Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 17 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Thao thức thơ, thao thức đời


Tô Hoàng Vũ

(Đọc tập thơ “Thao thức” của Nam Phụng, NXB Hội Nhà văn 2013)


Bạn đọc đang cầm trên tay tập thơ “Thao thức” của “nhà thơ trẻ cao tuổi” Nam Phụng. Nói như vậy là có sở cứ, vì như ông tâm sự “tôi vốn yêu thơ từ sớm” nhưng mãi “đến lúc tuổi cao, con cái trưởng thành, gia đình đã vơi bớt lo toan”, thì mới thực sự đến với thơ. Hơn 10 năm “chọn lối chơi tao nhã thư nhàn” là thơ (như ông nói) và là hội viên tích cực của vài Câu lạc bộ thơ từ cấp quận đến thành phố, được sự động viên giúp đỡ của bạn thơ cũng như sự cẩn trọng, khiêm cung của mình, ông đã lựa được 54 bài thơ và 6 bức họa để có “Thao thức” hôm nay.

Có thể ví “Thao thức” như bông hoa nở muộn mà Nam Phụng dâng tặng cho độc giả. Dù nở muộn, nhưng ta vẫn cảm nhận được cả hương và sắc của hoa. Lê Quý Đôn cho rằng: Thơ là sự phát khởi tự trong lòng mà ra. Với những người nhiều trải nghiệm, hiểu cả hỷ nộ ái ố, nếm cả cay chua ngọt đắng vị đời như tuổi của ông thì điều đó lại càng đúng. Dù có tìm đến với thể thơ lục bát của dân tộc, thơ Đường luật của Trung Quốc hay thơ tự do của châu Âu, ông cũng đều trải lòng mình với đời, với người. Nam Phụng lấy hiện thực làm điểm tựa, làm cái cớ để khai triển những quan niệm của mình về cuộc sống. Như tên của tập thơ, đó là những thao thức, trăn trở, suy tư khôn nguôi về nhân tình thế thái, về những biến thiên của lịch sử và những mong ước khi nhìn về tương lai của quê hương, đất nước.

Thông qua thơ, Nam Phụng mượn chuyện xưa để nói nay, mượn chuyện người để nói lòng mình. Đó là khi ông viết về lịch sử đã qua như 1000 năm Thăng Long, về Văn Miếu, Hoàng thành, tháp Chàm hay những tên đất như Đà Lạt, Hải Vân, Yên Tử; những tên người như đức vua Trần Nhân Tông, ông quan thương dân Nguyễn Công Trứ, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Thậm chí ông còn mượn lời của cỏ “Góp làm xanh trái đất xanh/ Lạ sao đời chẳng xem mình là cây”.

Nam Phụng có những câu thơ thật lòng đến mức có thể khiến bạn đọc phải rơi lệ. Viết về tình nghĩa vợ chồng tao khang trong nỗi đau chia cắt, âm dương cách trở, ông đưa hình ảnh: “Cuốc lẻ xa bầy da diết vẳng/ Gà con lạc mẹ não nề khơi”, “Sùi sụt Chức - Ngưu sầu trắng đất” và “Ước gì trong mỗi canh khuya/ Anh luôn mơ thấy em về bên anh”.

Có những câu thơ trong “Thao thức” thể hiện rõ sự dụng công của tác giả, dẫn đến những tìm tòi, phát hiện thú vị: Hàng tháp cẩu ở Cảng dường như “Chọc thủng không gian nâng cách chim trời ”; hay khi viết về nỗi cô đơn của người chồng nơi trần thế: “Em giờ bạn với trăng sao/ Anh cô đơn trước chênh chao cõi người”.

Thời trẻ, Nam Phụng là cán bộ Công đoàn Cảng Hải Phòng, chuyên kẻ chữ vẽ tranh, làm công tác tuyên truyền thi đua lao động sản xuất. Có lẽ vì thế mà một số bài trong tập là bài thơ mà cũng là bức tranh. Qua bài thơ “Nhớ”, tác giả vẽ nên bức tranh quê với “hàng cau vương nắng chân mây tím hồng”, “vườn hoang cỏ dại”, “gió phiêu du giữa cánh đồng hoang liêu”, “mây lang thang”, “thoảng mùi hương cỏ”, “người trên bến vắng đợi đò”, “ánh trăng mờ mờ xanh”, “làn sương khói mong manh”, “ẩn hiện bóng  hình đò xa”. Còn bài “Nhạc hồn” thì đích thị là bức tranh sống động về một canh hát ca trù với đủ các thành phần đào nương, kép đàn, trống chầu... “Giọng ca rung rẩy/Tiếng phách dập dồn/ Ngập ngừng đàn đáy/ Trống điểm đanh giòn...”

Trên đời, ai mà chả yêu quê, nhưng ông yêu theo cách của mình. Tuổi đi học, rồi đi làm ông lấy tên Vũ Văn Kề theo giấy khai sinh, nhưng khi làm thơ ông đặt bút danh Nam Phụng để nhớ về xóm Nam, làng Phụng Pháp. Quê hương nơi chôn rau cắt rốn, nơi mồ mả ông bà tổ tiên, nơi chăn trâu cắt cỏ...luôn đau đáu và trở đi trở lại trong thơ ông. Về thăm quê, chứng kiến những mặt trái của việc làng lên phố, xã thành phường, ông thốt lên: “Xin đừng phá bỏ hàng tre/ Ân tình gắn kết làng quê bao đời/.../ Hàng tre xưa mảnh hồn quê/ Võng đưa kẽo kẹt trưa hè mẹ ru/ Không tre vắng tiếng chim gù/ Vắng đàn cò trắng chiều thu dập dìu” (Xin đừng).

Ngoài cây tre, đình làng cũng là một trong những biểu tượng của làng quê, hồn Việt. Vì thế ông tha thiết đề nghị: “Dù đi vạn nẻo trần gian/ Xin đừng quên mái đình làng quê hương” (Hoài niệm đình làng). Ai cũng mong làng mình ngày càng đổi mới, phát triển nhưng cũng không thể không sẻ chia cùng tác giả: “Sao lòng riêng cứ băn khoăn/ Dấu tích làng xưa ngày mỗi vơi dần/ Cái làng Phọng nay còn đâu nữa/ Có chăng chỉ còn trong trí nhớ/ Như chuyện kể ngày xưa có một cái làng” (Làng tôi).

Chừng như thấy chưa đủ với những bài thơ lẻ về quê hương. Phần cuối tập thơ, ông “trình tấu” với bạn đọc hẳn “Mười khúc quê” cho thỏa. Và bạn đọc khó có thể không nao lòng trước cái tình quê trong ông: “Cả bốn mùa thu đông xuân hạ, khách sang sông trông cậy con đò, quán nước đầu làng, cây đa cổ thụ, chốn đợi nơi chờ; tan chợ mẹ về, con sung sướng đợi quà, bánh bèo, bánh đúc, bánh khúc, bánh đa, những cánh cò bay lả bay la, con diều giấy bồng bềnh trong gió”.

Với thơ, ta ít khi đọc liền mạch từ đầu đến cuối như văn xuôi, nhưng có thể Thao thức là một trong những ngoại lệ chăng, khi mà tác giả đã làm cho người đọc cùng thao thức, cùng cảm khái với mình về cõi thơ và cõi đời.

Xuất bản tập thơ đầu tay ở tuổi bát tuần, thế là chậm, nhưng chậm mà chắc, vì Thao thức ít nhiều cũng đã tạo được sự đồng cảm của bạn thơ và bạn đọc yêu thơ. Nghe đâu ông chỉ in tập thơ này là thôi. Nhưng tôi đồ rằng thế nào ông cũng phải ra tập thứ 2 rồi mới chịu buông bút nghỉ ngơi. Chỉ mong ông đừng có “Thao thức” nữa mà hại cho sức khỏe. Tôi trộm nghĩ tên tập thơ tiếp theo là “Hoài niệm” hoặc “Trăng và thơ” gì đó có thể hợp với ông chăng?

Tháng 6/2013


 

 
Đi tìm tác giả và ý nghĩa của những câu thơ


Đinh Quyền


Mới nghe có vẻ vô lý , bởi mỗi câu thơ dù đặt trong toàn bài hay trích dẫn, thì cũng ghi tên tác giả rất rõ ràng, dù viết bằng tiếng Việt hay dịch từ tiếng nước ngoài thì đọc lên mấy ai không hiểu mà phải “đi tìm “ cho tốn công, mệt sức. Thế nhưng trong thực tế không ít trường hợp, nhiều bài viết trên sách báo những năm gần đây lại xảy ra hiện tượng tác giả bị “râu ông nọ cắm cằm bà kia” hoặc do không tìm hiểu kỹ dẫn đến “ ông viết gà, bà dịch thành vịt ”. Dưới đây là một số ví dụ:

1. Câu: “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm/ Nhất sinh đề thủ bái mai hoa” được Cao Bá Quát (1808-1855) – người từng được tôn là thánh về văn thơ chữ nghĩa (thần Siêu, thánh Quát ), nhắc lại trong thơ ông. Thế là nhiều người lầm tưởng là của Cao Bá Quát. Thực ra câu này của quan tri phủ Hán Dương ( tỉnh Hà Bắc nước Tàu ) Ngải Tuấn Mỹ viết tặng quan phó sứ Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản (1823-1880) năm 1869. Về nghĩa câu thơ này, các bài viết thường dịch là: “Mười năm xuôi ngược , chu du để tìm thanh kiếm cổ / Một đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai thôi ”. Dịch thế, về ngôn từ có thể coi là sát nghĩa, nhưng về ý thơ xem ra có phần chưa ổn, và nếu chỉ có thế thì câu thơ trên sẽ không có gì đặc sắc đến mức cụ Cao phải tâm đắc nhắc lại. Tìm đọc lại  các tích trong thơ cổ và hoàn cảnh xuất xứ câu thơ, chúng tôi mới hay rằng ý nghĩa câu đó là: “Mười năm luận bàn về đạo giao du ( tức là đạo bằng hữu tri kỷ ) mới thấy khó như tìm thanh kiếm cổ / Một đời chỉ biết cúi đầu lạy trước bậc quân tử có khí tiết cao cả mà hoa mai là biểu tượng” . Đọc Nguyễn Trãi, ta cũng gặp câu có ý tương tự: “Xuân đến nào hoa chẳng tốt tươi / Yêu mi (mai) vì tiết sạch hơn người.”.

