Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 18 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Những sai lạc, nhầm lẫn trong một công trình nghiên cứu văn hóa, văn minh


Nguyễn Dương

(Đọc sách “Văn minh vật chất của người Việt”, tác giả Phan Cẩm Thượng, NXB Tri thức tái bản 2012)

 


 

Sách dày 664 trang, với 959 ảnh và 505 hình vẽ minh họa, ít nhiều có tác dụng tham khảo về đời sống người Việt trong quá trình phát triển của mình. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy chủ đề sách đề cập quá rộng, lý luận m

iên man và không mang tính khoa học, cấu trúc không chặt chẽ, thực chất là tản mạn tìm hiểu về đời sống vật chất người Việt thì đúng hơn. Về phía tác giả, có lẽ thấy quá sức mình nên ngay từ “Lời nói đầu”, ông đã bộc bạch: “Chắc chắn cuốn sách của tôi không thể hoàn thiện và có nhiều khuyết điểm, vì một cá nhân dù tài đến đâu cũng không thể biết chiều lịch sử và chiều không gian của đời sống dân tộc” và “Mình viết nhiều thế này thì sai lầm lắm lắm. Tôi mong những nhà nghiên cứu trẻ có thể bổ sung, mở rộng cho cuốn sách này theo cách mà các bạn suy nghĩ, và coi cuốn sách như là của chính mình cần viết tiếp, sửa chữa”.

Để đáp lại tinh thần cầu thị trên, chúng tôi xin trao đổi với tác giả mấy vấn đề như sau:

I. Những nhận xét rất hệ trọng nhưng không chính xác:

1. Ngay mặt trong trang bìa, tác giả viết người Việt sống trên dải đất “Nơi các nhà nước phong kiến rất nhược tiểuluộm thuộm trong nền hành chính của mình”.

Chế độ phong kiến Việt Nam có lúc thịnh, suy theo quy luật phát triển nhưng trong tâm thức, lúc nào cha ông ta cũng đề cao ý thức tự cường dân tộc, thể hiện ở việc đặt quốc hiệu là: Đại Việt, Đại Cồ Việt, Đại Ngu (sự yên vui lớn – thời nhà Hồ), Đại Nam v.v, và thực sự đã từng xây dựng được những nhà nước phong kiến hùng mạnh, lập bao chiến công lẫy lừng, đánh bại cả những đạo quân viễn chinh mạnh nhất thế giới như Nguyên Mông, để: “Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên/ Mỗi bên hùng cứ một phương” (Nguyễn Trãi)

Đó là về võ công, còn về xây dựng đất nước, các nhà phong kiến Việt Nam thời thịnh trị đã mang lại xã hội ấm no, hạnh phúc cho dân khác gì “thiên đường ở hạ giới”: “Nhà Nam, nhà Bắc đều no mặt/ Lừng lẫy cũng ca khúc thái bình” (thơ Lê Thánh Tông); “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông/ Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn” (ca dao)

Giáo trình “Lịch sử hành chính Nhà nước Việt Nam” của Học viện Hành chính quốc gia cũng cho biết rằng các nhà nước phong kiến của ta luôn tìm cách cải tổ, cải cách nền hành chính để đất nước được phát triển, nhân dân được ấm no, không phải “rất nhược tiểu và luộm thuộm” như tác giả nghĩ.

2. Tiếp đến trang 125 sách đã dẫn, tác giả nhận định: “Ăn cắp là thói quen rất bình thường tại xứ này, nếu người ta thích một vật nào đó của bạn”.

Ở một đất nước luôn đề cao đạo nghĩa “Đói cho sạch, rách cho thơm” mà tác giả lại nhận xét như vậy thì hoàn toàn sai lạc. Truyện thơ “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu có câu: “Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài/ Nào ai chịu lấy của ai làm gì” (Tài       ở đây là tiền bạc, của cải chứ không phải là tài năng )

Sách “Đại Việt Sử ký toàn thư” ghi nhận thời thịnh trị của Mạc Thái Tông: “Đêm ngủ không cần đóng cửa, ngoài đường không nhặt của rơi”. Đến của rơi người ta còn không nhặt nữa là trong tay, trong túi, trong nhà người khác. Từ trước tới nay, ăn cắp là hành vi cá biệt, xấu thậm tệ, luôn bị nhân dân ta lên án, xếp vào bốn nguy cơ cảnh báo, trước cả giặc dã: Thủy (nước), hỏa (lửa), đạo (trộm cắp), tặc (giặc), chứ không phải là “thói quen rất bình thường tại xứ này” được!

II. Những hiểu sai về “Truyện Kiều”

1. Thúy Kiều được bán theo cách thức buôn trâu?

Trang 312, 313 tác giả viết: “Cách thức buôn trâu thường nói thách rất cao, lấy đơn vị mười làm gốc, người mua sẽ bớt một lần tiền, nhưng lại bằng 1/3 tổng số tiền, sau đó mới là bớt theo đúng giá trị. Ví dụ con trâu 100 đồng, bớt một tức là bớt hơn 30 đồng, bớt thêm hai, tức là bớt hơn hai lần mười đồng nữa (hơn 20 đồng)”. “Nguyễn Du đã dùng cách thức này để mô tả việc bán nàng Kiều: Cò kè bớt một thêm hai/ Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm. Như vậy thoạt tiên nàng Kiều được định giá 1000 lạng vàng, bớt một còn hơn 600 lạng, bớt thêm hai lần nữa, giá thành hơn 400 lạng”.

“Truyện Kiều” được Nguyễn Du viết theo “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Quốc, các chi tiết mua bán Kiều được Nguyễn Du mô tả rất sát và tôn trọng theo nguyên truyện ghi ở phần văn ước như sau: “Nay nhận thấy người thiếu nữ tên gọi là Vương Thúy Kiều vì việc cứu cha nên phải bán mình làm thiếp cho khách họ Mã lấy số tiền sính lễ là bốn trăm năm mươi lạng bạc...” (Nguyễn Quảng Tuân trích dẫn, in trong “Truyện Kiều nghiên cứu và thảo luận”, NXB Văn học, 2004), việc mua bán Kiều diễn ra ở Bắc Kinh – Trung Quốc (Tú bà cùng Mã Giám sinh/ Đi mua người ở Bắc Kinh đưa về - “Truyện Kiều”) thì làm sao có thể ứng dụng theo cách thức buôn trâu ở Việt Nam?

Cũng cần nói thêm, “vàng ngoài bốn trăm” như họa sĩ Phan Cẩm Thượng trích là không chuẩn. Các nhà Kiều học đã chứng minh nguyên bản câu Kiều trên là: “Giờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm” (vâng là đồng ý, chấp nhận). Trong các tác phẩm nghiên cứu của mình, nhà Kiều học Nguyễn Quảng Tuân đã sao chụp lại toàn văn các bản truyện Kiều và kết luận đại ý rằng: Các bản Nôm cổ đều viết chữ vâng, kể cả bản Kiều cổ nhất hiện sưu tầm được (khắc in năm 1866). Chữ vàng là do sau này các bản chữ quốc ngữ tái bản, in sai từ chữ vâng mà ra vì chữ vângvàng rất giống nhau, còn chữ nôm thì khác nhau hoàn toàn, không thể nhầm được. Hơn nữa đơn vị tiền tệ thời cổ ở Trung Quốc là lạng bạc chứ không phải là vàng.

2. Tác giả hiểu sai đoạn thơ về Đạm Tiên

Ở trang 540, tác giả hiểu sai đoạn Kiều: “Thuyền tình vừa ghé tới nơi/ Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ/ Phòng không lặng ngắt như tờ/ Dấu xưa rêu đã lờ mờ phủ xanh, đó là đoạn một người khách tìm đến nàng Đạm Tiên thì nàng đã xanh cỏ đỏ mồ từ lâu”.

Dấu xưa là dấu xe, dấu ngựa, dấu chân, dấu giày v.v. đã bị rêu phủ lờ mờ chứ không phải nói về mồ mả. Cũng Nguyễn Quảng Tuân trích dẫn, chú giải theo nguyên truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thì: “Khi Đạm Tiên chết gặp phải mụ chủ tệ bạc toan đem vứt xác nàng ra bờ ngòi. May sao lúc ấy có một khách ở viễn phương vì mộ tiếng sắc tài của nàng nên mới tìm đến”. Lúc đó, người khách mới sắm cái áo quan bằng gỗ tử (nếp tử) và dùng xe chở linh cữu có rèm kết ngọc châu (xe châu) mang Đạm Tiên đi chôn sơ sài (vùi nông một nấm) như hai câu thơ tiếp theo của đoạn thơ trên: “Sắm sanh nếp tử, xe châu/ Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa”.

