Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 17 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Nhớ nhà thơ đất Cảng Đồng Đức Bốn

Đồng Đức Bốn đã đi xa nhưng còn đó những câu thơ nói về mình đầy kiêu hãnh: Hiểu tôi là ngọn núi cao/ Thương tôi có một vì sao cuối trời

Trong cuộc đời, đã mấy ai hiểu Bốn thực sự… vì từ chàng trai đồng đất quê mùa, học hành lỡ dở, vốn chữ nghĩa chẳng là bao, tiền nong chỉ đủ giắt lưng lang thang đi kiếm ăn ở thiên hạ. Vậy mà chàng trai ở “làng Moi” ấy với một “bị thơ” lục bát, nghênh ngang mũ cối, quần bò… láo liên, lấc cấc đã dám xông thẳng vào chốn kinh kì, gõ cửa nhà những đại gia, các giáo sư, tiến sĩ, các nhà thơ đã thành danh với sự hăm hở liều mình hiếm thấy… Những câu thơ lục bát đã đưa Bốn vào đời, tranh đấu để tồn tại, đứng vững… rồi bay lên: Tôi là thi sĩ đồng quê / Dám đem lục bát làm mê cung đình

Từ một kẻ làm thơ vô danh, một kẻ tự xưng là giang hồ quốc tế, là trang hảo hán độc nhất vô nhị của đất Cảng… Bốn trở thành nhà thơ nổi tiếng, một người có nhà cao cửa rộng, tiền nong vung vít. Bốn được các cây bút có tiếng tăm bình luận, có người đề tên là nhà thơ lục bát tài danh nhất chỉ sau Nguyễn Bính.

Nhưng “kinh hoàng” nhất là thoắt một cái Bốn thành Giám đốc Trung tâm Văn hoá Doanh nhân Hải Phòng… Cũng com lê, ca vát, giầy đen, đăng đàn đọc diễn văn… Hai đêm thơ của Bốn được tổ chức hoành tráng ở Nhà hát Tháng Tám Hải Phòng và Khách sạn Horison Hà Nội. Một tấm ảnh Bốn to tướng (rộng 2m) treo thả trước tiền sảnh nhà hát, các nhạc sĩ trứ danh phổ nhạc thơ Bốn, còn những ca sĩ trung ương thể hiện ca khúc mà phần lời là thơ của Bốn… Khi Bốn đến giao lưu, đọc thơ cho sinh viên vài trường Đại học được vỗ tay kéo dài đến vài phút… Khi đã có tiếng tăm, gặp ai Bốn cũng sợ họ nhìn mình vẫn là chàng trai quê nghèo rớt mùng tơi như hồi còn “chăn trâu đốt lửa”, sợ “củ khoai nướng cũng cháy thành tro mất” nên Bốn hay “khoe” về sự giàu có của mình: Nhà thì như lâu đài “tiền tỉ” có “gác chuông”, có “sư tử phục” trước nhà, có hàng chục bộ đèn chùm các kiểu (mỗi bộ hàng chục triệu đồng), rồi xe máy, rồi vàng bạc, rồi hàng tệp tiền “đô”, rồi rượu ngoại v.v… Còn bạn bè Bốn thì toàn là văn nhân, toàn là các “ông lớn”. Riêng giới viết lách thì mấy chục ông nhà báo, nhà văn, nhà thơ có hạng. Đã có lúc, hứng lên Bốn tấn phong cho mình là kẻ được giao y bát của Nguyễn Du để giữ cho thơ lục bát ở Việt Nam được trường tồn… Mà cũng lạ, Bốn có những câu thơ xuất thần không ai hiểu được Bốn viết ra như thế nào? Nghệ sĩ điện ảnh Đào Trọng Khánh đọc thơ Bốn, bảo tôi: “Thơ Bốn như có hồn ma nhập vào, đọc hãi lắm…”. Tôi thì lại nghĩ khác: Bốn dứt khoát không phải người xấu khi Bốn viết những câu thơ gan ruột thế này:

- Mẹ nằm như lúc còn thơ/ Mà con trước mẹ già nua thế này.

- Trở về với mẹ ta thôi/ Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ.

- Cho xin mẹ một tiếng cười/ Và câu hát thuở mẹ ngồi ru con... và Bốn mong ước: Không được làm tấm lòng vàng/ Thì xin làm cỏ nghĩa trang bốn mùa …

Những câu thơ như thế rải rác khắp 5 tập thơ của Bốn… Có thể thiên hạ hiểu sai Bốn. Lúc ấy Bốn phải “lên tấn” trợn mắt, khuỳnh tay, xù lông, xoè cánh… Bốn tự xưng là mafia, là đại ca của nhiều tay anh chị nổi tiếng ở bến tàu, bến xe… Nhưng sau cái vẻ hùng hổ ấy vẫn là sự chân thực, nhút nhát, lo lắng rất buồn cười… vì Bốn chưa hề đánh được ai ??? Có điều công việc đang làm, hoàn cảnh Bốn đang sống bắt Bốn phải làm ra thế mới “đứng được” ở đời… Cả khi Bốn đã là một nhà thơ, một “đại gia” giàu có, nhưng Bốn vẫn không giấu được con người thật của mình: Một nhà thơ của đồng quê ấm áp.

Bốn có nhiều kỷ niệm với các nhà thơ, nhà văn và bạn bè ở Hải Phòng từ thuở hàn vi… mà nhiều chuyện hay lắm, đau lòng đến thảm thiết và cũng buồn cười chảy nước mắt. Bốn như một con thò lò sáu mặt, là cầu vồng bẩy sắc hiện sau mưa lúc thì lấp lánh như kim cương, lúc dữ dội tựa biển gầm, lại có lúc như hồ thu sâu lắng, dịu dàng… và có khi là quỷ sa tăng nơi địa ngục… Đúng như Nguyễn Huy Thiệp đã dẫn lời một nhà thơ Nga: “Ta là vua, ta là nô lệ… ta là sâu bọ, ta là thần…”. Nhưng dù Bốn có là gì đi nữa, Hải Phòng tự hào vì có Đồng Đức Bốn – một nhà thơ lục bát đã làm thơ ca thành phố chúng ta mơ mộng, mê say và quyến rũ hơn.

Cá nhân tôi mạo muội vinh danh Đồng Đức Bốn và tin rằng khi Bốn đã đi xa… anh vẫn nhớ về thành phố yêu thương của mình với nụ cười trĩu nặng niềm vui… Vĩnh biệt anh bằng mấy câu thơ vô tình tôi đọc được của một tác giả đăng trên tạp chí Ngày nay (số đầu tháng 6/2005): Trái có thể đắng / Hoa có thể buồn / Ngắm có thể hư vô / Bản chất có thể thối rữa/ Nhưng trong thoáng chốc phù du/ Làm ngưng đọng một khoảnh khắc/ Khoảnh khắc có thể trăm năm và lâu hơn nữa.

Vâng, khoảnh khắc ấy chính là nhà thơ Đồng Đức Bốn với những câu thơ lục bát “thiên sứ” của mình./.

Nguyễn Long Khánh

 
Những biểu tượng thức giấc trong thơ Mai Văn Phấn

Vượt ra ngoài trật tự thông thường của ngôn từ, nhà thơ Mai Văn Phấn tạo nên sắc mầu tươi mới cho thơ ca Việt Nam trong những năm gần đây.  Có những câu thơ lạ lùng, có những hình ảnh “kì quặc” nhưng nó lại là hơi thở của thời đại mới. Nói cách khác, Mai Văn Phấn là nhà thơ của sự đột phá. Chúng ta không còn thấy cái bóng ám ảnh của Thơ mới ở đây nữa, mà thơ ông đã bước sang một “chân trời” mới.

Đọc thơ Mai Văn Phấn chúng ta thấy ông vận dụng một cách tối ưu các thủ pháp của thơ ca phương Tây như: phá vỡ trật tự câu thơ, nhịp, vần thông thường kết hợp với việc nâng cao giá trị các biểu tượng, mở rộng trường nghĩa các biểu tượng và tạo nên các “khoảng trống” trong bài thơ của mình. Những hình ảnh bên cạnh những “khoảng trống” không dễ đọc một chút nào. Nó không còn là một văn bản truyền thống để người đọc có sẵn một nội dung cho mình mà đã trở thành một văn bản mở để chúng ta nghiền ngẫm, tự chiêm nghiệm cho bản thân. Cũng bởi vậy, đọc thơ Mai Văn Phấn theo lối truyền thống, tức là cứ cố sắp xếp lại ý tứ của bài thơ mà diễn dịch ra ý nghĩa rồi đưa đến một kết luận chung cho tất cả độc giả thì thật sự nan giải. Cho nên ở đây, người viết thử đọc thơ ông dưới góc nhìn liên văn bản để góp phần làm rõ dấu ấn hậu hiện đại trong thơ ông.

