Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 35 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Họa sĩ Quốc Thái - Niềm đam mê bất tận

Cách đây vài năm tôi được biết họa sĩ Quốc Thái cùng những tác phẩm của ông. Được xem tranh ông vẽ trong từng giai đoạn với nhiều chủ đề tái hiện cuộc sống một thời, có chiến tranh và hoà bình, có tĩnh có động, có niềm vui và nỗi buồn...


Lần đầu bước vào xưởng vẽ của ông, tôi không khỏi choáng ngợp bởi những bức tranh với nhiều gam màu khác nhau, thể hiện các cung bậc cảm xúc của tác giả.


Trước khi đến nhà riêng thăm ông, tôi có cảm giác hơi ngại, khi đến mới thấy mình lo lắng thừa. Ông cởi mở chia sẻ về hội hoạ, về những bức tranh, về đồng nghiệp và niềm đam mê là cái nghiệp gắn bó cả đời.


Sau đấy thỉnh thoảng tôi đến chơi nhà ông, xem những tác phẩm mới, nghe ông tâm sự về tranh, về cuộc sống và những thăng trầm đã qua. Ông bảo: bao khó khăn, vất vả rồi cũng qua, giờ chú chỉ chuyên tâm vào vẽ, ngày nào bận hay ốm đau không vẽ được thấy khó chịu lắm!


Ở tuổi ngoài 70 mà sức làm việc của ông thật đáng nể phục. Ông khiến những người trẻ như tôi phải ngầm so sánh: đến tuổi như ông liệu tôi có thể sống với nhiều hoài bão và đam mê như thế không?


Tháng 4/2012, ông bày triển lãm cá nhân lần thứ 3 tại Hà Nội, ở tuổi 70. Lão hoạ sĩ đã dành nhiều tâm huyết cho lần triển lãm này. Ông bảo: ở tuổi này chẳng biết thế nào, cũng có thể đây là triển lãm cuối, vì tuổi cao chẳng còn sức mà làm nữa.


Ông nói vậy mà không phải vậy. Niềm đam mê đã ngấm vào máu thịt, là một phần cuộc sống của lão hoạ sĩ để sáng sáng ông vẫn ngồi bên khung toan khoác màu sắc vào tranh.


Cuộc sống bận rộn cuốn tôi đi, đã lâu rồi lần lữa mãi chưa có thời gian đến thăm ông và xem tranh. Trong lòng áy náy lắm mà đành chịu.


Hôm trước ông có gọi điện báo sẽ tổ chức triển lãm cá nhân vào ngày 28/9/2015 tại trụ sở Hội Liên hiệp VHNT thành phố ở 19 Trần Hưng Đạo, Hồng Bàng, Hải Phòng. Sau cuộc điện thọai tôi thấy háo hức lạ. Bất ngờ hơn nữa khi nhìn thấy “Sắc chiều” (tên triển lãm lần thứ 4 của ông). Đúng như tên gọi những bức tranh ông bày ở triển lãm lần này, đầy khắc khoải nhưng vẫn ào ạt cảm xúc. Mang lại cho tôi cái nhìn mới về tranh của ông. Hiện đại, phóng khoáng.


Rất đông các đồng nghiệp, văn nghệ sĩ và người yêu mỹ thuật đến dự khai mạc triển lãm. Mọi người háo hức đến thưởng ngoạn những bức tranh ông mới sáng tác và mừng cho ông khi thấy sức làm việc, mạch cảm xúc của ông vẫn mạnh mẽ như ngày nào. Một đồng nghiệp phát biểu vui: Họa sĩ lấy tên triển lãm là “Sắc chiều” với ý nghĩa tác giả đã cao tuổi đang ở chặng cuối  cuộc đời, nhưng qua những tác phẩm trong triển lãm, ta lại thấy tác giả mới ở đầu giờ chiều. Chắc chắn sau triển lãm này, chúng ta còn tiếp tục được xem nhiều tác phẩm, nhiều triển lãm cá nhân nữa của Quốc Thái.


Ở Hải Phòng, những cuộc triển lãm cá nhân không nhiều, “Sắc chiều” của họa sĩ Quốc Thái thật đáng trân trọng, tạo thêm điểm nhấn cho các hoạt động văn hóa của thành phố Cảng thân yêu.


Mừng cho ông, tôi luôn mong ông có sức khỏe để vẽ, tìm nguồn vui và hạnh phúc qua các tác phẩm của mình./.

Bùi Bảo Ngọc

 
Con cháu người Đồ Sơn xa xứ và Truyện Kiều

Người Việt định cư ở khắp thế giới. ở Việt Nam, người Việt (người Kinh) là dân tộc đa số, nhưng ở các nước khác, cộng đồng người Việt lại là dân tộc thiểu số như tại Séc, Trung Quốc v.v..


Trung Quốc có 56 dân tộc, trong đó cộng đồng hơn 2,2 vạn người Việt được gọi là dân tộc Jing (người Kinh). Theo bài “Lịch sử hình thành cộng đồng người Kinh (Việt) ở Trung Quốc” đăng trên Tạp chí Dân tộc học số 5/2009 (có tham khảo, trích dẫn một số nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Duy Bính, Nguyễn Thị Phương Châm, Tô Quang Duy, Hán Minh v.v..) thì tổ tiên người Kinh ở Trung Quốc vốn ở Đồ Sơn, Hải Phòng, Việt Nam:


Ngồi buồn nghĩ lại đời xưa/ Cha ông truyền lại là người Đồ Sơn/ Từ thời Hồng Thuận tam niên/ Cha ông lưu lạc Phúc Yên chốn này


Khi di cư tới đây, người Kinh tập trung chủ yếu trên ba hòn đảo Vu Đầu, Vạn Vĩ, Sơn Tâm, hình thành nên tam đảo hay còn gọi là Kinh Đảo, nay thuộc trấn Giang Bình, thành phố Đông Hưng, Quảng Tây. Thôn Vạn Vĩ (Đông Hưng) chỉ cách thôn Tràng Vĩ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái một con sông.


Văn sớ ở đình Vạn Vĩ ghi: “Tổ tiên quán tại Đồ Sơn, đời Hồng Thuận tam niên đến chốn này đặt tên làng là Phúc Yên” (Phúc Yên là tên dân gian của làng Vạn Vĩ đến nay vẫn tồn tại). Còn Hồng Thuận tam niên (âm khác là Hùng Thuận) chính là năm thứ 3 niên hiệu Dực Đế triều hậu Lê ở Việt Nam  (1511). Sau đó là những ngư dân ở các vùng biển lân cận khác của Việt Nam cũng đến định cư ở đây, hòa nhập với các thế hệ con cháu người Đồ Sơn, cùng thờ cúng tổ ở Đồ Sơn để tưởng nhớ những người khai phá đầu tiên ở chốn này.


Báo điện tử Biên phòng Việt Nam (bài Kết nghĩa cụm cư dân biên giới: Từ thực tế ở Tràng Vĩ - Trà Cổ, tỉnh Quảng Ninh) cho biết: “Nhân dân khu Tràng Vĩ (Móng Cái, Việt Nam) và thôn Vạn Vĩ (Đông Hưng, Trung Quốc) đều tổ chức lễ hội cúng đình tương đối giống nhau. Đình làng của hai bên đều thờ 12 vị Thành hoàng người gốc Đồ Sơn (Hải Phòng), những bậc tiền nhân đặt dấu ấn đầu tiên trên vùng đất địa đầu Tổ quốc” vì “Giang Bình, Trà Cổ có tổ Đồ Sơn”.