2. Câu: “Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch/ Lập thân tối hạ thị văn chương”. Nhiều người cho là của cụ Phan Bội Châu (1867-1940), ( vì có lẽ thấy cụ có nhắc lại đôi lần trong thơ mình) . Thực ra câu này là của nhà thơ Viên Mai (Trung Quốc). Câu thơ được dịch là: “Bữa bữa những mong ghi sử sách/Lập thân hèn nhát ấy văn chương”. Đọc lời dịch, người viết bài này cứ phân vân và đặt ra câu hỏi:” Cụ Phan , một bậc khoa bảng, “một nhà yêu nước vĩ đại” (chữ Bác Hồ dùng ), từng lấy văn thơ thức tỉnh lòng yêu nước của dân tộc , nhất là thế hệ trẻ, chả lẽ lại coi lập thân bằng văn chương là hèn nhát, khi cụ tâm đắc với câu thơ này? Tìm hiểu kỹ mới hay, hiểu câu thơ như trên là sai ý tác giả. Là bởi, người xưa quan niệm rằng, vào đời lập thân cần ba sự nghiệp: Một là lập đức, hai là lập công, ba là lập ngôn, trong đó lập ngôn ( bằng văn chương ) đứng ở vị trí sau cùng (tối hạ).Thế mới biết, đọc và hiểu văn chương là điều không dễ.

3. Câu: “ứcTrai tâm thượng quang Khuê tảo”. Lâu nay vẫn được dịch và hiểu là: “Tấm lòng Nguyễn Trãi sáng như sao Khuê.” Tìm lại nguồn gốc câu thơ này, chúng tôi thấy: Đó là câu thứ 3 trong bài “Minh quân lương thần ” của Lê Thánh Tông, viết dưới thể thất ngôn bát cú. Câu 3 và câu 4 nguyên văn là: ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo/ Vũ Mục hung trung liệt giáp binh.

Vậy câu thơ trên phải được hiểu là: Lòng Nguyễn Trãi rực sáng văn chương/ Bụng Lê Khôi chứa đầy võ lược. Ức Trai tức Nguyễn Trãi, Vũ Mục tức võ tướng Lê Khôi , Khuê tảo là tên một loại rong biển- biểu tượng của văn chương chứ không phải là sao Khuê.

4. Câu: “Anh đi, anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”. Lâu nay được coi là ca dao, từng được đưa vào dạy trong nhà trường trong phần ca dao tục ngữ. Nhưng thực ra là câu thơ trong bài “Anh Khóa” của Á Nam Trần Tuấn Khải (1895-1983) trong tập “Bút quan hoài”. Bài thơ như sau: Anh đi anh nhớ quê nhà/Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương/Nhớ ai dãi nắng dầm sương/Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

5. Câu: “Hỡi cô tát nước bên đàng/Sao cô  múc ánh trăng vàng đổ đi”. Cũng coi là ca dao, nhưng thực ra là của Bàng Bá Lân trong bài “Trăng quê”: Trời cao mây trắng, trăng tròn/ Dế than hiu quạnh, trăng buồn nỉ non/ Diều ai gọi gió ví von/ Cành xoan đùa ánh trăng suông dịu dàng/ Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

6. Câu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong” nhiều người lầm tưởng là của Bác Hồ. Một lần ở giữa hội nghị có vị cán bộ từng đứng lên nhắc mọi người: Bác Hồ đã dạy:  Dễ trăm lần không dân cũng chịu... Nhưng đó là câu thơ trong bài “Dân no thì lính cũng no” của nhà thơ Thanh Tịnh: Trông lên thì thấy đầy sao/ Nhìn lên thì thấy đồng bào mến thân/ Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong/ Thóc thuế mà có dân đong/ Trăm công nghìn việc ngược dòng cũng xuôi/Đêm nằm nghĩ lại mà coi/ Liệu còn thằng giặc đứng ngồi sao yên/ Nhân dân là bác, mẹ hiền/ Cơm gạo áo tiền thì mẹ phải lo/ Dân no thì lính cũng no/ Dân reo lập nghiệp, lính hò lập công.

Xin không bàn đến nghệ thuật thi ca, ở đây chỉ muốn đề cập đến sự nhầm lẫn tác giả của tác phẩm.

7. Về dịch giả, chỉ xin nêu một trường hợp nhầm lẫn. Đó là bài “Phong kiều dạ bạc” của tác giả Trương Kế. Bài thơ có 4 câu: Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên / Giang phong ngư hỏa đối sầu miên / Cô Tô thành ngoại Hàn San tự / Dạ bán quy lai đáo khách thuyền.

Bài thơ được dịch là: Trăng tà, tiếng quạ kêu sương / Bên sông ngư phủ sầu vương giấc Hồ/ Thuyền ai đậu bến Cô Tô / Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Bản dịch này là của dịch giả Nguyễn Hàm Ninh, nhưng lâu nay thường được coi là của nhà thơ Tản Đà. Đó cũng là sự nhầm lẫn đáng tiếc.

Nêu ra những sự nhầm lẫn trên, người viết bài này chỉ muốn gửi gắm ước vọng: Hãy trả lại những câu thơ về cho tác giả của nó, và  trả lại chính xác ý nghĩa những câu thơ theo nó vốn có. Chỉ vậy thôi, đã là may mắn lắm rồi ./.



 
Từ một công trình ngụy khoa học, lệch lạc về tư tưởng học thuật...


PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện


Công trình mà chúng tôi nói ở đầu bài, tức cái gọi là “Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn” thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam của Đỗ Thị Thoan gồm 116 trang vi tính khổ A4, hoàn thành tháng 11/2010 tại cơ sở đào tạo sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, sau đó ít lâu được phép đưa ra bảo vệ và đã “bảo vệ thành công” trước Hội đồng chấm luận văn do trường Đại học Sư phạm Hà Nội ra quyết định thành lập.

Thời gian cứ trôi qua, nhưng suốt gần 2 tháng nay, kể từ khi trên diễn đàn Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng và hiệu quả của lý luận, phê bình” do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 4 và 5/6/2013 tại thị trấn Tam Đảo (Vĩnh Phúc) khởi đầu đã có vài ba tiếng nói cảnh báo, phê phán hiện tượng ngụy khoa học này, thì đồng thời, liên tục trên các báo chuyên ngành, báo hàng ngày như Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Nhân dân, Quân đội nhân dân, Thanh tra, Vănvn.net, Văn nghệ… đã có những bài viết đối thoại, phân tích chỉ ra những sai trái, lệch lạc của Luận văn này (cùng 5 tiểu luận - phê bình thuộc dự án nghiên cứu, hoàn thành đầu năm 2012 mang tên Những tiếng nói ngầm ký tên Nhã Thuyên - bút danh khác của Đỗ Thị Thoan - mà nội dung của nó là sự thoát thai, kéo dài và tiếp tục phát triển những quan điểm, tư tưởng của cùng một tác giả khai mở từ công trình Luận văn).

Trong Hội thảo nói trên của Hội Nhà văn Việt Nam, chúng tôi đã có ý kiến rằng: “Trong cái mớ xô bồ lý thuyết từ Âu - Mỹ dội vào, ảnh hưởng vào nước ta, thì điểm nào, phương diện nào ta có thể tiếp nhận được, phù hợp để vận dụng soi vào thực tiễn văn học nghệ thuật nước ta, thuận với mặt bằng và sở trường tư duy sáng tạo, tiếp nhận ở ta. Nếu không sẽ bị lôi cuốn, mất đi sự tỉnh táo cần thiết, vồ vập xưng tụng chúng một cách thái quá, nóng vội vận dụng nó vào nghiên cứu phê bình, ắt sẽ không tránh khỏi sự khiên cưỡng, áp đặt, thiếu hiệu quả - nếu không muốn nói là rơi vào thói học đòi, theo đuôi người nước ngoài rồi tự đắc lấy làm sang(!)”(1).

Vì vậy, chúng tôi rất hoan nghênh và đồng tình với những tiếng nói thiện chí, có trách nhiệm, cảnh báo về sự nguy hiểm của công trình mang danh nghiên cứu khoa học được Hội đồng chấm Luận văn ngộ nhận đánh giá đạt xuất sắc, ở chỗ nó “nhân danh nghiên cứu để ca ngợi thứ thơ rác rưởi”, thực chất là “một luận văn sai lạc”, thể hiện “một góc nhìn phản văn hóa và phi chính trị”. Những luận điểm nền tảng mà tác giả Luận văn dựa vào là sự góp nhặt tùy tiện, hiểu thiếu chính xác và chưa được nghiên cứu tường minh, thấu đáo các lý thuyết triết học, mỹ học của chủ nghĩa hậu hiện đại và các luận thuyết thời thượng khác (như lý thuyết Trung tâm - Ngoại vi, phạm trù Cái bên lề, Cái khác, Sự giễu nhại và Mỹ học của cái tục, Samizdat - tức xuất bản và phát hành văn chương bí mật, không chính thức…) để soi chiếu vào những ấn phẩm gọi là thơ của nhóm Mở miệng vốn dĩ được xuất bản chui, lưu hành ngầm ở ta và ở nước ngoài từ đầu thế kỷ XXI, một cách không đàng hoàng nhằm “kích động sự phản kháng và chống đối” tư tưởng chính thống và thể chế chính trị hiện hành, cùng sự nghiệp đổi mới mà cả xã hội ta dày công vun đắp ngót 30 năm nay được những người có lương tri trên thế giới xem trọng.