Vậy, đúng ra khi người khách tìm đến thì Đạm Tiên vừa mới chết, vì mụ chủ chứa tệ bạc nên người khách ấy đã chôn cất cho nàng chứ không phải “nàng đã xanh cỏ đỏ mồ từ lâu”. Mà người ta thường nói “Xanh cỏ, đỏ ngực” chứ không ai nói “xanh cỏ đỏ mồ” cả.

III. Những nhầm lẫn trong kiến thức về đời sống văn hóa nông nghiệp

1. Dân ta nuôi mèo làm cảnh?

Trang 309: “Còn chó thì nhà nào cũng nuôi vừa giữ nhà vừa ăn thịt tùy lúc, mèo thì chỉ để làm cảnh”.

Thực tế, dân ta nuôi mèo để đối phó với chuột chứ đa phần dân nghèo làm gì có thức ăn lãng phí nuôi mèo để ngắm “mèo cảnh”. Nếu con mèo lười nào không hoàn thành nhiệm vụ bắt chuột sẽ bị mắng “Bắt chuột không hay, lại hay ỉa bếp” là vậy.

2. Gà, vịt cũng là gia súc?

Có đôi lúc phóng bút, tác giả lẫn lộn giữa gia cầm (gà, vịt) với gia súc: “Bên cạnh những sản vật tự nhiên như cá tôm cua ốc, gà rừng, lợn rừng, người Việt nuôi rất nhiều gia súc như lợn, gà, vịt, dê, bò trâu...” (trang 123)

3. Hiểu sai về “canh, tiều, ngư, mục” là bốn việc ngày thường ở nhà nông”, nhưng đây là bốn loại người, bốn nhóm việc khác nhau, như tiều phu là người đốn củi trên rừng làm sao là công việc thường ngày của nhà nông được?

4. Hiểu sai về “thả cá – gá bạc”:

Trang 319 tác giả viết: “việc thả cá: Chỉ thả giống mà không cần chăm nuôi nhiều, lại thu hoạch lớn, nên nông dân có câu: Nhất thả cá. Nhì gá bạc”.

Có một số sách nghiên cứu về thành ngữ cũng hiểu nhầm “thả cá” ở đây là gây giống nuôi thủy sản. Nhưng từ “thả cá” có nhiều nét nghĩa, phải tùy theo văn cảnh mà hiểu cho phù hợp. Khi “thả cá” đi với “đào ao” trong “Đào ao, thả cá” mới là hoạt động nuôi thủy sản. Còn khi “thả cá” đi với “gá bạc” thì nghĩa của “thả cá” phải được hiểu như “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ đã giảng giải là: “thách cá, nói trong một độ gà chọi hay ác lia thia, sau khi xem – xét kỹ lưỡng – con vật rồi, những người cầm chắc con của mình chọn sẽ thắng, bèn thách mọi người bắt số tiền cá của mình”

Vậy câu: “Nhất thả cá, nhì gá bạc” là dành cho giới cờ bạc đỏ đen, chứ tuyệt nhiên không liên quan gì đến hoạt động nông nghiệp cả. Tác giả đã bị hiện tượng đồng âm đánh lừa.

5. “Thọ Mai gia lễ” là sách của Ta chứ không phải của Tầu:

Trang 591 có câu “và cả một nghi thức phiền toái trong Thọ mai gia lễ Trung Hoa được áp dụng”

Họa sĩ cứ ngỡ “Thọ Mai gia lễ” là của Trung Hoa nhưng sách “Một trăm điều nên biết về phong tục Việt Nam” (NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội 2001) cho ta biết rõ như sau: “Thọ Mai gia lễ” là gia lễ tức gia lễ thời xưa của Trung Quốc nhưng không rập khuôn theo Tầu. Mặc dầu gia lễ từ triều Lê đến nay có nhiều chỗ đã lỗi thời nhưng khi đã trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân, nên đến nay trong Nam ngoài Bắc vẫn còn phổ biến áp dụng, nhất là tang lễ.

Tác giả của “Thọ Mai gia lễ” là Hồ Sỹ Tân (1690-1760) hiệu Thọ Mai người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, đậu Tiến sĩ năm 1720 (năm thứ 2 triều Bảo Thái), làm quan đến Hàn lâm Thị chế”.

IV. Những nhầm lẫn trong chú thích tranh, ảnh:

Trang 376: “Chân dung hoàng hậu Trà Phương (chùa Trà Phương, Kiến An, Hải Phòng)” nhưng thực tế người trong ảnh là hoàng hậu Nguyễn Thị Ngọc Toàn (vợ vua Mạc Đăng Dung), được thờ trong chùa Trà Phương, ở huyện Kiến Thụy (chứ không phải Kiến An), Hải Phòng và bà chưa bao giờ có danh hiệu là hoàng hậu Trà Phương.

Trang 540: Tranh người đội mâm trầu cau phủ vải được chú thích là: “ăn hỏi (lễ vu quy). Hình vẽ trích trong sách “Kỹ thuật của người An Nam” của Henri Oger, NXB Thế giới 2009”. Chúng tôi đã tra cứu sách “Kỹ thuật của người An Nam” thì hình trên chỉ được chú thích là lễ ăn hỏi. Tác giả đã chú thích thêm “lễ vu quy” vào thành không chuẩn. Ăn hỏi và vu quy là 2 lễ khác nhau, chú thích kiểu này thì độc giả không biết đâu mà lần!

Ngay trang bìa lót, tác giả viết: “Nam mô a di đà Phật/ Cuốn sách này là lời tri ân với đất nước và mẹ cha”. Niệm Phật, tri ân với đất nước

nhưng không hiểu vì sao tác giả lại nỡ quy cho xứ mình sản sinh ra những thứ tệ hại như: “Các nhà nước phong kiến rất nhược tiểu và luộm thuộm trong nền hành chính của mình”, “ăn cắp là thói quen rất bình thường”. Rồi viết về “Văn minh” nhưng tác giả lại trích dẫn những câu rất tục tĩu (vì tế nhị, chúng tôi xin viết tắt một số từ): “Cái l... mà để ngoài da/ Một ngày mất bẩy mươi ba cái l...; Chồng người  buôn ngược bán xuôi/ Chồng em ngồi bếp để b... chấm gio” (trang 541,542) và đáng ngờ là ca dao “chế”, vì người ta chỉ nói “Ruột để ngoài da”, “L... để ngoài quần” chứ như câu trích của tác giả thì bất hợp lý, và kiểu trích dẫn này thì giúp gì cho chủ đề sách nói về “Văn minh”?

Nghiên cứu văn hóa, văn minh là lĩnh vực cực khó, người nghiên cứu cần phải có tư duy khách quan, toàn diện, kiến thức uyên thâm, phong cách nghiên cứu chuyên nghiệp; Tác phẩm trước khi đưa ra công chúng cần phải được một hội đồng uy tín hoặc ban biên tập thẩm định nghiêm túc, kỹ càng, còn không tác phẩm sẽ rơi vào chủ quan, tùy hứng, đưa ra vô số nhận định sai ảnh hưởng tới độc giả, đặc biệt là những độc giả trẻ tuổi.

Chúng tôi xin có mấy ý kiến tham gia để tác giả, NXB và bạn đọc tham khảo, đánh giá, hy vọng những lần tái bản sau chúng ta sẽ có cuốn sách được chỉnh lý khoa học hơn, thuyết phục hơn./.



 
NGUYÊN HỒNG VÀ TIỂU THUYẾT TỰ TRUYỆN NHỮNG NGÀY THƠ ẤU


GS. Phan Cự Đệ


Từ cuộc đời đau khổ, nhẫn nhục của bà mẹ mình. Nguyên Hồng đã yêu thương bao nhiêu bà mẹ Việt Nam khác bị lễ giáo phong kiến  và những lề thói khắc nghiệt của xã hội cũ vùi dập, đày đọa. Và cũng bắt đầu từ cuộc đời một đứa bé sống cô đơn, ngơ ngác trong một gia đình tàn tạ có “một người cha và một người mẹ tính tình khác nhau, không hiểu biết, không yêu nhau và gần như khinh miệt nhau”. Sau khi người cha nghiện ngập chết ho lao, người mẹ đi bước nữa, đứa bé bị hắt hủi, sống cô độc lang thang trên các vỉa hè, đường phố. “Tôi cảm thấy một cách cay chua sự trơ trọi hèn hạ của tôi, một đứa trẻ côi cút cùng khổ” (Những ngày thơ ấu). Cuốn tiểu thuyết tự truyện đầy tinh thần nhân đạo chủ nghĩa này từ năm 1938 đã làm xúc động bao nhiêu tâm hồn bạn đọc vì “nó là sự rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại lạc loài trong những lề thói khắc nghiệt của một gia đình sắp tàn” (Thạch Lam).

