Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 27 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Tri ân một bậc tiền nhân của nền văn học cách mạng hiện đại

(Đề dẫn của nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ - ủy viên Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng trong Hội thảo kỷ niệm 95 năm sinh nhà thơ Nguyễn Viết Lãm tại Trung tâm Hội nghị thành phố Hải Phòng ngày 14/6/2014)

Năm trước, cũng tại thành phố Hoa phượng đỏ Hải Phòng, cũng trong khán phòng sang trọng này, chúng ta đã tổ chức hội thảo trọng thể về cuộc đời và sự nghiệp văn chương Nguyên Hồng nhân 95 năm sinh và khi nhà văn đã cách xa dương thế hơn 30 năm.

Còn năm nay, cuộc hội thảo về nhà thơ Nguyễn Viết Lãm vừa là kỷ niệm 95 năm sinh, vừa là giỗ đầu nhà thơ, nên có chút gì đó như mới đây thôi... thế mà đã... đi thật rồi.

Có thể nói, cùng với Nguyên Hồng, Nguyễn Viết Lãm là người có công tham gia sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957) đặc biệt là công lao thành lập và xây dựng Hội VHNT Hải Phòng, từ khi còn là Chi hội lúc mới thành lập(1964) đến Hội Liên hiệp VHNT ngày nay.

Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm sinh năm 1919 ở Quảng Ngãi. Những năm học ở Quy Nhơn, ông tham gia nhóm thơ của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn, Bích Khê, Yến Lan. Đây là dịp để tâm hồn thơ và trái tim nhân hậu của Nguyễn Viết Lãm được nảy nở và phát triển thành nhà thơ, nhà văn hóa Nguyễn Viết Lãm sau này.

Được sự giác ngộ của chiến sĩ cách mạng Nguyễn Minh Vỹ mà ông và Chế Lan Viên đều kính trọng “như người thầy, người anh chỉ dẫn hiểu biết về cuộc đời” khi còn học ở Quy Nhơn. Nên khi cuộc kháng chiến chống Pháp tháng 12/1946 bùng nổ, Nguyễn Viết Lãm hăng hái đi theo cách mạng và từng tham gia Ban chấp hành các tổ chức văn nghệ kháng chiến Nam Trung bộ, Liên khu 5 và làm Hội trưởng Hội Văn nghệ Quảng Ngãi.

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954, ông tập kết ra Bắc làm Biên tập viên tạp chí Văn nghệ, rồi làm Chánh Văn phòng đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam 1957.

Lãnh đạo Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam giao lưu, trao đổi về sự nghiệp nhà thơ Nguyễn Viết Lãm cùng các văn nghệ sĩ dự hội thảo

Ảnh: Thu Hiền

Mối lương duyên của ông với Hải Phòng có thể bắt đầu từ chuyến thực tế sáng tác ở Hải Phòng năm 1959. Ông đi theo và trực tiếp lăn vào việc cùng Đội công nhân bốc xếp hàng hoá của Cảng Hải Phòng ngoài Vịnh Hạ Long. Ông đã “ghi điểm” với lãnh đạo thành phố Hải Phòng, cụ thể là với nhạc sĩ Trần Hoàn - Giám đốc Sở Văn hóa. Trần Hoàn bằng bài thơ hay Hạ Long đêm bốc vác - kết quả chuyến đi sáng tác ở Hải Phòng. Dẫn đến việc, một thời gian sau, Trần Hoàn trực tiếp báo cáo Thành uỷ Hải Phòng cho ông lên Hội Nhà văn Việt Nam xin đích danh Nguyên Hồng, Nguyễn Viết Lãm về hẳn Hải Phòng để xúc tiến thành lập Chi hội Văn nghệ Hải Phòng năm 1964.

Nhờ công sức và tâm huyết của 3 ông “đầu rau”: Nguyên Hồng - Trần Hoàn - Nguyễn Viết Lãm mà văn nghệ Hải Phòng phát triển nhanh chóng, tiếp nối được sự nức tiếng những năm trước cách mạng 1945 (nhưng lại khá èo uột thời kháng chiến chống Pháp). Những năm kháng chiến chống Mỹ, Hải Phòng trở thành trọng điểm phá hoại của không quân Mỹ với những chiến dịch “Sấm rền”, “Biển lửa” và thả thủy lôi phong toả Cảng Hải Phòng. Chính những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy, văn nghệ Hải Phòng, nhất là thơ lại bừng sáng. Thơ đất Cảng Hải Phòng và thơ đất Mỏ Quảng Ninh sôi sục, khoẻ khoắn và táo bạo hơn thơ Hà Nội. ở đây có vai trò của “thủ lĩnh” Nguyễn Viết Lãm. Nhà văn Nguyên Hồng là Chủ tịch Hội nhưng ít khi ở Hải Phòng vì ông phải đi về giữa Hà Nội với Bắc Giang và các tỉnh. Trong khi đó nhạc sĩ Trần Hoàn đã xách ba lô đi B vào chiến trường Bình Trị Thiên. Người thay Trần Hoàn làm Phó Chủ tịch Hội là Văn Tiến nhưng ông lại là người “ngoại đạo” với văn nghệ. Nguyễn Viết Lãm phải xoay trần ra lo phong trào sáng tác. Ông đến từng nhà máy, xí nghiệp, trường học, đơn vị tìm kiếm các hạt nhân văn nghệ, rồi cùng với Nguyên Hồng bồi dưỡng, đào tạo họ dần trở thành các nhà văn, nhà thơ có “số má”, có “thương hiệu” sau này như Thanh Tùng, Đào Cảng, Nguyễn Thanh Toàn, Thi Hoàng, Lê Điệp, Trần Quốc Minh, Trần Lưu, Nguyễn Tùng Linh...(trong thơ); như Nguyễn Khắc Phục, Nguyễn Quang Thân, Trần Tự, Vũ Hữu ái... (trong văn).

Thời kỳ này, Nguyễn Viết Lãm xông xáo đi và viết. Có lẽ do yêu cầu của thời cuộc nên ngòi bút Nguyễn Viết Lãm “phủ sóng” khá rộng: cả thơ viết, thơ dịch; cả văn sáng tác và văn phê bình. Bằng cái nhìn chân thật và cảm xúc, chắt lọc về đất nước, con người, thơ của ông xuất hiện nhiều trên sách báo trung ương và địa phương, được bạn đọc hào hứng đón nhận.

Cùng tâm trạng với Tế Hanh, Giang Nam, Nguyễn Viết Lãm luôn da diết, đau đáu nhớ về xứ Quảng. Hình ảnh những con sông quê, tuổi thơ êm đềm, bạn bè, người thân luôn trở đi trở lại trong thơ của các nhà thơ miền Nam sống trên đất Bắc.

Nhớ quê xưa Quảng Ngãi với miền Trung ruột thịt bao nhiêu, Nguyễn Viết Lãm lại càng sống trách nhiệm với quê mới Hải Phòng, với miền Bắc thân thương bấy nhiêu. 94 tuổi dương thì có 51 năm, tức hơn nửa cuộc đời Nguyễn Viết Lãm nhập hộ tịch tại đất Cảng Hải Phòng. Ngần ấy thời gian với biết bao kỷ niệm vui buồn để xúc cảm thành thơ không phải là ít. Nhiều địa danh của vùng đất “ăn sóng nói gió” và nghĩa khí, trung thực này đã vào thơ ông như đã từng vào bài hát nổi tiếng “Thành phố Hoa phượng đỏ” của Lương Vĩnh - Hải Như: “Những cái tên nghe chẳng thơ đâu/ Nhưng với ta vô cùng oanh liệt/ Ôi tha thiết tự hào quê hương”.