Liên văn bản hiểu theo cách thông thường nhất là các văn bản được liên kết với nhau, “kêu gọi” nhau thông qua sự tương tác với người đọc. Người đọc bằng vốn văn hóa, tri thức của mình sẽ tự tạo liên tưởng với các văn bản khác. Tuy nhiên, sự liên tưởng của người đọc cũng cần có những “chìa khóa” để kích hoạt hoặc đi theo một vài “mũi tên” chỉ đường kín đáo của nhà thơ chứ không phải liên tưởng một cách hồ đồ, tùy tiện. Cũng như internet (được coi là một liên văn bản) cần phải có đường dẫn để người đọc bấm vào mới đi sang một wed khác được. Chìa khóa để kích hoạt sự liên tưởng của bạn đọc chính là biểu tượng.

Đọc thơ Mai Văn Phấn, đầu tiên người viết sẽ đối chiếu nó với các biểu tượng gốc sau đó mới đi tìm sự sáng tạo trong những biểu tượng phái sinh. Sau đây tôi sẽ khảo sát bài thơ “Đêm của em”:

Em không ngủ yên dưới tàng lá giật

Một nhành cây vừa rơi xuống mái tôn

Tiếng quả vỡ lăn trên thềm gạch cũ

Gió lồng lộn làm mặt nước không còn trơn mịn

Lối đi vươn cánh tay níu lấy bìa rừng

Mắt em mở vào đêm sâu lò than hồng rực

Dâng mùi ngô nướng, nếp thơm

Tiếng nước sôi trong trí nhớ em

Liên tục reo vang đến gần sáng

Cố nép vào thành giường

Em nín thở chờ thời khắc yên tĩnh

Ôm con bồ câu vô hình

Đợi mặt đất bình yên buông tay cho trời rạng.

Người viết sẽ khảo sát các biểu tượng sau:

- Đêm: Giấc ngủ và sự chết

- Lá:  Hạnh phúc và sự phồn vinh

- Cây: Quan hệ giữa đất và trời, sự sống trong tiến hóa liên tục

- Quả: Sự sung túc dồi dào

- Gió: Tính hư phù, bất ổn định, hay thay đổi

- Rừng: Tính hai mặt huyền bí của rừng, nơi sản sinh ra vừa sự lo lắng vừa sự bình tâm

- Nước: Khởi thủy, nguồn gốc, sự thanh tẩy

- Bồ câu: Tình yêu và mùa xuân

- Đất: Sự thụ động, người mẹ, sự tái sinh

- Trời rạng (bình minh): Sự vui sướng, tỉnh giấc, khả năng, sự hứa hẹn, hy vọng

Sau khi đối chiếu ý nghĩa các biểu tượng với Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, chúng ta đã có một lớp nghĩa đầu tiên cho bài thơ này. Nói cách khác, chúng ta đã có một chuỗi liên văn bản thứ nhất. Nếu hiểu theo cách này thì bài thơ sẽ được diễn dịch ra là lời tâm sự của cô gái trong đêm.

Ta cảm thấy sự bất an của cô gái dù đang ngủ ngay trong hạnh phúc. Sự sống rơi rớt ở trên đầu cô và sự sung túc lăn trên thềm gạch. Đổi thay làm cho sự thanh tẩy không còn. Cô bám víu lấy sự lo lắng và bình tâm. Trong đêm, cô ôm lấy tình yêu và mùa xuân chờ đợi hy vọng.

Nếu hiểu bài thơ một cách đơn giản thế này thì có lẽ chẳng có gì để nói. Thậm chí hiểu vậy có phần máy móc. Người viết muốn nhấn mạnh: sau khi khảo sát ra những nghĩa gốc của biểu tượng chúng ta lại liên kết ngược trở lại với văn bản để thấy được sự sáng tạo của nhà thơ trong việc sử dụng các biểu tượng trên. Tức là đi tìm ý nghĩa phái sinh của nó: “Đêm của em” – nhan đề bài thơ đã là một biểu tượng. Theo tôi, nó không mang nghĩa gốc là giấc ngủ hay cái chết mà ở đây thể hiện sự âu lo hay sợ hãi của cô gái. Đó là sự sợ hãi ngay trong hạnh phúc. Thanh âm của đêm luôn khiến con người ta nhạy cảm. Đêm là khoảnh khắc mà con người sống thật nhất với bản thân, không tô không vẽ. Đêm là thời điểm mà những chiêm nghiệm ùa về. Lá vốn là biểu tượng của hạnh phúc. ở đây nhà thơ đã biến nó thành “lá giật”. Phải chăng đó là hạnh phúc mong manh, bất an. Ngay cả trong hạnh phúc viên mãn chúng ta vẫn lo âu, chúng ta sợ mất, sợ không giữ nổi.

Cơn gió và mặt nước cũng trở thành một cặp đôi: động – tĩnh. Hay nó là biểu tượng của cuộc đời và cõi lòng. Mặt nước ấy, gió xô đã không giữ được trạng thái tĩnh ban đầu. Sự yên bình cũng như vậy mà tan biến cho dù có níu kéo thế nào chăng nữa. Nhà thơ dùng từ “bìa rừng” chứ không phải rừng. Nếu nghĩa gốc của rừng là sự bình tâm thì bìa rừng mong manh hơn. Nó chỉ là ranh giới mà chủ thể trữ tình muốn bám víu. Cái ranh giới giữa hạnh phúc và khổ đau.

Ở bài thơ này, người viết còn muốn nhấn mạnh vào biểu tượng “nước”. Với nhiều nền văn minh xa xưa, “nước” thường mang ý nghĩa nguồn gốc, sự thanh tẩy nhưng trong văn hóa Việt Nam biểu tượng này còn mang ý nghĩa sự yên bình. Nhà thơ đã phác họa nên chân dung của “em” trong đêm tĩnh lặng nhưng tâm trí rối bời. “Nước” yên bình nhưng giờ là “nước sôi”, là sự dày vò của “trí nhớ” trỗi dậy. Hình ảnh người con gái trong đêm ngồi nhìn lò than rực hồng cùng với “tiếng nước sôi trong trí nhớ” hay là sự lo âu khắc khoải trong lòng cô. Nếu “đêm” là thời gian hiện tại thì “tiếng nước sôi” là thanh âm của quá khứ đan xen với tâm trạng đợi chờ trời sáng, đợi chờ tương lai. Đó cũng là tâm lý chung của con người luôn ám ảnh bởi ba bình diện thời gian. Ta thấy sự rối bời trong lòng người, sự phân mảnh tâm lý với dòng suy tư, chiêm nghiệm của chủ thể trữ tình: Cố nép vào thành giường / Em nín thở chờ thời khắc yên tĩnh / Ôm con bồ câu vô hình / Đợi mặt đất bình yên buông tay cho trời rạng.

Đến khổ thơ cuối này thì quả thực tâm trạng bất an hiện lên rõ nét nhất qua biểu tượng “con bồ câu vô hình”. Đó là điểm nhấn để giúp người đọc cảm nhận được hết ý nghĩa đọng lại của bài thơ. Trong sự bất an và âu lo, “em” “cố nép vào thành giường”, hay cố tìm sự che chở, tìm bình yên trong tâm hồn. “Nín thở” nhưng “tiếng nước sôi” vẫn không yên, vẫn day dứt trong lòng những thanh âm của kí ức. “Con bồ câu vô hình” hay là biểu tượng của sự thanh thản không tồn tại, của tình yêu không có thực. Sự lo sợ cô đơn, tìm lấy một điểm tựa dù mong manh vô hình. Một biểu tượng nữa ở đây cần chú ý là “mặt đất”. Lớp nghĩa đầu tiên của nó là sự thụ động, biểu thị sự chờ đợi. Mặt khác nó đồng nhất với người mẹ, với nữ tính và sự tái sinh. Nhân vật trữ tình ở đây trong sự khắc khoải, âu lo dày vò cũng như đang chờ đợi sự tái sinh trong tương lai. “Trời rạng” hay bình minh chính là những biểu tượng mang nghĩa hứa hẹn và hy vọng như vậy. Đặc biệt, người viết nhận thấy biểu tượng “trời rạng”, “bình minh” xuất hiện khá nhiều trong các sáng tác của nhà thơ Mai Văn Phấn như trong bài “Tự thú trước cánh đồng”, bài  “Hoa sưa” hay bài ‘Ngày khác”… Người viết nhận thấy các biểu tượng được sử dụng với nhiều ý nghĩa rất linh hoạt. Có lúc “ngày mới” biểu trưng cho sự tước bỏ, mất mát, có khi lại thể hiện sự hồi tưởng, kí ức… Qua khảo sát ở trên, chúng ta thấy cùng một biểu tượng ngoài nghĩa thông thường từ xa xưa của các nền văn minh để lại, nó còn liên tục được làm mới, được bổ sung ý nghĩa. Những biểu tượng “thức giấc” với “hình hài” mới làm ý nghĩa rộng hơn, phong phú hơn cùng liên tưởng của độc giả.