Hiện cộng đồng người Kinh Đảo ở Trung Quốc có họ Lưu, họ Nguyễn là lớn nhất. Còn tại quê hương, họ Lưu và Nguyễn cũng là hai trong bốn họ lớn nhất Đồ Sơn hiện nay.


Theo GS Kiều Thu Hoạch (Viện Nghiên cứu Văn hoá): “Khi di cư sang Trung Quốc, người Kinh đã mang theo cả một số phong tục tập quán của người Việt, và trong gần 500 năm cư trú bên ngoài biên giới Tổ quốc, người Kinh vẫn còn bảo lưu được một số hình thức văn hoá cổ, hay nói theo thuật ngữ của Unesco, đó là di sản văn hoá phi vật thể như: truyện kể dân gian, ca dao tục ngữ, các tục lệ cổ truyền, hát đám cưới, ngôn ngữ song âm tiết (la thi/ quả thị, la na/quả na, la dưa/ quả dừa…), đặc biệt là hình thức diễn xướng truyện Nôm ở kháp đình (đình hát) v.v… Đây là hiện tượng văn hoá - lịch sử quý hiếm mà các nhà nhân loại học văn hoá gọi là hóa thạch ngoại biên (fossilisation périphérique/peripheral fossilization), hoặc hoạt hóa thạch như cách gọi của giới nhân loại học Trung Quốc. Có thể nói, vùng Kinh Đảo chính là một cầu trường lý tưởng để nghiên cứu hiện tượng hoá thạch ngoại biên trong văn hóa tộc người” (trích bài Truyện Kiều dân gian hoá ở một tộc người Kinh, đăng trên trang http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn của Khoa Văn học Ngôn ngữ - Trường Đại học KHXH và NV - ĐH Quốc gia TP. HCM).


Trong hành trang người Kinh mang theo sang vùng đất mới có các truyện Nôm (cả truyện thơ và truyện văn xuôi), nhưng đã có biến đổi thành dị bản so với những truyện ở Việt Nam như: Tống Trân và Trần Cúc Hoa (tức truyện Tống Trân, Cúc Hoa ở Việt Nam), Dương Lễ và Lưu Bình (tức truyện Lưu Bình, Dương Lễ ở Việt Nam) và đặc biệt là Kim Trọng và A Kiều (Truyện Kiều).


Cũng theo nghiên cứu của GS Kiều Thu Hoạch: “Kim Trọng và A Kiều có nhiều khả năng chắc chắn là đã được dân gian hoá từ Truyện Kiều của Nguyễn Du - bởi tộc người Kinh cũng có một đợt di cư sang Trung Quốc vào năm Tự Đức 28 (1875), tức là sau thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều (hiện ở Kinh Đảo còn có bản hương ước ghi chép về đợt di cư này)”.


Điều đáng trân trọng là tuy sống cùng các dân tộc khác của Trung Quốc, nơi mà văn hóa Hán bao quanh, chiếm ưu thế, nhưng người Kinh ở Trung Quốc đã cải biến Truyện Kiều có nhiều phương diện còn Việt hóa đậm đà hơn tác phẩm gốc của Nguyễn Du. Nguyễn Du rất tôn trọng và bám sát nguyên truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để sáng tác nên không thay đổi tên nhân vật và các địa danh của truyện, nhưng Kim Trọng và A Kiều của người Kinh Đảo đã đổi họ cho Kim Trọng thành Bùi Kim Trọng; Vương Thuý Kiều, Vương Thuý Vân thành Nguyễn Thuý Kiều, Nguyễn Thuý Vân. Truyện tình Kim - Kiều diễn ra ở những nơi rất gần gũi Việt Nam như ở đình làng, hội hát đối, dưới gốc đa cổ thụ. Nhiều tình tiết, nội dung truyện cũng thay đổi theo hướng dân gian hóa, không giống tiểu thuyết gốc Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân và Truyện Kiều của Nguyễn Du.


Ta thử so sánh, liên hệ từ ngữ Truyện Kiều vốn là văn chương bác học với ngôn ngữ trong Kim Trọng và A Kiều của người Kinh ở Trung Quốc trong một số trường hợp cụ thể sau: Đoạn Kim Trọng thuê trọ sát nhà Kiều để tiếp cận và nhặt được thoa rơi của nàng, Nguyễn Du viết lời của Kim Trọng (câu 305, 306): “Thoa này bắt được hư không/ Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về?” thì nghe rất tài hoa nhưng cầu kỳ, phải tìm hiểu tích “Châu về Hợp Phố” mới hiểu được, còn truyện Kim Trọng và A Kiều của người Kinh Đảo diễn ca rất dễ hiểu thành: “Vô ý đánh rơi vàng xuống đất/ Có lòng tìm vàng đến hỏi anh/ Nhận được thoa rồi chớ cài chặt tơ tình”.


Nghe Kim Trọng nói vậy, A Kiều đối đáp lại:
Rơi vàng bấy lâu lòng bồn chồn/ Gần đây tơ tình khó cài chặt/ Nên nỗi ngẩn ngơ như mất hồn”.
Còn trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết đây là tâm trạng Kim Trọng tương tư Kiều: Câu 314: “Kể đà thiểu não lòng người bấy nay”; Câu 324: “Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn”. Đoạn Kim - Kiều gặp lại sau 15 năm lưu lạc:

Trong Kim Trọng và A Kiều, nhân vật A Kiều hát: “Mười lăm năm gió gió mưa mưa / Trăng kia đã khuyết hoa kia đã tàn
(Còn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, ý này nằm ở các câu 3070: “Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình” và câu 3100: “Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn”).
Kim Trọng đối lại: “Trăng khuyết thì trăng lại tròn/ Hoa tàn lại nở tươi giòn hơn xưa!” (còn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, câu 3123, 3124 rất gần gũi với hai câu trên: “Hoa tàn mà lại thêm tươi/ Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa”).


Truyện Kiều của Nguyễn Du rất hay nhưng có tầng tầng lớp lớp ngữ nghĩa cần tìm hiểu, giải mã, tác giả dùng nhiều biện pháp ẩn dụ, ước lệ, bên cạnh đó là vô số điển tích, hoặc nhiều chỗ độ khái quát, triết lý rất cao siêu, người bình dân có thể thuộc một số câu nhưng khó lòng mà hiểu hết được cái hay, cái đẹp của văn chương Truyện Kiều. Đây có lẽ cũng là một nguyên nhân khiến giới trẻ Việt Nam hiện nay ít người đọc Truyện Kiều.


Đưa văn chương bác học đến với nhân dân, con cháu người Đồ Sơn ở Kinh Đảo - Trung Quốc từ lâu đã có giải pháp: họ đã dựa vào Truyện Kiều của Nguyễn Du để diễn nôm theo hướng dân gian hóa, Kinh hóa cho thật gần gũi với đời sống của người Việt, biến thành truyện thơ dành cho nam nữ hát đối đáp rất dễ nhớ, dễ đi vào cuộc sống. Đây có lẽ là cách làm hay của các thế hệ con cháu người Đồ Sơn ở bên kia biên giới mà chúng ta cần tham khảo, học tập để Truyện Kiều đến được với đông đảo nhân dân, đặc biệt trong thời đại hiện nay./.