Các bài báo nói trên cũng tách bạch rõ đâu là sai trái, lệch lạc, có dấu hiệu nguy hiểm cần phải dè chừng và biết dừng lại đối với tác giả Luận văn và tập tiểu luận; đâu là trách nhiệm liên đới của cơ sở đào tạo sau đại học là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội với Khoa Ngữ văn, nhà giáo hướng dẫn Luận văn, các nhà khoa học được mời vào Hội đồng chấm Luận văn đã không chút đắn đo thông qua và đánh giá cao “thành công” của Luận văn. Người ta không thể không đặt câu hỏi: Tại sao ở một trung tâm giáo dục và đào tạo đầu ngành Sư phạm ở giữa Thủ đô mà trong suốt quá trình đào tạo một học viên cao học từ lúc đăng ký lựa chọn đề tài, thông qua tên đề tài và cái khung đề cương thực hiện, phân công người hướng dẫn khoa học khi học viên viết Luận văn, rồi cho phép Luận văn được bảo vệ để nhận một sự đánh giá tối ưu của Hội đồng chấm Luận văn… - một quy trình đòi hỏi sự chặt chẽ, nghiêm túc về khoa học, sự kiểm tra giám sát của các cơ quan chuyên môn hữu quan và cán bộ phụ trách quản lý, hóa ra lại lỏng lẻo, dễ dãi và nể nang, châm chước nhau, gây nhiều sơ hở, bất cập đáng trách. Điều đó khiến cho một công trình ngụy khoa học của Đỗ Thị Thoan chứa đựng đầy rẫy những sai trái, lệch lạc về quan điểm tư tưởng học thuật và lộn xộn trong phương pháp nghiên cứu, lại lọt lưới, lẳng lặng vận hành đến đích suôn sẻ như vậy, đến mức tác giả của nó, ảo tưởng về sự cực đoan, thái quá, không chút e dè, cứ tiếp tục điềm nhiên truyền bá quan điểm, tư tưởng học thuật dị biệt và lạc lõng của mình trên diễn đàn mạng internet, trong dự kiến hoạt động thực tập hợp đồng giảng dạy tại nhà trường.

May thay, sự kiện hi hữu này đã bị phanh phui, phơi ra ánh sáng, khiến dư luận rộng rãi và giới  học đường không khỏi giật mình, sửng sốt!

Thực ra, như người đời từ lâu đã nhắc nhở: Có khi ngay ở dưới chân đèn cũng có thể có những khoảng tối và thời điểm tối; ngay ở trong một cơ thể vốn dĩ khỏe mạnh vẫn có thể có những điểm yếu chết người gọi là “gót chân Asin”!

Là người chuyên nghiên cứu về lý luận văn học và văn học Việt Nam hiện đại từ nhiều năm nay, đã và đang tham gia vào công tác đào tạo tiến sĩ và thạc sĩ ngành Ngữ văn tại một số cơ sở đào tạo sau đại học trong cả nước từ hơn hai mươi năm qua (giảng dạy, hướng dẫn hoặc chấm Luận văn Thạc sĩ, Luận án Tiến sĩ thuộc hai chuyên ngành nói trên), tôi xin phép được đề xuất một vài ý kiến để các cơ quan hữu quan và cá nhân nhà khoa học Ngữ văn lưu ý tham khảo, xem xét như sau:

1. Triển khai nghiên cứu các vấn đề của khoa học xã hội và nhân văn ở ta cần khảo sát kỹ lưỡng và thận trọng, tỉnh táo, bởi đây là lĩnh vực khoa học liên quan đến hệ tư tưởng, thể chế chính trị và thực tiễn lịch sử, đời sống xã hội đương đại. Những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo trên lĩnh vực khoa học này cần lựa chọn một chỗ đứng và lập trường khoa học đúng đắn, vững vàng, kiên trì hướng về lợi ích của nhân dân đông đảo, của dân tộc và đất nước, không thể vì bất cứ lý do gì để bị chi phối bởi lợi ích nhóm đối lập, làm phương hại đến sự ổn định và trật tự xã hội hiện hành, gây mất đoàn kết, phân tâm chia rẽ trong khối cộng đồng, khiến kẻ xấu, kẻ thù có thể lợi dụng.

Trong khoa học xã hội và nhân văn, có khi chỉ có thể nghiên cứu đối tượng trong độ lùi cần thiết của lịch sử, khi sự việc, hiện tượng đã an bài, xong xuôi, người nghiên cứu đã có đủ tư liệu chính xác để nhìn nhận thỏa đáng các khía cạnh của vấn đề. Đối với những hiện tượng, vấn đề đang diễn tiến, nếu cần nghiên cứu phải bình tĩnh, khách quan, nhạy cảm và trung thực, không thể hấp tấp chằm bặp nghiên cứu, nhân danh khoa học mà chủ quan, cực đoan, phiến diện, ngụy biện gây rối, hoặc kích động nhân tâm dao động, hướng tới sự bất an.

2. Việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu cùng với các dữ kiện nghiên cứu phải đáng tin cậy và hợp hiến, cùng với đó là phương pháp nghiên cứu khoa học, phù hợp, có sức thuyết phục, là rất quan trọng.

Theo tôi, sự lựa chọn của tác giả Đỗ Thị Thoan/ Nhã Thuyên nhằm đối tượng nghiên cứu - thơ của nhóm Mở miệng, là một việc làm khiên cưỡng, có ý đồ biện minh cho sự tồn tại của nhóm với những sản phẩm mà chính họ tự nhận gọi đó là “thơ dơ”, “thơ rác”, “thơ nghĩa địa” nhằm tôn vinh sự lệch chuẩn, chống đối lại thể chế và trật tự xã hội, bêu riếu những điều cao cả, thiêng liêng đối với toàn dân tộc.

Toàn bộ Phụ lục của Luận văn gồm danh mục các tác phẩm của Mở miệng cho thấy đây là những ấn phẩm của những người đứng ở phía bên lề đối lập với lợi ích của toàn xã hội. Cái gọi là tác phẩm của họ không dám xuất hiện một cách đàng hoàng, phải lén lút tự ấn hành, photocopy, tự xuất bản theo kiểu đối phó với sự kiểm duyệt của Nhà nước, gọi là kiểu xuất bản Samizdat (tr.108 - tr.110).

Đối tượng nghiên cứu như vậy rõ ràng là không đáp ứng các yêu cầu về phẩm chất và giá trị văn chương đích thực, không được thừa nhận hợp pháp và hợp hiến.

Từ đó, ta hiểu được vì sao việc nghiên cứu trước đó về nhóm này đã không bàn được về giá trị văn chương của cái gọi là thơ bộc phát từ nhóm Mở miệng, mà chỉ có thể đề cập đến những khía cạnh tác động xã hội của chúng (phê phán đó là “một nhánh kênh đen”, “thứ rác rưởi gọi là thơ” - như các bài đăng trên báo Công an TP Hồ Chí Minh năm 2005, 2006; hoặc ngược lại ca ngợi đó là “một dòng thơ mới có tính cách tân”, “một cuộc cách mạng thầm lặng trong văn học”, với “những kiệt tác của tự do” - như đa phần bài viết trên mạng talawas; tienve.org; damau.org đã thổi phồng!).

Tình hình nghiên cứu như vậy đã gây không ít trở ngại cho tác giả khi viết mục “Lịch sử vấn đề” ở chỗ: trong số 34 đơn vị Thư mục được tác giả kể ra trong Thư mục tham khảo nghiên cứu (Phần tiếng Việt), thì có đến 20 thư mục lấy từ các trang mạng trôi nổi như trên đã nói, 5 đơn vị thư mục khác là các tài liệu do cá nhân bạn bè quen biết cung cấp riêng cho tác giả. Chỉ còn 9 đơn vị thư mục gồm các bài viết, sách dịch, sách nghiên cứu đã xuất bản chính ngạch hoặc Luận văn, Luận án đã bảo vệ về thơ Việt Nam đương đại là có thể kiểm chứng khi tác giả Luận văn trích dẫn. Song đáng tiếc những thư mục này lại được Đỗ Thị Thoan đánh giá thấp, cho rằng đó là “những bài báo vô nghĩa”, những luận văn, luận án “dè dặt trong việc tiếp cận hay đánh giá” hoặc chí ít “mang tính chất điểm danh, nói theo, chỉ “làm phong phú thêm những màu sắc của bức tranh giả mạo” về thơ Việt Nam đương đại. (tr.16).

Duy nhất có Luận văn của Trần Ngọc Hiếu cũng được bảo vệ trước đó tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và các bài viết của cây bút này được Đỗ Thị Thoan đánh giá cao, rằng ở đó có “sự sâu sắc về tư duy”, có tầm “nhìn rộng ra sự khiêu khích và bản chất khiêu khích của những người viết văn với cây búa của Nietzche”, những kẻ nổi loạn, từ đó “đặt ra nhiều vấn đề có tính lý thuyết và cách thức tiếp cận thơ ca đương đại mà Mở miệng là một hiện tượng tiêu biểu” (tr.9).

Tác giả Đỗ Thị Thoan đã tỏ ra thiên lệch khi viết Lịch sử vấn đề, nghiêng về khai thác những đánh giá về Mở miệng đã đăng trên mạng nước ngoài vì đó là của những người “cùng hội cùng thuyền” - những kẻ bên lề như Mở miệng. Họ hoang tưởng rằng những cái gọi là thơ đó có khả năng “gây hấn” mạnh mẽ… “tạo thành một vùng năng động mà những nhà văn học sử và những nhà nghiên cứu văn hóa có thể coi như một nguồn dữ liệu quan trọng để thấy được tinh thần văn chương của một thời kỳ.” (tr.13)

Trình bày về đối tượng và lịch sử vấn đề nghiên cứu như vậy, theo tôi, khó có thể đảm bảo sự tin cậy, khách quan, khoa học, khó có thể kiểm chứng được!

Luận văn đã thiếu khách quan, công bằng khi thiên về bình tán những ý kiến lạc lõng khen thơ của nhóm Mở miệng (mà người ta biết rằng chúng được xuất phát từ những động cơ khác nhau, khó có thể nói về sự lành mạnh của văn hóa đọc). Về phía người viết, thì tác giả đặc biệt cổ súy cho Mở miệng, cho rằng thơ của họ là “hiện tượng văn chương không thuần văn bản” (tr.5), mà tất yếu dẫn đến hành động. Nói cách khác đó là “thực hành thơ” để can dự vào việc chống sự trung tâm hóa, chống lại sự ổn định xã hội và điều hành của Nhà nước, chống đối bằng đòi hỏi sự lên ngôi của cái bên lề, của cái khác, những dòng ngầm của tư tưởng cùng là sự thừa nhận xuất bản chui, không chịu dễ bề để nhà nước kiểm soát. Tóm lại là hòa cả làng, tôi cũng như anh, mọi sự bình đẳng, ngang bằng tuyệt đối một cách vô chính phủ (!).