Một đặc điểm nữa trong thơ và trong cuộc đời Nguyễn Viết Lãm là ông hay nhắc đến ân tình, biết ơn, nói đến trân trọng, tự nguyện... Bài thơ Ân tình ông viết về Đảng nhưng thật trữ tình, hào sảng. Đồng cảm với nhà thơ, nhạc sĩ Vũ Loan (là Giám đốc Sở VHTT, sau là Chủ tịch Hội VHNT Hải Phòng) đã phổ nhạc. Bài hát được phát nhiều lần, nhiều năm trên Đài PTTH Hải Phòng, được nhiều người yêu thích. Tác phẩm có đoạn: Ta đi trên sông/ Nghe con thuyền nói biết ơn dòng nước/ Những trưa hè nắng gắt/ Nghe con đường nói biết ơn cây/ Nghe đồng cát biết ơn bóng mây/ Thấy nắng xuân nhớ mùa chim én/ Nghe trái đất biết ơn khí quyển.

Từ Hội thảo này, rất có thể tới đây Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng sẽ cho xuất bản cuốn sách “Nguyễn Viết Lãm với Hải Phòng” - Liệu có được không nhi? Và tôi chợt nhớ những câu thơ không biết hay đến đâu nhưng chỉ biết nó làm tại đây và nói về những người nơi đây - nơi mà ông đã sống và đã thanh thản đi vào cõi trường sinh: Tim biển đập dưới chân người bốc vác hay Ôi mùa đông vừa đi qua/ Cùng bạn bè anh đi hứng mùa xuân trên nón...

Nguyễn Viết Lãm - người con của núi ấn sông Trà đã dừng cuộc hành trình dài 94 năm của mình từ Quảng Ngãi đến Hà Nội và về Hải Phòng. Con người nhỏ thó, lặng lẽ và bền bỉ ấy đã được nhiều lớp nhà thơ, nhà văn không chỉ ở Hải Phòng và khu 3, ở Quảng Ngãi và khu 5 tôn làm người thầy, người anh, người bạn lớn và được coi là tấm gương cho các thế hệ sau ông về cách ứng xử trong tình bằng hữu.

Tại cuộc Hội thảo này, chúng ta xin cảm ơn nhà thơ, dịch giả, nhà quản lý văn nghệ, nhà giáo dục gia đình (vì ông từng làm Chủ tịch Hội Giáo dục gia đình Hải Phòng), nhà văn hóa Nguyễn Viết Lãm về những gì ông đã làm cho nền văn học nước nhà; đã làm cho Quảng Ngãi, cho Hải Phòng, cho quê hương đất nước mãi trường tồn trong tình thân ái, nhân hòa.

Cuộc hội thảo kỷ niệm 95 năm sinh và giỗ đầu nhà thơ Nguyễn Viết Lãm là sự tri ân của chúng ta đối với một bậc tiền nhân của văn học cách mạng hiện đại và là sự tiếp nối những nghiên cứu, phân tích, đánh giá đa diện, đa chiều hơn của các GS.TS, nhà nghiên cứu, lý luận phê bình đến từ Viện Văn học Việt Nam, Hội đồng lý luận phê bình VHNT trung ương, từ các trung tâm nghiên cứu trong cả nước; của các nhà thơ, nhà văn đến từ Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng, Hội VHNT Quảng Ngãi; của các nhà giáo, nhà sử học, nhà báo đến từ thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ngãi quê hương về những di sản mà ông và thế hệ của ông đã để lại cho hậu thế./.

 
Nguyễn Viết Lãm - Người bộ hành lặng lẽ

Hải Phòng, thành phố cần lao nơi đầu sóng ngọn gió, là bến đậu cho không biết bao người ưa nhịp sống ồn ào, sôi động. Có một Hải Phòng rất riêng với những tên phố, con người, loài cây…để từ đó đi vào lòng người. Hải Phòng cũng là nơi khởi phát bao tài năng. Riêng với văn học đã có những Nguyên Hồng, Văn Cao, Nguyễn Đình Thi…

Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm không giống những bậc tiền bối, “bến đậu” Hải Phòng đã neo chân ông đến hơn sáu chục năm, và sự nghiệp văn chương của ông cũng từ thành phố biển này mà âm thầm chảy. Không sáng chói như Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử, Yến Lan…trong nhóm thơ Quy Nhơn, hay như Nguyên Hồng, Văn Cao, song “gia tài” ông để lại cũng khiến bất cứ người nào trong giới, dù đa tài đến mấy cũng mong được như vậy (12 tập thơ, 4 tập truyện ngắn, ký, nghiên cứu phê bình văn học và hàng trăm bài viết trên các tờ báo…). Cuộc đời là vậy, sự nghiệp là vậy song những đóng góp của ông chưa được ghi nhận một cách đúng mức. Do vậy khi các giải thưởng và các danh hiệu cao quý khác của nhà nước được trao cho rất nhiều người, ông lại không có tên. Giới văn học nghệ thuật tiếc cho ông, Hải Phòng tiếc cho ông song con người minh triết ấy vẫn bền bỉ một cách sống khiêm nhu giữa cuộc đời. Xin lấy tên tham luận của nhà văn Cao Năm tại Hội thảo làm “tít” cho bài ghi chép này.

Sáng 14/6/2014, Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng phối hợp tổ chức hội thảo “95 năm sinh nhà thơ Nguyễn Viết Lãm” tại Trung tâm Hội nghị thành phố Hải Phòng. Tham dự hội thảo có nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; PGS. TS. Nguyễn Hồng Vinh – Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình VNHT trung ương; ông Lê Khắc Nam - Phó Chủ tịch UBND TP. Hải Phòng; ông Nguyễn Hữu Doãn – Trưởng Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hải Phòng; nhà biên kịch Tô Hoàng

Vũ – ủy viên Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng; lãnh đạo Hội VHNT các tỉnh Quảng Ngãi, Nam Định… cùng các giáo sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học, nhà văn, nhà thơ, dịch giả trong nước và đại diện gia đình nhà thơ Nguyễn Viết Lãm.

Đề dẫn của nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ đánh giá cuộc đời hoạt động cách mạng và sự nghiệp VHNT của nhà thơ Nguyễn Viết Lãm. Từ một thành viên trong nhóm thơ Quy Nhơn thời kì 1935 – 1939, ông được giác ngộ cách mạng và hăng hái tham gia hoạt động văn nghệ tại Quảng Ngãi và Liên khu 5. Tập kết ra Bắc, nhà thơ Nguyễn Viết Lãm là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, tham gia Ban vận động thành lập Chi hội VHNT Hải Phòng và gắn bó với mảnh đất cửa biển cho đến khi ngừng hơi thở cuối cùng ở tuổi 94.

Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng Tô Hoàng Vũ đọc đề dẫn hội thảo

Gần 20 tham luận tại Hội thảo của các tác giả từ Viện Văn học, Hội Nhà văn Việt Nam, Trường ĐH Sư phạm HN, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng và tỉnh Quảng Ngãi đã khẳng định Nguyễn Viết Lãm là nhà thơ, dịch giả, nhà lí luận tài năng. Tham luận của nhà văn Lưu Văn Khuê “Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm- Trang sử nhỏ về Hải Phòng một thời” đã nhấn mạnh: Từ ngày thành lập Chi hội VHNT cho tới mấy chục năm sau, nhà thơ Nguyễn Viết Lãm luôn là cán bộ chủ chốt và đồng hành cùng VHNT Hải Phòng. Ông là một trong ba người tích cực nhất trong việc thành lập Hội VHNT Hải Phòng cùng nhạc sĩ Trần Hoàn, nhà văn Nguyên Hồng. Nhà thơ Tế Hanh nhận xét về ông: “Tôi mừng về người bạn thơ của mình, ghi nhận sự đôn hậu, lòng thủy chung, tính nhất quán đối với thơ, đối với tình yêu và bè bạn, đối với quê hương và lí tưởng mà anh đã chọn từ thuở hoa niên”. Đúng vậy! Thơ Nguyễn Viết Lãm vẫn có những “Ân tình”, “Hoa cẩm chướng”, “Mùa xuân, ra ô cửa thứ năm thành phố”…

