Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 31 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Bông hoa nở giữa mùa xuân

Câu nói “Lão lai tài tận” (Khi tuổi già đến thì tài năng, sức sáng tạo cũng hết) xem ra không đúng với nhà giáo, nhà văn Vũ Hoàng Lâm, ở tuổi 70 ông vẫn đi khỏe, viết khỏe và khi xấp xỉ bát tuần, ông lại cho ra mắt bạn đọc đầu sách thứ 16: Tập bút ký, truyện ngắn “Mùa xuân đến sớm” *.

Chỉ một điều ấy thôi cũng đủ nói lên sức làm việc bền bỉ, dẻo dai của ông và là điều đáng nể, đáng trân trọng lắm rồi.

Đến với văn chương khá sớm - là Hội viên Hội Văn học nghệ thuật (VHNT) Hải Phòng từ nhiệm kì đầu tiên (1964-1972 ), Vũ Hoàng Lâm viết nhiều thể loại: Ký, truyện ngắn, nghiên cứu phê bình, thơ… Nhưng theo cảm nhận của tôi, ông sở trường thể ký, nhất là mảng đề tài giáo dục - học đường.

Có người cho rằng trong văn học, ký là thể loại viết tay trái. Đó là quan niệm sai lầm. Bởi để có một tác phẩm ký hay cũng rất cần đến cây bút tài năng. Tác giả không chỉ cần có sự hiểu biết tinh tường, kỹ lưỡng về vốn sống, có kho ngôn ngữ giầu có mà còn phải “cao tay” trong lựa chọn chi tiết, cách thể hiện… Nhà văn Nguyễn Tuân với các tập ký “Sông Đà”, “Hà Nội đánh Mỹ giỏi” chẳng phải là những tác phẩm để đời đó sao?.


Vũ Hoàng Lâm có khả năng rất nhạy bén đưa hơi thở nóng hổi cuộc sống vào trang viết. Chỉ cần một cuộc trò chuyện ngắn ngủi, rồi quan sát nhân vật, đồ vật một gia đình nào đó, một khuôn viên nhà máy, xí nghiệp, trường học  nào đó, nhìn cảnh nhộn nhịp lên xuống ở một bến phà nào đó, ông đã có thể nắm bắt được hồn cốt của cảnh, của người, của sự việc rồi nhào nặn, gọt giũa, sáng tạo nên tác phẩm gửi đến người đọc.


Sứ mệnh cao cả của văn học là hiểu biết,  phản ảnh, khám phá và sáng tạo về số phận con người. Nhà văn Nguyên Hồng đã có lần tâm sự với một thầy giáo dạy văn: “Ngay cả cái trường của thầy cũng nhiều cảnh, nhiều người, nhiều việc đáng viết lắm. Bao nhiêu cuộc đời, bao nhiêu số phận, bao nhiêu tình huống, bao nhiêu nụ cười, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu cái cao thượng và thấp hèn đằng sau bảng đen, phấn trắng kia?...”.


Cũng như những cuốn sách trước, ở tập “Mùa xuân đến sớm” này, số phận con người thông qua các nhân vật của Vũ Hoàng Lâm không phải là lớp người dưới đáy xã hội bị vùi dập, đày đọa dẫn đến bi kịch thảm thương. Họ là những con người trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt, khó khăn với bản lĩnh vững vàng, nghị lực phi thường và tình yêu tha thiết cuộc sống đã vươn lên mạnh mẽ để rồi trở thành những nhà lãnh đạo tài ba, những nhà quản lý nổi tiếng, những doanh nhân thành đạt, những nhà giáo giỏi về chuyên môn, tận tụy với nghề, nhân cách cao cả, hiến dâng cả cuộc đời cho “sự nghiệp trồng người ”.


Đó là nhà giáo Nguyễn Cảnh Toàn, với trí thông minh bẩm sinh, trong hoàn cảnh kháng chiến đầy gian khó, bằng con đường tự học đã trở thành nhà toán học kiệt xuất, một Hiệu trưởng Đại học Sư phạm, một Thứ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo và bằng công trình nghiên cứu khoa học của mình được tôn vinh là “Viện sỹ danh nhân trí tuệ lớn nhất thế kỷ XXI”. Ông cũng là người đi tiên phong đặt ra những vấn đề cốt lõi của ngành giáo dục ào tạo như: Đề cao tính tự học, đưa nghiên cứu khoa học vào nhà trường, tổ chức đào tạo nghiên cứu sinh trong nước, xây dựng hệ thống chương trình giáo dục quốc gia… từ 30 - 40 năm trước mà mãi đến hôm nay chúng ta mới bắt đầu bàn thảo.


Đó là nhà giáo Trần Hữu Nghị, quê Quảng Ngãi từng gánh đá làm đường sắt, rồi học trung cấp giao thông, nhờ bản lĩnh nghị lực đã phấn đấu trở thành giáo sư tiến sỹ và là người sáng lập trường Đại học Dân lập Hải Phòng. Trải bao thăng trầm ông đã đưa nhà trường thành cơ sở đào tạo danh tiếng.


Đó là nhà giáo Đoàn Thị Minh Thân xuất thân từ một gia đình buôn bán nhỏ ở thị xã Thái Nguyên, nhờ cần mẫn, ham học, đã vượt qua bao gian khổ, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, rồi trở thành Hiệu trưởng trường THPT Thái Phiên, bằng tài năng quản lý và đức độ, tấm lòng nhân hậu… đã đưa nhà trường thành điểm sáng của ngành giáo dục.


Đó là nguyên Phó Thủ tướng, nguyên Bí thư Thành ủy Hải Phòng Đoàn Duy Thành, người mà mỗi khi nhắc đến ông ta chỉ mới hiểu đó là một con người tư duy mới mẻ, táo bạo, tầm nhìn xa rộng, cách làm việc khoa học, thiết thực, hiệu quả, từng dẫn dắt thành phố Cảng “Đào sông lấn biển dựng cơ đồ”, nay qua Vũ Hoàng Lâm ta mới biết thêm về ông. Trong những năm tháng tù đày ở Côn Đảo, ông từng bị tra tấn đến dập phổi rồi bị vứt xuống nhà xác, may nhờ một bạn tù đã cứu và đưa ông từ cõi chết trở về.


Đó là anh thợ chữa xe tên Hiến, thân phận người làm thuê nhưng nhờ giỏi tay nghề, đạo đức trong sáng, đã lọt vào đôi mắt xanh của cô Nguyệt Hằng đang ở  vị trí bà chủ. Tình yêu nẩy nở, rồi cả hai chung tay vun đắp hạnh phúc và gây dựng sự nghiệp...


Vũ Hoàng Lâm là người cầm bút lâu năm. Bằng vốn học vấn và sự trải nghiệm nghề nghiệp, trang viết của ông khá già dặn. Viết về mảng giáo dục học đường rất khó. Bởi nơi đây ít có những xung đột dữ dội, những tình huống gay cấn, những thân phận khốn cùng vì thiếu miếng cơm manh áo. Mâu thuẫn diễn ra lặng lẽ, âm ỉ như mạch ngầm mà chỉ những con mắt tinh đời mới nhìn thấy được. Chính vì thế ở đề tài này số tác phẩm thành công không nhiều. Vũ Hoàng Lâm đã khéo lựa chọn những tình tiết, gài vào những câu văn hấp dẫn để tác phẩm tránh được sự khô khan, sơ lược. Cậu học trò Nguyễn Cảnh Toàn nhìn vào đâu cũng thấy chữ M ( chữ cái đầu của từ Maths: toán học ), mở lòng bàn tay ra thấy đường nét hình chữ M, tần mần lấy mực tô lại với “lòng tin chắc chắn đó là số phận của đời mình” là chi tiết hay. Còn đây là cảm nhận khi lần đầu gặp Nguyên Bí thư Thành ủy Hải Phòng: “Lần đầu tiếp xúc với anh, tôi thật bất ngờ khi gặp một Đoàn Duy Thành với tầm vóc lớn hơn hình ảnh của anh mà tôi hình dung trước đó” là câu văn hàm súc, đắt giá. Và đây nữa, vóc dáng của tiến sỹ Trần Thị Mai, người bạn đời, người làm bệ đỡ, góp phần làm nên sự nghiệp của giáo sư tiến sỹ, nhà giáo ưu tú Trần Hữu Nghị: “ Dáng người bà mảnh mai, nhưng là cái mảnh mai của tia nắng sớm, mang theo niềm hy vọng cho gia đình; cái mảnh mai của ngọn lửa trong ngọn đèn đêm đông mang theo vẻ đầm ấm cho cuộc sống; và là cái mảnh mai của chiếc neo con tầu sự nghiệp của giáo sư…”. Những câu  như thế không hiếm trong trang viết của Vũ Hoàng Lâm.