Với bài thơ “Đêm của em”, người viết không đi theo một trật tự ngôn từ thông thường để tìm hiểu ý nghĩa của nó mà xoáy sâu vào các biểu tượng gốc hoặc được bổ sung lớp nghĩa mới. Những biểu tượng ám ảnh con người, rời rạc nhưng giầu sức liên tưởng để thấy được tâm trạng của nhân vật trữ tình trong đêm tĩnh lặng, trong sự chiêm nghiệm về quá khứ, tương lai và hiện tại, trong hạnh phúc manh nha những đổ vỡ và trong đổ vỡ mong chờ bình yên. Mai Văn Phấn nói: Thơ ông là thơ tạo sinh nghĩa. Vậy thì liên văn bản quả thực là “cây cầu” hữu hiệu để người đọc khám phá thế giới thơ này. Những biểu tượng được “nén chặt” tối đa như búp chè tươi được sao khô thành chè búp. Liên văn bản như nước sôi để chè búp nở ra, tỏa hương, trở lại hình dáng ban đầu. Vì khuôn khổ bài viết có hạn nên việc tạo ra chuỗi liên văn bản dài hơn là điều rất khó.

Trên đây là kiến giải của người viết về bài thơ nhưng dường như là chưa đầy đủ. Với một văn bản mở, hy vọng nhiều bạn đọc khác sẽ có những liên tưởng rộng hơn, sâu sắc hơn, đánh thức các biểu tượng văn hóa lâu đời thức dậy và tự tìm cho mình một ý nghĩa./.

 

Nguyễn Nhật Huy

(Thái Nguyên)

 
Vẫn là Nguyễn Thụy Kha của “Thời máu xanh”

Đã mười lăm năm trôi qua, kể từ khi nhạc sĩ, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Thụy Kha ra mắt tập thơ “Thời máu xanh”. Tập thơ ngay sau đó gây tiếng vang trên thi đàn và được dịch ra tiếng Anh, có mặt trong thư viện của những trường đại học danh tiếng trên thế giới như Harvard, Dalat. Với những người yêu thơ, nhất là những người từ chiến trận còn may mắn sống sót trở về,  “Thời máu xanh” chính là tiếng lòng, là những vui buồn, thăng trầm đời lính.

ở đó, ta bắt gặp hình ảnh những người lính ra đi vì lý tưởng, vì sự sống còn trước vận mệnh của cả dân tộc. ở đó: “Một thế hệ hiến dâng trọn vẹn, hiến dâng vô danh/ Cắn chặt răng không khóc/ Cháy thành lửa, tắt thành vuông cỏ mọc/…Những người lính/ Những giọt máu xanh/ chảy lặng lẽ trên thân hình bán đảo”.

ở đó, những người lính như Nguyễn Thụy Kha, khi đất nước đã thanh bình, anh cũng đã rời quân ngũ nhưng những tháng năm nơi chiến trường, yêu đất nước bằng tình yêu trọn vẹn, không hề toan tính dâng hiến tuổi xanh, vẫn không nguôi trăn trở: “Cởi những thập niên máu xanh/ đến bao giờ máu tôi đỏ lại”.

Trường ca người lính- sinh viên

Trên nền tảng triết lý của “Thời máu xanh” ấy, Nguyễn Thụy Kha xây dựng bộ “Trường ca ngắn-kịch thơ”. “Cuộc chiến cũng đã đi qua lâu rồi, gần bốn mươi năm, nhưng tôi vẫn muốn nói lại toàn bộ hành trình ấy để khép lại một cuộc chiến tranh với những quẫy động suốt thời gian dài. Để từ đây có thể hoàn toàn yên ổn, bớt day dứt hơn. Để bước sang một thời gian khác, làm những tập thơ khác có tính thời đại, mà chủ yếu là làm thơ tình, thơ tình của thế kỷ mới, và những vấn đề của thế kỷ mới”, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha nói.

Bộ trường ca - kịch thơ này, Nguyễn Thụy Kha viết trong nhiều năm. Trường ca “Lòng chảo” là những năm tháng không thể nào quên về một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Tiếp đến, kịch thơ “Tình làng” là câu chuyện về thời kỳ đồng khởi. Trường ca “Cực sóng” là câu chuyện về những chuyến tàu không số, “Biến tấu Souliko” dành tặng nữ anh hùng và cuốn nhật ký đã góp phần thắp lửa tình yêu quê hương đất nước Đặng Thùy Trâm.

Những trường ca tiếp theo, như một phần máu thịt của chính nhà thơ  từ “Màu Quảng Trị’, “Hà Nội- Tháng Chạp nóng” của năm 1972, rồi “Gió Tây Nguyên” - giải phóng miền Nam 1975 và “Mùa xuân trắng” về cuộc chiến tranh biên giới 1979.

Nguyễn Thụy Kha nhập ngũ ngày 6/9/1971, ngay sau khi vừa tốt nghiệp Đại học Thông tin (sau này là Học viện Bưu chính Viễn thông) với tấm bằng kỹ sư. Đeo trên vai quân hàm binh nhì, anh được biên chế ở Sư đoàn 325 cùng với rất nhiều sinh viên khác. Cả một đại binh đoàn sinh viên trên toàn quốc được tăng cường cho mặt trận Quảng Trị, với nhiều đợt tuyển quân cuối năm 1971, đầu năm 1972. Những người lính sinh viên, vai cõng nặng ba lô, tấp nập rời ga Hàng Cỏ, “Ra đi hăm hở ra đi/ Vội vã nhập dòng sông đơn vị/ Những bộ áo quần thùng thình là thế/ Hòa vào nhau đội hình đẹp bao nhiêu”.

Họ cùng chung lý tưởng, khi đất nước cần, gác lại bút nghiên lên đường ra trận. “Tất cả cùng hướng về Quảng Trị/ Tất cả đều nhận cảm những gì lớn lao Tổ quốc đặt nặng vai thế hệ/ Biết ra đi rất có thể không về/ Thì không chỉ bóng mình mà cả chính thân thể mình cũng thế/ Sẽ hòa vào cát trắng vô danh/ Sẽ lặng im như hạt cát chân thành” (Màu Quảng Trị). Để rồi, mùa hè đỏ lửa năm 1972, máu nhuộm đỏ mảnh đất này, màu đỏ tưởng như “Chẳng thể nào đỏ hơn được nữa” và “Những giọt máu trắng trong đỏ tươi/ Nhuộm đỏ Hiền Lương, sông Hiếu, Thạch Hãn/ Nhuộm đỏ cả trời xanh/ Nhuộm đỏ sang cả Paris bàn đàm phán bốn bên/ Nhuộm đỏ cả những đoàn biểu tình đất Mỹ/ Nhuộm đỏ vào ý chí / Nhuộm đỏ thời gian nhuộm đỏ không gian” (Màu Quảng Trị).

Vào Quảng Trị, Nguyễn Thụy Kha được điều về Đại đội 6 anh hùng của một đơn vị thông tin, phục vụ trực tiếp cho chiến dịch. Anh nhiều lần đưa dây, nối dây đi qua Thành cổ. Có chuyến đi chỉ có hai người, ăn uống nhờ các đơn vị bộ binh gặp dọc đường.

Mùa hè đỏ lửa ở Quảng Trị, anh suýt chết nhiều lần. Có lần, khi cùng đồng đội đưa đường dây qua đường 9 ở vùng suối La La, bị máy bay trinh sát OV10 đuổi. Ngay sau đó B52 đến rải thảm. Một cuộc chạy đua để giành lấy sự sống, anh đã thoát chết trong gang tấc.

Đây cũng chính là thời kỳ Nguyễn Thụy Kha thất lạc tin với người yêu đầu tiên. Khi anh trở về, mừng vui vì anh còn sống nhưng đò đã sang sông, cả hai chôn chặt mối tình vào câm lặng. “Đấy là sự khốc liệt của chiến tranh”, anh nói. Một lần, khi chở người yêu (mới) đi chơi, không biết thế nào vòng xe của anh lại ngang qua nhà người yêu cũ. Cơn mưa bất chợt ban trưa đã đưa anh về những cảm xúc tình đầu. “Đưa người yêu qua nhà người yêu cũ/ Rơi cơn mưa ban trưa/ Thấy hồn mình tách thành hai nửa/ Nửa ướt bây giờ nửa ướt xa xưa” (Không đề). Bài thơ được các thế hệ học trò chép vào số tay làm kỷ niệm.