Tham luận “Cuộc đời và thơ Nguyễn Viết Lãm” của PGS.TS Bích Thu (Viện Văn học) khảo cứu từ những kí ức của nhóm thơ Quy Nhơn để từ đó nhận diện thơ Nguyễn Viết Lãm. Quê ở Thừa Thiên – Huế, lớn lên ở Quảng Ngãi song phần lớn cuộc đời ông gắn với Hải Phòng. “Ta hiểu vì sao trong thơ Nguyễn Viết Lãm những dòng sông và sóng biển thường hiện diện hòa trộn mịn màng giữa cái riêng và cái chung của một hồn thơ giàu cảm xúc, luôn có cảm giác tri ân với những ngày đã qua và những ngày đang sống mang ý nghĩa biểu trưng “Đất Tổ quốc đâu cũng là đất mẹ” (Chế Lan Viên)… mà bất cứ người con miền Nam nào sống trên đất Bắc đều mang một mẫu số chung như vậy, tất nhiên Nguyễn Viết Lãm không là ngoại lệ”. PGS.TS Lưu Khánh Thơ (Viện Văn học) cũng đồng quan điểm qua tham luận “Nguyễn Viết Lãm – Người hiền của một thế hệ đã qua”. Thơ Nguyễn Viết Lãm nổi bật lên tình cảm sâu nặng đối với hai vùng đất. Đó là Quảng Ngãi quê hương ông và Hải Phòng, vùng đất hơn nửa đời gắn bó. Ông tuy không may mắn lọt vào tập sách “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh, Hoài Chân song giữa những phong cách, những giọng điệu của “một thời đại mới trong thi ca” đó, ông đã có một điệu hồn riêng với những câu thơ mang màu sắc hiện đại khá mới mẻ “Anh lắng giữa đêm dài/ Khe khẽ tiếng màu đi/Qua những kẽ bàn tay không cầm hương được nữa/ Qua những kẽ thời gian rạn vỡ/ Sáng sáng anh tìm/ Một chút màu xưa nhạt mất trong đêm…(Màu đi).

Trong lịch sử phát triển văn học Việt Nam đương đại, những người cầm bút rất có ý thức việc tiếp thu tinh hoa văn học nước ngoài. Dịch giả Thúy Toàn với tham luận “ Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm tham gia đóng góp cho dịch thuật” cho biết: Nguyễn Viết Lãm đã tham gia dịch sang tiếng Việt các tập thơ văn nước ngoài như: Gửi người mai sau, Truyện Andecsen, Thơ Aragon, Thơ hiện đại Pháp….Bản dịch trường ca Nụ cười Hirosima, tác phẩm của nhà thơ Rumani nổi tiếng E.Jabelianu từ tiếng Pháp được đánh giá cao. Bộ sưu tập tác phẩm dịch của nhà thơ Nguyễn Viết Lãm với số lượng đáng nể còn được công bố ở chỗ này chỗ khác. Tiếc rằng lĩnh vực dịch thuật của ông chưa được đánh giá đúng mức. Rồi đây những người làm văn học nên có sự tìm hiểu thêm để làm rõ phần đóng góp của ông về lĩnh vực dịch thuật trong  tiến trình phát triển chung của văn học nước nhà.

Nhà văn Đinh Quyền với tham luận “Đọc lại những bài nghiên cứu lý luận phê bình của nhà thơ Nguyễn Viết Lãm” nhận định: “ Nguyễn Viết Lãm đã tìm thấy ở Nguyễn Bỉnh Khiêm quan niệm về cái đẹp gắn với cái thiện và cái chân, lấy con người là trung tâm. Sống trong thời kì đen tối của lịch sử dân tộc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dành cả cuộc đời vào việc giáo dục con người theo lý tưởng thẩm mỹ ấy”. Những bài viết của ông về văn học hiện đại cũng rất sắc sảo, trí tuệ và hấp dẫn. Ông đánh giá Nguyên Hồng có tiếng nói lạ lẫm trong văn chương bên cạnh những trang viết đầy son phấn của Tự lực văn đoàn.  Trong thời kì đổi mới, năm 1996, tham luận của ông được đánh giá cao bởi tư duy mới lạ và bút lực dồi dào. Với các nhà thơ ông cho rằng “trở về với mặt đất của thơ là trở về với con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

Là người có nhiều thời gian gần gũi với nhà thơ Nguyễn Viết Lãm, nhà văn Cao Năm hiểu cặn kẽ về cuộc sống riêng cũng như sự nghiệp văn chương của ông. Là người có thiên hướng về thơ ca, song từ những ngày đầu, ông say mê và có ít nhiều thành công trong văn xuôi. Truyện ngắn đầu tay Bài ca hận tình viết khi nhà thơ 17 tuổi được đăng trên Tiểu thuyết thứ Bảy rồi Tiểu thuyết thứ Năm và sau đó là gần chục truyện ngắn và tùy bút. Vì vậy khi thơ là thể loại định hình cho tên tuổi Nguyễn Viết Lãm thì các thể loại văn xuôi khác cũng đã khắc họa sâu hơn tên tuổi ông trong làng văn chương Việt. Trong tham luận “Người bộ hành lặng lẽ”, nhà văn Cao Năm nhận định “Tuy chưa thật nổi trội trên lĩnh vực nào nhưng nhà thơ Nguyễn Viết Lãm là một người tận tâm tận lực với nghề….Với tôi, ông vẫn là một người hiền từ, bao dung, độ lượng, một bộ hành lặng lẽ, không thích xê dịch và không thích ồn ào.”

Cùng những bậc trưởng lão về VHNT như dịch giả Thúy Toàn, GS- TS Mai Quốc Liên, GS Trường Lưu, các nhà văn nhà thơ Lưu Văn Khuê, Cao Năm, Vũ Hoàng Lâm, Hồ Anh Tuấn…. tham luận của hai nữ tác giả trẻ gây được sự chú ý. Đó là nhà văn Phạm Thùy Linh với tham luận “Tình yêu làm trẻ lại những vần thơ của nhà thơ Nguyễn Viết Lãm” và nhà nghiên cứu phê bình Lương Kim Phương với tham luận “Thơ Nguyễn Viết Lãm- Hương ngâu thoảng bay”. Bằng cái nhìn của người trẻ cả tuổi đời và tuổi nghề, Phạm Thùy Linh đã nhận định nhà thơ Nguyễn Viết Lãm dưới góc độ khác về những đóng góp trong thi ca của ông, đó là tình yêu “Dù ở tuổi nào, trong hoàn cảnh nào, tình yêu luôn giúp nhà thơ thăng hoa và trẻ lại”. Nhà phê bình Lương Kim Phương: “Xúc cảm trong thơ Nguyễn Viết Lãm dịu nhẹ mà lắng sâu. Chút mơ mộng, hư ảo mang hơi hướng Quy Nhơn, Bình Định và cái dìu dịu lắng sâu trong giọng thơ của ông đã trở thành phong vị riêng cho thơ Nguyễn Viết Lãm trong phong trào thơ ca đất Cảng những năm chống Mỹ và sau đổi mới”.

Hội thảo còn có tham luận của nhà báo Kim Toàn - Nguyên Tổng Biên tập báo Hải Phòng, nhà thơ Hồ Minh - Phó Chủ tịch Hội VHNT Quảng Ngãi và những kí ức từ con gái đầu của nhà thơ, chị Nguyễn Viết Lệ Uyên.

PGS. TS. Nguyễn Hồng Vinh đánh giá cao việc lựa chọn tác giả để tiến hành Hội thảo bởi nhà thơ Nguyễn Viết Lãm được đánh giá là con người đa tài, đam mê cả nghề văn và nghề báo. Ông cũng đưa ra vấn đề cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa sáng tác và phê bình VHNT, giữa văn chương và báo chí cần có tính liên thủ để các tác phẩm được quảng bá rộng rãi với đời sống xã hội.