Chất văn Vũ Hoàng Lâm nhẹ nhàng, dung dị pha lẫn chuẩn mực như chính con người ông vậy. Tình yêu trong trang văn ông không có những cảnh suồng sã, lả lơi quá đà như vẫn thường thấy ở nhiều cây bút hiện nay, kể cả những cây bút đã thành danh. Cũng không có những lời thoại bỗ bã, bốp chát; những từ ngữ mạnh mẽ, thô mộc trong câu văn. Đó là ưu điểm nhưng cũng lại là nhược điểm người đọc dễ nhận ra khi đọc ông. Bởi trong văn chương, nhiều khi bên cạnh sự trang nhã, chỉn chu, cũng cần những lời bình sắc sảo, những tình tiết diễn tả tính cách nhân vật  độc đáo, những ngôn từ xù xì, góc cạnh như cuộc đời vốn có.


Cũng cần nói thêm, trong một số tác phẩm ký và truyện ngắn, Vũ Hoàng Lâm chưa làm chủ được ngòi bút, dẫn đến sa đà, dàn trải, chi tiết phụ lấn át chủ đề chính, tác phẩm giảm đi sức lôi cuốn, hấp dẫn. Chẳng hạn đoạn kể tình yêu của cô giáo Thân (trang 43), đoạn kể về cuộc thanh tra và giải quyết vấn đề nội bộ nhà trường (trang 91, 92) dài quá mức cần thiết làm loãng bài ký, gây cảm giác nhạt.


Lại nữa, đây đó trong trang văn, thi thoảng còn những hạt sạn. Ví dụ câu: “Quan niệm rằng muốn dạy lên đại học thì phải nghiên cứu khoa học theo hướng TIẾN CÔNG” (trang 26). “Theo ĐỀ NGHỊ của anh, cô gái mặc chiếc áo màu xanh, chít chiếc khăn đỏ….” (trang 129). Còn nhớ, một lần anh và tôi cùng dự Trại sáng tác, thầy Nguyên Hồng có nhắc: “Đưa ngôn ngữ hành chính, báo chí vào  văn chương là điều tối kỵ”. Hay như câu: “Không khí có vẻ căng.” (trang 134); “Cái phố ngắn làm gì tìm chẳng thấy” (trang144). Nhà văn Tô Hoài từng tủm tỉm bình rằng: Đó những câu văn thuộc dạng vụng và gầy. Khó có thể đạt đến sự hoàn mỹ trong văn chương. Nhưng cứ tiếc, giá như anh chăm chút, tỉa tót kỹ lưỡng thêm thì tác phẩm sẽ bớt  đi những thiếu sót không đáng có.


Tuy nhiên, phải khẳng định “Mùa xuân đến sớm” là tác phẩm “dễ đọc” và “đáng đọc”. Vũ Hoàng Lâm đã góp một bông hoa nở giữa Mùa xuân đến sớm trong rừng văn chương đất Cảng như tên cuốn sách mà ông chọn đặt./.

Hải Phòng 5/2015

Đinh Quyền

* Tập bút ký, truyện ngắn của Vũ Hoàng Lâm, NXB Hải Phòng 2014

 
Suy nghĩ về Múa đương đại Việt Nam từ sau thời kỳ đổi mới 1986

Vào những năm 80 của thế kỉ trước, nghệ thuật Múa chuyên nghiệp nước ta đang đà khởi sắc! Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), các đoàn nghệ thuật ở miền Bắc lần lượt mang những chương trình chọn lọc, đặc sắc nhất vào biểu diễn phục vụ ở các vùng mới giải phóng, tạo nên một không khí hào hứng, phấn khởi, xua đi những nỗi lo âu, hoang mang, nghi ngại của nhiều người dân sống trong chế độ cũ.


Lần đầu tiên được “mắt thấy, tai nghe” những tác phẩm Ca Múa Nhạc đầy sức sống, giàu màu sắc nghệ thuật độc đáo của các dân tộc Việt Nam, nhất là những điệu múa có sức hút, hấp dẫn người xem ở khu vực phía Nam hầu như trước đây rất hiếm được xuất hiện trên sân khấu chuyên nghiệp. Có khán giả đã theo đoàn để xem đi, xem lại nhiều lần một chương trình diễn và không ngớt lời khen ngợi các anh, các chị múa hay, múa đẹp quá rồi sau đó đã tự nguyện đi theo “nghiệp múa” để trở thành một diễn viên múa chuyên nghiệp.


Nhiều tỉnh, thành phố phía Nam đã nhanh chóng thành lập Đoàn Ca Múa Nhạc chuyên nghiệp và đến đầu thập niên 80, con số này trên toàn quốc đã lên tới gần 100 đơn vị! Sau những ngày vui chiến thắng đó, các biên đạo múa đã bắt tay dàn dựng nhiều chương trình, tiết mục múa mới. Hội diễn Ca Múa Nhạc chuyên nghiệp toàn quốc và Cuộc thi Đơn ca – Độc tấu – Múa ít người do Cục Âm nhạc và Múa (Nay là Cục Nghệ thuật biểu diễn) tổ chức năm 1981 đã xuất hiện nhiều tác phẩm múa mới và vinh danh tên tuổi của các biên đạo gạo cội như NSND Thái Ly, Phùng Thị Nhạn, Đặng Hùng, Đoàn Long, Đỗ Minh Tiến, Xuân Định, Trần Minh, Y Brơm, Nguyễn Thị Hiển, Tô Nguyệt Nga, Lê Ngọc Canh, Lê Khình, Công Nhạc, Vũ Hoài…; Các NSƯT Kim Tiến, Lệ Cung, Trần Đình Quỳ, Trần Phú, Thanh Hùng, Trọng Lanh, Hoàng Hải, Vương Thào, Lò Minh Khùm… Đặc biệt, là một sự kiện (mà đến nay khó có thể lặp lại) là liên tục trong 3 năm từ 1983 đến 1985 Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam với sự giúp đỡ của NSND Cộng hòa Liên bang Nga – Chuyên gia biên đạo múa M.Kapxtanat đã dàn dựng 4 vở ballet nổi tiếng thế giới là “Cô tiểu thư và tên du đãng” (nguyên văn là Huligân – tên cao bồi) âm nhạc: Đ.Sôtxtacôvích, biên đạo: K.Bôiarxk); “Giden” (A.A Đan – Gi.Perro); “Xpactac” (A.Khasaturian với bản dựng của biên đạo NSND Liên Xô L.Iacốpxơn) và Hồ Thiên Nga (P.TChaikốpxki với bản dựng của M.Pêtipa & A.Ivanốp). Những đêm diễn ballet tuyệt vời đã mang lại cảm hứng cho người xem, khẳng định vị trí của Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam và là bệ phóng cho các nghệ sĩ tài năng của bộ môn nghệ thuật này như các NSND Ngô Kiều Ngân, Hà Thế Dũng, Phạm Anh Phương…; các NSƯT Trần Văn Hải, Trần Ngọc Hiển, Lê An, Trần Lê Vân, Thúy Hạnh, Bùi Thục Anh v.v…


Những tưởng rồi đây sẽ là những ngày “ăn nên, làm ra” của ngành Múa thì từ năm 1986 xã hội nước ta bước vào thời kì đổi mới! Cơ chế, chính sách mới khiến các ngành nghề văn hóa  thể thao, nhất là các bộ môn nghệ thuật biểu diễn gặp nhiều khó khăn. Trước hết, việc xóa bỏ bao cấp với một số đơn vị đã gây nên sự xáo trộn đáng kể. Không có kinh phí xây dựng chương trình, tiết mục mới; quân số biên chế giảm, các đơn vị đi lưu diễn không thể đưa đội ngũ hoành tráng như trước nữa. Những tiết mục múa tầm cỡ, đông người không còn phù hợp với các đêm diễn… một số địa phương đã nhanh chóng giải thể các đơn vị ca múa nhạc hoặc sáp nhập với các đơn vị, bộ môn khác thành “Đoàn Nghệ thuật tổng hợp, tạp kĩ…” tìm đất “dụng võ” cho các diễn viên đa năng, sam bán! Để tồn tại nhiều “chủ trương” năng động đã phải tìm mọi cách biến báo tìm kế sách hoạt động. Không ít biên đạo, diễn viên tài năng đã phải sớm bỏ nghề và khẩu hiệu quen thuộc chẳng lấy gì hay ho lắm “Đổi mới hay là chết!” tự nhiên trở thành câu nói cửa miệng của nhiều nhà “cầm quân”! Nói thì vậy, nhưng Múa đổi mới thế nào đây? Trước hết, các nhà chỉ đạo đã “khuyên” giới biên đạo, sáng tác hãy tạm rời bỏ “tháp ngà”, cố tìm tòi, dàn dựng những tiết .mục hấp dẫn, ăn khách và điều cốt yếu là “càng ít diễn viên tham gia càng tốt!”. Khuyến khích các tác giả tìm đến cái “mới”, “lạ” của nước ngoài với phương châm “nhanh, nhiều, tốt, rẻ”… Tuy vậy, trong thời gian đầu cho tới đầu thập niên 90 hầu như sân khấu Múa vẫn vắng bóng những tác phẩm mới và đó là giai đoạn “ảm đạm”, cầm chừng nhất của ngành Múa Việt Nam! Cũng trong thời gian này có một sự kiện đã gây tác động không nhỏ tới bức tranh Múa của nước ta, đó là các chương trình múa đương đại của nữ Việt kiều Easola Thủy và đoàn ballet Phương Bắc Ôtxtralia của biên đạo Chéryl Stock.