Sau năm 1972, Nguyễn Thụy Kha được giao nhiệm vụ khảo sát và thiết kế đường dây thông tin chiến lược xuyên Trường Sơn. Trên đường đi khảo sát, anh vẫn cùng các đơn vị bộ binh tham gia chiến dịch chống lấn chiếm ở Đác Pét, sau đó là phục vụ cho Quân đoàn 3 trong chiến dịch Buôn Mê Thuột.

Năm tháng trải nghiệm trong những cuộc chiến khốc liệt đã tạo thành nguồn xúc cảm với nhiều dồn nén, tích tụ. Thơ của anh, lời nói của người từng đi qua cuộc chiến bây giờ vẫn bỏng rát một nỗi niềm: “Hà Nội-tháng Chạp này không giống trời nước khác…Trong vời vợi cao xanh trong thản nhiên xanh đông lạnh/ Lặng lẽ âm thầm nấu nung căm hận/ Để bùng lên sức nóng vô cùng/ Để sấm chớp để bão giông/ Quật rơi rụng những cánh diều hâu tàn ác/ Quật tan tác những âm mưu hiểm độc/ Trước sống còn của dân tộc đồng bào/ Trước tồn vong mà thời đại đã trao/ Trên trời thiêng thủ đô yêu dấu” (Hà Nội-Tháng Chạp nóng).

Những trường ca tiếp theo tiếp nối mạch nguồn cảm xúc ấy, cháy ngọn lửa của lòng yêu nước, là sự trắc ẩn của một nhà thơ-người lính từng qua thời kỳ binh lửa. Trường trường, lớp lớp tâm tư với dư âm vang vọng, toàn bộ không gian với nhiều sự đan xen, với nhiều hy sinh, sự dâng hiến, rất nhiều sự dấn thân. “Tổng kết” bằng thơ cả một thời kỳ lịch sử, cũng là một lần nữa nhìn lại một thời kỳ lịch sử của dân tộc, mà ở đó sự hy sinh của nhiều thế cha anh đã góp phần làm nên một dân tộc anh hùng và mỗi con người trong dòng sông lịch sử ấy đã hoàn thành sứ mệnh của họ.

Có một điều tôi rất tin, đó là lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam. Khi biển Đông “dậy sóng”, tình yêu ấy một lần nữa được thể hiện rất rõ. Cách đây nửa tháng, tôi đã đến Tam Quan Bắc (Bình Định) để chứng kiến 30 thuyền của ngư dân vươn khơi bám biển. Những chuyến đi như thế, mỗi ngư dân thực sự là một chiến sĩ, họ sẵn sàng ra khơi, vừa là làm giàu cho Tổ quốc, vừa là bảo vệ Tổ quốc”.

Những hợp xướng cho trường ca

Nguyễn Thụy Kha là một trong số ít nghệ sĩ đa năng. Vừa làm thơ, viết nhạc, vừa viết văn xuôi, anh cứ lặng lẽ làm và lặng lẽ tỏa sáng. Đọc bộ Trường ca ngắn-kịch thơ, ngoài âm hưởng bi hùng của thể loại trường ca, còn như thấy ngàn ngàn lớp sóng nhạc ngân nga cộng hưởng. Lợi thế của người nhạc sĩ, tâm hồn của người viết nhạc đã khiến cho những trang thơ Nguyễn Thụy Kha trở nên mềm mại, cuốn hút. Đọc trường ca “Biến tấu Souliko” khó có thể không nghe lại khúc dân ca Grudia, với những giai điệu du dương êm đềm: “Bao đêm ngày tôi đi kiếm tìm quanh/ nơi nao người tôi yêu nấm mồ xanh/ lang thang tìm không thấy tôi đi cho đến bây giờ/ chín suối em hay chăng Souliko”.

Vì vậy, không hề giấu giếm, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha “khoe” rằng, nhiều trường ca trong bộ trường ca-kịch thơ này đã được anh viết thành hợp xướng. Kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5 vừa rồi ở thành phố mang tên Bác, hợp xướng “Điện Biên” được rút từ trường ca “Lòng chảo” của anh đã được trình diễn trong chương trình “Vinh quang Điện Biên. “Vết đứt gẫy địa tầng/ chiếc lưỡi cưa trời cưa đôi đại ngàn/ rạch ra đất Nậm Rốn/ và cánh đồng Mường Thanh/ trườn lên trảng cỏ tranh/ âm thầm ven Tây Bắc/ lòng chảo/ nơi thời gian phải lòng không gian/ nơi không gian giao hoan thời gian” (Lòng chảo)… Những ca từ, thanh âm dội vào ký ức nhắc nhớ thời kỳ oanh liệt.

Còn với trường ca “Màu Quảng Trị” thì anh có hợp xướng “Quảng Trị miền cát trắng”; hợp xướng “Sóng Rừng thông” rút từ trường ca “Gió Tây Nguyên” (sang năm dựng). Kịch thơ duy nhất “Tình làng” trong bộ trường ca-kịch thơ   của anh cũng vừa được nhạc sĩ Doãn Nho dựng thành vở opera “Câu chuyện tình yêu”.

Với gần hai mươi năm trong quân ngũ, kể từ khi phục viên, Nguyễn Thụy Kha còn lao động cật lực hơn rất nhiều. Danh vọng chỉ khiến con người rời xa nhau. Anh chỉ muốn, mình có thể làm nhiều hơn, cả phần việc của đồng đội, những người từng cùng anh một thời Quảng Trị, một thời đường Trường Sơn, một thời Buôn Ma Thuột, một thời chiến tranh biên giới, họ đã không trở về. Thế nên, mỗi ngày anh viết vài trang, như con kiến tha lâu đầy tổ. Sống hết mình và hồn nhiên, không bon chen, đố kỵ, không đòi hỏi. Chấp nhận thua thiệt để được là chính mình. Đó cũng là cách để anh lấy cảm hứng và nuôi dưỡng cảm xúc cho những sáng tác của mình./.

Xuân Phong

(Hà Nội)

 
Viết về những người lính và đề tài chiến tranh cách mạng

Với người lính từng trải qua chiến tranh, đáng nhớ nhất trong đời có lẽ chính những năm tháng ấy, nên sau rất nhiều năm chuyện ngày đó vẫn được nhắc đến, sách báo cũng viết nhiều về họ, đề tài chiến tranh cách mạng luôn là đề tài lớn của văn học nghệ thuật nước nhà mà nhân vật trung tâm là họ, viết nhiều và có những tác phẩm xuất sắc cũng thường là họ. Bạn đọc Hải Phòng đã biết đến các nhà văn, nhà thơ từng mặc áo lính như Mai Vui, Thi Hoàng, Đình Kính, Chu Văn Mười, Vũ Quốc Văn, Hoàng Thiềng, Nguyễn Quốc Hùng… ở đây muốn nói tới tác giả Hải Chi (Đào Bá Phúc) - một người còn khá xa lạ với bạn đọc vì gần đây, ngoài 60 tuổi anh mới cầm bút. Anh tặng sách tôi. Tôi đoán là thơ vì đang thời buổi “người người làm thơ, nhà nhà làm thơ”! Chỉ lạ đôi chút là cuốn sách khá dày. Nó mỏng thì “bình thường” song bởi nó dày nên tôi cám cảnh cho anh: Cả một đời lặng lẽ làm thơ nay gom góp cố ra cho được “toàn tập” thế này, nghĩ cũng tội. Nhưng hóa ra…

Hóa ra không phải thơ mà văn xuôi! Anh còn nói trước đó đã in một cuốn và sắp tới hai cuốn nữa sẽ được xuất bản. Quả nhiên sau đấy tôi lại nhận được sách của anh, cuốn nào cũng cầm nặng tay, với tổng số 1300 trang có dư.

Thực ra anh chỉ lạ về chuyện viết lách chứ không lạ với nhiều người. Tác giả Hải Chi (Đào Bá Phúc) chính là Đào Bá Đức - nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Thi đua khen thưởng thành phố Hải Phòng. Từ hồ sơ khen thưởng cá nhân đến đơn vị, cứ “động đến” chuyện khen từ cấp thành phố cho đến danh hiệu Anh hùng đều phải qua đầu mối quan trọng là nơi anh!