Trong phát biểu kết luận hội thảo, nhà thơ Hữu Thỉnh nhận định: Nguyễn Viết Lãm có lòng chân thành trong thi ca và là bậc tiên phong đạo cốt. Ông là người thiệt thòi khi hơn bảy mươi năm cầm bút song chế độ đãi ngộ đối với ông chưa xứng tầm. Ông là học giả uyên bác, một “pho tư liệu quý” về VHNT. Ông nghiên cứu sâu về Nguyễn Bỉnh Khiêm, về các nhân vật văn học lớn một cách sâu sắc. Chúng ta phải đối mặt với những vấn đề về chính trị, đời sống và  Nguyễn Viết Lãm là người thế nào mới đứng vững trong một môi trường văn nghệ phức tạp. Ông là Chánh Văn phòng đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam. Muôn vàn khó khăn người Chánh Văn phòng phải hứng chịu, song ông

vẫn tập hợp được một đội ngũ VHNT. Ông là người thầy, người anh vô cùng thân thiết trong đời sống cũng như trong công tác của những người làm văn nghệ. Sau này khi đã nghỉ hưu, nhiều công trình lớn của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng đều có sự tham gia góp ý của nhà thơ Nguyễn Viết Lãm. Có thể nói về 4 đặc trưng nổi bật trong con người nhà thơ Nguyễn Viết Lãm: Một trí thức tiêu biểu của Đảng, của nhân dân; một nhà thơ, nhà nghiên cứu, dịch giả có nhiều đóng góp giá trị; một học giả uyên bác, một nhà lãnh đạo VHNT thực sự.

Nhà thơ Hữu Thỉnh đánh giá cao những sáng kiến và vai trò quan trọng của Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng trong việc tổ chức 3 hội thảo có quy mô quốc gia về nhà văn Nguyên Hồng, nhà thơ Nguyễn Viết Lãm và nhà thơ Mai Văn Phấn - Đồng Đức Bốn trong mấy năm vừa qua.

Kế hoạch sắp tới, Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng sẽ xuất bản tuyển tập Nguyễn Viết Lãm trên 3 phương diện: Thơ, dịch thuật, văn xuôi (có thể thêm phần đánh giá); đề nghị Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập vì những đóng góp cho văn học cách mạng của nhà thơ; đề nghị đặt tên phố Nguyễn Viết Lãm tại thành phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ngãi..

Dương Thị Nhụn

 
Mai Văn Phấn xuất thần


GjekE Marinaj (Mỹ)

Nguyễn Chí Hoan dịch

 

“Zanore ne vese” (Những nguyên âm trong sương sớm) của Mai Văn Phấn là tập thơ đầu tiên của Việt Nam được xuất bản ở Anbani, do Gjeke Marinaj dịch sang tiếng Anbani, chọn từ 3 tập thơ Anh ngữ (Firmament without Roof Cover, Seeds of Night and Day, Out of the Dark) của Mai Văn Phấn, do NXB. Page Addie Press của Anh xuất bản và độc quyền phát hành tại Hoa Kỳ, Canada, Anh, úc, các nước châu Âu và trên mạng phát hành sách của Amazon. Gjeke Marinaj là nhà thơ, nhà văn, dịch giả, nhà phê bình văn học. G. Marinaj nhận bằng tiến sỹ triết học tại đại học Texas, Dallas năm 2012. Ông sinh năm 1965, là nhà văn Mỹ gốc Anbani.

 

Mai Văn Phấn là một nhà thơ mà sáng tác của ông đã được biết đến ở khắp đất nước ông. Ông đã xuất bản 15 tập thơ trong vòng hai mươi năm qua, và “Zanore nở vesở” (Những nguyên âm trong sương sớm) là một tập thơ gây ấn tượng đặc biệt. Những bài thơ này, được dịch ở đây, đem tới cho người đọc Anbani một dẫn nhập thú vị vào sáng tác của nhà thơ kỳ lạ độc đáo này. Ông là một bậc thầy về các thủ pháp thơ, và là một người quan sát kiên tâm đối với cả trái tim con người và những cảnh vật của xứ sở mình. Đọc Mai Văn Phấn là bị cuốn đi theo ngôn từ tinh tế và những dụng công nhuần nhuyễn trong các ẩn dụ và hình ảnh của ông, trong lúc vẫn đứng đây trên mảnh đất của đời thực tại hàng ngày. Mai Văn Phấn đã cống hiến sự nghiệp tạo tác thơ ca của ông cho việc diễn tả không chỉ đất nước và con người quê hương mình, mà còn cho thân phận con người trong thế giới. Ông viết về tình yêu và cái đẹp, và về những luân hồi không ngừng nghỉ của cõi tự nhiên, thường chỉ bằng vài câu giản dị.

Nhãn quan nhân loại của ông rộng trải và mời gọi; những vần thơ của ông chào đón độc giả đến cuộc du hành không chỉ trên đất sinh thành của ông nơi châu thổ Hồng Hà ở miền Bắc Việt Nam, mà còn vào bề sâu, vào bên trong những cảnh quan sẽ dẫn dắt ta hướng đến tình yêu, gia đình, và những xúc cảm thẳm sâu nơi hình thành các nền tảng của đời sống nội tại của chúng ta. Từ sáng tác của một nhà thơ danh tiếng, đã giành được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010, những bài thơ chọn lọc của Mai Văn Phấn trong tập thơ này đồng thời là lịch lãm và siêu hạng, và cuốn sách này đáng để thêm vào giá sách của bất cứ người yêu thơ nào.

Nhiều thành tố cấu trúc nổi bật đan dệt suốt thơ ca của Mai Văn Phấn, trong đó có những niềm hân hoan bén nhạy mang đặc tính dân tộc Việt Nam của ông. Trong một bài thơ đề tặng những người bạn nhà văn và nhà xuất bản là Susan và Bruce Blanshard, Mai Văn Phấn mô tả một khung cảnh thiên nhiên rất gợi của buổi mai ngày. Bài thơ có tên “Nơi cội nguồn thế giới”,  gợi lên những suy nghĩ của tương lai và quá khứ đồng hiện, trong khi vẫn tự tại trên mặt đất đương hiện của thời khắc lúc bình minh. Bài thơ mô tả ánh sáng xuất hiện, rồi nói rõ trong câu kế tiếp rằng đó không chỉ là ánh sáng, nhưng là làn ánh sáng thứ nhất của ngày: “Bình minh đang phát ra từ đó/ Soi rõ chân đồi, lối ra bìa rừng/ Những con chim bay đi buổi sớm”. Âm điệu thanh bình của bài thơ tiếp tục khi nhân vật trữ tình tưởng tượng cảnh gặp gỡ thú vị đầy yêu thích trong một quán cà phê gần đó, rồi kết cục bằng một suy tư “Đúng, rất đúng/ Tất cả chúng ta vừa sinh ra ở đó” Chúng ta hiểu được ý nghĩa “chúng ta” ở đây gồm bao tất thảy người đọc, và rằng đó không chỉ là một chốn sinh thành nào đấy ở Việt Nam, mà ở bất kỳ đâu chúng ta có thể nhìn thấy những ánh mặt trời đẹp đẽ đầu tiên trước lúc đến với người ta yêu mến.

Phong cảnh thực sự thấm nhập khắp trong những bài thơ này, ngay cả khi chúng chỉ làm nền cho những chủ đề khoáng đại hơn. Trong bài thơ sống động có tên “Ở những đỉnh cột” Mai Văn Phấn đưa vào những hình ảnh để gợi ý niệm về tính liên thuộc và sự kết nối: “Chợt cánh bướm mọc trên bờ đá/ Cánh hây hây run rẩy cả chân kè”.  ẩn dụ này đã hiệu quả; ta bất thần thấy chính mình nghĩ đến cách ngôn về hiệu ứng cánh bướm, nhưng ta cũng vui thích với tương phản giữa những cái cánh mỏng manh kia với hình ảnh xù xì của những bờ kè. Mai Văn Phấn nổi bật với kiểu sắp đặt liền kề này, và việc ông tạo cặp đôi những hình ảnh bất tương đồng như thế nhằm để mở rộng thế giới thơ ca của ông và giúp chất thơ của ông vươn tới tính cộng đồng toàn cầu rộng rãi hơn.