Khánh Toàn

 
Từ biển đảo, tình yêu Tổ quốc càng trọn vẹn

(Tham luận của nhà văn DƯƠNG THỊ NHỤN - ủy viên BTV Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tại Hội thảo “Nâng cao hiệu quả sáng tác tuyên truyền về biển đảo” của 10 Hội VHNT phía Bắc (Nhóm VN8+2) tổ chức tại Vân Đồn, Quảng Ninh ngày 24,25/8/2015)

Biển Đông vạn dặm giăng tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững trị bình. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm từ hơn 500 năm trước đã đúc kết lại bằng lời sấm truyền  trong suốt hành trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Lời sấm ấy muôn đời còn nguyên giá trị, bởi biển Đông là phần máu thịt của đất nước Việt Nam không thể tách rời và phải được triệu triệu người Việt Nam khắc cốt ghi tâm.

Từ xa xưa con người đã chọn biển làm đường chính để thông thương. Sự ra đời của các vùng đất đa số được các nhà thám hiểm phát hiện bằng đường biển. Biển cả đem sự sống cho con người. Vì vậy quốc gia hay vùng lãnh thổ nào cũng muốn gìn giữ và bảo vệ chủ quyền biển đảo của mình. Ngược dòng thời gian, từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước, theo cả truyền thuyết và chứng cứ lịch sử, đất nước Việt Nam đã đánh thắng bất cứ kẻ nào rắp tâm dùng sức mạnh và vũ khí tối tân chiếm lĩnh đất nước ta. Giặc phương Bắc 13 lần thua trận trong đó có Ngô Quyền với chiến thắng chống quân Nam Hán năm 938 đánh dấu chấm hết nghìn năm Bắc thuộc; đó là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 vang dội chống quân Nguyên Mông. Trong trận này 8 vạn thủy quân và 400 thuyền chiến của địch đã bị ta tiêu diệt. Trần Khánh Dư cùng với ba anh em họ Phạm đã có cuộc hải chiến tại vùng biển Vân Đồn góp vào chiến công chung. Các cuộc chiến tranh chống quân xâm lược trải suốt chiều dài lịch sử đất nước luôn gắn liền với biển đảo. Chiến tranh chống Mỹ vẫn còn đó đường Hồ Chí Minh trên biển, những chiến sĩ đoàn tàu không số xuất phát từ Hải Phòng ra đi không hẹn ngày về. Đó là các trận chiến trên biển ở các vùng biển phía Nam… Biển đảo của Việt Nam luôn dậy sóng vì nằm ở vị trí quan trọng trên trường quốc tế nên thường xuyên bị đe dọa, nhòm ngó.

Biển nước ta có vị trí quan trọng, có tầm chiến lược lớn về chính trị và kinh tế, song biển cũng rất gần gũi thân thương với mỗi người. Dù ai chưa một lần ra biển vẫn cảm nhận được biển qua các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là bằng các tác phẩm nghệ thuật. Với tâm hồn nhạy cảm và tình yêu đất nước trước nỗi đau giặc ngoại xâm, văn nghệ sĩ cả nước đã cất lên tiếng nói mạnh mẽ nhằm phản đối quyết liệt hành động sai trái của kẻ xâm lược. Tiếp nối những tráng ca trường tồn với lịch sử dân tộc, thời gian qua đã có hàng ngàn bài viết về đề tài biển đảo. “Tổ quốc nhìn từ biển” của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã là đề tài cho nhiều chương trình VHNT với thông điệp biển đảo là phần máu thịt không thể tách rời của Tổ quốc. Khi biển đảo bị nhòm ngó và xâm phạm, nhân dân cả nước cùng đứng lên giương cao ngọn cờ dân tộc chống trả quyết liệt hành động phi nhân tính của kẻ thù. VHNT đã góp tiếng nói quan trọng trong việc tuyên truyền về biển đảo với các hoạt động thiết thực như triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh, các cuộc thi viết ca khúc, và đặc biệt các cuộc thi thơ, văn xuôi… Mỗi bức tranh, tấm ảnh, ca khúc hay bài thơ… đã bám sát chủ đề và nói hộ mỗi người dân Việt Nam về chủ quyền biển đảo.

VHNT Hải Phòng có lẽ chưa có tác giả nào để cả tâm sức vào tác phẩm như nhà văn Nguyên Hồng. Ngay khi mới là cậu thiếu niên đặt chân đến Hải Phòng với tư thế của một người vô gia cư, Nguyên Hồng đã quan sát đời sống của người dân thị thành cùng khổ sống trong xã hội nô lệ nơi mảnh đất vùng cửa sóng. Thế mới có Bỉ vỏ,Những ngày thơ ấu và sau này là bộ Cửa biển đồ sộ trong gia tài tác phẩm của ông. Tiếp nối Nguyên Hồng, các nhà thơ Thi Hoàng, Vân Long, Hoàng Hưng, Đào Cảng, Thanh Tùng, Nguyễn Tùng Linh… đã làm nên tên tuổi nền văn học Hải Phòng thời chống Mỹ. Sau này vẫn có các tác phẩm viết về biển song chưa có tác phẩm nào xứng tầm với những giá trị lớn lao mà biển cả mang lại.

Có thể nói Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng đã làm tốt việc tuyên truyền về biển đảo. Hải Phòng là thành phố biển nên các tác phẩm về biển luôn được quan tâm đăng tải trên Tạp chí Cửa Biển, trong đó chuyên mục Tổ quốc nhìn từ biển đảo được duy trì thường xuyên. Hội đã liên tiếp tổ chức các Trại sáng tác, các cuộc triển lãm về mỹ thuật, nhiếp ảnh; các cuộc thi thơ; các chương trình giới thiệu ca khúc, các buổi nói chuyện… về đề tài biển đảo. Đây có lẽ là thời điểm bùng phát mạnh mẽ nhất với đủ các cung bậc cảm xúc của toàn thể nhân dân nói chung và văn nghệ sĩ nói riêng. Bằng việc sử dụng ngôn ngữ giản dị gần gũi, các tác phẩm về biển đảo được công chúng đón nhận. Nhiều hội viên được Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tạo điều kiện đã trực tiếp ra khơi cùng những người lính, chứng kiến hành động ngang ngược của kẻ xâm lược, từ đó có tác phẩm ngồn ngộn hơi thở cuộc sống.    