Nguyên Hồng có chịu ảnh hưởng của Rútxô, Muyxê, Đôđê và Goócki, nhưng ta không rõ anh có đọc Những lời tự thú (Les Confes – sims 1766-1977), Lời tự thú của một đứa con của thời đại (Confes – sim d’un enfant du siècle - 1835) Lơ pơti sôtơ (Lepetit chose - 1866) và Thời thơ ấu (1912-1913), trước lúc viết Những ngày thơ ấu hay không? ở nước ta, có lẽ Những ngày thơ ấu mở đầu thể loại tiểu thuyết, tự truyện. Văn học tự truyện (litterature autobiographique) ở Pháp dường như bắt đầu với Những lời tự thú của Rútxô. Đó là một tác phẩm hết sức xúc động và tuyệt vời của văn học – tự truyện, trước đó dường như ít có tác phẩm nào ở Pháp mà trong đó, tác giả tự thể hiện mình như một kẻ xưng tội, tự vạch trần mình trước người dọc với một sự chân thành hồn nhiên đến thế. Cuốn tiểu thuyết tự truyện này có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành tiểu thuyết lãng mạn sau này.

Trong Những lời tự thú của một đứa con của thời đại của Muyxê, nhân vật chính là Ôctavơ (Otave) kể lại một cách chân thành, cảm động mối tình đau khổ của mình. Tác phẩm tự truyện này phản ánh một phần không khí xã hội và trạng thái tâm lí ở Pháp nửa đầu thế kỷ XIX (sự khủng hoảng về tinh thần và lí tưởng, sự tàn phá tâm hồn, sự chán ghét và đau buồn trước cuộc sống).

Tại sao những tiểu thuyết, tự truyện đầu tiên lại mang tên Lời thú tội (Confessim)? Trong tác phẩm Lịch sử tính dục (Histoire de la sixualité). Misen Phucôn (Michel Foucault) cho rằng nếu trong xã hội phong kiến, người ta cấm nói chuyện tính dục công khai thì trong phòng xưng tội của nhà thờ thiên chúa giáo con chiên được phép nói chuyện tính dục thoải mái trước mặt đức Cha! Văn học thế kỷ 18 và 19 đã biến lời thú tội thầm kín đó thành một lời thú tội công khai trước công chúng (une confessim publique). Cho nên chúng ta không ngạc nhiên khi thấy cuốn tiểu thuyết, tự truyện đầu tiên lại mang cái tên Les confessims (Những lời tự thú). Thể loại văn học tự truyện đòi hỏi một giao ước về dọc (le contrat de lecture), giao ước giữa nhà văn và công chúng, tác giả buộc phải chân thành trong ngôn ngữ độc thoại hoặc trần thuật, độc giả buộc phải tin đấy là sự thật. Trong tiểu thuyết nói chung, cái Tôi của tác giả đeo mặt nạ, không phải là cái Tôi (le Moi) mà là nhân vật của Tôi (mon personnage). Còn trong tiểu thuyết – tự truyện, cái Tôi bộc bạch hết những điều thầm kín, thậm chí cả những tội lỗi, phơi trần mình ra trước ánh sáng. Có nhà văn lãng mạn cho rằng trình bầy tự truyện ra trước công chúng (une autobiographie publique) chẳng khác gì đem tư duy ra làm điếm (une prostitution de la pensée) trên trang sách. Nhưng lại có nhà lí luận cho rằng tiểu thuyết tự truyện cũng có tác dụng thanh lọc tâm hồn (catharsis) của bi kịch. ở đây nhà văn đem phần trong sáng nhất của tâm hồn ra giãi bầy trước công chúng. Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng thuộc trường hợp thứ hai này. Những ngày thơ ấu là những lời tâm sự thiết tha, thầm kín, những hồi ức của một cái tôi đau khổ nhưng hồn nhiên, trong sáng, tự bộc bạch cuộc đời riêng tư của mình lên trang giấy một cách chân thành tin cậy.

Thầy mẹ tôi lấy nhau không phải vì yêu thương nhau, trái ngược cay đắng đó tôi đã hiểu biết rõ rệt và thấm thía ngay từ năm tôi lên bảy lên tám, ở vào cái tuổi mà tính tò mò rất dễ bị kích thích và trí ngây thơ trong suốt đã ghi giữ một hình ảnh gì, một nỗi niềm nào thì ghi giữ mãi mãi. Những buổi chiều vàng lặng lẽ, lạnh lẽo của mùa đông, những buổi chiều mà bụi mưa như có một thứ tiếng van lơn thầm thì trong hơi gió vi vu, lửa lò than rực rỡ vờn lên chân tường những ánh hồng lấp lánh hay rủ rê tâm trí người ta vào những cõi buồn nhớ, là những buổi chiều làm tê tái mẹ tôi hơn hết... ”

Tiểu thuyết tự truyện dễ tạo nên ở bạn đọc một sự đồng cảm, gần gũi và tin cậy, một sự xúc động sâu lắng, với những ấn tượng mạnh mẽ, thắm thiết. Cái tôi tự truyện, cái tôi “tự thú” cái tôi tâm sự thầm kín với bạn đọc như những người thân thiết nhất của mình, đã tạo ra một mối quan hệ dân chủ, tin yêu và thông cảm lẫn nhau giữa nhà văn công chúng. Mặt khác, dường như ít có tiểu thuyết tự truyện nào bỏ qua tuổi ấu thơ. Hồi ký thì không nhất thiết như thế, bởi vì thường thường người ta chỉ viết hồi ký lúc nhà văn đã có một vị trí chính trị, xã hội quan trọng, cái mà người ta kể lại phải là những sự kiện đáng ghi nhớ (ce qu’on dit est mémorable). Phân tâm học hiện đại coi tuổi thơ là vương quốc của mọi nguyên nhân (l’enfance, c’est le royaume des causes), cả quá trình phát triển sau này của con người đã được quyết định từ tuổi thơ, tuổi thơ để lại những ấn tượng nguyên thủy ám ảnh suốt cuộc đời của nhà văn, tuổi thơ như một sự đợi chờ, một tiền định. Chúng ta không bác bỏ những ấn tượng sâu sắc từ tuổi thơ, những kinh nghiệm cá nhân của một con người với những đặc điểm riêng về tâm sinh lí, nhưng con người luôn luôn là một tồn tại xã hội, một tổng thể của những quan hệ xã hội, một sản phẩm của lịch sử và thời đại.

Điều chúng ta muốn nhấn mạnh là khi Nguyên Hồng viết tiểu thuyết tự truyện, anh không sử dụng những sự kiện của cái hôm nay mà là những hồi ức, những kỷ niệm. Qua sự chọn lọc và đào thải của thời gian, những kỷ niệm, những cảm giác từ tuổi ấu thơ còn lại đến bây giờ, phải là những gì thật lắng đọng, mạnh mẽ và sâu sắc đến mức có thể đi mãi với ta trong suốt cuộc đời. Thời gian như cái bình lọc kỳ diệu, nó chỉ để lại trong tâm hồn nhà văn những chi tiết điển hình, những cảm giác tinh tế và sâu lắng, những ấn tượng không thể phai mờ.

Thạch Lam bắt đầu làm quen và yêu mến Nguyên Hồng từ sau khi Những ngày thơ ấu được giới thiệu trên báo Ngày nay. Sau này, thỉnh thoảng Nguyên Hồng lại có một truyện để tặng Thạch Lam có khi là cả một tập truyện ngắn (Miếng bánh). Trong Những ngày thơ ấu, Nguyên Hồng gần gũi với Thạch Lam  ở lối phân tích tâm lý tinh tế, lối viết đi sâu vào cảm giác, ở cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa. Hơn chục năm đã trôi qua mà những ấn tượng, những cảm giác vẫn hiện lên rõ nét trong ký ức nhà văn:

“... Trong hồn tôi mãi mãi rõ ràng thắm nét hình ảnh những con mắt của mẹ tôi sáng lên nhìn ngươi thổi kèn và hai gò má mẹ tôi ửng hồng khi cặp mắt long lanh của người đàn ông nọ chiếu tới. Và cho tới ngày trọn đời, tôi không thể sao quên được cái cảm giác là lạ do một bàn tay nhỏ nhắn run run bỗng từ đâu tuột xuống vai tôi, và một mảng lạnh mong manh vương qua một cặp mắt lờ đờ nhìn vào mắt tôi chợt làm ngực tôi lạnh vợi đi...”