Cũng như các mô tả cảnh quan, những yếu tố tự nhiên khác cũng hiện diện thường xuyên trong những bài thơ này. Mưa, hiển nhiên, là hình ảnh hàng đầu nổi bật; nó xuất hiện hết lần này đến lần khác dưới nhiều bộ dạng khác nhau, tùy theo thi pháp cụ thể mỗi bài. Trong bài thơ mà cái tên bài vang vọng điệu trầm tư buổi mai, “Vô tình trong nắng sớm”, Mai Văn Phấn viết một khúc đoản ca mô tả nhân vật trữ tình đi dạo lúc bình minh sau một cơn mưa lớn và nghĩ về người mình yêu. Bài thơ gieo vần cuối câu: “Từng mưa to, mưa rất to/ Tắm táp cho viên cuội nhỏ/ Chỉ riêng hình ảnh này/ Đã làm anh yêu đời mê dại” Dường như Mai Văn Phấn viết mọi bài thơ của ông ở vào cơn xuất thần toàn triệt như thế. Ông hân hoan trong ngôn từ và trong thiên nhiên, và câu thơ được trau dồi cẩn trọng của ông phô diễn cả năng lực nghệ thuật khác thường và lòng tôn trọng sâu sắc đối với những kỳ diệu của tự nhiên và của chính con người.

Sự trở đi trở lại của mưa xuyên suốt những bài thơ này tạo cho tập thơ một phẩm chất trầm tư, tĩnh lặng, hầu như thể Mai Văn Phấn ru chúng ta với hứa hẹn về một buổi chiều trôi đi trong một căn nhà khi ta nhìn sững vào một khung cửa sổ xam xám giữa những bài thơ. Nhưng với Mai Văn Phấn một nhà thơ không chỉ là người mang đến những bài thơ dễ chịu, mà là, dùng những thành tố đa dạng của tự nhiên để tạo hiệu quả nghệ thuật hầu sáng tạo một miền của nhiều cảm xúc. Dưới cái tên giản đơn như “Từ hạt mưa”, Mai Văn Phấn khiến ta sửng sốt bởi ông dùng thứ ngôn từ sống động khác hẳn lối hiểu thông thường của chúng ta về mưa: “Những hạt mưa rơi xuống sắc nhọn”.  Câu thơ này lập tức thu hút chú ý vì cảm nhận mưa thật độc đáo, cái độc đáo khác lạ gợi lên trạng huống cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài. Sau đấy, trong bài thơ này, nhân vật trữ tình so sánh những hạt mưa với “thành sạn sỏi chạy khắp cơ thể”. Bài thơ này đồng thời thông báo một góc nhìn độc đáo về một hiện tượng tự nhiên thông thường, trong khi cũng mô tả được trạng thái tâm hồn của góc nhìn đó, tâm thế của một nhân vật cảm thấy thế gian đang ép xuống mình từ tất cả các góc độ, thậm chí từ cả cái ơn ích bình thường của bầu trời.

Thêm một thí dụ cuối về cách dùng xuất sắc hình ảnh mưa của Mai Văn Phấn, ta hãy xem hai dòng của bài “Nếu”. Bài thơ này là một trầm tư về cơn mơ, đã dùng mưa để đưa nhân vật trữ tình từ tỉnh thức vào giấc ngủ: “Trời bắt đầu mưa/ Chúng tôi bắt đầu mơ” Sử dụng mưa để biểu thị sự chuyển tiếp từ việc sống tỉnh thức sang những giấc mơ dường như là cách để ám chỉ việc dùng hình ảnh mưa trong những bài thơ chọn lọc này. Mai Văn Phấn thực hiện một việc kỳ diệu trong sự nắm bắt cái thực tại thường ngày đối với ông và với những người sống ở Việt Nam, nhưng cũng là chú mục vào mô tả cái thế giới bên trong phong phú của sự sáng tạo và của xúc cảm.

Chính ở nơi cụ thể và trừu tượng giao cắt mà ta thấy được tầm vóc thực sự to lớn của thơ Mai Văn Phấn. Ông không tự giới hạn mình chỉ ghi nhận một cái đẹp thực thể, cũng không để thơ mình hoàn toàn trừu tượng mà không có chút dáng vẻ nào của thực tại. Thay vì vậy, ông nhào trộn thế giới thực thể với thế giới tâm linh theo cách mà ta có thể  liên kết với hình tượng đẹp cũng như với những xung động của con tim đáng yêu và cũng đẹp như thế.

Dường như Mai Văn Phấn khai triển ý niệm nền tảng này trong nhiều bài thơ khác nhau, cái ý niệm hầu khiến hình ảnh người yêu dấu ngang bằng với vẻ đẹp thế giới tự nhiên. Trong một bài thơ rất gợi và ngọt ngào, bài  “Nơi trời rộng” , nhân vật trữ tình nói với người mình yêu: “…và da thịt em rười rượi lưng trăng/ và quả ngọt, thóc vàng rười rượi lưng trăng”. Bằng phép lặp và ẩn dụ, Mai Văn Phấn cân bằng tình yêu lãng mạn với cái đẹp thiên nhiên, và so sánh cả người yêu cùng tặng vật của thiên nhiên Việt Nam với “cái lộng lẫy” của vầng trăng. Lối dùng ẩn dụ này vang vọng trong nhiều bài thơ khác làm dậy lên cảm thức về cái trong trắng của tình yêu lãng mạn, cũng như nỗi hài lòng dễ chịu khi người ta nghiệm trải thời gian yêu ở một nơi đẹp đẽ.

Vào những lúc vui hài hước, Mai Văn Phấn cũng dùng tài thơ đáng nể của ông để đưa ra những ẩn dụ bất ngờ thật duyên và vui. Trong “Gió thổi”, bài thơ mang cho ta cả thiên nhiên và niềm lãng mạn, khi tác giả viết về người mình yêu: “Con sâu đo em đu lên người anh/ thì thầm gặm hết những xanh non” Hình ảnh này đầy nỗi vui thú và gợi lên niềm thân mật của tình yêu lãng mạn trong khi vang vọng hình ảnh thiên nhiên xanh tươi mơn mởn, là cái mà Mai Văn Phấn làm hiện lên xuyên suốt những bài thơ chọn lọc này. Trong “Được quyền nghĩ những điều đã ước”, một bài thơ dài đầy ắp những ẩn dụ phong phú ý nghĩa và những động từ hoạt dụng đẩy nhanh dòng chảy bài thơ đến cái kết êm và nhã, Mai Văn Phấn tiếp tục tiến triển mạnh mẽ những kết nối sáng tạo bằng việc dùng các phép lặp và ẩn dụ: “Chảy qua miệng anh/ mềm mại em/ sữa thơm hay cỏ non vừa mọc”. Với cách đặt hoàn toàn các trầm tư trên nền của niềm vui lãng mạn và tình yêu, đều trong lòng thiên nhiên, những bài thơ của Mai Văn Phấn phản ánh một cảm thức bén nhạy về cân bằng – điều cho thấy người viết đã viết ở đỉnh cao của sức sáng tạo trong mình.