Đào Bá Đức nhập ngũ ngày 25/3/1967 và là lính Tiểu đoàn 342. Chủ yếu gồm con em Hải Phòng nên Tiểu đoàn được Bộ Tư lệnh Quân khu Tả ngạn và Thành ủy Hải Phòng tặng danh hiệu “Tiểu đoàn Cát Bi”. Ngày 16/11/1967 Tiểu đoàn làm lễ xuất quân, mang truyền thống “Ngọn lửa Cát Bi” vào chiến trường miền Nam, chiến đấu ở một trong những chiến trường ác liệt nhất, đó là mặt trận Tây Bắc Sài Gòn, nơi báo chí địch gọi là “cối xay thịt” còn báo chí ta gọi là “Củ Chi - Đất thép Thành đồng”. Đào Bá Đức dành hồi ký Những người lính Tiểu đoàn Cát Bi nói về đơn vị mình. Cuối sách anh viết: “Tôi kính tặng cuốn sách này cho những đồng đội của tôi đã anh dũng hy sinh ở chiến trường và những người còn sống trở về…”. Báo chí, nhất là ngày trước, khi nói tới các trận đánh thường thiên về chiến thắng của ta và số địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, hiếm khi nói đến thiệt hại phía mình. Đào Bá Đức cũng không ngoài điều đó. Nhưng ít nhiều anh đã mạnh dạn khi viết: 631 cán bộ chiến sĩ hôm lên đường, 521 người hy sinh, 110 người trở về - trong đó chỉ gần một trăm trở về trong vinh quang… Bạn đọc đều hiểu những người trở về không vinh quang là người bỏ ngũ. Sự mạnh dạn của tác giả còn ở những đoạn nói về cái chết của đồng đội, tiếng rên la của các chiến sĩ bị thương, nỗi đau của người mẹ có con hy sinh.

Những người lính Tiểu đoàn Cát Bi là chuyện về các trận đánh, sự kiện được hiện diện ngay ở tiêu đề các chương: Chương VII - Đánh bốt Phú Hòa Đông, Chương X - Tiêu diệt bốt Cầu Ván, Chương XII - Trận đánh ở ấp Bầu Me… Nhưng nổi lên vẫn là chuyện con người, chủ yếu là chuyện người lính, được xâu chuỗi trong một tổng thể mà xuyên suốt là chính tác giả. Qua sự kiện và con người cùng những điều tác giả muốn gửi gắm, chút góc nhỏ của một giai đoạn lịch sử đã được phục dựng đa dạng, sống động gần với bản chất của nó. Rất nhiều chuyện, từ chuyện những binh nhất, binh nhì đến Tiểu đoàn trưởng và nhân dân các vùng giải phóng; chuyện các trận đánh và ngoài trận đánh; chuyện vui, chuyện buồn. Cách kể dí dỏm làm sự khốc liệt của chiến tranh và những hy sinh mất mát được vợi bớt. Như chuyện Tiểu đoàn trưởng Hai Hiệu, gặp biệt kích địch lại tưởng anh em mình nên xưng tên, địch hỏi nhau: “Hai Hiệu là thằng nào?” nên Hiệu biết mình nhầm và kịp bỏ chạy, chỉ bị dính đạn ở mông! Như việc phải dùng thứ nước bị nhiễm độc, biết là độc nhưng vẫn phải ăn phải uống, khử độc bằng cách lọc nước qua hàng chục chiếc khăn mặt; chuyện vì đánh rơi gầu xuống giếng nên phải xuống mò lên, do vậy phát hiện dưới giếng có bộ xương người, chắc chết từ lâu nên xác đã rữa hết, vậy là những người không ngại cái chết sợ hết hồn, bao nhiêu lông tóc dựng cả lên khi nghĩ lâu nay vẫn ăn vẫn uống nước giếng ấy! Hay chuyện hai cô du kích tải thương rủ rỉ với nhau toàn chuyện đàn bà, còn anh thương binh thì vờ ngủ nghe chuyện các cô một cách hứng thú! Nói chung là những chuyện rất đời.

Cuộc sống thời bình có cái nghiệt ngã, khốc liệt của nó. Vững vàng trong chiến tranh không hẳn đã đứng vững trong thời bình. Họ trở về sau chiến tranh là chuyện về người lính hậu chiến. Họ hầu hết có điểm chung: Học hành dang dở, nhiều người còn để lại quê hương cả tình yêu dang dở để tình nguyện nhập ngũ, chiến đấu dũng cảm, trở về mang đầy thương tích và ngỡ ngàng trước cuộc sống, bị thói đời muôn hình muôn dạng va đập lôi kéo, nhưng nghị lực được tôi luyện trong chiến đấu đã trở thành nền tảng tinh thần, làm nên phẩm chất chiến sĩ, giúp họ trụ được với đời, thích nghi với xã hội và dần dần vươn lên. Đó là anh thợ gò Trung “ghẻ”, (đồng đội gọi thế để phân biệt với Trung “min tu”), bởi có thời gian Trung “ghẻ” bị ghẻ thật; anh về mất sức, dựng túp nhà hai gian mái tôn tường đất, ngày ngày vừa gò thùng gò chậu bán vừa vỡ hoang đầm lầy, cứ thế trở thành chủ nhân một trang trại nhỏ, gia đình êm ấm, con cái giỏi giang. Là Nhật, cô thanh niên xung phong trắc trở trong tình duyên và cuộc sống gia đình, lại ốm đau bệnh tật. Tôi thích cái kiểu Nhật nói về bệnh tật của mình khiến chị mấy lần phải cấp cứu: “bệnh tim hay bệnh thổ tả nào không biết”; thú vị cả với câu chửi của mẹ chị với kẻ đã vu cho chị chửa hoang: “Sao mày lại dựng chuyện con gái bà hủ hóa, có thai, đẻ non. Nó ngủ với bố chúng mày có thai phải không? Bà sẽ chửi đủ 3 tháng 10 ngày…”. Thích vì nó thật, không màu mè, nó đúng với nhân vật, nói bằng giọng lý luận văn học thì nó được cá tính hóa. Là anh chàng Thi ngày trước nhờ thơ hay mà lấy được vợ nhưng về sau bị vợ bỏ cũng vì thơ, bởi lúc này chị ta đã không còn yêu thơ, “hết yêu thơ nên chán người”! Là giám đốc Lễ vì đấu tranh thẳng thắn mà bị trù úm. Là cửa hàng trưởng Thận bị đối tác lừa đảo nên dính vòng lao lý, sau này trắng án ra tù quyết lặn lội các nơi đòi nợ cho công ty dù con nợ chỉ nợ năm trăm, một triệu đồng, tính ra quãng đường đòi nợ dài tới… nửa vòng trái đất; đòi xong cõi lòng nhẹ nhõm anh xin về hưu, cùng vợ con làm lại cuộc đời! Tôi thích cái sự nổi khùng “rất lập trường” và “rất lính” của Thận khi thằng bạn tù vốn là giám đốc doanh nghiệp vừa tỏ ra thương xót vừa chê anh thật thà và lên mặt dạy đời: “Thương cái mả bố nhà mày! Cái ngữ mày sau này có ra tù lại tiếp tục đi lừa đảo cho mà xem. Cũng may cho mày, nếu chuyện lừa gạt của mày xảy ra ở chiến trường, thì mày đã lãnh đủ cả băng đạn AK rồi!”.

Trở về sau chiến tranh còn là sự trở về của những người đã khuất, trở về với người thân khi chỉ còn hài cốt! Cuộc kiếm tìm hài cốt gian nan, vất vả và nguy hiểm. Lại có trường hợp đặc biệt như liệt sĩ Đào Nguyên Nghĩa, “vô tình” hài cốt lại nằm trong nhà, ngay dưới cửa buồng một nhà dân, khi biết ra cả nhà mất ăn mất ngủ, đêm chuột chạy, gió rít cũng giật mình, chỉ mong người ngoài Bắc sớm vào khai quật!