Thử hỏi, viết “Lịch sử nghiên cứu vấn đề” của Luận văn với thiên kiến và mục đích chính trị đối lập, phản kháng đồng lõa với Mở miệng như vậy, thì đó có phải là khoa học và trung thực hay không?

3. Chính vì chọn lầm hay do sơ sảy lấy đối tượng nghiên cứu của Luận văn chuyên ngành Văn học Việt Nam nhằm vào loại thơ xuất bản chui, lén lút, không chính ngạch của nhóm Mở miệng và khi viết “Lịch sử vấn đề” chủ yếu dựa vào những ý kiến bức xúc một chiều xuất hiện trên các thông tin mạng trôi nổi thuộc diện ngoài luồng chính thống, thiên về xu hướng đối lập với chính thể Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nên tác giả Luận văn đã buộc phải né tránh, không viết các mục Lời cam đoan ở đầu Luận văn, tiểu mục xác định “Mục đích nghiên cứu và Những đóng góp mới của Luận văn” mà theo Quy định về thể thức trình bày và bố cục Luận văn cần thiết, bắt buộc phải có ở phần Mở đầu. Bởi, thật là quá khó và không có sức thuyết phục, nếu tác giả khẳng định đảm bảo về tính trung thực, hợp hiến và đáng tin cậy của nguồn dữ liệu nghiên cứu, khai thác từ cái mớ lộn xộn kiểu đồng nát, sắt vụn, tạp-phí-lù là thứ “thơ dơ, thơ rác, thơ nghĩa địa” xuất bản chui kia? Bởi, làm sao trình bày toát lên được mục đích cao đẹp, ý nghĩa văn hóa và nhân văn (dù nhan đề Luận văn có trương lên vế từ “từ góc nhìn văn hóa” đi nữa) của việc nghiên cứu trong một công trình khoa học về văn học, khi mà đối tượng nghiên cứu - oái oăm thay - lại là những sản phẩm phi văn chương, phản văn hóa, phản nhân văn, tha hóa, đội lốt văn chương nhằm thực hiện một ý đồ và tham vọng chính trị là công kích, nói xấu chế độ dân chủ hiện hành? Bởi, làm sao chỉ ra được những đóng góp mới của Luận văn hướng con người và văn chương vươn tới những mục tiêu cao cả của Chân - Thiện - Mỹ, khi Luận văn dường như chỉ là một tiếng nói a dua theo với Mở miệng và các thế lực bất mãn, ngầm chống đối chế độ (nhưng được tác giả Đỗ Thị Thoan khéo ẩn giấu dưới các mỹ từ là “chia sẻ và thúc đẩy để cùng tồn tại” (tr.107) nơi vị trí như bị bủa vây trong hộp đen của Mở miệng. Theo tác giả, họ đã bị đối xử bất công như một thứ “quái vật”, “một vật cấm” (tr.9), trong khi thực chất họ thực hiện “tính cách tân và tính cách mạng trong tư tưởng và nghệ thuật” (tr.17) ở chỗ dám “chối bỏ quyết liệt”, “lên tiếng đòi phá nốt những thành trì kiên cố của sự chuyên chế, khi niềm tin vào chế độ và sự tự do đang có đã tan rã” (tr.104). Lúc đầu tôi không muốn làm khó cho những dòng này trong Luận văn, nhưng cuối cùng vẫn phải viện dẫn ra đây, để độc giả không còn chút mơ hồ về sự đội lốt, giả danh thơ ca để đạt mục đích chính trị của Mở miệng và kiểu cổ võ, tán dương lập trường quá khích, “gây hấn” của nhóm này mà tác giả Luận văn muốn tiếp tục châm ngòi, giữ lửa?

Qua đây có thể thấy việc thiếu vắng trình bày những khoản mục cần thiết, bắt buộc đối với một Luận văn khoa học như trên đã nói, ít nhiều đã cho thấy ngọn ngành những khiếm khuyết, bất cập của Luận văn, chứ không thể “châm chước” như Hội đồng chấm Luận văn, xem đây là một Luận văn hoàn hảo đến mức không phải băn khoăn chấm điểm xếp vào hạng ưu (?).

4. Rút cục, cái gọi là Luận văn khoa học ấy đã bảo vệ “thành công sáng giá” cách đây hơn 2 năm và Hội đồng chấm Luận văn đã bỏ phiếu tán thành thông qua ở trình độ xuất sắc với điểm tuyệt đối để tác giả của nó được vinh danh với học vị Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam. Nhưng nay, khi có dịp nhìn lại một cách bình tĩnh theo các chuẩn mực khoa học, đã thấy Luận văn này ở một số phương diện bộc lộ sự đáng ngờ về mục đích nghiên cứu khoa học; có dấu hiệu lệch lạc về tư tưởng học thuật; giá trị khoa học và ý nghĩa văn hóa, nhân văn lại mỏng manh, vậy thì chúng ta phải ứng xử như thế nào?

Tôi thiết nghĩ, dù đây là trường hợp ít khi xảy ra, nhưng nếu Luận văn quả thật đó đây xuất hiện những dấu hiệu không thể xem thường, cho qua (ở đây, tuyệt nhiên không phải là cách nói đẩy sự việc quá lên mức nghiêm trọng, việc bé xé ra to) thì việc cần làm ngay là tiến hành phúc tra, thẩm định lại thực chất giá trị khoa học của Luận văn và kết quả đánh giá của Hội đồng chấm Luận văn do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội được thừa ủy quyền của Bộ Giáo dục và Đào tạo, lập ra.

Cấp có thẩm quyền tiến hành phúc tra, thẩm định lại kết quả đào tạo đã rồi, cần phải là cấp trên - cơ quan chủ quản của Trường cũng là cơ quan quản lý cấp Nhà nước về đào tạo, tức Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nên chăng quý Bộ chủ quản nói trên, theo đúng Quy chế quản lý khoa học và đào tạo sau đại học do Nhà nước ban hành, cần thành lập một Hội đồng tư vấn khoa học chấm phúc tra Luận văn của Đỗ Thị Thoan, để có căn cứ, kết luận rõ ràng về các phương diện cần xem xét, đánh giá lại Luận văn, đặc biệt là chất lượng khoa học của nó. ý kiến tư vấn của Hội đồng khoa học độc lập này sẽ được trình lên để lãnh đạo Bộ xem xét, quyết định: hoặc là vẫn bảo lưu kết quả điểm của Hội đồng chấm Luận văn mà Nhà trường đã báo cáo ngay sau khi học viên Đỗ Thị Thoan bảo vệ năm 2010, hay cần phải cân nhắc, xem xét lại sự đánh giá “hơi bị hào phóng” của Hội đồng ngày trước, do không hoàn toàn phản ánh, nhìn nhận đúng giá trị thực chất của Luận văn?

Lúc này, cần quán triệt tinh thần, nếu việc nào làm đã đúng thì sẽ tiếp tục khẳng định, việc nào nhìn lại thấy là chưa đúng thì cần phải sửa chữa công khai trước công luận, ngõ hầu đảm bảo sự nghiêm túc, chuẩn mực, giữ gìn kỷ cương phép nước trong đào tạo cán bộ ở diện trình độ sau đại học.

Đối với những cán bộ khoa học quý là chuyên gia của ngành giữ vai trò liên đới trách nhiệm (người hướng dẫn, Hội đồng chấm Luận văn, cơ quan quản lý khoa học và đào tạo của trường) cũng cần được nhìn nhận thấu đáo, có lý, có tình. Là cán bộ Nhà nước, chuyên gia khoa học có học hàm học vị cao hoặc là đảng viên, căn cứ vào Luật Công chức và theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) của Đảng, những người nói trên cần được đảm bảo phát huy dân chủ trong phê bình và tự phê bình, để ngày càng làm tốt hơn phận sự của mình trong khi thực thi công vụ vì dân, vì nước, vì tính chất tiên tiến và nhân văn của khoa học xã hội Việt Nam.

Rất mong thiển kiến của chúng tôi được trao đổi chân tình và dân chủ, xây dựng, đảm bảo cho từng người trong đội ngũ trí thức khoa học của đất nước, đề cao được tinh thần “thực sự cầu thị” để tiến bộ, tiến bộ mãi, đoàn kết gắn bó trên lĩnh vực nghiên cứu khoa học và đào tạo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ và đòi hỏi nghiêm túc của nghề nghiệp.(2)


Hà Nội, tháng 7/2013


(1) Tài liệu Hội nghị Lý luận - phê bình văn học lần thứ III in vi tính tháng 6/2013, sử dụng nội bộ của Hội Nhà văn Việt Nam, tr.248;

- Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam số 221 (tháng 6/2013), tr.12-13.

- “Hội nhập để nâng cao năng lực thẩm mỹ” (vanhocquenha.vn ngày 4/6/2013)

(2) Những trích dẫn kèm theo số trang trong bài này căn cứ vào Luận văn Thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan ký hiệu V-LA1/4784 lưu tại Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.


 
Tự truyện trong văn xuôi Đoàn Lê


Bùi Thanh Truyền (Thừa Thiên Huế)


1. Tự truyện (tiếng Anh:autobiography, tiếng Pháp: autobiographie) là một thể loại văn học trong đó “tác giả tự kể và miêu tả cuộc đời của bản thân mình”(1). Bản thân thuật ngữ “autobiography” đã hàm chứa sự kết hợp ba yếu tố trong một thể loại (auto: tự, bio: cuộc đời, graphy: viết). Nhân vật chính của tự truyện chính là tác giả. Người kể chuyện thường trùng với tác giả và với nhân vật chính. Đây là những sáng tạo nghệ thuật làm cho quá khứ tái sinh. Nhà văn viết tự truyện như được sống lại một lần nữa đoạn đời đã qua của mình. Thường tập trung vào quá trình hình thành và lịch sử thế giới nội tâm của người viết trong sự tương tác với thế giới bên ngoài, vì thế, với thể loại này, tính chất tự bạch, tự thú, tự vấn... được đẩy tới hạn; ở đó, tác giả giữ vai trò lưỡng trị: vừa là “bị cáo” vừa là “quan tòa” để phán xét, mổ xẻ chính mình. Tuy nhiên, do độ lùi thời gian cùng với sự can thiệp trực tiếp, có dụng ý của cái “tôi” người viết, chân dung tác giả trong tự truyện có độ lệch nhất định so với cuộc đời thật của nhà văn. Chính sự cách biệt giữa thời gian viết và thời gian được nói tới đã ngăn trở việc người viết nhìn lại cuộc đời của bản thân mình như một chỉnh thể duy nhất. ở tự truyện, các sự kiện tiểu sử, đời tư của nhà văn chỉ đóng vai trò cơ sở của sáng tạo nghệ thuật, là chất liệu hiện thực được tác giả sử dụng với nỗ lực tiếp cận trạng thái tinh thần thời đại cũng như hiện thực vi tế của tâm hồn con người.