Được sự chấp thuận của các nhà quản lí văn hóa, Easola Thủy đã về Việt Nam tổ chức, dàn dựng các chương trình gọi là Múa đương đại như “Hạn hán và cơn mưa”; “Thế đấy! thế đấy!”… Ngay từ đầu, sau khi đi lưu diễn ở châu Âu về, vở “Hạn hán và cơn mưa” đã gây nên những dư luận trái chiểu. Không ít người ủng hộ, cho đó là mới lạ và cần thiết cho sự đổi mới trong nghệ thuật Múa hiện nay! Trái lại, đa số ý kiến không tán thành bởi đây không phải là Múa. Diễn viên thực hiện hoàn toàn là các bà, các chị ở nông thôn Thái Bình quanh năm ngày tháng gắn bó với ruộng đồng, xa lạ với các bộ môn nghệ thuật biểu diễn, nhất là múa đương đại. Tác giả đã bày cho những diễn viên bất đắc dĩ này những động tác, luật động hết sức đơn giản, đời thường, đi lên, đi xuống, quay ngang, quay dọc chậm rãi, vật vờ như “ma trơi”, mặt mũi lạnh lẽo, vô cảm. Hoạt động hơn cả chỉ là cậu Cóc do một chàng trai thủ vai, nhưng cũng chỉ mấy động tác “nhảy cóc”, vung tay, vung chân và nhìn ngang, nhìn ngửa mà thôi. Toàn vở diễn không thấy được đặc thù của nghệ thuật Múa như tính cách điệu, ước lệ, ẩn dụ… người xem không hiểu tác giả muốn nói gì? Có một biên đạo trẻ đã thẳng thừng nói: “Về nội dung vở diễn khi được hỏi đa phần các khán giả đều có chung nhận xét không hiểu vở diễn muốn nói điều gì? Giống như những kẻ điên, như ma hiện hồn và nhiều người nghi ngờ vở diễn của Easola Thủy có dụng ý xấu, nhằm bôi nhọ danh dự truyền thống, bản chất tốt của người Việt Nam, đất nước Việt Nam”.


Vậy mà, chẳng hiểu tác giả đã đi bằng cửa nào để đoàn được mang phiên hiệu “Đoàn nghệ thuật Múa đương đại Việt Nam!” và liên tục “mang chuông đi đấm nước người”. Ngay cả một thành viên trong đoàn là nhạc công chuyên nghiệp của Đoàn Chèo Thái Bình cũng phải bức xúc khi kể lại với chúng tôi về chuyến đi Pháp và nói rằng đây không thể là đoàn nghệ thuật đại diện cho Việt Nam, không phải là nghệ thuật dân gian dân tộc mà cũng chẳng phải là múa đương đại Việt Nam, rồi đề nghị chúng tôi giữ kín câu chuyện sau khi buông ra mấy câu tự thán: “Kêu làm chi, nói làm chi! Thôi đành ngậm miệng để đi nước ngoài!”


Sau chuyến đi đầu tiên của “Hạn hán và cơn mưa” trở về, Đoàn cũng tổ chức báo cáo tại Nhà hát Cải lương Việt Nam ở Quỳnh Mai là chương trình đã “thành công rực rỡ”(!), được khán giả bạn hoan nghênh, đánh giá cao! Nhưng ngay lập tức cũng đã có nhiều ý kiến phản đề. Đó là phát biểu của nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Di Niên (khi đó là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước ta tại Cộng hòa Pháp). Ông nói rằng khi đoàn sang diễn tôi cũng đi xem và do bận rộn công việc đi muộn tôi đã ngồi ở phía sau rất ngạc nhiên khi thấy khán giả có vẻ ngơ ngác, lạnh nhạt và bản thân tôi cũng thấy đó không phải là nghệ thuật đặc trưng của Việt Nam. Vở diễn chưa thể hiện được tâm hồn, tình cảm của con người Việt Nam và tôi đã lặng lẽ ra về giữa chừng! Bà Tôn Nữ Thị Ninh thành viên của Đại sứ quán nước ta tại Pháp cũng nói mặc dù không am hiểu nhiều về nghệ thuật Múa nhưng chắc chắn đây không thể là Múa đương đại Việt Nam! Một số người làm công tác lí luận phê bình Múa cũng đã có những phản ứng song những tiếng nói đó “không có trọng lượng” không được sự lưu ý của các quan chức thẩm định! Thể hiện rõ ràng nhất là chương trình tiếp sau đó, vở “Thế đấy, Thế đấy!” được dàn dựng cho đội ngũ diễn viên Chèo, Tuồng ở Hà Nội đã có buổi tổng duyệt kín đáo, bí mật tại một nhà kho Hợp tác xã nông nghiệp khu vực Nhổn, huyện Từ Liêm và cũng chỉ có mặt các quan chức, còn các chuyên viên của phòng nghệ thuật Cục Âm nhạc và Múa – cơ quan thẩm định cũng không được tham dự!


Một kết quả thực tế, hiện hữu nhất là mặc dù không được tham dự! Có xu thế “hướng ngoại”, muốn xem, học tập phong cách, thủ pháp dàn dựng biểu diễn, sáng tác của Múa hiện đại nước ngoài để “cách tân” cho các tác phẩm mới cũng không thể “tiêu hóa” được các vở của EaSola và chẳng mấy ai quan tâm đến những sản phẩm gọi là Múa đương đại Việt Nam đó nữa.
Một vài năm sau, đoàn ballet Phương Bắc Ôxtralia sang lưu diễn ở nước ta với chương trình “Những du khách qua miền đất lạ” – Chương trình ngay lập tức đã thu hút được sự chú ý của người xem, nhất là các khán giả trẻ. Tính chuyên nghiệp và kĩ thuật, kĩ xảo của các diễn viên đã thuyết phục được nhiều diễn viên, biên đạo múa trẻ. Chúng ta quan tâm, suy nghĩ, tính toán cho “đường đi, nước bước” của mình. Ngay sau đó, bà Chéryl Stok cũng có ý định chọn Việt Nam là nơi thực tập để hoàn thành luận văn tiến sĩ của mình và cho đoàn lưu lại một thời gian để cộng tác với Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam dàn dựng một chương trình mới “Em, người con gái Việt Nam” rồi đưa đoàn múa sang biểu diễn giao lưu ở Ôxtralia và nhận một số biên đạo, nghệ sĩ của Nhà hát sang tập huấn, tu nghiệp về nghệ thuật Múa đương đại.


Tiếp sau đó, các đoàn nghệ thuật Múa đương đại của châu Âu như Pháp, Bỉ, Thụy Điển, rồi Hồng Kông… cũng luân phiên vào lưu diễn ở nước ta tìm địa bàn mới và góp phần phát triển dòng nghệ thuật Múa đương đại trên đất Việt.


Từ quá trình tìm hiểu học tập, áp dụng… dần dần bộ môn Múa đương đại đã nhanh chóng phát triển thành bộ môn độc lập ở các trường Múa chuyên nghiệp chính qui ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội… Nhiều biên đạo đã trưởng thành và chọn phương pháp, phong cách sáng tác múa đương đại làm sở trường của mình.


Phần lớn những tác phẩm Múa đương đại thuở ban đầu chưa có phong cách riêng, thường là “bổn cũ soạn lại”, máy móc dàn dựng theo các tác phẩm, tiết mục của nước ngoài. Diễn viên thể hiện lạnh lùng, vô cảm; động tác, luật động đôi khi như các rô bốt, tùy tiện vào ra, “lăn đùng, ngã ngửa”, “giẫy đành đạch” vô tội vạ… trang phục phần lớn sử dụng hai màu đen trắng vật vờ như những bóng ma… dường như “tiêu chí” chung nhất chỉ là sử dụng những kĩ thuật mới, lạ cố để thu hút khán giả mà ít chú ý đến nội dung và càng xa rời chức năng giáo dục… Phải chăng chính vì thế mà vẫn còn nhiều người “dị ứng” với Múa đương đại và chắc chắn để giải quyết được điều này vẫn còn là vấn đề thời gian cùng với sự quyết tâm, lòng yêu nghề thực sự của những người đi theo nghệ thuật Múa đương đại.


Dần dần Múa đương đại cũng đã tìm được chỗ đứng trong nghệ thuật Múa ở nước ta. Có nhiều tác phẩm đã thể hiện được tâm hồn, tình cảm, phong tục, tập quán… của con người Việt Nam.