Chủ đề “Nâng cao hiệu quả sáng tác và tuyên truyền về biển đảo” của nhóm VN 8+2 với nội dung không mới song đòi hỏi mỗi cơ quan văn nghệ, mỗi văn nghệ sĩ cần có cách tiếp cận và thể hiện đề tài này để có dấu ấn riêng. Nhận thức đúng và xác định được tầm quan trọng của biển đảo.
Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả sáng tác và tuyên truyền về biển đảo  cần có sự quan tâm động viên, tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ có thể thâm nhập thực tế hơn nữa. Không thể có tác phẩm về biển đảo hay khi con người không thực sự thấy biển dịu êm hay bão tố. Biển là kho lưu trữ những bí ẩn của đại dương và cũng đem lại cho con người những giá trị vô tận. Vậy muốn khám phá biển phải lấy nguồn tư liệu và cảm hứng từ biển. Và nữa, khi có sự tranh chấp trên biển thì việc sáng tác và tuyên truyền có vẻ như thuận lợi hơn, vì sự kiện và lòng người luôn nóng lên vì biển đảo. Vậy khi sóng yên biển lặng văn nghệ sĩ sẽ làm gì để nâng cao hiệu quả sáng tác và tuyên truyền? Mỗi Hội VHNT hãy là bà đỡ cho mỗi tác phẩm VHNT. Khi tác phẩm ra đời hãy trân quý, nâng niu và cho tác phẩm ấy được bay cao, bay xa tới công chúng khi nó có giá trị nhất định. Bạn bè văn nghệ cả nước luôn mơ ước có một Quảng Ninh thứ hai trong mỗi Hội Văn nghệ vì sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền đối với văn nghệ sĩ qua các cuộc hội thảo, hội nghị hay các chuyến đi thực tế thật đáng trân trọng.

Sau Hội thảo về đề tài Biển đảo và du lịch tại Đồ Sơn cuối năm 2014 do Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tổ chức, việc Hội VHNT Quảng Ninh tiếp tục lấy biển đảo làm chủ đề cuộc hội thảo lần này, chứng tỏ sự quan tâm sâu sắc của Nhóm VN8+2 đối với lĩnh vực biển đảo không chỉ là một đề tài sáng tác quan trọng mà còn minh chứng cho trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Trên cơ sở đó chúng ta hy vọng sẽ ra đời các tác phẩm về biển đảo ấn tượng. Các Hội VHNT trong Nhóm VN 8+2 hào hứng tham gia và có các tham luận chất lượng là minh chứng cho việc cần thiết trong việc tuyên truyền về biển đảo.

Tôi xin đề xuất một số tham góp trong việc nâng cao hiệu quả sáng tác và tuyên truyền về biển đảo:
1. Trong nhóm VN 8+2 có hơn một nửa các tỉnh, thành phố không có biển đảo, vì vậy các Hội cần có sự phối kết hợp chặt chẽ và tạo điều kiện cho nhau hơn nữa trong các chuyến đi thực tế.
2.  Một cuộc thi trong nhóm sẽ tạo cho anh em văn nghệ sĩ của 10 tỉnh, thành phố giao lưu và gần gũi nhau hơn, từ đó tạo cú huých cho việc sáng tác và tuyên truyền.
3. Nhóm VN 8+2 cần xuất bản chung tuyển tập VHNT về đề tài biển đảo để tuyên truyền trọng tâm, trọng điểm về vấn đề này trong khu vực 10 tỉnh, thành phố.
Từ biển đảo, tình yêu Tổ quốc càng trọn vẹn./.

 
Đưa hát Văn và hát Chầu văn ra công chúng - Nhìn từ thực tế các cuộc liên hoan gần đây

Thời @, không mấy khó khăn khi tìm các tiết mục biểu diễn nghệ thuật truyền thống trên internet. Mới nhất là các bài hát Văn và các giá chầu từ liên hoan do một số địa phương tổ chức như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định… Tại Hải Phòng, Hội VNDG trực thuộc Hội Liên hiệp VNHT thành phố cũng ghi dấu ấn năm 2015  bằng Liên hoan hát Văn và hát Chầu văn Hải Phòng mở rộng tại Nhà hát tháng Tám. Trước đó, Hội cũng đã đưa Chầu văn tới công chúng qua các không gian biểu diễn như Phủ Thượng Đoạn, Nhà hát Thành phố… góp phần khẳng định Hải Phòng có kinh nghiệm bảo tồn di sản văn hóa như ghi nhận của Cục Di sản Văn hóa và các nhà nghiên cứu. Điều thú vị ở chỗ bên cạnh phương thức đưa hát Văn, Chầu văn ra công chúng, các cuộc Liên hoan trên còn cho thấy học hát Văn và Chầu văn là không hề đơn giản.

Tôi có lần được nghe và ghi chép từ nghệ sĩ xuất sắc Đức Miêng – một nhạc công dày dặn kinh nghiệm trong dàn cổ nhạc của Đoàn Cải lương Hải Phòng khi ông còn làm giám khảo một cuộc thi hát Văn và Chầu văn của Hải Phòng. Ông nói: Giữa hát Văn và hát Chầu văn có một số điểm giống và khác nhau. Đó là cùng có nhiều làn điệu, nhưng trong một bài không nhất thiết người hát phải hát tất cả các làn điệu ấy mà tùy theo kết cấu văn bản (lời) để người hát có cách xử lý điệu thức cho phù hợp. Và cũng tùy ở mỗi không gian khác nhau thì cách xử lý làn điệu lại khác nhau. Ví dụ, Cờn và Xá  là làn điệu theo nhịp 1/4 dễ hát nhất, nhưng khi hát Chầu văn (có nhân vật) trên sân khấu (quy định không quá 20 phút) thì diễn viên  phải thể hiện ở tốc độ nhanh hơn chứ không khoan thai, nhấn nhá như khi hát ở cơ sở tín ngưỡng. Tuy nhiên, cũng không phải vì sự chi phối của thời gian mà một số nhân vật trong Chầu văn chỉ được nói đến qua làn điệu hoặc Cờn.  Còn với Chầu văn, vì bản chất của nghi lễ Chầu văn là nghệ thuật hiển Thánh, nên người trình diễn phải có nghệ thuật khai thác thêm các làn điệu để phù hợp với nhân vật mà mình nói tới. Ví dụ như hát về nguyên soái Triệu Tường - nhân vật có công phò Lê trong lịch sử phong kiến Việt Nam thì buộc phải hát những làn điệu phú Nói, phú Kiều dương. Vì chỉ có những  làn điệu này mới có đủ cung bậc ngợi ca tài đức của nguyên soái Triệu Tường.

Kể từ lần thi hát Văn Hải Phòng lần đầu tiên năm 1950-1951, đến nay hát Văn và hát Chầu văn đã được phổ cập tới công chúng nhờ chủ trương phục hồi vốn cổ của Đảng và Nhà nước thông qua các không gian biểu diễn. Bên cạnh Phủ Thượng Đoạn, một số cơ sở tín ngưỡng thờ Mẫu, hát Văn và nhất là hát Chầu văn được nâng tầm thành diễn xướng Chầu văn (gồm cả hát và vũ đạo) trên sân khấu. Riêng về phần hát, nhiều diễn viên (cung văn) đã có ý thức đề cao sự học. Bắt đầu là học nhịp, phách, rồi đến các làn điệu từ dễ đến khó. Nên trong nhiều giá chầu, ngoài cờn, xá, người xem còn thấy sức hấp dẫn trong  giọng hát của cung văn  khi họ  nhập tâm vào những xá Dây lệch, xá Thượng, phú Chênh, phú Nói, phú Dầu, phú Bắc phản, phú Kiều Dương... Lời hát góp phần làm sáng tỏ xuất xứ tung tích nhân vật, để cùng với  sự hỗ trợ không thể thiếu của diễn xướng tạo nên sự giao cảm tuyệt vời  giữa người biểu diễn và người thưởng thức. Đó cũng chính là sức hấp dẫn lớn của nghệ thuật hát Chầu văn. Trong tiết mục Chầu văn Nguyên soái Triệu Tường do cung văn Hoàng Tú, thanh đồng Đinh Xuân Thiệu và tốp múa của đoàn Hải Phòng biểu diễn, Hoàng Tú khi hát về nguyên soái Triệu Tường lần đầu tiên đã biết kết hợp nhuần  nhuyễn các điệu thức của nghệ thuật hát Văn với hát Chầu văn hiển Thánh. Đó là Ngâm, hát Dọc, rồi đến phú Nói, phú Kiều Dương là những làn điệu khó  không phải ai cũng dám hát. Đó cũng là tiếng hát rất ăn ý với thanh đồng Đinh Xuân Thiệu trong nhiều lần biểu diễn khác. Đây là một trong những tiết mục đặc sắc của Chầu văn Hải Phòng.