Với đặc trưng và chức năng như thế, tự truyện là một thể loại văn học rộng mở, có thể bao gồm những kỉ niệm, nhật kí, những truyện ngắn, tiểu thuyết... có nguồn gốc từ cuộc đời tác giả, có thể bao quát hầu hết các phương tiện của đời sống: đời tư, thế sự, sử thi đồng thời có sự “cảm ứng” khá rõ với hiện thực xã hội. Một khi  “khí hậu”chính trị, văn hóa thuận lợi cho việc bộc lộ quan điểm, nhận thức, tình cảm cá nhân của nghệ sĩ, tự truyện sẽ có nhiều cơ hội để chứng tỏ ưu thế cùng tính khả biến trong quá trình phát triển. Điều đó có thể nhận thấy khá rõ trong văn xuôi Việt Nam thời đổi mới – một giai đoạn bước ngoặt bởi các vấn đề về đạo đức, ý thức cá nhân, về cuộc sống...trở thành chủ đề  nổi bật được các nhà văn quan tâm. Nhu cầu bộc lộ tư tưởng, tình cảm sự trải nghiệm, khám phá bản thân...đi vào văn học như một luồng không khí mới và ngày càng đậm nét. Sự bùng nổ cùng sức hút thẩm mĩ của tự truyện được minh chứng bằng hàng loạt truyện dài, tiểu thuyết có tiếng vang nhất định: Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Một mình một ngựa (Ma Văn Kháng), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Chuyện kể năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn), Miền thơ ấu (Vũ Thư Hiên), Tuổi thơ im lặng (Duy Khán), Khúc đồng dao lấm láp (Kao Sơn), Đường về với mẹ Chữ (Vi Hồng)... Hòa trong xu thế khai thác cái tôi bản thể đó, những trang văn của Đoàn Lê cũng tạo được dấu ấn, vị thế riêng bởi nhiều va đập, đắng đót với cõi mình, cõi người.


2. Cuộc đời “đa đoan” của chính  người viết qua thế giới nhân vật nữ.


Tác phẩm của Đoàn Lê không làm người đọc “choáng” vì không gian ngột ngạt, chật hẹp và triền miên trong tâm tưởng như Phạm Thị Hoài, không tạo sự hấp dẫn ở tình huống lạ qua giọng điệu “tưng tửng” như Phan Thị Vàng Anh. Trên những trang viết, tác giả đã thể hiện chân thực cái tôi cảm xúc của chính mình. Những hệ lụy đời riêng đã được bà vận dụng một cách khéo léo trong văn chương và đằng sau đó là cả những nỗi đau âm ỉ của người phụ nữ. Đó là cuộc sống của Mỗ trong Cuốn gia phả để lại, của Chín trong Tiền định, của nhân vật “tôi” trong Giường đôi xóm Chùa, của người mẹ trong Mẹ và con và thánh thần...


Văn xuôi Đoàn Lê tập trung làm nổi bật cuộc đời của những người phụ nữ với những số phận, cảnh đời éo le, nghiệt ngã - đó cũng là một phần chân dung người viết. Trong Cuốn gia phả để lại, khởi đầu cho mọi mâu thuẫn của dòng họ Trần là bởi họ có một ông cụ tổ danh nhân. Đám con cháu thường xuyên xích mích, kiện tụng để tranh phần thờ cúng cụ. Những xung đột đẫm máu luôn có khả năng bùng nổ vì giành nhà thờ, vì chuyện phế trưởng lập thứ...Tất cả tai ương ập đến cái gia đình bé nhỏ Tự – Mỗ. Người vợ, người mẹ của hai đứa con thơ luôn ở trong tâm trạng phập phồng lo sợ tai họa khủng khiếp, chết người sẽ giáng xuống mái ấm của chị. Từ một phụ nữ dịu dàng, đằm thắm, những biến cố của gia đình khiến chị trở nên cứng cỏi, đầy bản lĩnh, sáu năm ròng “thần kinh luôn ở trong trạng thái căng thẳng, phải tính toán, phải chống trả các phái mặt trận của đám họ hàng”. Vì sự yên ổn trong cái gia đình nhỏ bé, chị “sẵn sàng biến thành con gà mái già đáo để”.


Trước bi kịch của cuộc đời, người phụ nữ không hề nhẫn nhục, cam chịu mà không ngừng chống trả tìm đường mưu sinh, tìm lẽ sống. Nhưng hạnh phúc đâu phải luôn mỉm cười với những người có nghị lực, tấm lòng. Đớn đau, xa xót nhất với họ là sự đổ vỡ của một gia đình mà mình đã dày công xây dựng. Sau hai mươi tám năm chung sống, người phụ nữ trong Giường đôi xóm Chùa đã phải rời bỏ cái tổ ấm đã cùng chị vượt qua bao sóng gió của cuộc đời khi một sự thật phũ phàng được người chồng tuyên bố: “Em thể tất cho anh. Em thuộc con người của những hoạt động xã hội. Anh lại cần một tình yêu tầm thường thôi, một người để làm vợ anh theo nghĩa thông tục nhất”. Một đời đi tìm hạnh phúc, tìm một bến bờ bình yên những tưởng sẽ được sống những năm tháng xứng đáng với những gì mình đã thiết tha vun đắp. Vậy mà, điều cuối cùng chị nhận được là sự phản bội, phải đối diện với sự trống rỗng, cô đơn. Ngơ ngác bất lực trước định mệnh, chị băn khoăn không biết “khoảng thời gian hạnh phúc ít ỏi mình đã trải qua là có thật hay cũng chỉ là con số ảo trên mặt quân xúc xắc”.


3. Cái tôi giàu nữ tính được nhìn bằng “con mắt nội quan”


Giống như các nhà văn đương đại, truyện của Đoàn Lê cũng sử dụng ngôi kể thứ nhất, nhân vật trực tiếp xưng “tôi” kể chuyện liên quan đến cuộc đời mình, mạnh dạn bộc lộ những suy nghĩ xót thương cho những thân phận phụ nữ, phản kháng những lề hối cổ hủ ít nhiều đã ảnh hưởng tới cuộc sống của nhà văn: “Ba chục năm sau mẹ chiều ý chồng đội lễ đi hỏi vợ lẽ cho ông... Như thể mẹ đang mang trái tim mình đi tới nơi hiến tế cho thói tục, âm thầm nhẫn nhục”. Nhân vật người kể chuyện đã không kìm nổi sự bất bình, lòng xót xa thương cảm: “Mẹ ơi, cớ sao mẹ cam làm hạt cơm nguội, cái hạt cơm hẩm hiu khiến tim con buốt nhói suốt một đời, khi con nghĩ về mẹ?” (Giường đôi xóm Chùa). Những hủ tục mang thân – phận - đàn -  bà được khoác cho không ít mĩ từ, nào là “truyền thống”, nào là “tự hào” để người phụ nữ phải luôn gồng mình lên gánh chịu: “Mẹ tôi góa chồng từ năm ba mươi bảy tuổi, nay đã gần tám mươi. Cuộc đời bà cũng như sinh ra để gắn vào cái nhà thờ này, tương tự một mảnh hoa văn gắn vào đầu hồi, một cây cột đá hay một viên gạch gắn trên bệ thờ”. Chính cái tôi tự thuật đã giúp nhân vật mạnh dạn thể hiện cảm xúc, sự trỗi dậy của ý thức cá nhân về vai trò, quyền lợi của con người trong cuộc đời: “Tại sao vô lý thế? Tại sao cái gia đình bé nhỏ của tôi vất vả vậy? Tại sao đám người kia hăm hở nháo nhào chung quanh ngôi tổ từ nhà tôi vậy? Có phí cuộc đời vào những âm mưu, vào những thù hận? Có huyệt thần kinh nào để châm cứu cho người ta tỉnh ra không?”

Đi qua biết bao khúc quanh của cuộc đời, còn nỗi đau đớn nào hơn là sự chia lìa của tình mẫu tử. Mẹ và con và thánh thần là cả một thế giới cảm xúc, là những lời tâm sự chân thành nhất giữa mẹ và con mà bình thường, khi còn tồn tại trên dương thế, giữa họ chưa chắc đã có một cuộc đối thoại trải lòng như thế. Đây là những lời “gan ruột” nhưng cũng đầy tàn nhẫn, chát chua của đứa con trai yểu mệnh: “Con nói điều này có thể không ai tin. Nhưng sống giữa một gia đình luôn bùng nổ những nguy cơ đói nghèo nợ nần, tan vỡ, như gia đình mình, con cảm thấy cuộc đời thật bấp bênh vô nghĩa... Con chán lắm những bữa rượu nhắm chuối xanh bố mẹ tiếp  bạn, những ông nhà thơ khuếch khoác, ăn chạc uống gỡ, cao giọng chửi đời. Liệu đã bao giờ bố mẹ đứng né ra để nhìn mình chưa?”. Và đây là lời “tự thú” đến quặn lòng của người mẹ mang nhiều mặc cảm tội lỗi: “Tại sao ngày ấy mẹ không đưa con đi theo ư? Mẹ không thể làm thế... Một người đàn bà năm mươi ba tuổi, bệnh tật, một đồng trong túi không có, ra đi với nỗi đau đớn bị lừa gạt, liệu mẹ có dám tha lôi ba nhân mạng theo mình vào dòng đời trôi nổi bấp bênh trước mắt không? Không, không một người mẹ nào dám liều vậy. Nếu con cho đấy là một tính toán sai lầm, con hãy tha tội cho mẹ”. Trước sự ra đi vĩnh viễn của đứa con, trong lòng người mẹ là cả niềm đau, nỗi xót xa, sự bất lực trước số phận nghiệt ngã. Từng ngày trôi qua, người mẹ phải chứng kiến “cái chết trắng” đang dần “kéo tuột” đứa con trai thân yêu duy nhất ra khỏi vòng tay của mình. Không né tránh, nhân vật người mẹ – nhà văn đã giãi bày những gì sâu kín nhất với đứa con trai đã chết do nghiện ngập.
Giọng điệu xót xa luồn sâu vào thế giới nội tâm, vào số phận nhân vật. Thông qua lời tâm sự của mẹ và con, nhà văn đã lột tả những cung bậc tình cảm của con người. Đoàn Lê giúp độc giả nhận ra được đằng sau bi kịch của cuộc sống gia đình, người phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất là những đứa con. Viết như để giãi bày, như một hình thức xoa dịu những mất mát, đau thương của cuộc đời, Mẹ và con và thánh thần đã gợi được sự đồng cảm sâu sắc nơi người đọc.


