bên ngoài biên giới Tổ quốc, người Kinh vẫn còn bảo lưu được một số hình thức văn hoá cổ, hay nói theo thuật ngữ của Unesco, đó là di sản văn hoá phi vật thể như: truyện kể dân gian, ca dao tục ngữ, các tục lệ cổ truyền, hát đám cưới, ngôn ngữ song âm tiết (la thi/ quả thị, la na/quả na, la dưa/ quả dừa…), đặc biệt là hình thức diễn xướng truyện Nôm ở kháp đình (đình hát) v.v… Đây là hiện tượng văn hoá - lịch sử quý hiếm mà các nhà nhân loại học văn hoá gọi là hóa thạch ngoại biên (fossilisation périphérique/peripheral fossilization), hoặc hoạt hóa thạch như cách gọi của giới nhân loại học Trung Quốc. Có thể nói, vùng Kinh Đảo chính là một cầu trường lý tưởng để nghiên cứu hiện tượng hoá thạch ngoại biên trong văn hóa tộc người” (trích bài Truyện Kiều dân gian hoá ở một tộc người Kinh, đăng trên trang http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn của Khoa Văn học Ngôn ngữ - Trường Đại học KHXH và NV - ĐH Quốc gia TP. HCM).


Trong hành trang người Kinh mang theo sang vùng đất mới có các truyện Nôm (cả truyện thơ và truyện văn xuôi), nhưng đã có biến đổi thành dị bản so với những truyện ở Việt Nam như: Tống Trân và Trần Cúc Hoa (tức truyện Tống Trân, Cúc Hoa ở Việt Nam), Dương Lễ và Lưu Bình (tức truyện Lưu Bình, Dương Lễ ở Việt Nam) và đặc biệt là Kim Trọng và A Kiều (Truyện Kiều).


Cũng theo nghiên cứu của GS Kiều Thu Hoạch: “Kim Trọng và A Kiều có nhiều khả năng chắc chắn là đã được dân gian hoá từ Truyện Kiều của Nguyễn Du - bởi tộc người Kinh cũng có một đợt di cư sang Trung Quốc vào năm Tự Đức 28 (1875), tức là sau thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều (hiện ở Kinh Đảo còn có bản hương ước ghi chép về đợt di cư này)”.


Điều đáng trân trọng là tuy sống cùng các dân tộc khác của Trung Quốc, nơi mà văn hóa Hán bao quanh, chiếm ưu thế, nhưng người Kinh ở Trung Quốc đã cải biến Truyện Kiều có nhiều phương diện còn Việt hóa đậm đà hơn tác phẩm gốc của Nguyễn Du. Nguyễn Du rất tôn trọng và bám sát nguyên truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để sáng tác nên không thay đổi tên nhân vật và các địa danh của truyện, nhưng Kim Trọng và A Kiều của người Kinh Đảo đã đổi họ cho Kim Trọng thành Bùi Kim Trọng; Vương Thuý Kiều, Vương Thuý Vân thành Nguyễn Thuý Kiều, Nguyễn Thuý Vân. Truyện tình Kim - Kiều diễn ra ở những nơi rất gần gũi Việt Nam như ở đình làng, hội hát đối, dưới gốc đa cổ thụ. Nhiều tình tiết, nội dung truyện cũng thay đổi theo hướng dân gian hóa, không giống tiểu thuyết gốc Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân và Truyện Kiều của Nguyễn Du.


Ta thử so sánh, liên hệ từ ngữ Truyện Kiều vốn là văn chương bác học với ngôn ngữ trong Kim Trọng và A Kiều của người Kinh ở Trung Quốc trong một số trường hợp cụ thể sau: Đoạn Kim Trọng thuê trọ sát nhà Kiều để tiếp cận và nhặt được thoa rơi của nàng, Nguyễn Du viết lời của Kim Trọng (câu 305, 306): “Thoa này bắt được hư không/ Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về?” thì nghe rất tài hoa nhưng cầu kỳ, phải tìm hiểu tích “Châu về Hợp Phố” mới hiểu được, còn truyện Kim Trọng và A Kiều của người Kinh Đảo diễn ca rất dễ hiểu thành: “Vô ý đánh rơi vàng xuống đất/ Có lòng tìm vàng đến hỏi anh/ Nhận được thoa rồi chớ cài chặt tơ tình”.


Nghe Kim Trọng nói vậy, A Kiều đối đáp lại:
Rơi vàng bấy lâu lòng bồn chồn/ Gần đây tơ tình khó cài chặt/ Nên nỗi ngẩn ngơ như mất hồn”.
Còn trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết đây là tâm trạng Kim Trọng tương tư Kiều: Câu 314: “Kể đà thiểu não lòng người bấy nay”; Câu 324: “Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn”. Đoạn Kim - Kiều gặp lại sau 15 năm lưu lạc:

Trong Kim Trọng và A Kiều, nhân vật A Kiều hát: “Mười lăm năm gió gió mưa mưa / Trăng kia đã khuyết hoa kia đã tàn
(Còn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, ý này nằm ở các câu 3070: “Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình” và câu 3100: “Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn”).
Kim Trọng đối lại: “Trăng khuyết thì trăng lại tròn/ Hoa tàn lại nở tươi giòn hơn xưa!” (còn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, câu 3123, 3124 rất gần gũi với hai câu trên: “Hoa tàn mà lại thêm tươi/ Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa”).


Truyện Kiều của Nguyễn Du rất hay nhưng có tầng tầng lớp lớp ngữ nghĩa cần tìm hiểu, giải mã, tác giả dùng nhiều biện pháp ẩn dụ, ước lệ, bên cạnh đó là vô số điển tích, hoặc nhiều chỗ độ khái quát, triết lý rất cao siêu, người bình dân có thể thuộc một số câu nhưng khó lòng mà hiểu hết được cái hay, cái đẹp của văn chương Truyện Kiều. Đây có lẽ cũng là một nguyên nhân khiến giới trẻ Việt Nam hiện nay ít người đọc Truyện Kiều.


Đưa văn chương bác học đến với nhân dân, con cháu người Đồ Sơn ở Kinh Đảo - Trung Quốc từ lâu đã có giải pháp: họ đã dựa vào Truyện Kiều của Nguyễn Du để diễn nôm theo hướng dân gian hóa, Kinh hóa cho thật gần gũi với đời sống của người Việt, biến thành truyện thơ dành cho nam nữ hát đối đáp rất dễ nhớ, dễ đi vào cuộc sống. Đây có lẽ là cách làm hay của các thế hệ con cháu người Đồ Sơn ở bên kia biên giới mà chúng ta cần tham khảo, học tập để Truyện Kiều đến được với đông đảo nhân dân, đặc biệt trong thời đại hiện nay./.

Khánh Toàn

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)