Trở lại với Liên hoan  hát Văn và hát Chầu văn Hải Phòng mở  rộng 2015 do Hội Văn nghệ dân gian tổ chức nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày giải phóng Hải Phòng vừa qua cho thấy sức hấp dẫn bất biến  của  làn điệu phú, dọc, cờn, xá qua những bài hát mà lời theo thể thơ lục bát, giữa vũ đạo và âm nhạc trong mỗi giá đồng. Những tiết mục này càng trở nên hấp dẫn bởi ngoài việc chuyển tải sự nối tiếp và sáng tạo, biến đổi và bảo lưu  vốn là những đặc trưng  nổi bật của nghệ thuật dân gian còn là đề cao vai trò của các nghệ nhân, thanh đồng, nghệ sĩ, diễn viên - những chủ thể văn hóa với tư cách là những gạch nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa quá khứ và tương lai trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Với 14 tiết  mục của các nghệ sĩ, nghệ nhân, thanh đồng Hải Phòng, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Quảng Ninh, Hưng Yên,… cuộc liên hoan trước hết nói lên tình cảm, trách nhiệm của  các thành viên tham gia.

ở dòng tiết mục thứ nhất là những bài hát Văn ca ngợi Đảng, Bác Hồ, quê hương đất nước được thể hiện đa dạng qua nhiều hình thức khác nhau. Có tiết mục được dàn múa phụ họa cùng hình ảnh nữ diễn viên chơi đàn nguyệt duyên dáng, lời hát đậm chất “văn” gợi mở không gian hội hè, mùa xuân rất hay như  Hội làng của Đoàn Chèo Hải Phòng. Bài Sắc xuân Hải Phòng văn chương mang tính “cổ động trực quan”, nhưng âm nhạc đã xóa đi cái sự không mượt mà trong  phần lời để đọng lại trong người xem dư âm hát Văn. Người xem cũng có dịp thưởng thức giọng hát Văn biên độ rộng của NSND Lương Duyên - Nguyên Giám đốc Nhà hát Chèo Hà Nam qua bài Bài ca đất nước dâng Người. Hoặc ca nương cũng có giọng hát Văn trong trẻo vang ấm là Thu Hằng (Hội VNDG Hải Phòng) với bài Vầng trăng nhớ Bác. Tiết mục múa hát Văn Nguyệt Du Cung bóng mẹ vẫn còn do NSUT Bích Thục và tốp múa CLB Chầu văn Nam Định mở ra những cảm thức tâm linh giữa Thánh Mẫu Liễu Hạnh với con người cũng như niềm tự hào về một vùng đất tín ngưỡng nổi tiếng trên đất Thành Nam.

ở dòng tiết mục thứ hai là các giá Chầu văn, Liên hoan đã quy tụ những cung văn hát hay, những tay  đàn giỏi nhưng theo cái cách “ thanh đồng nào thì cung văn ấy”. 20 giá chầu nội dung ca ngợi các nhân vật lịch sử, các bậc tiên thánh trong hệ thống thờ Mẫu của Việt Nam, trong đó có Tứ phủ chầu bà (Chầu đệ nhất, chầu đệ nhị,  Bát Nàn tướng quân), Ngũ vị tôn ông (Tứ phủ quan Hoàng như Quan lớn Triệu Tường), ông Hoàng Mười, Tứ phủ thánh cô, Tứ phủ thánh cậu… Bên cạnh kỹ thuật hát Văn, diễn biến trên sân khấu cũng cho thấy một vấn đề đáng chú ý. Đó là xuất hiện hai xu hướng thực hiện các giá đồng. Một là thanh đồng thực hiện giá chầu mà các nghi lễ gần như đưa nguyên si ở cửa đền, cửa phủ lên sân khấu như đều có hầu dâng, khai quang, ngự đồng… Hai là sân khấu  hóa các nghi lễ này, không có hầu dâng và cũng được khán giả vô cùng thích thú như Cô Đôi thượng ngàn của Nam Định. Các thanh đồng cũng đa dạng. Có người là thủ nhang các đền, phủ như Hoàng Gia Bổn, Thanh Hải, Phạm Hoàng Lưu, Đinh Xuân Thiệu (Hải Phòng), Phùng Vương Khánh Yến (Hà Nội), Trần Vũ Tiến (Quảng Ninh), Trần Văn áp (Hưng Yên)… Có người là nghệ sĩ chuyên nghiệp như NSND Lan Hương (Nhà hát Tuổi Trẻ Việt Nam) với giá  chầu Bà Đệ Nhị thượng ngàn, hoặc làm công  tác quản lý như  nghệ nhân thanh đồng Hoàng Tiến Hưng- Trưởng phòng tổ chức biểu diễn Nhà hát Chèo với các giá chầu Quan lớn Đệ Tam, Cô Đôi thượng ngàn…

Với sự tìm tòi phương thức phổ biến và tiếp cận nghệ thuật dân gian qua các liên hoan của đơn vị chuyên ngành nói chung và Hội VNDG Hải Phòng nói riêng cho thấy nhu cầu thưởng thức của công chúng với hát Văn và hát Chầu văn là có thực và ngày càng cao. Và chỉ ra cái hay, cái đẹp, sức hấp dẫn và cả cái khó khi thực hành, các giá đồng  hơn ai hết còn chính là những nghệ nhân, thanh đồng- “những người trong cuộc” đã qua thực tế trình diễn nhiều lần. ở góc độ này, Liên hoan ghi nhận sự nắm bắt kịp thời của Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ thẩm mỹ Thanh Hải Spa (Thanh Hải Spa) trong việc đồng tổ chức chương trình, trong việc chấp hành các quy định chung và cùng tạo điều kiện tốt đa để các nghệ nhân, thanh đồng yên tâm biểu diễn. Công ty này cũng đã phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa tín  ngưỡng Việt Nam (Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam)  tổ chức Tọa đàm Nghi lễ lên đồng Việt Nam. Bên cạnh các tư liệu dưới dạng đề cương về nghi lễ lên đồng mà Thanh Hải Spa khảo sát sơ bộ, các ý kiến của các nghệ nhân, thanh đồng đều liên hệ từ chính thực tế vừa diễn ra trên sân khấu của cuộc Liên hoan để rút ra những cái được và chưa được; trong đó có việc tự biến tấu quá đà trong trang phục, tùy tiện trong nghi thức lên đồng  đều là dấu hiệu xa rời cái gốc Chầu văn, cần phải chấn chỉnh nhằm bảo đảm sự nghiêm túc, cùng hướng tới mục đích tôn vinh đạo Mẫu Việt Nam.