4. Tiểu thuyết tự thuật – nỗ lực hiện đại hóa tự truyện của văn xuôi Đoàn Lê.

Theo Từ điển Wikipedia, tiểu thuyết tự thuật (còn gọi là tiểu thuyết tự truyện – autobiographical novel) là “dạng tiểu thuyết sử dụng kĩ thuật hư cấu (autofictiontechniques) hay là sự kết hợp của tự thuật và những yếu tố hư cấu” (2). ở đây, yêu cầu “không được phép hư cấu” không còn là quy tắc bất biến. Người viết dụng công tiểu thuyết hóa câu chuyện đời mình, nhào nặn, sắp xếp lại những chi tiết tiểu sử cá nhân, gián cách giữa thời gian viết truyện và thời gian diễn ra trong truyện... để kiến tạo một công trình nghệ thuật bằng ngôn từ đích thực.Năm 2009, Đoàn Lê khuấy động văn đàn bởi một tiểu thuyết có tính chất tự truyện – hư cấu: Tiền định. Trên những chất liệu thực, “tác giả đã thổi vào đó trí tưởng tượng, để câu chuyện như thực, lại như một giấc mơ về cuộc đời đa truân của người đàn bà” (Lê Minh Khuê). Thông qua hình thức tiểu thuyết hóa câu chuyện về nhân vật Chín, nhà văn đã tái hiện chân thực, sinh động thân phận người phụ nữ trải qua những thăng trầm của lịch sử với những bi kịch của số phận. Trải dài cuốn tiểu thuyết là sự liên tưởng của cô Chín về cuộc đời mình: trốn nhà lên Hà Nội theo học trường Điện ảnh, cuộc hôn nhân không trọn vẹn, những hồi ức về những người thân trong gia đình (bà ngoại, mẹ, các chị...), về mối tình đầu, về bác Ngọc, về ca nạo thai kinh hoàng, về cuộc sống những năm chiến tranh... Tất cả hiện lên không theo thời gian tuyến tính mà qua hồi tưởng rối rắm của nhân vật. Bằng cách ấy, người viết đã phác họa lại đường đời của Chín, hé mở dần bí mật trong cuộc đời chị. Nhờ cách đánh tráo ngôi kể, đánh tráo điểm nhìn, cuộc đời, số phận nhân vật trung tâm của tiểu thuyết trở thành bức chân dung tự họa của nhà văn. Xâu chuỗi từ cái tên đến những mảnh ghép rời rạc trong cuộc đời nhân vật, người đọc sẽ thấy được phần nào chân ảnh của tác giả. Trên cái nền của hư cấu, người viết đã mạnh dạn giãi bày, thổ lộ những gì riêng tư, thầm kín nhất của mình mà không rụt rè, e ngại.Không đơn thuần là “chuyện đời tự kể” theo kiểu tản mạn, cảm tính, những yếu tố tự truyện được Đoàn Lê đưa vào tác phẩm một cách có hệ thống, có ý nghĩa trong sự hình thành nhân cách nhân vật. Chín là một cô gái tài sắc lại sớm sống cuộc đời “đầy giông bão”. Có lẽ những thăng trầm thân phận bắt đầu khi Chín liều lĩnh rời bỏ cuộc sống êm đềm của tuổi hoa niên trốn lên Hà Nội học Điện ảnh. Bước chân ra khỏi gia đình, cô Chín nhút nhát, ngây thơ đã sớm đối mặt với nhiều sóng gió: kết hôn bí mật, từ bỏ nghề diễn viên, hai lần sinh con, bị chồng phản bội...Con người ấy sẵn sàng hi sinh tất cả những khát vọng, ước mơ để lo cho chồng con nhưng lòng kiêu hãnh của người đàn bà không cho phép nàng tha thứ cho sự phản bội. Nàng đem con về Hải Phòng gửi người thân rồi lao vào học vẽ say sưa hòng trốn tránh cái thực tại đau đớn. Đến với cuộc tình thứ hai, nghĩ rằng tìm được tình yêu đích thực của đời mình, nàng tin tưởng, sống hết mình cho tình yêu bởi đó là “lần đầu tiên nàng biết sự rung động mãnh liệt khi hai tâm hồn trú ngụ trong nhau, khi hai thân thể hòa lẫn làm một, chứ không phải trong những giấc mơ bí ẩn”. Thậm chí nàng “sẵn sàng tử vì đạo, sẵn sàng chết cho tình yêu ấy”. Ca nạo thai khiến nàng suýt mất mạng là một trong những bằng chứng xác tín điều đó. ý chí, nghị lực đã giúp người phụ nữ này vượt qua tất cả những lời miệt thị của đồng nghiệp, sự trù dập của lãnh đạo cơ quan: “Nhất định không chịu gục gã, không chịu thua cuộc đời một cách nhục nhã... Bình tĩnh gỡ rối Chín ơi. Dù sao mình vẫn còn có Hòa bên cạnh mà”. Tin tưởng vào tình yêu là thế nhưng kết quả nhận được chỉ ảo vọng, là sự đổ vỡ hạnh phúc, hôn nhân. Nhà văn đã không để cho nhân vật trực tiếp lên tiếng nói về nỗi bất hạnh của cuộc đời mình mà thông qua cái nhìn của một nhân vật khác: “Cô ấy tội tình gì mà để trời đày đọa khốn khổ thế? Chín ơi, em chết mất thôi! Những thằng đàn ông kiểu này kiểu khác đã giết em, em biết không? Em chẳng có một mẩu vũ khí để tự vệ, chỉ biết đem thân xác mình trả giá cho sự dại dột”; “Cả hai thằng đàn ông đến với cuộc đời nàng đều chỉ biết chiếm dụng, không hề biết thương xót. Hừ, thương xót đã chả thế này! Và anh, chính anh cũng giúp được gì cho nàng”. Chính sự trao điểm nhìn như vậy vừa đảm bảo sự tỉnh táo, khách quan cho câu chuyện vừa để cho nhân vật tự do giãi bày những ý nghĩ thầm kín của mình. Hai lần bị tổn thương, chín không mong đợi sẽ có một tình yêu viên mãn. Với nàng, ý nghĩa cuộc sống giờ đây là phải vượt qua khó khăn thường nhật, hoàn thành trách nhiệm của người mẹ đối với hai đứa con thơ, thực hiện lại ước mơ, hoài bão theo đuổi nghệ tuật của mình.Bằng giọng điệu tưởng như thản nhiên nhưng đằng sau đó là cả sự chua xót cho số kiếp con người, qua hồi ức của Chín, độc giả còn thấy bi kịch của cả thế hệ phụ nữ trong gia đình cô. Bà ngoại có cậu con trai duy nhất đi bộ đội chết từ hồi chống Pháp. Bà lo rằng sau khi chết, không ai cúng giỗ sẽ lâm vào cảnh “vất vưởng kiếm cháo lá đa bên đường”. Bi kịch ấy như một điệp khúc, một nỗi ám ảnh có tính chất “tổ tông truyền”. Vợ cụ Chi Lan – mẹ Chín, khi ốm nặng đã than với con: “Con nhìn xem, chân với cẳng... Rồi chạy cướp miếng cháo lá đa cũng khó!”. Mợ Định “chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền”, mòn mỏi chờ chồng cho đến khi nhắm mắt. Em Mười sống khắc khổ như một tu sĩ khi người yêu qua đời. Em Tiếc chạy theo tiếng gọi của tình yêu để rồi chết ở xứ người... Những bất hạnh, đau thương của cuộc đời mãi đeo đẳng không buông tha cho họ, khiến nhà văn phải thốt lên: “Trời sao bắt tội vẻ đẹp cứ phải lầm cát bụi?”. Thấu hiểu và đầy lòng trắc ẩn, Đoàn Lê đã không ngần ngại cúi xuống những trang văn của mình để phơi bày, lột trần bi kịch của một đời người. Gam màu buồn trong bức tranh cuộc sống ấy có thể là do vô tình mà con người trở thành vô cảm trước cuộc sống và số phận của họ. Không có nhiều đột phá, cách tân về phong cách nhưng Tiền định hấp dẫn bởi lối kể chuyện nhẩn nha. Bằng hình thức đó, tác giả dần dần hé lộ những bí ẩn, lôi cuốn người đọc lần tìm, khám phá những sự kiện, biến cố, thăng trầm xảy đến trong cuộc đời nhân vật. Xuyên suốt các chương truyện là sự đan xen hiện tại – quá khứ qua hồi tưởng của Chín, để đi đến cái kết thúc như “tiền định”: “Biết đâu cái số mệnh đã định rằng những người đàn bà trong gia đình nàng không ai có hạnh phúc thật sự!”.
Cùng với những chất liệu thực, những yếu tố chập chờn hư ảo cũng được Đoàn Lê đưa vào tác phẩm. Đó là câu chuyện về hòn đá ma, về linh hồn của cô bé Cam lẩn khuất đâu đó hiện về với điệp khúc “Con kéo hết, con chơi nhé”. Sự xuất hiện rồi ra đi vĩnh viễn của đứa trẻ với bài hát như lời đồng dao ấy khiến Chín không sao hiểu được: “Có phải tuổi thơ trắng trong vừa hiện về, vẫy tay chào vĩnh biệt cô? Hay một linh hồn vừa rời bỏ nơi trú ngụ đã bị làm uế tạp?”. Đó còn là cuộc tìm kiếm hết sức li kì bộ hài cốt của người cậu ruột bị Pháp giết theo lời chỉ dẫn của nhà ngoại cảm, là ánh mắt nghiêm nghị của người vợ đã hi sinh trong chiến tranh của anh nhà báo – người yêu Chín, cái chết bất ngờ của nhân vật trung tâm... Tất cả những chi tiết thực ảo đan xen đã làm cho nhân vật với nhà văn vừa có nét trùng khít nhưng đồng thời cũng có những khác biệt. Điều đó làm cho cuốn tiểu thuyết của Đoàn Lê không đơn thuần là tự truyện như chính nhà văn từng tâm sự: “Có người đã đọc tác phẩm của tôi và nói: Tiền định là một câu chuyện hư cấu mà ở đó, nhân vật Chín là hiện thân phần nào con người của tôi. Còn với tôi, tôi không lấy cụ thể nguyên mẫu là ai và ở đâu. Bản thân tôi là một người có cuộc sống tự nhận là khá truân chuyên, đó chính là “chất liệu” để viết, là nguồn cảm hứng và vốn kiến thức để tôi hoàn thành tác phẩm” (3).