Lối miêu tả của Nguyên Hồng không những tinh tế mà còn có khả năng làm thức dậy mọi giác quan của người đọc. Đây là cái cảm giác của một cậu bé cô đơn, tủi nhục, sau bao ngày đằng đẵng xa cách, bỗng được lăn vào lòng mẹ! “Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt... Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng...”

Người ta thường nói đến cái màu sắc trữ tình lãng mạn trong những tác phẩm của Nguyên Hồng. Trong tập tiểu thuyết tự truyện rất xúc động này. Nguyên Hồng đã lắng nghe được những âm vang sâu lắng của tâm hồn, ghi nhận được những cảm giác tinh tế tự bên trong, miêu tả một thiên nhiên đầy thanh sắc và tất cả đều được thể hiện qua màu sắc chủ quan của cái Tôi, trữ tình hồn nhiên trong sáng. Những nỗi cô đơn, buồn tủi của tuổi thơ đã ám ảnh tâm hồn cậu bé đa cảm suốt năm này qua năm khác, hiện lên trên trang sách thành ấn tượng buồn bã, u ám về một mùa đông dài đằng đặc với mưa phùn lê thê, rét buốt. “Tôi có cảm tưởng những mùa đông thuở xưa rét mướt hơn những mùa đông mới đây và hiện nay. Vì những ngày mưa phùn dài lạ lùng với những cảnh vắng vẻ, lạnh lẽo như không bao giờ hết. “... Và đây là cảm giác của một cậu bé đi trong đêm đông vắng lặng, thương nhớ người mẹ hiền và đau đớn đến tê dại: “Những mảnh lá chạy xào xạc trên mặt đường chạy cả vào lòng tôi cùng với những âm thanh mơ hồ... Trong lòng tôi, tiếng lá lao xao như không bao giờ tắt, giá buốt quá. Trong lòng tôi xác lá vụn mãi ra, nhiều bao nhiêu lại biến nhanh đi bấy nhiêu. Tôi đi mê man, với hình ảnh một đám ma tẻ lạnh không kèn không trống...”

Rútxô viết tiểu thuyết tự truyện lúc 54 tuổi, Đôtê lúc 46 tuổi, Goócki lúc 44 tuổi, còn Nguyên Hồng viết Những ngày thơ ấu lúc 20 tuổi. Cũng như một số nhà văn trẻ thời ấy. Nguyên Hồng đã bắt đầu cuộc đời sáng tác của mình bằng một cái nhìn rất độc đáo, tươi mới trẻ trung bằng một đôi mắt xa non dễ xúc động, dễ ngạc nhiên trước cuộc sống. Đó là cái tuổi mà tâm hồn dễ xúc động, các kỷ niệm để lại những ấn tượng sâu sắc, mênh mang như cái ánh trăng bàng bạc của đêm thu đầy trăng, xao xuyến như hương hoa cau, hoa lý ngát thơm cả một góc vườn đang vỡ lở ra trong tiếng khóc nức nở của hai mẹ con người đàn bà tội nghiệp đáng thương (Mợ Du). Đó cũng là một tâm hồn đam mê thanh sắc, đắm mình trong những cảnh đẹp rực rỡ, quyễn rũ của thiên nhiên: một bầu trời xanh trong, bát ngát “với ánh nắng rực rỡ phân phối trên các cành lá óng ả, mượt nõn và những chòm xoan xanh tươi hứa hẹn màu thắm của các vừng hoa đỏ” (Những ngày thơ ấu): “Những hương hoa quả thơm nồng, bay thấp thoáng trong không khí, tê mê, rạo rực”, những “tiếng chim chích chòe đậu trên những ngọn cau, ngọn xoan, hót lanh lảnh, vang rất xa dưới vùng trời bao la và lấp lánh” (Vực sâu).

Đó cũng là một sự sống ngùn ngụt, nóng hổi, một lòng “ham sống dào dạt”, trong ấy mọi thứ đều như rung lên cùng với một lòng thương yêu thắm thiết, trong ấy như có một lớp sóng cứ rào lên không ngớt, như có một thứ tiếng rùng rùng âm vang bát ngát. Cái sức sống bên trong đó là sự rung động đến cực điểm của “một quả tim trên hai mươi tuổi đẫm máu đỏ tươi và hơi thở nóng nảy(Cuộc sống). Tôi nhớ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường trung học, một lần phải dịch ra Pháp văn một đoạn trong Những ngày thơ ấu, cái đoạn nói về tiếng kèn. Đã bao nhiêu năm qua rồi mà tôi vẫn không quên được cái tiếng kèn nao nức, dồn dập rung vang đó: “Tiếng kèn mỗi giây một dướn cao, một vang to, rung động cả làn không khí êm ả của một góc trời. Rồi nương tiếng gió lao xao trong những vòm cây phấp phới, âm thanh nao nức, dồn dập của tiếng kèn càng cuốn lên cao, tràn ra xa, đến những vùng xa sáng tươi nào đó. Càng về sau, tiếng kèn càng niềm nở, ân cần như những lời thúc giục thống thiết... Hãy bước đi, hãy bước đi, như làn lá nhỏ bay theo gió... Tiếng kèn vẫn vồn vã rõ ràng, trong sáng và bầu trời mở rộng vẫn rung vang...”.

Tiếng kèn đó tượng trưng cho sự hấp dẫn, quyến rũ của sự sống phấp phới, âm vang, nó đánh thức dậy những tâm hồn tươi trẻ bị vùi dập đè nén trong những mái nhà còn nặng lề thói phong kiến khắc nghiệt, nó đánh thức dậy những nỗi khao khát trong sáng “của một người đàn bà mà tâm tư hằng giá buốt vì những phiền muộn, những đau đớn cay chua nhất, tối tăm nhất”.

Trong tác phẩm của Nguyên Hồng thời kỳ đầu, những tình cảm không những tươi mới, trẻ trung, mà lúc nào cũng được biểu hiện ở cường độ cao: nó phải ngùn ngụt nóng hổi, nó phải đằm thắm thiết tha, nó phải trong ngần tươi mát. Còn những cảnh sắc thì bao giờ cũng lao xao, phấp phới, chói lòa rực rỡ hoặc rùng rùng âm vang... “Hình như bên trong anh có những gì đầy ăm ắp, đầy tràn trề quá, nên anh không vơi bớt ra ngoài thì không chịu nổi; anh đã truyền những cái quý giá ấy vào những người bạn, vào những tác phẩm, vào cuộc sống chung quanh” (*). Từ bên trong tâm hồn nhà văn, một cái gì say sưa, rạo rực, tha thiết tin yêu đã in dấu lên mọi cảnh vật, mọi màu sắc. Nó làm cho những cảnh sắc đó sôi động hẳn lên, rung lên, vang lên mạnh mẽ, thu hút tình cảm người đọc, khiến cho người ta không thể dửng dưng lạnh nhạt trước một sự chân thành, thắm thiết đến thế.

Trên kia ta đã thấy, trong văn Nguyên Hồng luôn luôn có nắng gió lao xao, phấp phới, rực rỡ và một bầu trời xanh trong lấp lánh rất đẹp. Cái đó là gì, nếu không phải là lòng ham sống, tin yêu cuộc sống, là vẻ đẹp lý tưởng, là những ước mơ lãng mạn về tương lai!

-------------

* Như Phong. Vài kỷ niệm về Nguyên Hồng, Tạp chí Văn học số 3/1982, tr 34.




 
Thao thức thơ, thao thức đời


Tô Hoàng Vũ

(Đọc tập thơ “Thao thức” của Nam Phụng, NXB Hội Nhà văn 2013)


Bạn đọc đang cầm trên tay tập thơ “Thao thức” của “nhà thơ trẻ cao tuổi” Nam Phụng. Nói như vậy là có sở cứ, vì như ông tâm sự “tôi vốn yêu thơ từ sớm” nhưng mãi “đến lúc tuổi cao, con cái trưởng thành, gia đình đã vơi bớt lo toan”, thì mới thực sự đến với thơ. Hơn 10 năm “chọn lối chơi tao nhã thư nhàn” là thơ (như ông nói) và là hội viên tích cực của vài Câu lạc bộ thơ từ cấp quận đến thành phố, được sự động viên giúp đỡ của bạn thơ cũng như sự cẩn trọng, khiêm cung của mình, ông đã lựa được 54 bài thơ và 6 bức họa để có “Thao thức” hôm nay.