Phương thức xã hội hóa có định hướng của Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng trong việc đưa hát Văn, Chầu văn ra công chúng, cần được phát huy. Song quan trọng hơn, là nhận thức đúng đắn của các chủ thể văn hóa – những nghệ nhân, thanh đồng, nghệ sĩ diễn viên không ngừng học hỏi, chắt lọc cái hay cái đẹp của những làn điệu hát Văn, nghi lễ Chầu văn. Đó cũng là thành công của Liên hoan hát Văn, Chầu văn  Hải Phòng mở rộng 2015. Bên cạnh  các nghệ nhân, thanh đồng, đến nay số người trong cộng đồng tham gia các lớp học đàn và hát Chầu văn đã tăng nhanh; trong đó nghệ nhân Nguyễn Văn Chính (Hội VNDG Hải Phòng)  truyền dạy chủ yếu cho hạt nhân văn hóa cơ sở. Các làn điệu cờn, xá, phú, dọc… nghệ thuật kết hợp giữa âm nhạc, vũ đạo, lời hát cũng như tìm hiểu về lịch sử các nhân vật trong hệ thống thờ Mẫu nói chung vẫn là mục tiêu hướng tới đối với những ai yêu thích hát Văn và hát Chầu văn. Riêng Hải Phòng, qua thời gian kiểm chứng đã có ít nhất 3 tiết mục đặc sắc có thể sử dụng để tuyên truyền văn hóa dân tộc Việt Nam ra thế giới đối ngoại là Ba giá chầu đồng một thời gắn với tên tuổi của nữ NSUT Hồng Minh, hát Văn Hội làng (Đoàn Chèo Hải Phòng) và Hầu Xá thượng (Đoàn Nghệ thuật Múa Rối). Đây cũng là kết quả của quá trình gạn đục khơi trong để tìm ra sản phẩm hát Văn và Chầu văn minh chứng cho sức hấp dẫn của loại hình nghệ thuật này./.

Anh Thơ

 
Khi “kẻ cơ hàn” chạy đua với “người giàu sang”

Cuộc thi nghệ thuật Ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc đợt I năm 2015 do Cục Nghệ thuật biểu diễn phối hợp với Hội Nhạc sĩ VN, Hội Nghệ sĩ Múa VN và Sở VHTTDL Thái Nguyên tổ chức đã quy tụ 17 đơn vị nghệ thuật, với gần 1000 nghệ sĩ, diễn viên tham gia.

Tuy nhiên, khi nhìn lại một cách thấu đáo diễn biến của cuộc thi, công chúng và đặc biệt là những nghệ sĩ tham gia cuộc thi đều khắc khoải nhiều nỗi băn khoăn, trăn trở bởi những điều bất cập và chưa hợp lý trong cuộc thi này.

Cuộc chiến không cân sức:

Có không ít người nhận định rằng, sự hội tụ đủ các dòng, các phong cách nghệ thuật, từ thể loại, hình thức bác học như opera, thính phòng hay kịch múa, thơ múa… cùng “chung sân” với những hình thức ca múa nhạc tổng hợp, ca nhạc nhẹ, acapella, jazz, hip hop, hay những tiết mục, tác phẩm múa nhỏ sẽ tạo nên sự phong phú, đa dạng, sinh động cho một cuộc thi… nhưng liệu có “gây khó” cho Ban giám khảo khi chấm một bài thi có thời lượng trên một giờ đồng hồ của một dòng nghệ thuật bác học với các chương trình ca múa nhạc tổng hợp của các đơn vị nghệ thuật khác.

Trong 17 đơn vị nghệ thuật tham gia cuộc thi thì có tới 16 đơn vị xây dựng chương trình nghệ thuật theo hình thức ca múa nhạc tổng hợp. Hầu hết các chương trình đều cố gắng biểu đạt những sắc thái riêng gắn với văn hóa vùng miền, dân tộc và nhiệm vụ đặc trưng của đơn vị mình.

Mỗi đoàn, mỗi đơn vị nghệ thuật “sở hữu” một thế mạnh, một nét độc đáo riêng, nhưng thử hỏi có cân sức hay không khi cùng trong cuộc thi mà một vở kịch múa lớn như “Khoảnh khắc bất tử” được Ban Tuyên giáo trung ương, Hội Nghệ sĩ múa Việt Nam đặt hàng, đầu tư kinh phí từ A đến Z (kịch bản, biên đạo, dàn dựng, công diễn...) đã từng nhận các giải thưởng của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, của Hội Nghệ sĩ múa VN,  của Bộ Quốc phòng, của Ban Tuyên giáo Trung ương lại được đem đi tranh tài, đua sức cùng với một chương trình nghệ thuật khác biệt hoàn toàn về phong cách như “Tình ngàn xanh” của Nhà hát Tuổi trẻ; hay “Yêu lắm Thái Bình quê tôi” của Đoàn Ca múa kịch Thái Bình! Có “ổn thỏa” hay không khi đặt những vở lớn như kịch múa, nhạc kịch cùng chung tiêu chí chấm điểm với các chương trình nghệ thuật ca múa nhạc tổng hợp của các đơn vị khác.

Cuộc chạy đua giữa “kẻ cơ hàn” với “người giàu sang”:

Tâm lí tất yếu của bất kì ai, bất kì đơn vị nghệ thuật nào khi tham gia cuộc thi cũng mong muốn mang về chiến thắng, cũng hi vọng đạt một thành quả nhất định.

Ngân sách, kinh phí Nhà nước cấp cho mỗi đơn vị đều có định mức rõ ràng, song khổ nỗi đơn vị nghệ thuật nào cũng muốn phô diễn sự bề thế, hoành tráng, nên nếu chỉ dựa vào nguồn kinh phí do Nhà nước rót xuống sẽ chẳng thể đủ. Bởi vậy, các đơn vị nghệ thuật, nhất là đội ngũ lãnh đạo các đơn vị đành phải chạy đôn, chạy đáo, huy động mọi nguồn lực từ Tỉnh, Bộ tư lệnh, Cục Chính trị đến các doanh nghiệp… hỗ trợ, đầu tư. 17 đơn vị nghệ thuật tham gia cuộc thi thì có tới 15 đoàn phải  nhờ tới sự giúp sức của đội ngũ biên đạo, nhạc sĩ cộng tác.

Ai cũng hiểu, Thái Nguyên dù có nỗ lực đến mấy cũng khó có thể tự phát huy, lan tỏa “Sắc hồng nơi gió ngàn” của đơn vị chủ nhà nếu thiếu sự dẫn dắt của  biên đạo múa – NSND Minh Thông và nhạc sĩ – NSƯT Mạnh Tiến…

Chỉ với tiềm năng, nội lực của mình như Đoàn Ca múa nhạc dân tộc tỉnh Sơn La dường như cũng không đủ sức để làm “Bừng sáng Tây Bắc” nếu thiếu đội ngũ biên đạo, nhạc sĩ có nghề như: NSƯT Kiều Lê, NSƯT Hiền Trang, Đức Trịnh, Mai Kiên, Xuân Phương, Đức Nghĩa...

Liệu rằng “Mắt tình Lào Cai” có tạo nên dấu ấn nghệ thuật nếu thiếu trợ thủ đắc lực là biên đạo múa - NSƯT Hữu Từ, Văn Hiền và nhạc sĩ - NSƯT Mạnh Tiến.