5. Đổi mới về phong cách là mong muốn không ngừng của người cầm  bút. Tự truyện là một trong những xu hướng tích cực và giàu tính nhân văn được các tác giả văn xuôi Việt Nam lựa chọn nhằm hiện đại hóa các phương thức biểu hiện, tư duy nghệ thuật những năm đầu thế kỷ XXI.Đoàn Lê, với nhu cầu giãi bày, cảm thông và chia sẻ những bí ẩn của đời sống cá nhân qua khuynh hướng tự truyện, ít nhiều đã tạo nên sự đồng cảm sâu xa nơi người đọc bởi ở đó dường như không chỉ là số phận, cuộc đời của riêng nhà văn mà còn là tấm bi kịch chung của những mảnh đời bất hạnh. Từ những thăng trầm, va đập của một cá nhân cụ thể, độc giả đã có cơ hội thấu cảm phần nào gương mặt cuộc sống, con người thời kinh tế thị trường hôm nay.
Cùng với nhiều tác giả khác, những sáng tác giàu tính tự truyện của Đoàn Lê cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nhân bản của văn xuôi đổi mới mà hạt nhân tạo nên sự thay đổi đó là nhận thức mới về giá trị cá nhân – cộng đồng, về hiện thực và hư cấu trong sáng tạo, sự nghiêm túc trong trò chơi nghệ thuật...của nhà văn./.

Huế, tháng 6/2012



(1) Lại Nguyên Ân (biên soạn): 150 thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, tr.375
(2). Nguồn: http://eu.wikipedia.org/wiki/Autobiographycal_novel.
(3) Thủy Chi: Nữ sĩ Đoàn Lê tâm sự về Tiền định.

 


 
Nâng cao chất lượng, hiệu quả báo chí văn nghệ

 

Nguyễn Ngọc Thiện
(Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam)

 

Mấy năm gần đây, vấn đề nâng cao chất lượng báo chí  văn học nghệ thuật (VHNT) được cả giới văn nghệ cũng như đông đảo công chúng quan tâm. Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam đã tổ chức các hội thảo tại Cần Thơ, Hải Phòng (12/2010), Hà Nội (1/2011) và tập huấn tại Lạng Sơn (11/2011), Cà Mau (10/2011) xung quanh các khía cạnh của chủ đề Nâng cao năng lực, chất lượng và hiệu quả của báo chí văn nghệ; Nâng cao nghiệp vụ biên tập, quảng bá tác phẩm trên báo chí văn nghệ cho các cơ quan báo chí văn nghệ thuộc 63 Hội VHNT tỉnh, thành phố trên cả nước và 10 Hội VHNT chuyên ngành ở TW.Kết quả các hội thảo và tập huấn nói trên đã góp một phần đáng kể nâng cao nhận thức về việc phải coi trọng và phát huy vai trò, hiệu quả của báo chí văn nghệ trong đời sống VHNT nước nhà; thiết thực chăm lo bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ biên tập và chuyên môn của đội ngũ những người làm báo văn nghệ để báo chí văn nghệ - một loại hình báo chí đặc thù, đảm bảo chất lượng tư tưởng và nghệ thuật cao, mang tính chuyên nghiệp và đến được công chúng rộng rãi. Đồng thời, đây cũng là dịp để thống nhất ý kiến xây dựng, hoàn thiện Đề án “Nâng cao vị trí và tăng cường hỗ trợ kinh phí hoạt động cho báo chí của Hội VHNT TW, tỉnh, thành phố giai đoạn 2011-2015” sẽ trình lên Chính phủ xem xét, hỗ trợ.
Chúng ta đã bước vào năm 2012 với quyết tâm tạo sự khởi sắc và chuyển động mới trong khối báo chí văn nghệ toàn quốc. “Đổi mới công tác báo chí, thông tin của Liên hiệp” – đó là một trong 7 nhiệm vụ chính mà Đoàn Chủ tịch Liên hiệp đã đề ra trong Báo cáo về chương trình công tác VHNT năm 2012 của toàn khối tổ chức ở Gia Lai.


I. Những ưu điểm


1. Báo chí văn nghệ luôn đi sát định hướng phục vụ nhiệm vụ chính trị, góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh, bảo vệ vững chắc sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh, hạnh phúc của đời sống nhân dân, sự phát triển nền văn hóa, văn học nghệ thuật tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu tính nhân văn, làm phong phú nền tảng đời sống tinh thần của xã hội văn minh, hiện đại.

2. Về phương diện lãnh đạo và quản lý, lãnh đạo các Hội chuyên ngành TW và Hội VHNT các tỉnh thành phố đã kịp thời rà soát lại bộ máy báo chí văn nghệ với tư cách là một cơ quan ngôn luận chuyên môn, nghiệp vụ, thông tin nghệ thuật của tổ chức chính trị - xã hội – nghề nghiệp đặc thù. Sắp xếp lại nhân sự các cương vị phụ trách chủ chốt, chuyên trách (Tổng Biên tập, Phó Tổng biên tập), không để tình trạng kiêm nhiệm hoặc trống vắng như trước đó thảng hoặc vẫn tồn tại ở một số Hội. Đội ngũ biên tập viên, phóng viên, nhân viên nghiệp vụ đã được xem xét, bố trí phù hợp với trình độ, năng lực chuyên môn, sở trường từng người. Đã chú trọng công tác đào tạo, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ này: đi học các lớp bổ túc kiến thức, nghiệp vụ do các cơ quan chuyên môn TW tổ chức (Hội chuyên ngành, Hội đồng Lý luận Phê bình VHNT TW), học văn hóa tập trung trong trường Đại học, Viện nghiên cứu. Đến nay hầu hết cán bộ báo chí đều đạt trình độ đại học về một chuyên ngành, gồm cả chuyên ngành báo chí, trong đó có những thạc sĩ, tiến sĩ về văn chương. Một số cán bộ báo chí đã nỗ lực phấn đấu được kết nạp Hội viên Hội VHNT chuyên ngành ở TW.
Do trình độ cán bộ làm báo được nâng lên, nên chất lượng thẩm định, biên tập, chọn lọc bài vở được nâng cao, khai thác và đăng tải lên mặt báo những tác phẩm, công trình nghiên cứu, phê bình mới, có giá trị nghệ thuật hoặc chất lượng khoa học của văn nghệ sĩ ở địa phương cùng các cộng tác viên.

3. Các chuyên mục trên báo chí được mở rộng theo hướng bao quát sự đa dạng của các chuyên ngành, thể tài tác phẩm, đội ngũ tác giả xuất hiện trong đời sống văn nghệ ở tỉnh, thành phố và trung ương.

Sự đa dạng các loại hình bài vở thuộc nhiều chuyên ngành hiện hữu đã được chú ý, khắc phục khuynh hướng thiên về đăng sáng tác văn thơ là chính. Tính chất tổng hợp đa ngành ở báo chí tỉnh, thành phố đã thể hiện song song với tính chất chuyên ngành loại biệt của báo chí Hội chuyên ngành TW.
Về cơ cấu bài vở, bên cạnh đăng tác phẩm sáng tác bằng ngôn ngữ đặc thù của chuyên ngành nghệ thuật phù hợp với loại hình báo in (văn học, mỹ thuật, nhiếp ảnh, kịch bản, nhạc phẩm in, họa phẩm kiến trúc, ảnh công trình kiến trúc, ảnh múa, ảnh phim) báo chí văn nghệ đã dành cho lĩnh vực lý luận, nghiên cứu, phê bình các loại hình văn học nghệ thuật (bằng ngôn ngữ khoa học của khoa văn học hoặc nghệ thuật học) một số lượng bài vở thích đáng nhằm trao đổi ý kiến học thuật về chuyên ngành, nâng cao kiến thức chuyên môn, mở rộng kiến văn để giao lưu và hội nhập. Trong đó đáng trân trọng cả những ấn phẩm văn học, lý luận phê bình văn nghệ nước ngoài xuất hiện trên báo chí... đã góp phần mở rộng kiến văn của văn nghệ sĩ và người đọc, kích thích sáng tạo, tiếp nhận văn học nghệ thuật trong sự đối sánh trong/ngoài.


4. Tỉ lệ tác phẩm, tác giả được đăng tải trên báo chí khá hài hòa giữa các thế hệ, các dân tộc, các thể loại, bổ sung hỗ trợ cho nhau.

Trong đó đã làm nổi bật những tác giả với cụm tác phẩm chọn lọc, tác giả có quá trình, có đóng góp cần khẳng định, ghi nhận kịp thời, giới thiệu, vinh danh qua các trang về một tác giả, về chân dung văn nghệ sĩ được viết bởi những cây bút tên tuổi, am hiểu chuyên môn và con người văn nghệ sĩ.