Chương kết Những người lính Tiểu đoàn Cát Bi cũng đề cập đến việc truy tìm hài cốt liệt sĩ. 521 chiến sĩ hy sinh đến năm 2012 khi tác giả viết hồi ký này, mới tìm được gần 300 hài cốt. Chính Hai Hiệu, người Tiểu đoàn trưởng dính đạn vào mông năm xưa là người đầu tiên tổ chức đồng đội đi tìm hài cốt liệt sĩ của Tiểu đoàn. Tuy nhiên người được dư luận và báo chí nói nhiều trong việc này là Trần Văn Bản. Đào Bá Đức góp cùng dư luận hẳn 400 trang, cuốn Bác sĩ Trần Văn Bản. Dài nhưng đọc không có cảm giác tác giả cố kéo dãn câu chuyện. Bản cùng đồng đội luồn rừng lội suối, vượt qua bom mìn, rắn rết tìm được hơn 2300 hài cốt đồng đội, riêng anh tìm được 914 hài cốt. Trần Văn Bản đã 38 lần ngược xuôi Nam Bắc đưa hàng trăm hài cốt về với gia đình họ. Đó là nhờ trí nhớ, nhờ “giác quan thứ sáu”, nhờ những mảnh giấy ghi tên tuổi, quê quán, ngày sinh trong lọ Penecilin, Streptomycin được bỏ vào miệng liệt sĩ trước khi chôn cất, nhờ cả sự linh thiêng báo mộng của người đã khuất, nhưng trước hết là nhờ tấm lòng của đồng đội còn sống từng vào sinh ra tử với người đã khuất. Mỗi cuộc kiếm tìm là một hồi ức về trận đánh. ảnh và sơ đồ in kèm trong sách góp phần minh họa sinh động cho các câu chuyện. Tác phẩm còn dựng lại hình ảnh Trần Văn Bản, từ người học hành dang dở, mãi năm 19 tuổi mới vào học cấp 3; năm 36 tuổi mới thi vào Trường Đại học Y Dược và trở thành bác sĩ. Tuổi trẻ anh có quyền tự hào cùng lớp thanh niên ra trận bảo vệ Tổ quốc, tuổi trung niên mang đầy thương tích, vật lộn trong cuộc mưu sinh nhưng đã thực hiện được lời hứa với đồng đội, tuổi già hạnh phúc với người vợ hiền và con cháu nhưng cũng là những năm phải chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo.

Báo chí viết về điển hình tiên tiến không ít nhưng nếu in thành sách thường chỉ mươi trang và thiên về thành tích, tác giả nào kéo dài được, nâng lên được thành truyện ký thì cũng chỉ hơn trăm trang. Trong khi đó Khi người lính trở về của Đào Bá Đức viết về Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới Trần Hồng Quảng những 300 trang! Có cảm tưởng tác giả từng đồng hành với nguyên mẫu hàng chục năm nên hiểu đến chân tơ kẽ tóc, từ những năm tuổi thơ và đi học, những năm trong quân ngũ trải qua các trận đánh và bị thương tưởng chết, đến sau này bươn chải trong chốn thương trường với không biết bao nhiêu toan tính, trăn trở, hăng hái và chán nản, kiên trì và mệt mỏi, thành công và thất bại. Rồi cả chuyện yêu đương, vợ chồng con cái. Giải ngũ, Trần Hồng Quảng làm việc ở một doanh nghiệp nhà nước, được cử đi học quản lý, nghĩa là nếu chỉ nghĩ đến mình anh đã có thể yên phận cho dù tối đến từng phải đạp xích lô kiếm thêm đồng ra đồng vào. Những năm 1970, 1980 ai cũng phải lo kiếm thêm chứ không riêng gì Quảng; “Đầu đường trung tá vá xe/Cuối đường đại tá bán chè đỗ đen”, hồi đó có câu như vậy. Nhưng Quảng không thể yên lòng khi cứ mỗi lần họp hội cựu chiến binh lại thấy những khuôn mặt già nua, khắc khổ vì lo toan vất vả, vì thương tật dày vò của đồng đội. Để hòa nhập với đời thường anh em đã phải vật lộn để tồn tại, không ít người vẫn nghèo khổ, tuổi đầu sáu mà vẫn làm xe ôm, đạp xích lô, làm bảo vệ, trông coi xe đạp xe máy. Có anh ốm đau triền miên, thời gian nằm bệnh viện nhiều hơn ở nhà. Đã hơn chục người qua đời vì vết thương tái phát, nhiều người bị nhiễm chất độc màu da cam. Trong số đó có Hùng Tân Đảo(1). Tuy không được khắc họa đậm nét nhưng Hùng  là một trong những nhân vật xuyên suốt tác phẩm cùng với Trần Hồng Quảng. Chính những ngày đạp xích lô, từ chuyện tranh khách suýt xảy ra xô xát mà Quảng gặp lại Hùng, cũng phải đạp xích lô kiếm sống. Hùng vốn cao lớn, nếu còn ở Tân Đảo sẽ là võ sĩ quyền Anh như chính Hùng nói. Nhưng về nước, vào bộ đội, giờ trở về Hùng chỉ còn là anh chàng gày gò, lêu nghêu, lòng khòng, mặt xạm, môi thâm, bị nhiễm chất độc da cam nên vợ năm lần đẻ thì hai lần sảy, ba đứa sống sót đều không ra người, Hùng buồn nên sinh ra bẳn tính và thích gây gổ, “nhờ vậy” mà gặp lại Quảng! Cuộc sống khốn khó của Hùng, của đồng đội là một trong những lý do đưa Trần Hồng Quảng tới quyết định rời cơ quan nhà nước, từ bỏ chức Phó giám đốc cửa hàng rau quả quận Ngô Quyền, tập hợp đồng đội lập Xí nghiệp thương binh Quang Minh.

Ví với chiều rộng và chiều sâu thì Những người lính Tiểu đoàn Cát Bi, Họ trở về sau chiến tranh thuộc về chiều rộng, Khi người lính trở về, Bác sĩ Trần Văn Bản thuộc về chiều sâu. Không dễ dàng với chiều nào cả. Để có hai cuốn đầu phải nhớ và biết nhiều chuyện, gặp gỡ nhiều người; để có hai cuốn sau phải trò chuyện cặn kẽ với một người. Bất kỳ chiều nào cũng thấy Đào Bá Đức nắm rất chắc sự kiện và hiểu rõ con người. Những trận đánh cụ thể, những con số được đưa ra củng cố cho điều đó. Tác giả với tư cách người kể chuyện hòa đồng đến ngạc nhiên với nhân vật khiến không thể không nghĩ tác giả và nhân vật phải là người biết nhau đã lâu. Có thể như thế nhưng cũng không hẳn như thế, chỉ biết tác giả có trí nhớ tốt, giỏi “khui chuyện” và giỏi “đưa chuyện” lên trang sách.

Cảm phục lao động nghệ thuật của Đào Bá Đức lại càng trân trọng tình cảm của anh với đồng đội. Nhân vật của anh hầu hết là người Hải Phòng, đó cũng là điều cần ghi nhận, anh đã giúp người Hải Phòng hiểu sâu sắc quê hương, những người quanh mình và cả chính mình. Đào Bá Đức viết vì không thể không viết, viết để trả món nợ lòng với quê hương, với đồng đội, nhất là những người đã khuất. Từ đó, anh góp phần tái tạo một giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước và những con người đã góp phần làm nên giai đoạn lịch sử ấy; nhắc nhở chúng ta hãy đừng quên họ, hãy giúp họ và cùng họ vượt qua thử thách của ngày hôm nay.

Về đề tài chiến tranh, chúng ta đã được đọc tiểu thuyết của nhiều nhà văn, nay lại được biết chuyện kể của Đào Bá Đức, đặt sự thuần thục bên sự từng trải, không thể nói cái nào hơn cái nào. Sức hấp dẫn ở Đào Bá Đức là cái thật, là tính chân thực. Chuyện và nhân vật đều “rất đời”. Có cảm giác sự thực ở đời thế nào, anh viết thế vậy. Thực ra không hẳn thế, tôi nhận ra có những chuyện, những con người đã được anh thay tên đổi họ để tránh phiền nhiễu. Chuyện lớn việc to đã vậy, lại cả chuyện nhỏ nữa, thú thực tôi không biết anh chàng Nguyễn Văn Thi làm thơ và bị vợ bỏ được Hội Văn học nghệ thuật thành phố đầu tư mấy triệu đồng để xuất bản là anh nào! Không sao, bản chất của sự việc và con người vẫn là thật. Vả lại, đã động đến sáng tác dù chỉ chuyện người thật việc thật không nhiều thì ít đều phải hư cấu, chí ít cũng là tô đậm hoặc làm nhạt, là để chi tiết này bỏ chi tiết khác, thậm chí còn do lực bất tòng tâm, sự bất lực của ngòi bút như chính Đào Bá Đức đã nói trong Những người lình Tiểu đoàn Cát Bi: “Nhiều tấm gương tuyệt vời, nhiều cuộc đời trắc ẩn của các anh chưa được viết ra, đôi chỗ đời tư ai đó trong cuốn sách có hơi quá lời, rất mong đồng đội, người thân của họ cùng bạn đọc độ lượng thông cảm và thứ lỗi”.

ở Đào Bá Đức, ngôn ngữ, cả ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật đều gần gũi với đời thường và được dùng đúng chỗ; ngôn ngữ nhân vật được cá tính hóa. Anh có lối kể duyên duyên và dí dỏm, nhất là ở chuyện tình cảm và chuyện đời tư.