“Quê mình xứ Nghệ” hay “Về với Kỳ Cùng” của Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Nghệ An và Đoàn Nghệ thuật Ca múa kịch Lạng Sơn, nếu không có sự giúp sức của đội ngũ biên đạo, nhạc sĩ như: NSND Minh Thông, Văn Hiền, Trọng Đài, Vũ Duy Cương, Hồ Trọng Tuấn, NSƯT Mạnh Tiến liệu có “ghi điểm” trong cuộc thi.

Hai đoàn thuộc lực lượng vũ trang như Văn công Quân khu I và Văn công Bộ đội Biên phòng, dù nắm trong tay quân số hùng hậu, đồng đều cả về ca, múa và nhạc dường như cũng chưa đủ tự tin để làm nên chiến thắng nếu thiếu đi vai trò của đội ngũ nhạc sĩ An Thuyên, Hồ Trọng Tuấn, Xuân Thủy, Mai Kiên, Đức Tân, Đức Nghĩa và ê kíp  biên đạo múa: NGƯT Vĩnh Hiển, Thùy Chi, Văn Thành, NSƯT Kiều Lê, NSƯT Ngọc Bích, Ly Ly.

Ngay cả một đơn vị nghệ thuật có tên tuổi  như Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long, dù sở hữu một loạt nghệ sĩ “hàng sao” như: NSƯT Tấn Minh, NSƯT Hoàng Tú, ca sĩ Khánh Linh, Lô Thủy  cũng vẫn cần tới sự “chung tay, góp sức” của cả một ê kíp đội ngũ đạo diễn, biên đạo dàn dựng, hòa âm phối khí, thiết kế mĩ thuật tên tuổi: Nhạc sĩ Dương Cầm, Bông Mai, Trần Ly Ly, Hoàng Hà Tùng đặng mới làm nên chiến thắng chung cuộc.v.v...

Chúng ta rõ ràng không thể phủ nhận vai trò của đội ngũ sáng tạo, chỉ huy, dàn dựng chương trình nghệ thuật, nên chuyện đặt hàng, thuê mướn biên đạo, nhạc sĩ cũng là một thực trạng khó tránh khỏi của nhiều đơn vị nghệ thuật trước mỗi cuộc thi, hội diễn, liên hoan. Thực trạng này, Ban chỉ đạo, Ban tổ chức và bản thân các đoàn đều nhận thức rất rõ nhưng dường như đều khó bề tìm ra giải pháp hữu hiệu để tháo gỡ. Và câu chuyện các đoàn “chạy đua” trong cuộc mời biên đạo, nhạc sĩ và ê kíp cộng tác cũng không có gì lạ. Rồi chuyện một vài biên đạo, nhạc sĩ dường như “kiệt sức” trước mỗi kì Hội diễn, Liên hoan cũng là lẽ đương nhiên.

Song có một nghịch lí là khi đã tàn cuộc thi, trở về với nhiệm vụ chính trị thường nhật thì những tác phẩm được cho là hoành tráng, có chất lượng nghệ thuật cao, được đầu tư rất nhiều tiền bạc, công sức sáng tạo, dàn dựng, được Ban Giám khảo cuộc thi trao Huy chương vàng, bạc kia cũng đành xếp thành kỉ niệm, khó có cơ hội tiếp cận được với công chúng bởi một lẽ hết sức “đời thường” – không còn kinh phí để đi biểu diễn. Vâng! Làm sao đơn vị có đủ tiền bạc để trang trải cho một đội ngũ từ  40 đến 50 con người rong ruổi đi phục vụ nhân dân với đường sá xa xôi, chưa tính đến khoản “bồi dưỡng” biểu diễn mà chỉ riêng chuyện lo đi lại, cư trú dọc đường cho các nghệ sĩ, lo xe cộ chuyên chở trang thiết bị kĩ thuật, âm thanh – ánh sáng, đạo cụ kèm theo để phục vụ cho tác phẩm cũng đã là một “gánh nặng” khó có đơn vị nghệ thuật nào có thể cáng đáng nổi!

Ban Giám khảo trăn trở giữa lý và tình:

Sau nhiều lần tổ chức với các tên gọi: Hội diễn, Liên hoan, thì lần này Ban tổ chức lại triệu tập các đơn vị, các đoàn nghệ thuật tham gia với tên gọi: Cuộc thi Nghệ thuật Ca Múa Nhạc chuyên nghiệp toàn quốc.

Như vậy, có thể nói, đây là lần đầu tiên một “cuộc thi” nghệ thuật Ca Múa Nhạc chuyên nghiệp được tổ chức theo hình thức “thi thố” chứ không còn là một cuộc hội tụ, tập hợp mang tính chất vui vẻ như trước kia nữa.

Các đoàn nghệ thuật khi nhận được giấy mời tham dự và giấy triệu tập tham gia cuộc thi dường như cũng không thắc mắc gì nhiều về tên gọi này mà chỉ lơ mơ rằng “Thi” thì mang tính chất thi cử hơn là Liên hoan và Hội diễn.

Vậy là chúng ta có thể hiểu nôm na rằng Hội diễn là một cuộc tập trung nhau để cùng biểu diễn; còn Liên hoan là một cuộc tụ hội nhau để cùng vui.

Với cách hiểu như trên có thể xét thấy với Hội diễn, Liên hoan thì tính chất hội tụ, vui vẻ để xem, để nhìn nhau giữa các đoàn nghệ thuật và kèm theo đó quy chế tổ chức có thể không cần sự phân định rõ ràng, rành mạch giữa các hình thức, thể loại, phong cách nghệ thuật khác nhau. Thôi thì anh có gì anh trình diễn thứ đó cho tôi xem, chúng ta cùng tập trung nhau để vui vẻ, học hỏi nhau là chính.

Song lần này, dường như Ban tổ chức với ngụ ý tốt đẹp, là thoát khỏi sự cào bằng, vui vẻ, xuê xoa của một cuộc Hội diễn, Liên hoan để hướng đến một sự đổi thay, một sự bứt phá, tạo đường hướng phát triển vững bền cho nghệ thuật nước nhà, cầu một tương lai tươi sáng, rực rỡ hơn cho nghệ thuật ca múa nhạc chuyên nghiệp của đất nước mà lấy tên gọi “Cuộc thi” vì thế.

Và khi đã được gọi là “Cuộc thi”, có nghĩa là cần phải được tổ chức trên một quy định, tiêu chí rõ ràng; nhất là đối với một cuộc thi Ca múa nhạc chuyên nghiệp thì nhất thiết phải có một sự phân chia rõ ràng giữa các phong cách, hình thức, thể loại; tiêu chí chấm giải cũng cần phải thống nhất, minh bạch, có một barem cụ thể, chi tiết cho từng  hình thức, thể loại tham dự cuộc thi.

Hơn thế nữa, Ban giám khảo cũng phải được mời theo sở trường của những phong cách, hình thức, thể loại nghệ thuật tham gia thì mới mong có được một sự  nhìn nhận, đánh giá khách quan.

Tuy nhiên, điều đáng nói là khi được thay đổi hình thức với tên gọi “Cuộc thi” thì nội dung và tính chất, tiêu chí chấm – xét giải thưởng, quy chế tổ chức hầu như không có gì mới so với các Hội diễn, Liên hoan trước đây.