Có thể ví “Thao thức” như bông hoa nở muộn mà Nam Phụng dâng tặng cho độc giả. Dù nở muộn, nhưng ta vẫn cảm nhận được cả hương và sắc của hoa. Lê Quý Đôn cho rằng: Thơ là sự phát khởi tự trong lòng mà ra. Với những người nhiều trải nghiệm, hiểu cả hỷ nộ ái ố, nếm cả cay chua ngọt đắng vị đời như tuổi của ông thì điều đó lại càng đúng. Dù có tìm đến với thể thơ lục bát của dân tộc, thơ Đường luật của Trung Quốc hay thơ tự do của châu Âu, ông cũng đều trải lòng mình với đời, với người. Nam Phụng lấy hiện thực làm điểm tựa, làm cái cớ để khai triển những quan niệm của mình về cuộc sống. Như tên của tập thơ, đó là những thao thức, trăn trở, suy tư khôn nguôi về nhân tình thế thái, về những biến thiên của lịch sử và những mong ước khi nhìn về tương lai của quê hương, đất nước.

Thông qua thơ, Nam Phụng mượn chuyện xưa để nói nay, mượn chuyện người để nói lòng mình. Đó là khi ông viết về lịch sử đã qua như 1000 năm Thăng Long, về Văn Miếu, Hoàng thành, tháp Chàm hay những tên đất như Đà Lạt, Hải Vân, Yên Tử; những tên người như đức vua Trần Nhân Tông, ông quan thương dân Nguyễn Công Trứ, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Thậm chí ông còn mượn lời của cỏ “Góp làm xanh trái đất xanh/ Lạ sao đời chẳng xem mình là cây”.

Nam Phụng có những câu thơ thật lòng đến mức có thể khiến bạn đọc phải rơi lệ. Viết về tình nghĩa vợ chồng tao khang trong nỗi đau chia cắt, âm dương cách trở, ông đưa hình ảnh: “Cuốc lẻ xa bầy da diết vẳng/ Gà con lạc mẹ não nề khơi”, “Sùi sụt Chức - Ngưu sầu trắng đất” và “Ước gì trong mỗi canh khuya/ Anh luôn mơ thấy em về bên anh”.

Có những câu thơ trong “Thao thức” thể hiện rõ sự dụng công của tác giả, dẫn đến những tìm tòi, phát hiện thú vị: Hàng tháp cẩu ở Cảng dường như “Chọc thủng không gian nâng cách chim trời ”; hay khi viết về nỗi cô đơn của người chồng nơi trần thế: “Em giờ bạn với trăng sao/ Anh cô đơn trước chênh chao cõi người”.

Thời trẻ, Nam Phụng là cán bộ Công đoàn Cảng Hải Phòng, chuyên kẻ chữ vẽ tranh, làm công tác tuyên truyền thi đua lao động sản xuất. Có lẽ vì thế mà một số bài trong tập là bài thơ mà cũng là bức tranh. Qua bài thơ “Nhớ”, tác giả vẽ nên bức tranh quê với “hàng cau vương nắng chân mây tím hồng”, “vườn hoang cỏ dại”, “gió phiêu du giữa cánh đồng hoang liêu”, “mây lang thang”, “thoảng mùi hương cỏ”, “người trên bến vắng đợi đò”, “ánh trăng mờ mờ xanh”, “làn sương khói mong manh”, “ẩn hiện bóng  hình đò xa”. Còn bài “Nhạc hồn” thì đích thị là bức tranh sống động về một canh hát ca trù với đủ các thành phần đào nương, kép đàn, trống chầu... “Giọng ca rung rẩy/Tiếng phách dập dồn/ Ngập ngừng đàn đáy/ Trống điểm đanh giòn...”

Trên đời, ai mà chả yêu quê, nhưng ông yêu theo cách của mình. Tuổi đi học, rồi đi làm ông lấy tên Vũ Văn Kề theo giấy khai sinh, nhưng khi làm thơ ông đặt bút danh Nam Phụng để nhớ về xóm Nam, làng Phụng Pháp. Quê hương nơi chôn rau cắt rốn, nơi mồ mả ông bà tổ tiên, nơi chăn trâu cắt cỏ...luôn đau đáu và trở đi trở lại trong thơ ông. Về thăm quê, chứng kiến những mặt trái của việc làng lên phố, xã thành phường, ông thốt lên: “Xin đừng phá bỏ hàng tre/ Ân tình gắn kết làng quê bao đời/.../ Hàng tre xưa mảnh hồn quê/ Võng đưa kẽo kẹt trưa hè mẹ ru/ Không tre vắng tiếng chim gù/ Vắng đàn cò trắng chiều thu dập dìu” (Xin đừng).

Ngoài cây tre, đình làng cũng là một trong những biểu tượng của làng quê, hồn Việt. Vì thế ông tha thiết đề nghị: “Dù đi vạn nẻo trần gian/ Xin đừng quên mái đình làng quê hương” (Hoài niệm đình làng). Ai cũng mong làng mình ngày càng đổi mới, phát triển nhưng cũng không thể không sẻ chia cùng tác giả: “Sao lòng riêng cứ băn khoăn/ Dấu tích làng xưa ngày mỗi vơi dần/ Cái làng Phọng nay còn đâu nữa/ Có chăng chỉ còn trong trí nhớ/ Như chuyện kể ngày xưa có một cái làng” (Làng tôi).

Chừng như thấy chưa đủ với những bài thơ lẻ về quê hương. Phần cuối tập thơ, ông “trình tấu” với bạn đọc hẳn “Mười khúc quê” cho thỏa. Và bạn đọc khó có thể không nao lòng trước cái tình quê trong ông: “Cả bốn mùa thu đông xuân hạ, khách sang sông trông cậy con đò, quán nước đầu làng, cây đa cổ thụ, chốn đợi nơi chờ; tan chợ mẹ về, con sung sướng đợi quà, bánh bèo, bánh đúc, bánh khúc, bánh đa, những cánh cò bay lả bay la, con diều giấy bồng bềnh trong gió”.

Với thơ, ta ít khi đọc liền mạch từ đầu đến cuối như văn xuôi, nhưng có thể Thao thức là một trong những ngoại lệ chăng, khi mà tác giả đã làm cho người đọc cùng thao thức, cùng cảm khái với mình về cõi thơ và cõi đời.

Xuất bản tập thơ đầu tay ở tuổi bát tuần, thế là chậm, nhưng chậm mà chắc, vì Thao thức ít nhiều cũng đã tạo được sự đồng cảm của bạn thơ và bạn đọc yêu thơ. Nghe đâu ông chỉ in tập thơ này là thôi. Nhưng tôi đồ rằng thế nào ông cũng phải ra tập thứ 2 rồi mới chịu buông bút nghỉ ngơi. Chỉ mong ông đừng có “Thao thức” nữa mà hại cho sức khỏe. Tôi trộm nghĩ tên tập thơ tiếp theo là “Hoài niệm” hoặc “Trăng và thơ” gì đó có thể hợp với ông chăng?