Xem các tác phẩm đó khán giả cũng đã phải thốt lên đây mới là Múa đương đại Việt Nam.
Trong một số Liên hoan, Hội diễn Múa gần đây cũng đã có tác phẩm Múa được Huy chương Vàng, Bạc, được giải thưởng cao và những biên đạo Trần Ly Ly, Nguyễn Hồng Phong, Văn Hiền, Cao Đức Toàn, Tấn Lộc, Ngô Thanh Phương, Phúc Hùng v.v… cũng đã có được vị trí nhất định trong hàng ngũ biên đạo Múa nước ta.


Vấn đề đặt ra là dù sáng tác theo phong cách nào thì người biên đạo cũng phải tỉnh táo tiếp thu, tìm tòi để tìm ra, định hướng cho con đường đi của mình. Phải phấn đấu để có được những tác phẩm thể hiện tâm tư, tình cảm, bản sắc của người Việt Nam. Phải tuân thủ những chức năng của tác phẩm nghệ thuật giáo dục – nhận thức và thẩm mĩ, không thể chỉ nặng về tính giải trí đơn thuần, chạy theo thị hiếu của khán giả.


Các nhà sáng tạo nghệ thuật cần phải suy ngẫm, phân tích kĩ lời phát biểu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong Hội nghị Liên hiệp các Hội VHNT toàn quốc tháng 9/2013 tại Hà Nội: “Văn nghệ sĩ cũng có những người phai nhạt mục tiêu lí tưởng cách mạng, xem nhẹ trách nhiệm và nghĩa vụ công dân. Sự nghiệp sáng tác văn học nghệ thuật đòi hỏi phải có những người có tài năng, có tâm hồn, có nhân cách bản lĩnh, đặc biệt là có chỗ đứng và cách nhìn đúng đắn, khách quan, khoa học… Văn nghệ bồi dưỡng, nâng cao con người chứ không phải đi vào tâm trạng cá nhân, gặm nhấm tâm tư yếm thế, thậm chí coi văn nghệ như là thú vui giải trí hoặc một cuộc chơi, một đam mê tầm thường”.


Đó không chỉ là lời nhắn nhủ mà cũng còn có thể coi đó là kim chỉ nam cho con đường sáng tạo của văn nghệ sĩ./.


Thái Phiên
(Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam)

 
Đôi điều về một cuốn tiểu thuyết hậu hiện đại

Nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy trong Lời bạt cuốn 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần](*) cho rằng tác phẩm có đầy đủ những đặc điểm của tiểu thuyết hậu hiện đại. Báo chí văn học gần đây nói nhiều về trào lưu văn học mới mẻ này nhưng phần lớn chỉ những bài nghiên cứu nên được đọc chính sáng tác là mong muốn của nhiều người. Nhưng lấy đâu ra bản dịch chuyển tải được trung thành bản gốc để đọc vì dịch tiểu thuyết hậu hiện đại chắc là khó. Nên với 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] bạn đọc sẽ được thỏa mãn phần nào và thấy tiểu thuyết hậu hiện đại mà kiểu như thế quả là khó đọc và gây khó cho việc dịch.

Vấn đề liên quan đến công cuộc đổi mới mà ở lĩnh vực văn học nghệ thuật là việc chấp nhận những hiện tượng trước đó khó chấp nhận, dung nạp nhiều phương pháp sáng tác chứ không chỉ phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, thừa nhận mọi cách thể hiện chứ không riêng cách truyền thống. Chưa bàn đến hay dở của các sáng tạo dưới đây nhưng những năm trước đổi mới không bao giờ chúng ta được biết câu thơ sau của Trần Dần (1926-1997): “1 es píc 1 híc bẹn 1 lẹm nguýt/ 1 quít háng 1 jạng sáng 1 tháng hóc/ 1 jọc đùi 1 mùi hôi” (Jờ joạcx - IX) (**), hoặc một tập thơ của Dương Tường, trong đó thay cho chữ là nét vẽ. Tất nhiên chấp nhận là chỉ với những tác phẩm “không có vấn đề”, bởi những tác phẩm sai định hướng, vi phạm về tư tưởng, chính trị dù có sáng tạo hay “đổi mới” đến mấy cũng không thể chấp nhận được. Công cuộc đổi mới chẳng những giúp chúng ta có cái nhìn cởi mở về các trào lưu nghệ thuật nói chung và trào lưu hiện đại nói riêng mà từ đó còn xuất hiện những tác phẩm nhanh chóng hội nhập cùng các trào lưu mới. Mặc dù vậy, hiểu thế nào cho đúng và nên thế nào cho phải về đổi mới và hội nhập ở văn học nghệ thuật là vấn đề chẳng hề đơn giản.

Không ít ý kiến cho rằng một số tìm tòi, sáng tạo và cái mới ở tác giả này tác giả khác thực ra đã cũ so với thế giới; có người còn nói thẳng: Người ta đã vứt từ lâu giờ mình lại vơ vào; lại có người vừa cảm phục những nhà văn thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp vừa “đề cao tinh thần cảnh giác” bởi biết đâu họ lại “đạo văn Tây”. Cảm tưởng như câu thơ trên của Trần Dần thoát thai từ Chủ nghĩa Đađa (Dadaism), một trào lưu nghệ thuật do một số nhà văn ở Zurich Thụy Sĩ khởi xướng năm 1916, cách đây đã một thế kỷ! Đađa “chủ trương một thứ văn học tự do, phá bỏ mọi sự gò bó của quy tắc, tư tưởng và truyền thống tới mực hư vô chủ nghĩa. Trong sáng tác, Chủ nghĩa Đađa biểu hiện ở chỗ “cắt dán”, “ghép” các từ một cách tình cờ, ngẫu nhiên, không tuân theo một chủ đề và một lề luật sáng tác nào. Năm 1921 trào lưu này được thay thế bằng Chủ nghĩa Siêu thực.” (*). Liên hệ với mấy con số 3.3.3.9 bí hiểm ở tên tác phẩm của Đặng Thân, thiết nghĩ nó khá gần với chữ Dada vô nghĩa do một trong những người sáng lập trào lưu này buột miệng “phát âm” ra. Nhưng dường như Đặng Thân thích dùng mấy con số này nên tôi gọi tác phẩm là thế cho gọn, mặc dù Những mảnh hồn trần mới đúng với nội dung, bởi ở trang 182, 183 chính Đặng Thân nói ông từng đưa ra mấy cái “tít” để chọn: Những linh hồn khốn nạn, Những linh hồn khốn nịn (ông bảo cho nó có vẻ dân gian Việt) rồi Những mảnh hồn lưu vong mà không thấy nói gì về 3.3.3.9 hay con số nào cả.

Xét về năm tháng tồn tại đúng là Đađa quá cũ và đã bị vứt bỏ nhưng Chủ nghĩa Siêu thực lại là “hậu duệ” của Đađa! 3.3.3.9 khá nhiều “chiêu trò” và chuyện tầm phào nhưng riêng kiến thức ở đó thì đáng tin cậy, vì vậy cần tin vào điều nhân vật Schditt nói trong tác phẩm này: “Anh đừng đùa với Dadasmus nhé. Tuy nó “quái quỷ” và sự tồn tại của nó khá ngắn ngủi nhưng thằng cha người Mẽo xuất sắc Mare Lowenthal đã “bầu”: “Dada là nền tảng của nghệ thuật trừu tượng và thơ âm thanh, xuất phát điểm của nghệ thuật trình diễn, khúc mở đầu của chủ nghĩa Hậu hiện đại, ảnh hưởng tới nghệ thuật pop, sự ca tụng phản - nghệ thuật, rồi sau đó đã được chào đón trong trào lưu chính trị vô chính phủ của những năm 1960 và là một phong trào tạo nền móng cho Chủ nghĩa Siêu thực.” (tr.326). Như vậy Đađa “cũ” mà vẫn như còn ẩn hiện, trước khi “chết” đã sinh con đàn cháu đống chẳng giống lông cũng giống cánh tận đến ngày nay! Cũng có nghĩa chớ nên vội vàng cho cái này là cũ, cái kia người ta đã vứt đi, cái này là “đạo” cái kia là sáng tạo. Nhưng văn chương hậu hiện đại thì đúng là mới, là trào lưu đang thịnh hành.