Với vốn sống và chất sống có được cùng sự thể hiện trong các tác phẩm, Đào Bá Đức hoàn toàn có thể từ vốn sống và ký ức để có những trang tiểu thuyết sau này nếu anh muốn. Nói vậy cũng để anh thấy rằng không phải tiểu thuyết đã hơn ký sự.

Tôi băn khoăn, tại sao Khi người lính trở về, Bác sĩ Trần Văn Bản không được ghi thể loại, nhà xuất bản cũng thiếu trách nhiệm và bản lĩnh trong việc giúp tác giả xác định thể loại. Tác phẩm của Đào Bá Đức rất gần với truyện ký, hai cuốn không ghi thể loại còn xứng đáng được coi là truyện ký. Điều nữa, không cuốn nào Đào Bá Đức ghi tên thật, ba cuốn sau anh lấy bút danh Hải Chi, cuốn đầu Khi người lính trở về là Đào Bá Phúc. Anh cần có bút danh ổn định, nhất là với tác phẩm có thể làm nên sự nghiệp của mình.

Mặc dù các tác phẩm của anh có cách kể sinh động, nhiều chi tiết, ngôn ngữ được sàng lọc nhưng ở Đào Bá Đức vẫn có những đoạn như báo chí, khô khan và sơ lược. Cả bốn cuốn đều có điểm chung: Hoặc tỉ mỉ, chi tiết hoặc phác qua đôi nét hay chỉ viết về nhân vật kể từ những tháng năm đời lính trở đi nhưng dường như với tất cả, tác giả đều muốn dựng lại toàn bộ cuộc đời nhân vật, từ thời trẻ cho đến sau này, nhiều khi còn cụ thể đến cả quê quán, ngày sinh tháng đẻ; và đều được trình bày theo trình tự thời gian. Điều này không hẳn đã cần thiết nhất là với tác phẩm văn học; cặn kẽ, đầy đủ quá có khi hóa thừa; tác phẩm này tác phẩm khác đều cái cách, đều một dạng như vậy sẽ trở thành lối mòn, thiếu đi sự sáng tạo. Tác giả cũng cần thay đổi cách kể, đôi khi cần đảo lộn sự kiện và thời gian bằng những liên tưởng, hồi tưởng để tăng sức hấp dẫn…

Xin mừng cho Đào Bá Đức và kỳ vọng ở anh.

 


 

(1) Tân Đảo (tiếng Pháp: Nouvelle Caledonie, Nouméa; tiếng Anh: New Caledonia) là hòn đảo thuộc địa của Pháp ở nam Thái Bình Dương, cách bờ biển phía đông Australia khoảng 12.500 km. Đảo có mỏ kền (Nickel) nhưng dân trên đảo ít và lạc hậu nên những năm 1891- 1895 Pháp đã đưa người Việt Nam tới khai mỏ, người Hải Phòng khá đông (riêng năm 1891là 791 người). Sau 70 năm xa quê hương, Việt kiều ở đây đã đấu tranh đòi trở vể Tổ quốc, các chuyến tàu đưa bà con hồi hương đã lần lượt cập cảng Hải Phòng đầu những năm 1960.

LƯU VĂN KHUÊ

 
Văn học nghệ thuật và vấn đề xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

Ngày 9-6-2014, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ra nghị quyết về Xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Đây là một Nghị quyết quan trọng, tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết TW V (khoá VIII) về Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; đồng thời cũng là 5 năm thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về Xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật Việt Nam đáp ứng với thời kỳ mới.  Nhìn lại một chặng đường phát triển của đất nước trong lĩnh vực văn học nghệ thuật (VHNT), Nghị quyết đã khẳng định: Văn học nghệ thuật những năm qua tiếp tục phát triển. Dòng mạch chính vẫn là chủ nghĩa yêu nước và nhân văn, dân tộc. Nhiều tác phẩm phản ánh chân thực cuộc sống, đã có những tìm tòi mới về đề tài, nội dụng và hình thức thể hiện. Quyền tự do sáng tạo của người nghệ sỹ được tôn trọng… Cũng trong Nghị quyết này đã chỉ ra những yếu kém, bất cập trong lĩnh vực VHNT hiện nay. Đó là thành tựu sáng tạo VHNT chưa nổi bật, ít có những tác phẩm gây ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc trong bạn đọc, chưa tương xứng với số lượng. ít những tác phẩm VHNT có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có một số tác phẩm chạy theo thị hiếu tầm thường, chất lượng thấp, thậm chí có hại. Điều dễ nhận thấy là ở một số tác phẩm lí tưởng và khát vọng sáng tạo còn hạn chế ở một số văn nghệ sỹ…

Chính vì những lí do trên đây, một trong những nhiệm vụ quan trọng và cũng là nét mới, cốt lõi của Nghị quyết lần này về văn hoá là vấn đề xây dựng con người Việt Nam đáp ứng với yêu cầu và nhiệm vụ mới của đất nước. Không phải ngẫu nhiên, một Nghị quyết của Đảng về văn hoá, “vấn đề con người Việt Nam” lại được coi trọng đặt lên hàng đầu. Vì qua thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước sau gần 40 năm, kể từ 1975 đến nay trước những biến động lịch sử mới, xã hội Việt Nam, con người Việt Nam đã có những thay đổi theo cả hai chiều tốt và xấu từ nhận thức tư tưởng, đạo đức, lối sống, môi trường sống. Những cụm từ “suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống”, “phai nhạt lý tưởng”, tham nhũng… cũng như nhiều ngôn từ khác liên quan đến sự nghiệp đổi mới đất nước, đổi mới tư duy, từ chính trị, đến kinh tế xã hội… đã trở thành quen thuộc trên các phương tiện thông tin đại chúng tác động đến mọi người dân. Có nhiều điều liên quan đến CON NGƯờI VIệT NAM được xã hội quan tâm. Niềm vui có nhưng có không ít chuyện đáng lo ngại, báo động. Do vậy, đặt vấn đề xây dựng và phát triển “con người Việt Nam” đáp ứng với yêu cầu mới của đất nước là vấn đề cấp bách, cần thiết.

Văn học từ xưa đến nay, một trong những nhiệm vụ quan trọng là phản ánh hiện thực, trong đó “con người xã hội” là một đối tượng. Việc phản ánh chân thực con người Việt Nam đương đại qua các tác phẩm là nhiệm vụ của người nghệ sĩ.

Nhiều ý kiến cho rằng: Muốn xây dựng con người Việt Nam theo tinh thần nghị quyết TW 9 (khoá XI) về văn hoá, điều cốt yếu là phải có sự nhận diện chính xác về xã hội và con người Việt Nam sau một chặng đường dài gần 40 năm khi đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình, đặc biệt là sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới hội nhập và phát triển. Dù có đầu óc tưởng tượng đến mấy đi chăng nữa, không một người lính, một người dân, một nhà văn nào vào cái ngày 30/4 lịch sử (1975) có thể hình dung ra được “một hiện thực mới” của xã hội Việt Nam vào những năm tháng đầu thế kỉ XXI này trên các bình diện chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội…Đường mòn Hồ Chí Minh năm xưa xẻ núi xuyên rừng, vượt qua bao đèo dốc còn hằn vết xích xe tăng của bộ đội vào đánh Quảng Trị, Buôn Ma Thuột, Sài Gòn nay đã trở thành con đường xuyên Việt phía Tây của Tổ quốc. Những toà nhà cao tầng có mặt ở khắp nơi, các khu công nghiệp với sự có mặt của đa quốc gia, những chiếc máy vi tính…càng không ai nghĩ tới có một ngày những người lính Việt Nam mới đi qua 30 năm chiến tranh một lần nữa lại cầm súng, hi sinh trên đất bạn Campuchia, dân tộc Việt đã phải góp máu của mình để cứu cả một dân tộc khác trước nguy cơ diệt chủng. Và cũng những người lính giải phóng ấy, với quần áo Tô Châu, vai vác AK, phải căng mình giữ chốt để giữ yên vùng biên ải phía Bắc…Nhiều người lính trẻ đã ra đi không về. Và chỉ mới đây thôi, đồng bào cả nước và nhân dân thế giới phẫn nộ, mắt thấy, tai nghe tàu chiến và giàn khoan Trung Quốc xâm phạm trái phép vùng biển đảo Việt Nam.