Và cũng bởi sự “không mới” đó nên những người ngồi ghế Ban Giám khảo dường như cũng miễn cưỡng bị đặt vào thế “khó xử” khi ngoài chức trách, nhiệm vụ chấm xét chương trình, tác phẩm trong buổi diễn thi, họ còn phải cân – đong – đo  – đếm giữa cái lí với cái tình, giữa những thuận lợi và khó khăn, giữa những đơn vị nghệ thuật trung ương và địa phương, giữa những yếu tố khách quan và chủ quan xảy đến với tác phẩm.

Có lẽ cũng vì những yếu tố khách quan không mong muốn trên mà vở Nhạc kịch “Cô Sao” (Kịch bản & Âm nhạc: Đỗ Nhuận; Chỉ huy dàn nhạc: Đỗ Hồng Quân; Chỉ đạo nghệ thuật/ Biên đạo Múa: Phạm Anh Phương) nghiễm nhiên được Ban Giám khảo – Ban tổ chức trao “giải đặc biệt”!.

Xem vở diễn “Cô Sao” tại Cuộc thi Ca múa nhạc chuyên nghiệp đợt 1 – 2015, có lẽ một khán giả thông thường cũng khó lòng thẩm thấu được hết âm thanh, chất giọng của các nghệ sĩ tại buổi biểu diễn này bởi sự không đạt chuẩn của các thiết bị âm thanh dành cho vở diễn. Trớ trêu thay, ngay cả ông trời cũng không chiều lòng người, mà “vùi dập”, “tố cáo”  sự lỗi thời của hệ thống cách âm, sự không phù hợp của một vở nhạc kịch trên sân khấu Trung tâm văn  hóa, bởi đúng vào thời điểm mà “Cô Sao” bắt đầu mở màn thì tiếng rào rào của trận mưa dông xối xả đổ xuống mái vòm Trung tâm văn hóa kèm theo tiếng sấm chớp đã “át” hết những thanh âm tinh túy của một vở nhạc kịch kinh điển.

Có lẽ nhiều nghệ sĩ, diễn viên của Nhà hát Nhạc vũ kịch hôm đó không tránh khỏi tâm trạng thất vọng, buồn bã sau buổi diễn; nhưng chính họ cũng cảm thấy “bất ngờ” khi cái tên vở diễn được xướng lên ở hạng mục giải đặc biệt vào đêm bế mạc cuộc thi. Nếu xét “Cô Sao” từ lần ra mắt đầu tiên – 1965, và những lần sau với các phiên bản dàn dựng mới năm 1976, 2012, 2014 và mới đây tại Nhà hát Lớn Hà Nội tối 12/5/2015 – ngay trước khi lên đường tham gia cuộc thi tại Thái Nguyên thì không ai có thể phủ nhận sự chuyên nghiệp của dàn nhạc giao hưởng và kĩ thuật, tài năng vượt trội của các nghệ sĩ, diễn viên tham gia vở diễn. Hoặc xét về quy mô và giá trị nhân văn, giá trị lịch sử, cách mạng vượt thời gian của vở diễn  cũng khó có tác phẩm nhạc kịch nào của Việt Nam vượt được “Cô Sao”.

Trở lại với sân khấu của Trung tâm Văn hóa Thái Nguyên, nếu vở nhạc kịch “Cô Sao” chỉ được “chấm điểm” tại cuộc thi mà không xét đến các yếu tố trước đó của vở diễn thì liệu “Cô Sao” có được đứng trên bục danh dự hay không, có lẽ bất cứ một khán giả hay đồng nghiệp nào có mặt tại buổi diễn đêm đó cũng tự có câu trả lời chuẩn xác.

Chúng ta đều hiểu, tư duy và thẩm mĩ về cái đẹp của nghệ thuật ở mỗi thế hệ và thời đại mỗi khác; quan niệm, phong cách của người “cầm cân - nảy mực” cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cách nhìn nhận, đánh giá tác phẩm nghệ thuật. Bởi vậy, dù có lí trí, khách quan đến mấy thì một nghệ sĩ, nhạc sĩ hay một nhà nghệ thuật uy tín, tài danh mà tên tuổi gắn với dòng nghệ thuật dân gian, dân tộc lại đi nhìn nhận, đánh giá tác phẩm ở dòng nghệ thuật hiện đại, đương đại hoặc ngược lại cũng sẽ khó lòng tránh khỏi sự phiến diện, chủ quan khi hạ bút phê điểm.

Tham gia thi chỉ với một mục đích “tích điểm”:

Trong thời gian gần đây, các cuộc Hội diễn, Liên hoan được tổ chức với mục đích, ý nghĩa nhìn nhận, đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đoàn để định hướng phát triển cho các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp trong toàn quốc, nhưng dường như ai cũng ngầm hiểu đằng sau những mục đích gặp gỡ, học hỏi, giao lưu, tiếp biến kia thì mục đích tham gia để các biên đạo, tác giả, diễn viên tích lũy huy chương – làm điều kiện cần và đủ cho việc xét tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú và các giải thưởng của Nhà nước mới là nhiệm vụ được các nghệ sĩ đề cao.

Cho đến nay, ở nước ta, mỗi đoàn, mỗi đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp của từng vùng, miền, địa phương, trung ương, hay lực lượng vũ trang  thì hoạt động nghệ thuật luôn được gắn với nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước… vì thế việc xây dựng chương trình, tiết mục nghệ thuật phục vụ nhân dân, đất nước cũng là nghĩa vụ của các đơn vị nghệ thuật công lập. Nên có thể nói, dù có tham gia Hội diễn, Liên hoan, hay Cuộc thi ca múa nhạc chuyên nghiệp hay không, đơn vị nghệ thuật đó vẫn phải đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ biểu diễn mà cấp trên giao.

Nói như vậy, không có nghĩa là chúng ta phủ định vai trò, mục đích của cuộc thi chuyên nghiệp; mà ngược lại nó rất cần phải được tổ chức, vì đó là nơi các nghệ sĩ có thể tự soi rọi được mình rõ nhất, và cũng là dịp để các nhà chỉ đạo, quản lí nghệ thuật có thể nhìn nhận, đánh giá được phong cách và phương hướng phát triển nghệ thuật của các đơn vị một cách thấu đáo nhất.

Tuy nhiên, phải làm sao để kết hợp hài hòa, hợp lí giữa mục đích của cuộc thi với quyền lợi của các nghệ sĩ và nhiệm vụ của đơn vị nghệ thuật mà không gây lãng phí tiền bạc và công sức sáng tạo cũng là điều đòi hỏi nhà tổ chức cần lưu tâm, soi xét.

Rất mong rằng, với cách nhìn nhận cởi mở, khách quan, Ban tổ chức sẽ có những giải pháp hữu hiệu, nhằm phát huy ý nghĩa và mục đích tốt đẹp của cuộc thi, để thi cử không còn là một cuộc chiến không cân sức, không còn là một cuộc chạy đua hao tổn tiền bạc, sức lực. Hi vọng Cuộc thi Ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc, toàn quân sẽ là một địa chỉ tin cậy cho các nghệ sĩ gửi gắm tâm huyết và tình yêu nghệ thuật cháy bỏng, là nơi để các nghệ sĩ được phát huy năng lực, được tôn vinh tài năng một cách chân thực và công minh nhất./.

THANH HOA (Hà Nội)

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

 

Tạp chí Cửa Biển số 199,200 (1,2/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 198 (12/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)