Một điều nữa liên quan: Tiếp thu tinh hoa văn học nghệ thuật thế giới, nhanh chóng bắt kịp và hòa nhập cùng nhân loại là nên, là cần thiết nhưng học đòi và bắt chước thì lại không nên. Tiểu thuyết Cố đô(*) của Kawabata (1899-1972), nhà văn được Giải thưởng Nobel năm 1968 không phải là hấp dẫn nhưng tác giả đã kết hợp nhuần nhuyễn nghệ thuật truyền thống với thủ pháp hiện đại, trong đó thiên nhiên và văn hóa Nhật Bản hiện ra rất rõ. Cho nên chủ trương phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là hoàn toàn đúng đắn, câu “hòa nhập nhưng không hòa tan” cũng thích hợp trong trường hợp này. Du nhập và rủ nhau làm thơ haicư cũng được thôi nhưng giá mà rủ được người Nhật làm thơ lục bát thì hay bao nhiêu! Bảo haicư độc đáo vì chỉ có ba câu, công nhận, nhưng không hiếm bài lục bát chỉ có hai câu; nói haicư hàm súc, cũng công nhận, nhưng vấn đề là ở cái tầm cái tài của người viết chứ không ở thể loại. Chẳng hiểu sao tôi cứ nghĩ làm thơ haicư không khó bằng thơ lục bát bởi nó chỉ cần tứ cần ý mà không cần vần, còn thơ lục bát riêng chuyện gieo vần và “nhất, tam, ngũ bất luận; nhị tứ, lục phân minh” đã khối anh Nhật phải bó tay rồi!

Nhân đây cũng nói về văn chương khó dịch. Đâu chỉ Đađa mới hóc búa cho người dịch, trước Đađa đã có những tác phẩm thách thức tài năng dịch thuật, điển hình là Đi tìm thời gian đã mất (à la recherche du temps perdu) của Marcel Proust (1871-1922), nhà văn Pháp, người được coi đã làm một cuộc cách mạng trong tiểu thuyết. Tôi được nghe nhà thơ Lê Đại Thanh (1907-1996) mấy lần ca ngợi bộ tiểu thuyết này; nhà văn Trần Văn Sáng (1914-2000) trong bài viết trên tạp chí Cửa Biển thì gọi đó là “tràng giang tiểu thuyết”. Hai ông đều đọc từ nguyên bản tiếng Pháp vì gần 100 năm nay vẫn chưa dịch giả Việt Nam nào dịch trọn vẹn bộ tiểu thuyết này. Năm 1992 Nguyễn Trọng Định dịch tập 2 (Dưới bóng những cô gái tuổi hoa), năm 2013 bốn dịch giả lão thành, đều trên dưới 80 tuổi: Dương Tường, Đặng Thị Hạnh, Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm hợp sức dịch và cho ra mắt tập 1 (Bên phía nhà Swann). Có điều, trong khi tác phẩm của Proust được coi là một trong 10 kiệt tác văn học nhân loại, chinh phục được lượng độc giả lớn khắp thế giới thì những gì đã dịch ít tiếng vang với chúng ta, bởi người đọc Việt Nam chưa đủ khả năng cảm thụ nổi! Đi tìm thời gian đã mất gồm 7 tập với hơn 4000 trang, được xuất bản liên tục trong vòng 14 năm (1913-1927)(**), nhưng gây khó cho việc dịch không phải độ dài mà bởi văn chương vì Proust đã “phá hủy tính sử thi của tiểu thuyết truyền thống, thay thế nhân vật bằng dòng ý thức triền miên, bí ẩn của tiềm thức và vô thức”(*). Nhà văn Dương Tường thú nhận dịch Proust không khác gì đi vào mê lộ! Tạp chí Văn học nước ngoài số 1+2/2012 đăng một đoạn dịch của Nguyễn Giáng Hương, thạc sĩ, nghiên cứu sinh trường Paris Ouest Nanterre. Trời ơi, chỉ có 5 trang mà ngoài người dịch còn hai người nữa “xúm vào” hiệu đính là Dương Tường và Lê Hồng Sâm; và chỉ chừng ấy trang thôi đến nay tôi vẫn chưa thể đọc hết bởi câu cú của Proust nhìn vào đã hoa mắt vì mỗi câu thường dài gần nửa trang!

Nhưng đúng là đến Đađa và các trào lưu nghệ thuật trừu tượng mới xuất hiện những tác phẩm văn học không thể dịch được. Nghe nói có một tác phẩm quyển nào tác giả cũng găm vào đó một... chiếc đinh (!) Dịch sao được cái thứ quái quỷ ấy cơ chứ!? (ở Hải Phòng, họa sĩ Mạnh Cường từng gắn vào tranh của mình cả một tuýp sơn dầu đã nặn gần hết thuốc, thiết nghĩ ai dù tài đến mấy khi chép tranh của ông cũng phải chào thua cái tuýp ấy.). Còn 3.3.3.9 của Đặng Thân, có dịch ra tiếng nước ngoài người chuyển ngữ cũng phải bất lực trước một số “chiêu trò” của tác giả, tuy nhiên khá nhiều “chiêu trò” là tầm phào, trong đó gần như là toàn bộ mục Lời bàn [phím...] của các Netizen cuối mỗi chương, nên nếu lược một số “chiêu” bỏ một số “trò” thì tác phẩm không gì là khó dịch. Đặng Thân không đưa được người đọc người dịch vào mê lộ như Proust đã làm cách đây 100 năm mà chỉ khiến người ta hơi bị choáng lúc đầu mà thôi. Chữ nghĩa, câu cú của Đặng Thân rất dễ cảm thụ vì rất đời thường, thậm chí không hiếm “ngôn ngữ đường phố”, bạn đọc trẻ tuổi thích văn Đặng Thân là vì vậy. Liên hệ với Mai Văn Phấn thì thơ của nhà thơ này mới đúng là mê lộ. ở đây lại đặt ra vấn đề: Văn học nghệ thuật đúng là cần công chúng, nhưng công chúng thời đại hiện nay cũng cần có mã đọc mới phù hợp với “văn học mới” như Đỗ Lai Thúy nói ở Lời bạt 3.3.3.9.

Công nhận Đặng Thân lắm “chiêu trò”. Đầu tiên là tên tác phẩm với cái “trò” 3.3.3.9 bí hiểm; tiếp đó là thể loại - ông không định danh tác phẩm thuộc loại thể nào song lại để các Netizen gọi là truyện. “Chiêu” thứ hai này có lý vì tác phẩm là một đám đủ mọi thứ, có văn xuôi có thơ có ảnh có thông tin tải từ mạng và vân vân... Đỗ Lai Thúy thì bảo là tiểu thuyết. ở Lời bàn có mục “ý kiến của bạn” và để trống - vậy thì ý kiến của tôi về thể loại của 3.3.3.9 là “tiểu thuyết thập cẩm”.

Hai đặc điểm chính của cuốn tiểu thuyết thập cẩm này là phân mảnh và giễu nhại. Tác phẩm gồm bốn mảnh rời rạc nhưng liên kết với nhau: Mảnh Đặng Thân đóng vai trò dẫn chuyện; mảnh Schditt cũng tương tự mà phần nhiều là kiến thức và về nước Đức vì anh này người Đức; mảnh Mộng Hường là chuyện đời của cô gái đất thuốc lào Tiên Lãng Hải Phòng, nói năng õng ẹo nhưng lại ngọng (như: “Iem thì hok biết Do Thái ở đâu dưng mờ hồi bé cuộc đời iem lúc lào cũng lẫn với phân do và thái rau lợn suốt à.”); mảnh Ông Bà/ A Bồng là nhận định và bình luận liên quan đến câu chuyện hoặc vấn đề vừa đề cập đến (như: “Hải Phòng là một nơi đặc sắc của Việt Nam. Vừa là đô thị vừa là nông thôn; vừa có bản khí của đồng bằng Bắc bộ vừa là nơi địa đầu “Hải tần phòng thủ”; vừa là nơi có nhiều ngành nghề vừa là thương cảng quốc tế; vừa trọng văn hóa vừa dung tục; vừa nồng nàn vừa dữ tợn; vừa cam chịu vừa bán giời không văn tự...”. Các mảnh, các nhân vật luôn chen ngang nhau, đang là chuyện người này thì người khác xông vào nói nhưng họ lại không trong một cuộc đối thoại vì thường xa nhau về địa lý, thậm chí còn chẳng hề biết nhau! Kết thúc mỗi chương là Lời bàn của một lô một lốc mấy chục Netizen: ben t, Khánh Lam, loinho, Trần X, nhan, Hậu khảo cổ, Phamngoctien, nguyen lien, Quasimodo... và cả Đặng Thân (!) (ví dụ, một Netizen nói: Nhìn bề ngoài thì cô Mộng Hường là một cô gái rất đoan trang, đúng mực nhưng thực ra là một con điếm... Giải quyết thằng “nghiệp chướng” và con “nặc nô” sao đây là một bài toán khó khăn và nan giải...”); Netizen bàn bằng tiếng Việt, tiếng Anh và một số ngôn ngữ khác; bằng cả lối chữ không dấu thường gặp ở tin nhắn trên điện thoại di động (như: “Ke ra thi doc rat hay, vi no tai hien lich sư nhung ma hoi pham tuc anh a!).