Tháng 6/2013


 

 
Đi tìm tác giả và ý nghĩa của những câu thơ


Đinh Quyền


Mới nghe có vẻ vô lý , bởi mỗi câu thơ dù đặt trong toàn bài hay trích dẫn, thì cũng ghi tên tác giả rất rõ ràng, dù viết bằng tiếng Việt hay dịch từ tiếng nước ngoài thì đọc lên mấy ai không hiểu mà phải “đi tìm “ cho tốn công, mệt sức. Thế nhưng trong thực tế không ít trường hợp, nhiều bài viết trên sách báo những năm gần đây lại xảy ra hiện tượng tác giả bị “râu ông nọ cắm cằm bà kia” hoặc do không tìm hiểu kỹ dẫn đến “ ông viết gà, bà dịch thành vịt ”. Dưới đây là một số ví dụ:

1. Câu: “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm/ Nhất sinh đề thủ bái mai hoa” được Cao Bá Quát (1808-1855) – người từng được tôn là thánh về văn thơ chữ nghĩa (thần Siêu, thánh Quát ), nhắc lại trong thơ ông. Thế là nhiều người lầm tưởng là của Cao Bá Quát. Thực ra câu này của quan tri phủ Hán Dương ( tỉnh Hà Bắc nước Tàu ) Ngải Tuấn Mỹ viết tặng quan phó sứ Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản (1823-1880) năm 1869. Về nghĩa câu thơ này, các bài viết thường dịch là: “Mười năm xuôi ngược , chu du để tìm thanh kiếm cổ / Một đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai thôi ”. Dịch thế, về ngôn từ có thể coi là sát nghĩa, nhưng về ý thơ xem ra có phần chưa ổn, và nếu chỉ có thế thì câu thơ trên sẽ không có gì đặc sắc đến mức cụ Cao phải tâm đắc nhắc lại. Tìm đọc lại  các tích trong thơ cổ và hoàn cảnh xuất xứ câu thơ, chúng tôi mới hay rằng ý nghĩa câu đó là: “Mười năm luận bàn về đạo giao du ( tức là đạo bằng hữu tri kỷ ) mới thấy khó như tìm thanh kiếm cổ / Một đời chỉ biết cúi đầu lạy trước bậc quân tử có khí tiết cao cả mà hoa mai là biểu tượng” . Đọc Nguyễn Trãi, ta cũng gặp câu có ý tương tự: “Xuân đến nào hoa chẳng tốt tươi / Yêu mi (mai) vì tiết sạch hơn người.”.

2. Câu: “Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch/ Lập thân tối hạ thị văn chương”. Nhiều người cho là của cụ Phan Bội Châu (1867-1940), ( vì có lẽ thấy cụ có nhắc lại đôi lần trong thơ mình) . Thực ra câu này là của nhà thơ Viên Mai (Trung Quốc). Câu thơ được dịch là: “Bữa bữa những mong ghi sử sách/Lập thân hèn nhát ấy văn chương”. Đọc lời dịch, người viết bài này cứ phân vân và đặt ra câu hỏi:” Cụ Phan , một bậc khoa bảng, “một nhà yêu nước vĩ đại” (chữ Bác Hồ dùng ), từng lấy văn thơ thức tỉnh lòng yêu nước của dân tộc , nhất là thế hệ trẻ, chả lẽ lại coi lập thân bằng văn chương là hèn nhát, khi cụ tâm đắc với câu thơ này? Tìm hiểu kỹ mới hay, hiểu câu thơ như trên là sai ý tác giả. Là bởi, người xưa quan niệm rằng, vào đời lập thân cần ba sự nghiệp: Một là lập đức, hai là lập công, ba là lập ngôn, trong đó lập ngôn ( bằng văn chương ) đứng ở vị trí sau cùng (tối hạ).Thế mới biết, đọc và hiểu văn chương là điều không dễ.

3. Câu: “ứcTrai tâm thượng quang Khuê tảo”. Lâu nay vẫn được dịch và hiểu là: “Tấm lòng Nguyễn Trãi sáng như sao Khuê.” Tìm lại nguồn gốc câu thơ này, chúng tôi thấy: Đó là câu thứ 3 trong bài “Minh quân lương thần ” của Lê Thánh Tông, viết dưới thể thất ngôn bát cú. Câu 3 và câu 4 nguyên văn là: ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo/ Vũ Mục hung trung liệt giáp binh.

Vậy câu thơ trên phải được hiểu là: Lòng Nguyễn Trãi rực sáng văn chương/ Bụng Lê Khôi chứa đầy võ lược. Ức Trai tức Nguyễn Trãi, Vũ Mục tức võ tướng Lê Khôi , Khuê tảo là tên một loại rong biển- biểu tượng của văn chương chứ không phải là sao Khuê.

4. Câu: “Anh đi, anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”. Lâu nay được coi là ca dao, từng được đưa vào dạy trong nhà trường trong phần ca dao tục ngữ. Nhưng thực ra là câu thơ trong bài “Anh Khóa” của Á Nam Trần Tuấn Khải (1895-1983) trong tập “Bút quan hoài”. Bài thơ như sau: Anh đi anh nhớ quê nhà/Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương/Nhớ ai dãi nắng dầm sương/Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

5. Câu: “Hỡi cô tát nước bên đàng/Sao cô  múc ánh trăng vàng đổ đi”. Cũng coi là ca dao, nhưng thực ra là của Bàng Bá Lân trong bài “Trăng quê”: Trời cao mây trắng, trăng tròn/ Dế than hiu quạnh, trăng buồn nỉ non/ Diều ai gọi gió ví von/ Cành xoan đùa ánh trăng suông dịu dàng/ Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

6. Câu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong” nhiều người lầm tưởng là của Bác Hồ. Một lần ở giữa hội nghị có vị cán bộ từng đứng lên nhắc mọi người: Bác Hồ đã dạy:  Dễ trăm lần không dân cũng chịu... Nhưng đó là câu thơ trong bài “Dân no thì lính cũng no” của nhà thơ Thanh Tịnh: Trông lên thì thấy đầy sao/ Nhìn lên thì thấy đồng bào mến thân/ Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong/ Thóc thuế mà có dân đong/ Trăm công nghìn việc ngược dòng cũng xuôi/Đêm nằm nghĩ lại mà coi/ Liệu còn thằng giặc đứng ngồi sao yên/ Nhân dân là bác, mẹ hiền/ Cơm gạo áo tiền thì mẹ phải lo/ Dân no thì lính cũng no/ Dân reo lập nghiệp, lính hò lập công.

Xin không bàn đến nghệ thuật thi ca, ở đây chỉ muốn đề cập đến sự nhầm lẫn tác giả của tác phẩm.

7. Về dịch giả, chỉ xin nêu một trường hợp nhầm lẫn. Đó là bài “Phong kiều dạ bạc” của tác giả Trương Kế. Bài thơ có 4 câu: Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên / Giang phong ngư hỏa đối sầu miên / Cô Tô thành ngoại Hàn San tự / Dạ bán quy lai đáo khách thuyền.

Bài thơ được dịch là: Trăng tà, tiếng quạ kêu sương / Bên sông ngư phủ sầu vương giấc Hồ/ Thuyền ai đậu bến Cô Tô / Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Bản dịch này là của dịch giả Nguyễn Hàm Ninh, nhưng lâu nay thường được coi là của nhà thơ Tản Đà. Đó cũng là sự nhầm lẫn đáng tiếc.

Nêu ra những sự nhầm lẫn trên, người viết bài này chỉ muốn gửi gắm ước vọng: Hãy trả lại những câu thơ về cho tác giả của nó, và  trả lại chính xác ý nghĩa những câu thơ theo nó vốn có. Chỉ vậy thôi, đã là may mắn lắm rồi ./.



 
Từ một công trình ngụy khoa học, lệch lạc về tư tưởng học thuật...


PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện


Công trình mà chúng tôi nói ở đầu bài, tức cái gọi là “Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn” thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam của Đỗ Thị Thoan gồm 116 trang vi tính khổ A4, hoàn thành tháng 11/2010 tại cơ sở đào tạo sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, sau đó ít lâu được phép đưa ra bảo vệ và đã “bảo vệ thành công” trước Hội đồng chấm luận văn do trường Đại học Sư phạm Hà Nội ra quyết định thành lập.

Thời gian cứ trôi qua, nhưng suốt gần 2 tháng nay, kể từ khi trên diễn đàn Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng và hiệu quả của lý luận, phê bình” do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 4 và 5/6/2013 tại thị trấn Tam Đảo (Vĩnh Phúc) khởi đầu đã có vài ba tiếng nói cảnh báo, phê phán hiện tượng ngụy khoa học này, thì đồng thời, liên tục trên các báo chuyên ngành, báo hàng ngày như Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Nhân dân, Quân đội nhân dân, Thanh tra, Vănvn.net, Văn nghệ… đã có những bài viết đối thoại, phân tích chỉ ra những sai trái, lệch lạc của Luận văn này (cùng 5 tiểu luận - phê bình thuộc dự án nghiên cứu, hoàn thành đầu năm 2012 mang tên Những tiếng nói ngầm ký tên Nhã Thuyên - bút danh khác của Đỗ Thị Thoan - mà nội dung của nó là sự thoát thai, kéo dài và tiếp tục phát triển những quan điểm, tư tưởng của cùng một tác giả khai mở từ công trình Luận văn).