Trong một cuộc phỏng vấn năm 2000 với Báo Hải Phòng cuối tuần, Mai Văn Phấn mô tả hành trình sáng tạo của ông như là “tôi được bài thơ dạy lại mình cách viết”. Bám sát nhãn quan thi ca riêng của mình, Mai Văn Phấn đã viết nên những bài thơ cho thấy một tầm nhìn độc đáo và một giọng điệu phân minh. Ông sử dụng phép lặp, ẩn dụ, và tính hình tượng xuyên suốt mạnh mẽ, nhưng mỗi bài thơ dường như đều độc sáng những từ ngữ đặc dụng cho riêng mình. Có những lúc âm điệu những bài thơ ở đây trang trọng và điềm tĩnh; lại có lúc giọng điệu tràn sức lực, hầu như bung nở cùng sự sống. Cũng trong cuộc trả lời phỏng vấn nói trên, Mai Văn Phấn nói ông không băn khoăn nhiều về độc giả mà ông hướng tới. Ông nói, thay vì vậy, ông buộc mình “chỉ nghe trái tim mình run rẩy với cảm xúc chân thành theo một quan niệm riêng” khi sáng tác một bài thơ ngõ hầu thông truyền được đủ đầy tới “quá khứ, hiện tại và tương lai đa chiều và đa tầng”. Không thành vấn đề dù bài thơ đó dùng chất liệu chủ đề nào hay âm điệu bao trùm ra sao,  bài thơ đạt được ý nghĩa trong mỗi dòng thơ đó mà chúng ta thực sự nghiệm trải những rung động của tâm hồn thơ thiên phú này; và thật tài ba nó trình hiện cái chuyển động của nhãn quan thơ ca, tâm hồn và trái tim Mai Văn Phấn.

Tình yêu, thiên nhiên, và lòng tri ân sâu sắc với khả năng được trao để nghiệm trải đủ đầy những cảm nhận hân hoan ấy – đó là những dấu son của tập thơ chọn này của thi sĩ người Việt Mai Văn Phấn lần đầu tiên được xuất bản bằng tiếng Anbani. Các bài thơ trong tập “Zanore nở vesở” (Những nguyên âm trong sương sớm) này đưa người đọc từ mùa xuân sang mùa thu, rồi quay lại. Mai Văn Phấn đào sâu vào những mối tương liên sâu xa, tràn đầy ý nghĩa mà chúng ta hy vọng có được trong đời, những mối tương liên khiến các bài thơ này có khả năng liên đới và tính toàn cầu thật sự trong tầm nhìn của chúng. Là một thi sĩ của xứ sở đất nước mình và của quảng đại thế giới, Mai Văn Phấn sử dụng thứ ngôn ngữ tinh tế và những thủ pháp thơ xảo diệu trong lúc vẫn duy trì được tính dễ tiếp cận cho một công chúng độc giả quảng đại.

Những bài thơ này biểu đạt cảm thức của Mai Văn Phấn như trạng thái “xuất thần nguyên sơ” với đời sống và với sự sống, và thơ ấy mời gọi chúng ta chia sẻ cảnh giới ấy. ở một trong những bài thơ đem lại cảnh giới xuất thần với cái trù phú của tự nhiên, bài “Bài hát mùa màng” thi sĩ viết: “Đất mỡ màu quyện rạng đông dâng lên khuôn mặt/ dâng lên cỏ cây phồn thực bời bời”. Lại thêm một lần ta thấy hình ảnh rạng đông, và, ở đây, những khoảnh khắc đầu tiên của ngày được mô tả như là kết nối miên viễn với hoa trái chín mọng của đất đai. Hình ảnh đất dâng lên một “khuôn mặt” xanh trù phú vừa quen thuộc vừa đáng kinh ngạc. Những bài thơ này cho ta thấy xúc cảm tận hiến của Mai Văn Phấn cho tính nhân văn sâu sắc, tính nhân văn nền tảng của mọi hợp phần của nền văn hóa bản nguyên Việt Nam của ông. Chính là miền đất ấy mang gương mặt đón chào ta, và, giống như đất ấy, “Zanore nở vesở” (Những nguyên âm trong sương sớm) cũng trao ta nhiều “khuôn mặt” dưới dạng thức những bài thơ đem đến niềm vui, niềm hân hoan và suy ngẫm cho người đọc trên khắp thế giới này./.


 

 
Đọc lại tiểu thuyết “NGƯỜI CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN NĂM ẤY”


Diệu Thu

Nhà văn, đại tá Mai Vui


Tiểu thuyết “Người chiến sĩ Điện Biên năm ấy” được nhà văn, đại tá Mai Vui hoàn thành tháng 10/2003 và NXB Quân đội nhân dân ấn hành tháng 3/2004. Đúng 10 năm cuốn tiểu thuyết ra đời, giữa những ngày cả nước tưng bừng kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu”, tôi lại mang “Người chiến sĩ Điện Biên năm ấy” ra đọc với tình cảm trân trọng, kính phục. Và khi gấp sách lại, lòng nhủ lòng viết ra đôi dòng cảm nhận, để những ai chưa có dịp đọc tiểu thuyết này có thể phần nào hiểu thêm về những người cách đây 60 năm đã sống và chiến đấu như thế nào trên chiến trường “lòng chảo” Điện Biên ác liệt .

Dung lượng cuốn tiểu thuyết có không nhiều, chỉ có 172 trang khổ 13 x 19 cm, nhưng lại chứa đựng bao con người, bao sự kiện và trải dài suốt 5 tháng, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ, với những trang viết hào hùng, xúc động, bởi chính tác giả là người tham gia từ đầu đến cuối chiến dịch, và cũng là người trực tiếp chỉ huy đại đội chủ công đánh chiếm đồi C2, khép lại những ngày chiến đấu ác liệt trên chiến trường Điện Biên.

Cuốn sách đưa người đọc theo bước chân nhân vật chính Mạnh Thà, vào chiến dịch Điện Biên Phủ đang làm đại đội trưởng đại đội 25 thì được “đề bạt” chính trị viên tiểu đoàn dân công toàn nữ. Tình huống “trái khoáy” này đẩy nhân vật chính vào “vòng xoáy” xung đột nội tâm, giữa một bên là niềm khao khát cầm súng chiến đấu và một bên là nhiệm vụ quân đội trao cho. Nhưng cũng chính trong “vòng xoáy” ấy, Mạnh Thà không chỉ đứng vững mà còn vươn lên làm tốt vai trò người “anh cả” dẫn dắt tiểu đoàn nữ dân công vượt qua khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vận chuyển hàng nghìn tấn gạo qua bao rừng rậm suối sâu vào mặt trận. Anh sinh ra từ vùng quê An Lão (Hải Phòng) có truyền thống đánh giặc, với câu thề mà không người nam giới nào ở quê anh không thuộc: “Đứng trên đỉnh núi ta thề/Không giết được giặc không về núi Voi”. Không những thế, Mạnh Thà lại đi bộ đội từ năm 17 tuổi, qua bao chiến dịch lớn Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình, Tây Bắc, trận nào đơn vị anh cũng nhận nhiệm vụ chủ công. Vậy mà vào chiến dịch lớn này, Mạnh Thà lại phải về “tuyến sau” làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông và tiếp tế lương thực ở một tiểu đoàn chỉ nghe tên đã thấy ớn: mồng tám tháng ba (8/3), với biên chế tiểu đoàn cũng thật khiêm tốn có 78 chị em.

Phần 1 tiểu thuyết có tiêu đề: “Sống giữa tiểu đoàn dân công gái” mang đến cho người đọc cái nhìn tổng quát về chiến dịch Điện Biên Phủ, không chỉ các đơn vị bộ đội chính quy, mà còn có những đơn vị dân công với những nữ thanh niên tràn đầy sức thanh xuân, chứa chan lòng yêu nước và hừng hực lửa căm thù, bất chấp mưa nguồn thác lũ, bom rơi đạn nổ, chỉ ước ao được góp sức mình tiêu diệt nhiều giặc. Đoạn tả tâm trạng Mạnh Thà ngày đầu đến nhận nhiệm vụ ở tiểu đoàn 8/3, cảnh chính trị viên Mạnh Thà gặp lại tiểu đoàn trưởng Bùi Thị Thúy Hà ở kho lương thực trên bản Cum với một cái nhìn chưa hẳn là tình yêu, nhưng cũng không chỉ còn là tình đồng chí, đồng đội cùng lúc như xô đến trong lòng Mạnh Thà bao ý nghĩ về sự hy sinh tuổi trẻ, tình yêu vì nghĩa cả, về người vợ anh ở quê đáng giận và cũng đáng thương, đã bỏ lại đứa con lên ba để trốn đi theo người anh họ, mà Thà mới biết tin do gặp một người cùng quê đi dân công chiến dịch. Rồi cái buổi chiều cô trung đội trưởng Mây, quê Gia Lộc, Hải Dương bất ngờ nhận tin anh lái xe Tiến nhắn ra đầu suối gặp. Thật như một giấc mơ không thể hình dung nổi, giữa chiến trường ác liệt lại gặp được người mình yêu, rồi cuộc hiến dâng của Mây cho Tiến có lẽ chỉ có ở những chàng trai cô gái tuổi đôi mươi coi cái chết “tựa lông hồng” mới có cuộc tình đắm say giữa nơi còn khét mùi bom giặc ngay cả khi cái sống và cái chết cách nhau gang tấc. Đấy là những trang viết chân thực, sinh động và rất đời thường.