Tiểu thuyết truyền thống thường chỉ dùng 2 font chữ, đứng và ngả. 3.3.3.9 phân thành nhiều mảnh, để người đọc dễ nhận ra các mảnh tác giả dùng nhiều font chữ. Máy tính giúp thực hiện được nhiều font chứ ngày trước có muốn giở “chiêu” nọ “trò” kia về kiểu chữ cũng chịu. Có lẽ đến 10 font, đại thể thế vì muốn thống kê chính xác phải khá nhọc công - chả tội gì nhọc công với “chiêu” này cho dù sự tồn tại của nó cùng với các mảnh là có lý chứ không như “trò” Netizen. Cự li cách lề của các mảnh cũng khác nhau. Vào đầu tác giả để các nhân vật tự nói điều đó: “Xin hãy nhớ, tôi là Schditt các bạn nhé. Tôi yêu các bạn! Cầu xin các bạn nhớ cho đây là chỗ để phát biểu của tôi: font chữ Times New Roman cỡ 12.5, cách lề trái 1/2 inch.”... “9,25! Còn iem là Mộng Hường nhé. Cái fông chữ Tham-liu-dôman kiểu Titalic cách lề lửa inh lày là lời của iem đấy nhá, ke ke.”... “Ông Bà/ A Bồng: phát ngôn ở chỗ font chữ Palatino Linotype in đậm (Bold). Mộng Hường: phát ngôn ở chỗ font chữ Times New Roman in nghiêng (Italic). Schditt von deBalle-Kant: phát ngôn chỗ font chữ Times New Roman in thẳng đứng.”... “Kính thưa quý vị! Vậy là từ Chương 1 đã có thêm nhân vật thứ tư là Đặng Thân “nhà văn”, phát ngôn ở font chữ Tahoma.”...

Đại thể phân mảnh ở 3.3.3.9 là vậy. Phải thừa nhận nhờ cách thể hiện độc đáo này, ngoài hình thức mới mẻ, Đặng Thân đưa được vào tác phẩm cả một kho tri thức phong phú và đa dạng với đủ mọi chuyện đông tây kim cổ mà không hề kệch cỡm, điều các nhà tiểu thuyết truyền thống có nghĩ tới cũng khó làm được với con chữ chì của nhà in. Trong cái kho ấy những là Hitler, Quỷ Satan, biểu tượng Chữ thập ngoặc của Nazi, các nhân vật nổi tiếng chôn ở nghĩa trang Père-lachaise, người Do Thái và các vĩ nhân người Do Thái, bang Bayer Bavaria ở Đức, Thâm Quyến ở Trung  Quốc, núi Mont Blanc ở biên giới Pháp - ý (người ý gọi là Monte Bianco), nền văn minh Inca và đất nước Peru, diện tích và dân số nhiều nơi trên thế giới. Rồi Nguyễn Bỉnh Khiêm, tài tiên tri của Nostradamus, Lê Chân, Nguyên Hồng, Văn Cao, thuốc lào Tiên Lãng, Hải đồ cổ ở Hải Phòng. Tập đoàn Siemens, các tôn giáo, tử vi tướng số, nhạc giao hưởng, nhân vật  hoạt hình tí hon Xìtrum (Schtroumpt), điểm thấp nhất của thế giới dưới mực nước biển, làng trượt tuyết ở úc. Rồi Mỹ, rồi châu Phi. Vấn đề tình dục, nạo phá thai, bao cao su, chuyện “anh hùng khí đoản/ nhi nữ tình trường”. Rồi cả kỷ lục bê bia của cô Anita Schwars 48 tuổi với 19 vại bia loại 1 pint(*) qua quãng đường 40m. Và thơ mà phần nhiều là thơ vui, kể cả thơ vần “ồn”... Rồi tên các website, nguyên văn thông tin từ báo chí, cắt dán tin và ảnh download và copy từ internet... Nhiều chỗ để nguyên tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp, đây đó chua chữ Nga, chữ Hán, chữ Mãn Châu, chữ ả rập và cả thứ chữ chả biết của nước nào. Nghĩa là Đặng Thân đưa vào sách hay nói cách khác nhét vào sách đủ mọi thứ thượng vàng hạ cám, rất tạp nham, “tạp pí lù” và “hẩu lốn”. ở Lời bàn tác giả gài vào lời Netizen: “Truyện đầy ắp kiến thức”; “Tiểu thuyết của bác sâu, rộng làm thằng em cóng còm. Em đọc nó trân trọng và kỷ luật... Mong bác post đều tay.”.

Sự phân mảnh và kiến thức xô bồ khiến đọc mấy trang đầu 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] không khỏi cảm thấy rối rắm và không muốn đọc nhưng cố đọc, càng đọc càng thu nhận được những điều bổ ích, bất ngờ và thú vị. Tất nhiên trái đất bao la, vũ trụ vô cùng, lịch sử hàng nghìn năm của nhân loại đến Từ điển Bách khoa và Wikipedia cũng không kể hết và các website vẫn phải mời bạn đọc bổ sung thì hiểu biết của Đặng Thân vẫn cứ có giới hạn. Ông không biết hoặc bỏ sót hoặc thấy không cần nói đến bao nhiêu chuyện thú vị khác nữa. Nhưng càng phải biết việc đưa kiến thức vào tác phẩm không hoàn toàn mới, văn chương từ lâu đã có hình thức “trữ tình ngoại đề”; Honoré de Balzac (1799-1850) từng lan man kể về đồ cổ trong Miếng da lừa, Victor Hugo (1802-1885) từng nói về cống ngầm Pari trong Những người khốn khổ sa đà đến mức nhiều bản dịch đã cắt bỏ đoạn này.

Giễu nhại thể hiện ở mọi chỗ mọi cách và không “nể nang”. Từ nói điệu nói ngọng đến cái mông to của Mộng Hường (Mông Nặng Hường, môngxto, Mông-to Crit-to kiểu A-lếc-xăng Đù-ma); từ thói nhậu nhẹt của người Việt Nam (con nhau nhet chac VN la so 1 roi) đến mùi hôi của người châu Phi; từ tin nhắn không dấu đến Email (meo). Rồi Nguyễn Du (Nguyễn Văn Du), Mỹ (Mẽo), Anh Cát Lợi (Anh kiết lị), Autralia (úc chây li); rồi á “trâu”, sử gia (sử da), thảo dân (cỏ dân); rồi tiếng Việt với cách nói lấm sạch (đã lấm lại sạch), sướng cực (đã sướng lại cực), tôi có làm gì đâu = tôi không làm gì đâu! Rồi ngôn ngữ đường phố (bất hủ trên nóc tủ, mắt bồ câu con bay con đậu, rên đểu, Tình yêu như bát bún riêu/ Bao nhiêu sợi bún bấy nhiêu sợi tình, cưa gái, chim cú, Thấy nói đến đa phu là các bà cứ tớn cả lên...). Rồi thì nhan nhản thơ mà phần nhiều là thơ vui, thơ vớ vẩn, “thơ đểu” hoặc cốt giễu nhại, ví dụ một đoạn của bài thơ không dấu: Co anh em moi biet/The nao la bat dau/Tu trai tim tha thiet/Cua nhung nguoi yeu nhau... thì câu cuối dịch ra tiếng Anh là Of those who are bad at drinking nên chuyển ngữ lại tiếng Việt thành ra Của những người yếu nhậu! Tóm lại, về nội dung, giễu nhại còn xô bồ, tạp nham và lắm “chiêu trò” hơn cả việc phân mảnh và dường như chỉ cốt mua vui.

Đỗ Lai Thúy nêu biểu hiện của tiểu thuyết truyền thống là có cốt truyện, con người có tính cách, nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình, chủ đề tư tưởng rõ ràng; cũng có nghĩa cho rằng 3.3.3.9 không theo khuôn mẫu đó. Chẳng phải vậy, 3.3.3.9 vẫn có cốt truyện, nhân vật vẫn có tính cách. Qua Những mảnh hồn trần Schditt, Mộng Hường và các nhân vật phụ như Trần Huy Bớp, Sơn, Tâm Chân, Dương Đại Nghiệp, Sunkim... vẫn thấy hiện lên những khuôn mặt đời thường, những số phận và bao chuyện vui buồn của xã hội. Nhưng do phần kiến thức vừa nhiều vừa cuốn hút người đọc vào những hiểu biết nên các nhân vật có phần mờ nhạt trong tâm trí độc giả.