- Đã chú ý đến mảng văn thơ, tác phẩm mỹ thuật của các tác giả ở độ tuổi thiếu nhi, học đường, được phát hiện qua các Trại sáng tác tổ chức thường niên, định kỳ.
- Tạp chí ở một số Hội thuộc các tỉnh biên giới phía Bắc đã duy trì in tác phẩm thơ song ngữ (tiếng dân tộc và tiếng phổ thông) tạo điều kiện cho tác phẩm đến được bà con người dân tộc. Đồng thời các tác giả người dân tộc cũng được quan tâm giới thiệu, phát hiện, khẳng định.


- Mảng bài đọc sách, điểm sách ngắn đối với những ấn phẩm mới xuất bản cũng được báo chí văn nghệ chú ý, thường xuyên xuất hiện trên mỗi số báo, tạp chí. Đây vừa là sự quảng bá tác phẩm mới, vừa là gợi ý cho công chúng tìm đến những tác phẩm ấy. Mục này vừa có sự đóng góp của các cây bút phê bình, nghiên cứu ở địa phương, vừa có sự tham gia hỗ trợ của các cây bút chuyên nghiệp ở TW, Hội chuyên ngành.

5. Đã có sự đổi mới về khuôn mặt và sự trình bày ấn phẩm báo chí. Một số báo chí thiết kế măng sét mới, sáng tác lôgô biểu tượng, ghi thông tin đầy đủ về tên báo, thứ tự số báo, kỳ ra báo hàng tháng, thâm niên báo. Đã quan tâm đến sắp xếp bài vở theo sát các chủ đề từng số, makét từng trang sao cho đảm bảo mỹ thuật, thu hút sự chú ý của người đọc. Trong đó vai trò của họa sĩ thiết kế mỹ thuật chuyên trách hoặc cộng tác viên đã được phát huy. ở mỗi số báo, ngoài việc đảm bảo nội dung tốt và hay thì việc chăm lo chữ nghĩa, đường nét, hình khối, màu sắc phải tương hợp nhau, tôn nhau, khéo léo đặt cạnh nhau – đó là bí quyết mỹ thuật của một tờ báo, tạp chí gắng tìm tòi những nét riêng, với bản sắc độc đáo, thể hiện bản lĩnh của tư duy mỹ thuật chuyên nghiệp.


6. Nhuận bút trả cho các loại hình bài vở, tranh, ảnh, nhạc phẩm, minh họa, tin tức... nhìn chung đã tăng hơn trước, phần lớn là gấp rưỡi, cá biệt gấp đôi, gấp ba (có bài tiểu luận, sáng tác đã được trả nhuận bút đến trên dưới 1 triệu).
Trả nhuận bút tăng như vậy là do cố gắng của Tòa soạn, dù chưa tương xứng với lao động nghệ thuật và khoa học của văn nghệ sĩ; nhưng đã thiết thực động viện sự gắn bó, cộng tác của họ đối với bản báo, thể hiện sự trân trọng liên tài đối với văn nghệ sĩ, cộng tác viên.


7. Giữ ổn định tiara phát hành, trong hoàn cảnh kinh tế của đất nước gặp nhiều khó khăn, đồng tiền mất giá, sức mua hạn chế.
Một số báo chí vẫn giữ được quan hệ tốt với những cơ quan, tổ chức bao tiêu ấn phẩm báo chí của mình.


II. Những khó khăn và nhược điểm còn tồn tại


1. Một số Hội “lực bất tòng tâm”, hỗ trợ kinh phí cho báo chí của Hội không đủ để triển khai họat động đảm bảo yêu cầu tối thiểu về chất lượng và số lượng. Báo chí trong tình trạng đó phải “liệu cơm gắp mắm” để tồn tại cầm chừng với số trang quá mỏng hoặc gộp nhiều tháng/1kỳ.


2. Trong tình trạng văn hóa đọc qua báo chí in không được đề cao như  trước đây, số lượng người đọc tìm mua báo chí in ngày càng giảm sút, giá giấy, công in tăng, giá báo tăng, nên một số báo, tạp chí tia - ra phát hành đã giảm sút, thị phần bị co hẹp.


3. Một số báo chí còn tùy tiện trong việc phản ánh tin tức họat động, sự kiện, đã sa đà vào những tin tức sự kiện nhất thời chỉ có ý nghĩa riêng ở địa phương, ít có giá trị biên niên, để đời. Có một số tờ báo chưa quan tâm đề cập đến những sự kiện lớn trong toàn khối, liên quan đến chỉ đạo, định hướng công tác, hoạt động chung cần quán triệt từ văn kiện Đảng và Nhà nước hoặc do Đoàn Chủ tịch UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam đề xuất qua hội họp, tổng kết, trao giải thưởng, phát động thi sáng tác từng thời gian hoặc cả nhiệm kỳ.


Cần tổ chức mạng lưới cộng tác viên ruột đến tận các tổ chức, cá nhân ở các khu vực và T.Ư để kịp thời chọn lọc phản ánh các sự kiện, tin tức có ý nghĩa rộng rãi, phổ quát.


4. Một số Hội còn để kỳ ra tạp chí quá dài (gộp 2 hoặc 3 tháng/kỳ), không tạo sự gắn bó của hội viên và người đọc với tạp chí.


5. Sự chuyên nghiệp, tâm huyết, toàn tâm toàn ý đối với nghề làm báo ở một số lãnh đạo cơ quan báo chí, một số người làm báo chưa được đề cao như là một sứ mệnh nghề nghiệp cao quý. Còn tồn tại lối làm báo tùy tiện, dễ dãi, được chăng hay chớ, do trình độ yếu kém, chủ quan, tắc trách, thiếu tôn trọng người đọc: nội dung nhạt nhẽo, phát hành chậm trễ, trình bày chưa chuẩn, chưa thể hiện kỹ năng chuyên nghiệp về nghề, chưa hay và đẹp, nhiều chỗ vụng về đáng chê trách (chọn bài, bố cục, đặt tít, đặt chuyên mục, mi trang ruột, minh họa, sắp xếp ảnh, chú thích ảnh, làm mục lục khó đọc, khó tra cứu, lỗi morát còn không ít v.v...).


Xem những tờ báo, tạp chí này người đọc không thể không bị phiền lòng, giảm sút hứng thú về Chân, Thiện, Mỹ.


III. Giải pháp nâng cao chất lương và hiệu quả báo chí văn nghệ


1. Tăng cường nhận thức và định rõ biện pháp cụ thể thể hiện sự lãnh đạo, quan tâm thiết thực của Đảng, sự quản lý có hiệu lực của cơ quan chủ quản đối với hoạt động báo chí về các mặt: Chỉ đạo phương hướng hoạt động (nhiệm kỳ/ năm/quý/ tháng); coi trọng công tác cán bộ (sắp xếp, điều chuyển hợp lý vị trí cán bộ chủ chốt và chuyên môn); tăng mức hỗ trợ kinh phí và cơ sở vật chất hiện đại, đảm bảo cho báo chí tác nghiệp có hiệu quả và chất lượng cao.


Trên cơ sở Dự án do Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam dự thảo từ tháng 12/2010, thống nhất đề nghị Nhà nước xem xét: hàng năm đầu tư trực tiếp cho cơ quan báo chí của mỗi Hội VHNT tỉnh, thành phố trung bình tối thiểu 700 triệu/năm, với bộ máy chuyên trách ít nhất có 7 người; với các Hội chuyên ngành là 900 triệu/9người. Đối với Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, tổ chức Hội có quy mô lớn thì các con số tương ứng là: 1400 triệu/ 12 người.


2. Kịp thời, kiên quyết tổ chức lại bộ máy Tòa soạn chuyên trách, chuyên nghiệp, tâm huyết với nghề... căn cứ vào Điều lệ Hội các cấp và Luật Báo chí.

Lựa chọn những người có đủ uy tín, kinh nghiệm và tài năng làm báo chí văn nghệ vào các cương vị quan trọng theo quy định của Luật báo chí.


3. Mỗi hội VHNT ít nhất đảm bảo ra Tạp chí đều đặn tháng/kỳ; khổ vừa 16 x 24cm; trung bình trên 80 trang/kỳ. Mỗi tờ báo tạp chí  tỉnh, thành phố cần tìm tòi để trên nền chung của văn nghệ đương đại cả nước, làm nổi bật bản sắc riêng về VHNT của mỗi tỉnh, thành phố mình. Chăm chút, chọn lọc, phát hiện biên tập các sáng tác thuộc các loại hình nghệ thuật có chất lượng đăng tải trên tạp chí; tăng cường đặt hàng, khai thác bài vở lý luận, phê bình khẳng định thành tựu, đấu tranh với những lệch lạc trong tư tưởng nghệ thuật, yếu kém về các mặt hoạt động của phòng trào văn nghệ.


4. Chủ động xây dựng đội ngũ cộng tác viên có chất lượng và uy tín. Tổ chức mạng lưới cộng tác viên trong, ngoài tỉnh thuộc các thế hệ; hài hòa giữa các thể loại, mảng chuyên mục: tin định hướng, thời luận, diễn đàn, tiếng nói văn nghệ sĩ, bài sáng tác, bài nghiên cứu, lý luận, phê bình, bài phỏng vấn, trao đổi ý kiến, tranh luận...
Duy trì sự gắn bó chặt chẽ, thường xuyên và chế độ thù lao hợp lý với công tác viên. Nâng cao mức nhuận bút các loại tin tức, bài vở...


5. Chăm sóc, dụng công về mỹ thuật: maket trình bày các trang bìa, phụ bản, gáy tạp chí, từng trang ruột, măngsét và logo, tên chuyên mục, tên bài; chọn kiểu và co chữ ổn định, sang trọng, dễ đọc cho các loại bài, tít bài, mục lục tạp chí; chú thích  gọn và rõ dưới các loại bài và tranh, ảnh.


Hình thành phong cách trình bày riêng của mỗi tờ báo, tạp chí. Sửa morat chu đáo, chính xác, theo quy định về trình bày và chuẩn chính tả thông dụng. Trân trọng tiếp thu sự  đóng góp ý kiến, phê bình của người đọc, văn nghệ sĩ. Tự phê bình, tích cực sửa chữa các lỗi vi phạm do sơ suất và trình độ nghiệp vụ non yếu./.




 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)