Nếu phần 1 như mảng phía sau mặt trận, thì phần 2 tiểu thuyết có tựa đề: “Hồi ức của đại đội trưởng Mạnh Thà” lại như nét ký họa, giúp người đọc có thể hình dung cuộc sống  của chiến sĩ ta trong những ngày ác liệt trên chiến trường Điện Biên năm xưa. Sau những ngày cùng tiểu đoàn dân công gái bảo đảm giao thông và vận chuyển lương thực, Mạnh Thà lại được trên điều trở lại trung đoàn với chức danh cũ, đại đội trưởng, nhưng không phải là đại đội 25 cũ của anh , mà là đại đội 253 luôn vào loại yếu kém và đi chiến dịch thường chỉ được phân công làm thê đội dự bị. Cuộc giằng co tư tưởng ở Mạnh Thà lần này không phải là chức vụ mà là nhiệm vụ, muốn được cấp trên trao cho nặng nề, quan trọng hơn, chứ không muốn nhàn hạ, tránh xa nơi mưa bom bão đạn. Mạnh Thà là mẫu người đại diện phần đông cán bộ quân đội đặt lợi ích tập thể, nhiệm vụ tối cao lên trên hết, không mảy may tính toán cá nhân. Đại đội 253 khi Thà về nhận đại đội trưởng chỉ còn gần hai trung đội, nhưng đảm nhận một công việc hết sức nặng nề là mở đường hào vào đồn giặc án ngữ cao điểm phía Đông cứ điểm Điện Biên Phủ. Nhưng Thà đã cùng các cán bộ trung đội, tiểu đội như Ninh, Phi, Nổ, rồi những chiến sĩ như Đuổi, Thiềng… tổ chức lực lượng, kiên trì mở đường hào kiểu “nhím gặm” vào sát đồn địch. Trong cuộc vật lộn giành giật mở đường hào căng thẳng, quyết liệt ấy, đại đội 253 vẫn duy trì được sinh hoạt đầm ấm, lạc quan. Cảnh các chiến sĩ ngơi tay thuổng, tay xẻng đào hào lại hát hò, kể chuyện tiếu lâm, đọc báo Quân đội tại mặt trận và nghe anh tân binh người Thái Lò Văn Thiềng hồn nhiên đọc thơ nhớ vợ, rồi cười bò với nhau là những khoảng khắc độc đáo về không khí yên tĩnh ít ỏi ở chiến trường khá sinh động và đầy chất lãng mạn.

Nhưng viết công phu, dồn nén và hấp dẫn nhất có lẽ là ở phần ba tiểu thuyết, có tiêu đề: “Thăng hoa”. Với gần một trăm trang sách, nhà văn đã tập trung miêu tả trận đánh quyết định của đại đội 253 trên đồi C2, một cao điểm quan trọng án ngữ phía Đông Mường Thanh mà cả ta và địch đều quyết chiếm giữ. Cuộc chiến đấu cũng không dài, từ khi Thà chỉ huy đại đội đánh lên đồi C2 đến khi đơn vị làm chủ ngọn đồi chỉ diễn ra 12 tiếng, nhưng đấy là 12 tiếng đồng hồ không ngơi tiếng súng. Lực lượng quá chênh lệch, tiếng là một đại đội nhưng chỉ có 21 cán bộ, chiến sĩ được biên chế làm hai trung đội thiếu, còn bên kia là quân địch đông và mạnh gấp mấy lần. Nhưng từ đại đội trưởng Thà, trung đội trưởng Ninh, Phi đến các chiến sĩ như Nổ, Thiềng, rồi Mộc, Bột, Đuổi, Hào… đều nung nấu ý chí quyết chiến quyết thắng. Không chỉ có quyết tâm, Thà còn cùng cán bộ, chiến sĩ tạo ra nhiều cách đánh hay, vừa bẻ gẫy các đợt phản kích của địch, vừa bảo toàn lực lượng chiến đấu. Có lúc ta và địch giành giật nhau từng mét đường hào, có lúc địch huy động hàng trăm lính có xe tăng yểm trợ đánh vào trận địa ta. Nhưng chỉ một tổ mũi nhọn với bộc phá trong tay, các chiến sĩ ta cũng làm nổ tung xe tăng và buộc hàng trăm tên giặc phải tháo chạy. Những đoạn tác giả miêu tả Bột và Mộc, rồi Thiềng và Đuổi vác thủ pháo lao lên đánh thẳng vào lô cốt địch, Ninh vì mải bắn giặc phía trước mà bất ngờ bị xe tăng địch đột kích phía sau nghiến lên người. Đuổi nhìn thấy Ninh chết đã không còn đủ bình tĩnh, vội cầm dao găm lao lên đâm túi bụi vào quân giặc. Hay khi Mộc ôm bộc phá xông lên đánh chặn xe tăng địch đang lồng lộn tìm đường đánh vào đường hào của ta, bất ngờ bị xe tăng địch bắn dữ dội. Chứng kiến sự hy sinh của Mộc, Nổ căm giận ôm bộc phá vừa chạy lên phía xe tăng, vừa giật nụ xòe, làm “cây lửa” thiêu cháy cả đội hình địch. Rồi khi bị thương vào bả vai, Mạnh Thà chỉ lặng lẽ tự băng, chứ không muốn để ai biết mình bị thương. Hay cuộc hội ngộ không hẹn mà gặp giữa Thà và Hà, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn dân công gái hồi đầu chiến dịch, giờ là dân công vận chuyển thương binh, giữa trận chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt trên đồi C2; là cuộc gặp cảm động đến rơi nước mắt giữa hai chị em Hà và Hảo đã nói lên rất nhiều điều. Đúng như tác giả đề “Thăng hoa”, phần ba tiểu thuyết là những trang viết “thăng hoa’ về lòng dũng cảm và sự hy sinh vô bờ của cán bộ, chiến sĩ đại đội 253, và đồng thời là sự “thăng hoa” trong bút pháp miêu trả tính cách, khắc họa nhân vật, tạo dựng tình huống và không khí chiến trường của nhà văn khi viết tiểu thuyết này dù đã ở tuổi 78 (ông sinh năm 1926).

Nhà văn Mai Vui (tên thật Đỗ Hùng Quang) cả đời là lính. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đại đội của ông tham gia chắn giữ một chốt điểm quan trọng ở phía Đông Mường Thanh. Khi kết thúc chiến dịch, ông được bầu là chiến sĩ thi đua và vinh dự là một trong 5 người thay mặt các đơn vị tham gia chiến dịch Điện Biên nhận cờ “Quyết chiến, quyết thắng” của Bác Hồ, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp trao trong lễ mừng chiến thắng tổ chức tại Mặt trận. Viết về Điện Biên Phủ cũng là viết về những ngày tháng ông sống và chiến đấu trong tình đồng chí, đồng đội keo sơn, nên những trang viết của ông vừa chân thực, chắt lọc lại vừa ấm áp nghĩa tình. Tác giả như không có ý định làm văn chương, mà chỉ cốt viết ra những gì còn đọng lại tự trái tim mình từ bao năm trước, nên đọc mỗi trang “Người chiến sĩ Điện Biên năm ấy” như bị cuốn hút vào mạch kể chuyện khúc triết, mạch lạc trong nhịp sống khẩn trương, nhưng cũng đầy lạc quan của bộ đội, dân công tuổi xuân phơi phới nơi chiến trường. Quý trọng biết bao mỗi khi được đọc những trang sách do người trong cuộc viết ra, đặc biệt là của người trong cuộc đã phải đổ bằng máu mới có được những trang viết như vậy. Thế nên, dẫu tiểu thuyết còn có chỗ lan man, chất liệu đôi khi ôm đồm, chất ký sự còn đậm...Nhưng tất cả những cái đó cũng dễ làm người đọc bỏ qua, bởi trong trường hợp này dẫu còn những “hạt sạn” cũng không làm người đọc bận tâm nhiều. Mà cái đáng để tâm là sau khi gấp lại “Người chiến sĩ Điện Biên năm ấy” trong lòng người đọc trào dâng sự trân trọng, biết ơn. Và đấy chính là điều giữa những ngày tưng bừng kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, không có may mắn lên chiến trường Điện Biên năm xưa, tôi ngồi đọc lại “Người chiến sĩ Điện Biên năm ấy” để như một sự thành kính, biết ơn./.