ở Lời bàn [phím...] của các netizen tác giả không ngại khen mình (Aries nói: Giờ ngồi đọc truyện của bác mới thấy hay. Một lối viết có tri thức và đưa đến cho người đọc liên văn bản. Nếu bác in truyện này, em nhất định sẽ mua một cuốn để làm giàu thêm vốn tri thức. ^-^” và cả “chê” mình (Chương 23 ngắn, Trần X chê: “Tại sao chương này có vẻ cùn cụt nhỉ”. Chương 30 có tới 5 chú thích, Regina Bella bảo là tức mắt: “Hơi nhiều chú thích anh ạ. Không cần để chú thích nhiều, sẽ giảm bớt tính văn học, trừ phi nó ảnh hưởng đến việc không có chú thích người đọc không hiểu nổi nội dung truyện...”. Chương 43 nói về nhạc sĩ Gustav Mahler cũng bị chê: “Phần viết về Mahler dài quá bác ạ. Phải chăng vì bác ĐT có cùng quan điểm sáng tác nghệ thuật với Mahler nên bác mới làm kỹ đến thế??”. Tuy nhiên dễ nhận ra khen thì toàn “lời có cánh” còn chê thì gọi là có và rào trước đón sau và suy cho cùng cũng cốt để khen! ở bìa 4, “những lời có cánh” còn bay bổng hơn nữa, hãy nghe Blogger bent - Trần Anh Tuấn: “Văn Đặng Thân ở tầm cao, đụng chạm vào nhức buốt trên cái bề nổi nhỏ nhoi của cười kọt và chọc khuấy. ở anh tồn tại một núi lửa chực nuốt, cuốn và thiêu trụi những cây cối từ Đa tới Đề và sản sinh mầm sống mới. Đọc anh, thấm một điều những hiểu biết cần xem xét lại”.

Văn vẻ thế nào là hay không dễ bàn, có người uốn nắn từng chữ nhưng đọc lại thấy quá “kỹ thuật” hay nói như nhà văn Nguyên Hồng là “giả khượt”; có người chữ nghĩa cứ như đời thường không hề nắn nót mà đọc lại thấy “thật”. Văn Đặng Thân gần với trường hợp thứ hai, ông viết văn mà như viết báo, đưa vào ngôn ngữ đời thường, nhiều chỗ còn là ngôn ngữ mạng nên gần gũi và “thật”. Người đọc lại được ông làm cho thư dãn trong thời buổi không ít căng thẳng nhờ cách viết tung tẩy, dí dỏm, hóm hỉnh.

Đánh giá 3.3.3.9 mà như Trần Anh Tuấn thiết tưởng không còn lời lẽ nào “hot” hơn. Đúng là đọc Đặng Thân thích đấy nhưng chỉ nên coi ông tạo được lối đi riêng, ít ra là trong khuôn khổ nước nhà, như thế cũng là quý lắm rồi. Chứ bảo là “chực nuốt, cuốn và thiêu trụi những Đa, Đề “ thì không dễ đâu. Thời buổi đổi mới đúng là chẳng nên giữ mãi lối viết truyền thống vì vậy cần trân trọng Đặng Thân nhưng thiết nghĩ cũng không nên quá đề cao và cổ vũ lối viết của ông, nhất là chớ có học đòi và bắt chước ông. Văn chương hậu hiện đại có nhiều đường hướng, Đặng Thân chỉ là một đường hướng. Từ xưa đến nay văn học nghệ thuật bao giờ cũng đề cao cái riêng và sự sáng tạo./.

LƯU VĂN KHUÊ

 


 

(*) 3.3.3.9 [Những mảnh hồn trần] của Đặng Thân, NXB Hội Nhà văn 2011)

(**) Bài thơ trong tập Thơ Trần Dần (NXB Đà Nẵng) - Câu thơ được trích dẫn từ bài Biến nghịch lý trở thành chân lý? của Bích Châu trong tạp chí Hồn Việt số 87 tháng 11/2014.

(*) Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập I, Trung tâm biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, 1995. tr.502.

(*) Bản dịch của Thái Văn Hiếu, NXB Hải Phòng, 1989.

(**) 7 tập là: Bên phía nhà Swann (xuất bản 1913), Dưới bóng những cô gái tuổi hoa (1913), Về phía nhà Germantes (2 quyển: 1920, 1921), Sodome và Gomorrhe (2 quyển: 1921,1922), Cô gái bị cầm tù (1923), Albertine biến mất (1925), Thời gian lại tìm thấy (1927). Ba tập cuối xuất bản khi tác giả đã mất.

(**) Từ điển văn học, tập II, NXB Khoa học xã hội, 1984,  tr.247.

(*) 1 pint Anh = 0,58 lít, 1 pint Mỹ = 0,473 lit. Như vậy cô này bưng được khoảng 10 lít, còn nặng bao nhiêu không biết. Sau đó cô định phá kỷ lục của chính mình bê 21 vại thì giữa đường bị đổ!

 
Hình ảnh “tóc búi đuôi gà” trong thơ Việt

Trong buổi tọa đàm văn học đầu xuân 2015 với giảng viên và sinh viên khoa Ngữ văn Trường Đại học Hải Phòng, GS.TS Lê Hữu Khóa, Việt kiều người gốc Nam bộ, hiện đang giảng dạy tại Trường Đại học Charles de Gaulle (Pháp), có nhắc đến bài ca dao Mười thương của hai vùng văn hóa Nam bộ và Bắc bộ, rồi so sánh vẻ đẹp, cái hay của câu mở đầu trong hai bài ca dao này.

Theo cảm quan của ông, câu mở đầu bài Mười thương ở Nam bộ: Một thương tiếng vịt kêu chiều… hay hơn rất nhiều so với câu mở đầu trong bài ca dao Mười thương ở Bắc bộ: Một thương tóc búi đuôi gà… Bởi ông cho rằng, Một thương tiếng vịt kêu chiều có sức gợi và rất tạo ấn tượng. Giữa vùng đồng ruộng mênh mang và ánh chiều tà ráng vàng của vùng quê Nam bộ, tiếng vịt kêu chiều gợi một nỗi buồn da diết và sau dòng thơ hiện lên một vũ trụ quan của con người phương Nam. Còn Một thương tóc búi đuôi gà ở vùng xứ Bắc không hay và không nói lên được điều gì!

Tôi không đồng tình với ý kiến trên, bởi Một thương tóc búi đuôi gà có cái hay và vẻ đẹp riêng của nó. Chất thơ của câu ca dao này nằm ở giá trị tạo hình. Hiện lên sau dòng ca dao ấy là hình ảnh một cô gái trẻ trung, hồn nhiên và tươi tắn của vùng quê xứ Bắc. Xưa, con gái xứ Bắc thường búi tóc đuôi gà (câu ca dao viết đảo lại nhấn mạnh hình ảnh mái tóc của thiếu nữ rất hay là tóc búi đuôi gà). Một thương tóc búi đuôi gà cùng có giá trị tạo hình và thể hiện nhân sinh quan của con người xứ Bắc. Đó là sự ưa thích của họ về một vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng, trẻ trung đối với người con gái ở tuổi dậy thì, sắp bước vào ngưỡng cửa của tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc.

Ngay từ năm 1923, nhà nghiên cứu văn học người Pháp René Crayssac đã so sánh văn chương Pháp và văn chương Việt tại Hội Khai Trí Tiến Đức - Hà Nội, ngày 15 Décembre 1923 như sau: “Những thơ văn tả hình dung thân thể đẹp của người đàn bà, làm cho trượng phu phải mê hồn lạc phách, thời trong văn chương Tây biết bao nhiêu mà kể; Beudelaire, Richepin, Musset, Banville, Verlaine, Armand Silvestre, Catulle Mandes, Perre louys, Fernand Gregh, Maurice, Megne, biết bao nhiêu thi nhân Tây đã tả cái mắt, cái môi, cái vú, cái tay, cái răng, cái tóc của người đàn bà!

Kẻ ngâm - vịnh ở nước Nam cũng vậy, không phải là không biết cảm cái đẹp của người đàn bà. Như bài “Mười cái thương”, cực - tả những cái vẻ mĩ miều khả ái của người đàn bà An Nam: “Một thương tóc búi đuôi gà/ Hai thương ăn nói mặn mà có duyên/ Ba thương má lúm đồng tiền/ Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua…”  (Nam Phong tạp chí số 78/1923, tr 447)

Rõ ràng không chỉ người Việt cảm nhận vẻ đẹp của hình ảnh các cô gái có tóc búi đuôi gà là một nét đẹp đáng yêu, mà ngay cả với người nước ngoài cũng nhận thấy “cực tả những cái vẻ mĩ  miều khả  ái của người đàn bà An Nam” như vậy, lẽ nào giáo sư lại phủ định được sao?

Hình ảnh tóc búi đuôi gà không chỉ xuất hiện một lần trong bài Mười thương, mà trong một bài ca dao khác, ta còn bắt gặp hình ảnh mái tóc búi đuôi gà của cô gái thôn quê nọ, mang một vẻ đẹp hồn nhiên, dễ mến, tạo ấn tượng đối với một chàng trai, và để anh này mạnh dạn đến mức dám “nắm tay”, rồi cất lên tiếng hỏi cô gái: Cô kia búi tóc đuôi gà/ Nắm tay cô lại, hỏi nhà cô đâu? Đáp với ý tinh nghịch: Nhà em ở dưới cây dâu/ ở trên cây khế biết đâu mà tìm!