Trong Hội thảo nói trên của Hội Nhà văn Việt Nam, chúng tôi đã có ý kiến rằng: “Trong cái mớ xô bồ lý thuyết từ Âu - Mỹ dội vào, ảnh hưởng vào nước ta, thì điểm nào, phương diện nào ta có thể tiếp nhận được, phù hợp để vận dụng soi vào thực tiễn văn học nghệ thuật nước ta, thuận với mặt bằng và sở trường tư duy sáng tạo, tiếp nhận ở ta. Nếu không sẽ bị lôi cuốn, mất đi sự tỉnh táo cần thiết, vồ vập xưng tụng chúng một cách thái quá, nóng vội vận dụng nó vào nghiên cứu phê bình, ắt sẽ không tránh khỏi sự khiên cưỡng, áp đặt, thiếu hiệu quả - nếu không muốn nói là rơi vào thói học đòi, theo đuôi người nước ngoài rồi tự đắc lấy làm sang(!)”(1).

Vì vậy, chúng tôi rất hoan nghênh và đồng tình với những tiếng nói thiện chí, có trách nhiệm, cảnh báo về sự nguy hiểm của công trình mang danh nghiên cứu khoa học được Hội đồng chấm Luận văn ngộ nhận đánh giá đạt xuất sắc, ở chỗ nó “nhân danh nghiên cứu để ca ngợi thứ thơ rác rưởi”, thực chất là “một luận văn sai lạc”, thể hiện “một góc nhìn phản văn hóa và phi chính trị”. Những luận điểm nền tảng mà tác giả Luận văn dựa vào là sự góp nhặt tùy tiện, hiểu thiếu chính xác và chưa được nghiên cứu tường minh, thấu đáo các lý thuyết triết học, mỹ học của chủ nghĩa hậu hiện đại và các luận thuyết thời thượng khác (như lý thuyết Trung tâm - Ngoại vi, phạm trù Cái bên lề, Cái khác, Sự giễu nhại và Mỹ học của cái tục, Samizdat - tức xuất bản và phát hành văn chương bí mật, không chính thức…) để soi chiếu vào những ấn phẩm gọi là thơ của nhóm Mở miệng vốn dĩ được xuất bản chui, lưu hành ngầm ở ta và ở nước ngoài từ đầu thế kỷ XXI, một cách không đàng hoàng nhằm “kích động sự phản kháng và chống đối” tư tưởng chính thống và thể chế chính trị hiện hành, cùng sự nghiệp đổi mới mà cả xã hội ta dày công vun đắp ngót 30 năm nay được những người có lương tri trên thế giới xem trọng.

Các bài báo nói trên cũng tách bạch rõ đâu là sai trái, lệch lạc, có dấu hiệu nguy hiểm cần phải dè chừng và biết dừng lại đối với tác giả Luận văn và tập tiểu luận; đâu là trách nhiệm liên đới của cơ sở đào tạo sau đại học là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội với Khoa Ngữ văn, nhà giáo hướng dẫn Luận văn, các nhà khoa học được mời vào Hội đồng chấm Luận văn đã không chút đắn đo thông qua và đánh giá cao “thành công” của Luận văn. Người ta không thể không đặt câu hỏi: Tại sao ở một trung tâm giáo dục và đào tạo đầu ngành Sư phạm ở giữa Thủ đô mà trong suốt quá trình đào tạo một học viên cao học từ lúc đăng ký lựa chọn đề tài, thông qua tên đề tài và cái khung đề cương thực hiện, phân công người hướng dẫn khoa học khi học viên viết Luận văn, rồi cho phép Luận văn được bảo vệ để nhận một sự đánh giá tối ưu của Hội đồng chấm Luận văn… - một quy trình đòi hỏi sự chặt chẽ, nghiêm túc về khoa học, sự kiểm tra giám sát của các cơ quan chuyên môn hữu quan và cán bộ phụ trách quản lý, hóa ra lại lỏng lẻo, dễ dãi và nể nang, châm chước nhau, gây nhiều sơ hở, bất cập đáng trách. Điều đó khiến cho một công trình ngụy khoa học của Đỗ Thị Thoan chứa đựng đầy rẫy những sai trái, lệch lạc về quan điểm tư tưởng học thuật và lộn xộn trong phương pháp nghiên cứu, lại lọt lưới, lẳng lặng vận hành đến đích suôn sẻ như vậy, đến mức tác giả của nó, ảo tưởng về sự cực đoan, thái quá, không chút e dè, cứ tiếp tục điềm nhiên truyền bá quan điểm, tư tưởng học thuật dị biệt và lạc lõng của mình trên diễn đàn mạng internet, trong dự kiến hoạt động thực tập hợp đồng giảng dạy tại nhà trường.

May thay, sự kiện hi hữu này đã bị phanh phui, phơi ra ánh sáng, khiến dư luận rộng rãi và giới  học đường không khỏi giật mình, sửng sốt!

Thực ra, như người đời từ lâu đã nhắc nhở: Có khi ngay ở dưới chân đèn cũng có thể có những khoảng tối và thời điểm tối; ngay ở trong một cơ thể vốn dĩ khỏe mạnh vẫn có thể có những điểm yếu chết người gọi là “gót chân Asin”!

Là người chuyên nghiên cứu về lý luận văn học và văn học Việt Nam hiện đại từ nhiều năm nay, đã và đang tham gia vào công tác đào tạo tiến sĩ và thạc sĩ ngành Ngữ văn tại một số cơ sở đào tạo sau đại học trong cả nước từ hơn hai mươi năm qua (giảng dạy, hướng dẫn hoặc chấm Luận văn Thạc sĩ, Luận án Tiến sĩ thuộc hai chuyên ngành nói trên), tôi xin phép được đề xuất một vài ý kiến để các cơ quan hữu quan và cá nhân nhà khoa học Ngữ văn lưu ý tham khảo, xem xét như sau:

1. Triển khai nghiên cứu các vấn đề của khoa học xã hội và nhân văn ở ta cần khảo sát kỹ lưỡng và thận trọng, tỉnh táo, bởi đây là lĩnh vực khoa học liên quan đến hệ tư tưởng, thể chế chính trị và thực tiễn lịch sử, đời sống xã hội đương đại. Những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo trên lĩnh vực khoa học này cần lựa chọn một chỗ đứng và lập trường khoa học đúng đắn, vững vàng, kiên trì hướng về lợi ích của nhân dân đông đảo, của dân tộc và đất nước, không thể vì bất cứ lý do gì để bị chi phối bởi lợi ích nhóm đối lập, làm phương hại đến sự ổn định và trật tự xã hội hiện hành, gây mất đoàn kết, phân tâm chia rẽ trong khối cộng đồng, khiến kẻ xấu, kẻ thù có thể lợi dụng.

Trong khoa học xã hội và nhân văn, có khi chỉ có thể nghiên cứu đối tượng trong độ lùi cần thiết của lịch sử, khi sự việc, hiện tượng đã an bài, xong xuôi, người nghiên cứu đã có đủ tư liệu chính xác để nhìn nhận thỏa đáng các khía cạnh của vấn đề. Đối với những hiện tượng, vấn đề đang diễn tiến, nếu cần nghiên cứu phải bình tĩnh, khách quan, nhạy cảm và trung thực, không thể hấp tấp chằm bặp nghiên cứu, nhân danh khoa học mà chủ quan, cực đoan, phiến diện, ngụy biện gây rối, hoặc kích động nhân tâm dao động, hướng tới sự bất an.

2. Việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu cùng với các dữ kiện nghiên cứu phải đáng tin cậy và hợp hiến, cùng với đó là phương pháp nghiên cứu khoa học, phù hợp, có sức thuyết phục, là rất quan trọng.

Theo tôi, sự lựa chọn của tác giả Đỗ Thị Thoan/ Nhã Thuyên nhằm đối tượng nghiên cứu - thơ của nhóm Mở miệng, là một việc làm khiên cưỡng, có ý đồ biện minh cho sự tồn tại của nhóm với những sản phẩm mà chính họ tự nhận gọi đó là “thơ dơ”, “thơ rác”, “thơ nghĩa địa” nhằm tôn vinh sự lệch chuẩn, chống đối lại thể chế và trật tự xã hội, bêu riếu những điều cao cả, thiêng liêng đối với toàn dân tộc.

Toàn bộ Phụ lục của Luận văn gồm danh mục các tác phẩm của Mở miệng cho thấy đây là những ấn phẩm của những người đứng ở phía bên lề đối lập với lợi ích của toàn xã hội. Cái gọi là tác phẩm của họ không dám xuất hiện một cách đàng hoàng, phải lén lút tự ấn hành, photocopy, tự xuất bản theo kiểu đối phó với sự kiểm duyệt của Nhà nước, gọi là kiểu xuất bản Samizdat (tr.108 - tr.110).