Trong một lần Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà văn cựu chiến binh Mỹ tổ chức kỉ niệm 20 năm ngày bình thường hoá quan hệ giữa các nhà văn cựu chiến binh, tôi có niềm vui được cùng với ông nhà văn Mỹ Kevin Paowen – nguyên Giám đốc Trung tâm Uyliam Roinơ – nghiên cứu hậu quả chiến tranh, ngồi nghe ca Huế trên sông Hương cùng nhà thơ Võ Quê. Ông Kevin vốn là sỹ quan thuộc Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 của Mỹ tham chiến tại Việt Nam, biết tôi đã từng chiến đấu tại Trị Thiên và từng đụng độ quân Mỹ, nguỵ ngay trên các điểm cao Dốc Chè 1078, điểm cao 360, 310, đường 12. Chính ông nhà văn Mỹ buột miệng nói: “Tôi không nghĩ có một ngày tôi trở lại Việt Nam, đến lại vùng tác chiến xưa, lại được ngồi trò chuyện vui vẻ với chính các “đối thủ” Việt Cộng của mình. Lịch sử thật kì lạ”.

Hiện thực ấy là có thật! Điều may mắn thay dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đồng lòng nhất trí của nhân dân, công cuộc đổi mới đất nước đã khẳng định con đường đi của dân tộc ta là đúng đắn. Đời sống chính trị ổn định, kinh tế phát triển, văn hoá xã hội cũng có những thay đổi. Cơ chế thị trường được vận hành ngày càng phát huy tác dụng, tác động mạnh mẽ tới đời sống xã hội, tới các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là tới con người. Mối tương quan giữa chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội có lúc, có nơi mất cân đối, thậm chí vai trò của văn hoá, sự quan tâm tới con người chưa đúng mức, dẫn tới những hậu quả xã hội không thể lường hết được sự phức tạp, nguy hại của nó. Một trong những nguyên nhân tác động tới con người Việt Nam những năm qua là trong xã hội ngày nay sự phân hoá giàu nghèo ngày càng gia tăng mạnh mẽ, quyết liệt. Có lúc có nơi sự quan tâm tới con người, đầu tư cho con người chênh lệch, bất cập giữa các vùng miền, giữa đô thị và vùng sâu, vùng xa, nông thôn, miền núi, hải đảo. Không ít những quy chuẩn trước đây đã định hình từ tư tưởng, đạo đức lối sống – nói cách khác là nhân cách của con người Việt Nam mà đỉnh cao của nó là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, tạo thành biểu trưng cho cả một thời đại Hồ Chí Minh, ngày nay, trước những biến động về kinh tế, văn hoá…, các giá trị ấy bị mai một, mờ nhạt, thậm chí bị đảo lộn. Đây là vấn đề rất đáng quan tâm khi đánh giá hiện thực xã hội hiện nay.

Vai trò con người, vốn được xem là trung tâm trong quá trình phát triển của xã hội nhưng đứng trước những biến động của đời sống, của hiện thực bản thân con người cũng có những đổi thay mà chính chúng ta cũng không ngờ tới. Trong Nghị quyết cũng đã chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng”. Đó là các tệ nạn xã hội, những hành vi phạm pháp trong đó đối tượng là thanh thiếu niên chiếm một tỷ lệ lớn… Lý tưởng sống, khát vọng sống, đạo đức với những giá trị tốt đẹp đã  trở thành phẩm chất cao cả của con người Việt Nam trong những năm đất nước còn gian khó, chiến tranh trận mạc thì ngày nay trong cuộc sống hoà bình, trước những tác động nhiều chiều của xã hội có khi bị nhạt nhoà; thậm chí bị che lấp bởi những vấn đề thiết thực hơn của đời sống. Đó là việc làm, miếng cơm manh áo hằng ngày, tật bệnh, các tệ nạn xã hội. Báo chí, công luận đưa tin công khai những vụ tham nhũng của những cán bộ có chức có quyền, nạn nhũng nhiễu người dân ở nơi này nơi khác hằng ngày được phơi bày qua các phương tiện thông tin đại chúng tác động không nhỏ tới tâm lý, tình cảm của người dân và của người văn nghệ sỹ. Điều đáng sợ hơn cái gọi là những tấm gương sáng mà mỗi người dân, người lính, mỗi cán bộ đảng viên, thanh niên, thiếu niên trông vào đó để học tập, noi theo vẫn xuất hiện hàng ngày trong xã hội nhưng dường như bị phủ mờ trước những hiện trạng tiêu cực, xấu xa. Không ít trường hợp người tốt, người tử tế e ngại, kinh sợ trước cái xấu, cái ác… Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến làm giảm sút ý chí chiến đấu, tinh thần đấu tranh để khẳng định các giá trị tốt đẹp truyền thống làm nên cốt cách của con người Việt Nam suốt bao thế hệ. Cũng cần phải nói thêm rằng công cuộc đổi mới mang lại cho đất nước và nhân dân ta nhiều thành quả to lớn. Song trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay những tác động của văn hoá độc hại chịu ảnh hưởng của nước ngoài cùng với sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta cũng tác động trong đời sống xã hội, ảnh hướng tới tầng lớp thanh thiếu niên, trong đó có cả văn nghệ sỹ.

Do đó một trong những mục tiêu của Nghị quyết TW 9 (khoá XI) về phát triển văn hoá lần này là vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hoá; trọng tâm là chăm lo và xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.

Chính vì vậy, nhiệm vụ và trách nhiệm của VHNT, của đội ngũ văn nghệ sỹ đối với xã hội rất lớn lao. Đành rằng VHNT không phải là đạo đức, là những giáo lý khô khan, trừu tượng về tư tưởng nhưng tự bản thân nó luôn gắn với đạo đức, tư tưởng, gắn với tâm lý, tình cảm của con người. Bằng hình tượng nghệ thuật điển hình, sâu sắc, đa chiều các tác phẩm VHNT ngoài việc phản ánh chân thực hiện thực còn đề cao những giá trị nhân sinh, khơi gợi lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, cổ vũ những tình cảm tốt đẹp của con người trong mối quan hệ giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên, luôn đứng về phía tiến bộ, các giá trị nhân bản, lên án cái thấp hèn, phi đạo đức. Bản tính hướng thiện ấy làm cho VHNT từ xưa tới nay trở thành tấm gương phản ánh tâm hồn con người và thời đại, nơi gieo mầm, nuôi dưỡng những khát vọng của cái đẹp, cái thiện, giữ vững niềm tin cho con người trước những biến động của xã hội. Cũng thông qua tác phẩm nghệ thuật mà bộc lộ thái độ, trách nhiệm xã hội – công dân của người nghệ sỹ trước cuộc sống. Đó là thái độ không khoan nhượng với các ác, đánh thức trong lòng độc giả những giá trị tốt đẹp của con người…Đây chính là giá trị của VHNT mang lại cho xã hội, trong cuộc đấu tranh sinh tử này để gìn giữ đất nước, dân tộc, con người Việt Nam trước những thách thức của lịch sử.

Hơn 30 năm trước khi chúng ta manh nha chuẩn bị cho công cuộc đổi mới, những tác phẩm kịch của Lưu Quang Vũ, những tiểu thuyết của Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường… và nhiều truyện ngắn, bút ký đã gây chấn động trong dư luận bạn đọc về việc cảnh báo sự xuống cấp đạo đức trong đời sống xã hội. Đứng trước hiện thực của đời sống hôm nay, VHNT không chỉ còn là công việc dự báo nữa mà phải tự đặt mình trong cuộc đấu tranh quyết liệt với những hiện tượng tiêu cực nhức nhối và đồng thời khẳng định những giá trị, những bản tính tốt đẹp của con người Việt Nam, tạo dựng ra được những nhân vật điển hình trong đời sống mang tầm vóc con người Việt Nam hôm nay.

Để làm được điều này ngoài tầm nhìn, nhận thức chính trị của người quản lý cùng với những cơ chế, chính sách nhà văn sáng tạo, bản thân mỗi nhà văn, người nghệ sỹ cũng có cần có bản lĩnh dám đối đầu với hiện thực, soi chiếu hiện thực dưới nhiều góc độ khác nhau. Cái thiếu vắng trong các tác phẩm VHNT những năm qua không phải ở số lượng tác phẩm mà ở bề mặt hiện thực đời sống xã hội và hình bóng con người đang quẫy đạp, vượt lên chính mình và hoàn cảnh của cuộc sống tưởng như bình yên nhưng đầy xáo động trong môi trường xã hội cụ thể. Hiện thực cuộc sống hôm nay đang mở toang để nhà văn khám phá và thử thách bản lĩnh cũng như nhiệt huyết của người nghệ sỹ. Đây cũng là điều mà bạn đọc luôn mong muốn ở mỗi văn nghệ sỹ./.

Đỗ Kim Cuông

(Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam)

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 203 (5/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 202 (4/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 201 (3/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 199,200 (1,2/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 198 (12/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)