Sau này, trong Phong trào Thơ mới lãng mạn Việt Nam (1932-1945), thi nhân Nguyễn Nhược Pháp cũng đã khắc họa hình ảnh thiếu nữ đi chùa Hương “với màu sắc tươi vui, những hình dáng ngộ nghĩnh” (Hoài Thanh-Hoài Chân) với  tóc búi đuôi gà và cả những trang phục đặc trưng của gái xứ Bắc thuở ngày xưa: Khăn nhỏ đuôi gà cao/ Em đeo dải yếm đào/ Quần lĩnh, áo the mới/ Tay cầm nón quai thao.

Chất dân tộc hiện hữu qua hình ảnh tóc đuôi gà của cô gái đi chùa Hương đã thành ấn tượng không dễ phai mờ về nét đẹp đáng yêu của cô gái thuở xưa, cho dù mái tóc của thiếu nữ ngày nay đã đổi khác!

Mỗi thời đại xã hội có quan niệm và lý tưởng thẩm mỹ riêng. Và ngay trong cùng một thời đại, ở những khu vực, vùng miền khác nhau ít nhiều cũng có sự khác biệt tương đối về quan niệm thẩm mỹ. Sự phong phú, đa dạng trong quan niệm thẩm mỹ văn hóa cũng có thể tạo nên sự cảm nhận những giá trị nhất định hình ảnh của văn học, nghệ thuật.

Đôi điều về hình ảnh tóc búi đuôi gà trong một số bài ca dao và thơ Việt, hy vọng sẽ gợi nên những cảm nhận của bạn đọc về một vẻ đẹp của dung nhan, một quan niệm thẩm mỹ của người xứ Bắc thuở nào vẫn in đậm và không dễ phai nhòa trong tâm hồn người Việt  chúng ta hôm nay./.

N.Đ.T

 
Nhớ nhà thơ đất Cảng Đồng Đức Bốn

Đồng Đức Bốn đã đi xa nhưng còn đó những câu thơ nói về mình đầy kiêu hãnh: Hiểu tôi là ngọn núi cao/ Thương tôi có một vì sao cuối trời

Trong cuộc đời, đã mấy ai hiểu Bốn thực sự… vì từ chàng trai đồng đất quê mùa, học hành lỡ dở, vốn chữ nghĩa chẳng là bao, tiền nong chỉ đủ giắt lưng lang thang đi kiếm ăn ở thiên hạ. Vậy mà chàng trai ở “làng Moi” ấy với một “bị thơ” lục bát, nghênh ngang mũ cối, quần bò… láo liên, lấc cấc đã dám xông thẳng vào chốn kinh kì, gõ cửa nhà những đại gia, các giáo sư, tiến sĩ, các nhà thơ đã thành danh với sự hăm hở liều mình hiếm thấy… Những câu thơ lục bát đã đưa Bốn vào đời, tranh đấu để tồn tại, đứng vững… rồi bay lên: Tôi là thi sĩ đồng quê / Dám đem lục bát làm mê cung đình

Từ một kẻ làm thơ vô danh, một kẻ tự xưng là giang hồ quốc tế, là trang hảo hán độc nhất vô nhị của đất Cảng… Bốn trở thành nhà thơ nổi tiếng, một người có nhà cao cửa rộng, tiền nong vung vít. Bốn được các cây bút có tiếng tăm bình luận, có người đề tên là nhà thơ lục bát tài danh nhất chỉ sau Nguyễn Bính.

Nhưng “kinh hoàng” nhất là thoắt một cái Bốn thành Giám đốc Trung tâm Văn hoá Doanh nhân Hải Phòng… Cũng com lê, ca vát, giầy đen, đăng đàn đọc diễn văn… Hai đêm thơ của Bốn được tổ chức hoành tráng ở Nhà hát Tháng Tám Hải Phòng và Khách sạn Horison Hà Nội. Một tấm ảnh Bốn to tướng (rộng 2m) treo thả trước tiền sảnh nhà hát, các nhạc sĩ trứ danh phổ nhạc thơ Bốn, còn những ca sĩ trung ương thể hiện ca khúc mà phần lời là thơ của Bốn… Khi Bốn đến giao lưu, đọc thơ cho sinh viên vài trường Đại học được vỗ tay kéo dài đến vài phút… Khi đã có tiếng tăm, gặp ai Bốn cũng sợ họ nhìn mình vẫn là chàng trai quê nghèo rớt mùng tơi như hồi còn “chăn trâu đốt lửa”, sợ “củ khoai nướng cũng cháy thành tro mất” nên Bốn hay “khoe” về sự giàu có của mình: Nhà thì như lâu đài “tiền tỉ” có “gác chuông”, có “sư tử phục” trước nhà, có hàng chục bộ đèn chùm các kiểu (mỗi bộ hàng chục triệu đồng), rồi xe máy, rồi vàng bạc, rồi hàng tệp tiền “đô”, rồi rượu ngoại v.v… Còn bạn bè Bốn thì toàn là văn nhân, toàn là các “ông lớn”. Riêng giới viết lách thì mấy chục ông nhà báo, nhà văn, nhà thơ có hạng. Đã có lúc, hứng lên Bốn tấn phong cho mình là kẻ được giao y bát của Nguyễn Du để giữ cho thơ lục bát ở Việt Nam được trường tồn… Mà cũng lạ, Bốn có những câu thơ xuất thần không ai hiểu được Bốn viết ra như thế nào? Nghệ sĩ điện ảnh Đào Trọng Khánh đọc thơ Bốn, bảo tôi: “Thơ Bốn như có hồn ma nhập vào, đọc hãi lắm…”. Tôi thì lại nghĩ khác: Bốn dứt khoát không phải người xấu khi Bốn viết những câu thơ gan ruột thế này:

- Mẹ nằm như lúc còn thơ/ Mà con trước mẹ già nua thế này.

- Trở về với mẹ ta thôi/ Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ.

- Cho xin mẹ một tiếng cười/ Và câu hát thuở mẹ ngồi ru con... và Bốn mong ước: Không được làm tấm lòng vàng/ Thì xin làm cỏ nghĩa trang bốn mùa …

Những câu thơ như thế rải rác khắp 5 tập thơ của Bốn… Có thể thiên hạ hiểu sai Bốn. Lúc ấy Bốn phải “lên tấn” trợn mắt, khuỳnh tay, xù lông, xoè cánh… Bốn tự xưng là mafia, là đại ca của nhiều tay anh chị nổi tiếng ở bến tàu, bến xe… Nhưng sau cái vẻ hùng hổ ấy vẫn là sự chân thực, nhút nhát, lo lắng rất buồn cười… vì Bốn chưa hề đánh được ai ??? Có điều công việc đang làm, hoàn cảnh Bốn đang sống bắt Bốn phải làm ra thế mới “đứng được” ở đời… Cả khi Bốn đã là một nhà thơ, một “đại gia” giàu có, nhưng Bốn vẫn không giấu được con người thật của mình: Một nhà thơ của đồng quê ấm áp.

Bốn có nhiều kỷ niệm với các nhà thơ, nhà văn và bạn bè ở Hải Phòng từ thuở hàn vi… mà nhiều chuyện hay lắm, đau lòng đến thảm thiết và cũng buồn cười chảy nước mắt. Bốn như một con thò lò sáu mặt, là cầu vồng bẩy sắc hiện sau mưa lúc thì lấp lánh như kim cương, lúc dữ dội tựa biển gầm, lại có lúc như hồ thu sâu lắng, dịu dàng… và có khi là quỷ sa tăng nơi địa ngục… Đúng như Nguyễn Huy Thiệp đã dẫn lời một nhà thơ Nga: “Ta là vua, ta là nô lệ… ta là sâu bọ, ta là thần…”. Nhưng dù Bốn có là gì đi nữa, Hải Phòng tự hào vì có Đồng Đức Bốn – một nhà thơ lục bát đã làm thơ ca thành phố chúng ta mơ mộng, mê say và quyến rũ hơn.

Cá nhân tôi mạo muội vinh danh Đồng Đức Bốn và tin rằng khi Bốn đã đi xa… anh vẫn nhớ về thành phố yêu thương của mình với nụ cười trĩu nặng niềm vui… Vĩnh biệt anh bằng mấy câu thơ vô tình tôi đọc được của một tác giả đăng trên tạp chí Ngày nay (số đầu tháng 6/2005): Trái có thể đắng / Hoa có thể buồn / Ngắm có thể hư vô / Bản chất có thể thối rữa/ Nhưng trong thoáng chốc phù du/ Làm ngưng đọng một khoảnh khắc/ Khoảnh khắc có thể trăm năm và lâu hơn nữa.

Vâng, khoảnh khắc ấy chính là nhà thơ Đồng Đức Bốn với những câu thơ lục bát “thiên sứ” của mình./.

Nguyễn Long Khánh

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)