 
Nghĩ về Nguyên Hồng


PGS.TS. Nguyễn Đức Thuận

(Trưởng Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Hải Phòng)


Nhà văn Nguyên Hồng

 

1. Nguyên Hồng là nhà văn mà cái Tâm đối với đời, với người, đã kết thành một thứ chủ nghĩa: chủ nghĩa nhân đạo thống thiết, thẳm sâu; một thứ chủ nghĩa nhân văn cao cả, thánh thiện.

Tiếng khóc bật ra và những dòng nước mắt chảy dài trên khuôn mặt lam lũ, khắc khổ của Nguyên Hồng là bắt nguồn từ tình thương vô hạn và nỗi đau thân phận con người đến tột cùng của nhà văn. Dường như Nguyên Hồng sinh ra trên đời này là để khiêng cáng cho nhẹ bớt đi cái nỗi khổ của con người, tát vơi đi nỗi đau, sự lầm than, cơ cực của con người. Nguyên Hồng nâng đỡ con người như một “lực sĩ” trên cả hai bình diện: Trong nội dung từng tác phẩm và trên tất cả khối lượng lớn các tác phẩm của nhà văn! Văn chương của Nguyên Hồng là thế. Và điều này đã được khẳng định!

2. Nhưng có một điều chúng ta thầm kính phục ông, là ở sức lao động nghệ thuật đến phi thường: viết và viết, đam mê viết, viết như một Hônôrê Đơ Bandac của Pháp với bộ Tấn trò đời, hay như một Lép Tônxtôi của Nga với bộ Chiến tranh và Hòa bình, hoặc như La Quán Trung của Trung Quốc với bộ Tam quốc diễn nghĩa vậy! Một ông “thợ cày” siêng năng trên cánh đồng chữ nghĩa mênh mông và trong tình yêu thương sâu sắc con người nơi trái tim. Nguyên Hồng đã để lại cho đời, tính từ khi bước “vào cửa văn xuôi”(1) năm 16 tuổi, đến khi giã từ cuộc sống ở tuổi 64, hàng vạn trang sách, với số lượng gần 40 tác phẩm, có đủ các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, thơ, kịch... trong đó có nhiều tác phẩm “có giá trị lâu dài cho nền văn học dân tộc”(2). Quả là đồ sộ thật! “Gớm ghê” thật!:  Công trình kể biết mấy mươi (Nguyễn Du – Truyện Kiều)

3. Cuộc sống lục đục, bất hạnh dẫn tới tổn thương tình cảm gia đình đã đưa mẹ con Nguyên Hồng từ thành phố dệt Nam Định ra với thành phố Cảng Hải Phòng. Từ nghèo khổ đến với lam lũ, nghèo khổ! Từ cuộc đời của một người bất hạnh, thiếu thốn tình thương, mồ côi từ năm 12 tuổi, kiếm tiền ăn học bằng những “nghề nhỏ mọn” nơi “vườn hoa, cổng chợ, bến tàu, bến ô tô, bãi đá bóng...bán báo, bán xôi chè...hoặc ăn mày, ăn cắp từng con cá, lá rau”(3), Nguyên Hồng đã đến ng với những người cùng khổ nhất ở thành thị: thợ thuyền, phu phen, những người buôn thúng bán bưng, những me tây, gái điếm, du côn, ăn cắp..., những người thuộc tầng lớp “dưới đáy” của xã hội, đến với những người lao động đói cơm, rách áo ở Hải Phòng những năm của “thời kỳ đen tối” trước cách mạng. Cuộc đời cần lao, lam lũ của những con người nơi đây cùng với nỗi đau riêng của thân phận đã thúc giục Nguyên Hồng cầm bút viết văn. Tiểu thuyết đầu tay “Bỉ vỏ” (1938) đã ra đời sau những ngày Nguyên Hồng lủi thủi đi hết từ bến cảng đến chợ Sắt, rồi mò đến Vườn hoa đưa người... để tìm việc làm; những ngày Nguyên Hồng ngồi viết trên chiếc bàn “trông ra những vũng nước đen ngầu bọt của một bãi đất lấp dở dang và một chuồng lợn ngập ngụa phân tro... trong một căn nhà lụp xụp cứ đến chập tối là ran lên muôn vàn tiếng muỗi”(4), những ngày mẹ con Nguyên Hồng đói và đói! Từ đây, Hải Phòng đã trở thành quê hương nghệ thuật của Nguyên Hồng. Sống gắn bó máu thịt với đất và người Hải Phòng, cũng như Nguyễn Đình Thi, Văn Cao..., Nguyên Hồng đã viết, viết say sưa, miệt mài, bằng cả tình yêu thương và trân trọng, bằng sự giác ngộ cách mạng, bằng cả niềm tin và lòng yêu đời của mình. Tác phẩm của Nguyên Hồng là bài ca về tình yêu thương và niềm tin yêu cuộc sống!

4. Tình yêu thương và niềm tin là ngọn lửa ấm nóng xuyên suốt chiều dài và thấm đẫm trong những tác phẩm của Nguyên Hồng. Đó chính là cái đã làm nên sức sống dài lâu của

các tác phẩm của nhà văn. Chất thơ từ những trang văn của Nguyên Hồng bật lên từ những đau khổ cùng cực của cuộc đời. Văn chương xưa nay và trước hết là câu chuyện của tấm lòng. Nhà văn Nguyên Hồng đi và viết. Sinh thời, ông lao động nghệ thuật một cách công phu, cần cù, tỉ mỉ và trân trọng, “mà nghệ thuật đúng là một sự lao động, nó kết hợp với đủ các thứ mà thứ nào cũng phải cật lực”(5). Bộ tiểu thuyết đồ sộ mang tính sử thi “Cửa biển” (1961-1976) là kết quả của quá trình lao động nghệ thuật miệt mài và sáng tạo của nhà văn, đã tái hiện lại sinh động một giai đoạn lịch sử trước cách mạng tháng Tám của mảnh đất và con người Hải Phòng nói riêng và đất nước nói chung.

Quê hương sinh thành Nam Định đã không cho ông một cuộc sống hạnh phúc, thì may sao Hải Phòng – quê hương nghệ thuật của Nguyên Hồng, đã để lại cho ông một sự nghiệp văn học lớn lao, sự nghiệp của một người đã gắn bó với con người và mảnh đất cửa biển này bằng một tình yêu sâu thẳm./.

--------------------

(1) Chữ của Nguyễn Tuân, Con người Nguyên Hồng, trong Tuyển tập Nguyên Hồng, tập 1, VH, 1983, tr 57

(2) Tuyển tập Nguyên Hồng, sđd tr 10

(3) Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu, VH, 1983

(4) Nguyên Hồng, Tựa “Tôi viết Bỉ vỏ”

5) Nguyễn Tuân, Con người Nguyên Hồng, trong Tuyển tập Nguyên Hồng, sđd, tr 60



 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)