Đối tượng nghiên cứu như vậy rõ ràng là không đáp ứng các yêu cầu về phẩm chất và giá trị văn chương đích thực, không được thừa nhận hợp pháp và hợp hiến.

Từ đó, ta hiểu được vì sao việc nghiên cứu trước đó về nhóm này đã không bàn được về giá trị văn chương của cái gọi là thơ bộc phát từ nhóm Mở miệng, mà chỉ có thể đề cập đến những khía cạnh tác động xã hội của chúng (phê phán đó là “một nhánh kênh đen”, “thứ rác rưởi gọi là thơ” - như các bài đăng trên báo Công an TP Hồ Chí Minh năm 2005, 2006; hoặc ngược lại ca ngợi đó là “một dòng thơ mới có tính cách tân”, “một cuộc cách mạng thầm lặng trong văn học”, với “những kiệt tác của tự do” - như đa phần bài viết trên mạng talawas; tienve.org; damau.org đã thổi phồng!).

Tình hình nghiên cứu như vậy đã gây không ít trở ngại cho tác giả khi viết mục “Lịch sử vấn đề” ở chỗ: trong số 34 đơn vị Thư mục được tác giả kể ra trong Thư mục tham khảo nghiên cứu (Phần tiếng Việt), thì có đến 20 thư mục lấy từ các trang mạng trôi nổi như trên đã nói, 5 đơn vị thư mục khác là các tài liệu do cá nhân bạn bè quen biết cung cấp riêng cho tác giả. Chỉ còn 9 đơn vị thư mục gồm các bài viết, sách dịch, sách nghiên cứu đã xuất bản chính ngạch hoặc Luận văn, Luận án đã bảo vệ về thơ Việt Nam đương đại là có thể kiểm chứng khi tác giả Luận văn trích dẫn. Song đáng tiếc những thư mục này lại được Đỗ Thị Thoan đánh giá thấp, cho rằng đó là “những bài báo vô nghĩa”, những luận văn, luận án “dè dặt trong việc tiếp cận hay đánh giá” hoặc chí ít “mang tính chất điểm danh, nói theo, chỉ “làm phong phú thêm những màu sắc của bức tranh giả mạo” về thơ Việt Nam đương đại. (tr.16).

Duy nhất có Luận văn của Trần Ngọc Hiếu cũng được bảo vệ trước đó tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và các bài viết của cây bút này được Đỗ Thị Thoan đánh giá cao, rằng ở đó có “sự sâu sắc về tư duy”, có tầm “nhìn rộng ra sự khiêu khích và bản chất khiêu khích của những người viết văn với cây búa của Nietzche”, những kẻ nổi loạn, từ đó “đặt ra nhiều vấn đề có tính lý thuyết và cách thức tiếp cận thơ ca đương đại mà Mở miệng là một hiện tượng tiêu biểu” (tr.9).

Tác giả Đỗ Thị Thoan đã tỏ ra thiên lệch khi viết Lịch sử vấn đề, nghiêng về khai thác những đánh giá về Mở miệng đã đăng trên mạng nước ngoài vì đó là của những người “cùng hội cùng thuyền” - những kẻ bên lề như Mở miệng. Họ hoang tưởng rằng những cái gọi là thơ đó có khả năng “gây hấn” mạnh mẽ… “tạo thành một vùng năng động mà những nhà văn học sử và những nhà nghiên cứu văn hóa có thể coi như một nguồn dữ liệu quan trọng để thấy được tinh thần văn chương của một thời kỳ.” (tr.13)

Trình bày về đối tượng và lịch sử vấn đề nghiên cứu như vậy, theo tôi, khó có thể đảm bảo sự tin cậy, khách quan, khoa học, khó có thể kiểm chứng được!

Luận văn đã thiếu khách quan, công bằng khi thiên về bình tán những ý kiến lạc lõng khen thơ của nhóm Mở miệng (mà người ta biết rằng chúng được xuất phát từ những động cơ khác nhau, khó có thể nói về sự lành mạnh của văn hóa đọc). Về phía người viết, thì tác giả đặc biệt cổ súy cho Mở miệng, cho rằng thơ của họ là “hiện tượng văn chương không thuần văn bản” (tr.5), mà tất yếu dẫn đến hành động. Nói cách khác đó là “thực hành thơ” để can dự vào việc chống sự trung tâm hóa, chống lại sự ổn định xã hội và điều hành của Nhà nước, chống đối bằng đòi hỏi sự lên ngôi của cái bên lề, của cái khác, những dòng ngầm của tư tưởng cùng là sự thừa nhận xuất bản chui, không chịu dễ bề để nhà nước kiểm soát. Tóm lại là hòa cả làng, tôi cũng như anh, mọi sự bình đẳng, ngang bằng tuyệt đối một cách vô chính phủ (!).

Thử hỏi, viết “Lịch sử nghiên cứu vấn đề” của Luận văn với thiên kiến và mục đích chính trị đối lập, phản kháng đồng lõa với Mở miệng như vậy, thì đó có phải là khoa học và trung thực hay không?

3. Chính vì chọn lầm hay do sơ sảy lấy đối tượng nghiên cứu của Luận văn chuyên ngành Văn học Việt Nam nhằm vào loại thơ xuất bản chui, lén lút, không chính ngạch của nhóm Mở miệng và khi viết “Lịch sử vấn đề” chủ yếu dựa vào những ý kiến bức xúc một chiều xuất hiện trên các thông tin mạng trôi nổi thuộc diện ngoài luồng chính thống, thiên về xu hướng đối lập với chính thể Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nên tác giả Luận văn đã buộc phải né tránh, không viết các mục Lời cam đoan ở đầu Luận văn, tiểu mục xác định “Mục đích nghiên cứu và Những đóng góp mới của Luận văn” mà theo Quy định về thể thức trình bày và bố cục Luận văn cần thiết, bắt buộc phải có ở phần Mở đầu. Bởi, thật là quá khó và không có sức thuyết phục, nếu tác giả khẳng định đảm bảo về tính trung thực, hợp hiến và đáng tin cậy của nguồn dữ liệu nghiên cứu, khai thác từ cái mớ lộn xộn kiểu đồng nát, sắt vụn, tạp-phí-lù là thứ “thơ dơ, thơ rác, thơ nghĩa địa” xuất bản chui kia? Bởi, làm sao trình bày toát lên được mục đích cao đẹp, ý nghĩa văn hóa và nhân văn (dù nhan đề Luận văn có trương lên vế từ “từ góc nhìn văn hóa” đi nữa) của việc nghiên cứu trong một công trình khoa học về văn học, khi mà đối tượng nghiên cứu - oái oăm thay - lại là những sản phẩm phi văn chương, phản văn hóa, phản nhân văn, tha hóa, đội lốt văn chương nhằm thực hiện một ý đồ và tham vọng chính trị là công kích, nói xấu chế độ dân chủ hiện hành? Bởi, làm sao chỉ ra được những đóng góp mới của Luận văn hướng con người và văn chương vươn tới những mục tiêu cao cả của Chân - Thiện - Mỹ, khi Luận văn dường như chỉ là một tiếng nói a dua theo với Mở miệng và các thế lực bất mãn, ngầm chống đối chế độ (nhưng được tác giả Đỗ Thị Thoan khéo ẩn giấu dưới các mỹ từ là “chia sẻ và thúc đẩy để cùng tồn tại” (tr.107) nơi vị trí như bị bủa vây trong hộp đen của Mở miệng. Theo tác giả, họ đã bị đối xử bất công như một thứ “quái vật”, “một vật cấm” (tr.9), trong khi thực chất họ thực hiện “tính cách tân và tính cách mạng trong tư tưởng và nghệ thuật” (tr.17) ở chỗ dám “chối bỏ quyết liệt”, “lên tiếng đòi phá nốt những thành trì kiên cố của sự chuyên chế, khi niềm tin vào chế độ và sự tự do đang có đã tan rã” (tr.104). Lúc đầu tôi không muốn làm khó cho những dòng này trong Luận văn, nhưng cuối cùng vẫn phải viện dẫn ra đây, để độc giả không còn chút mơ hồ về sự đội lốt, giả danh thơ ca để đạt mục đích chính trị của Mở miệng và kiểu cổ võ, tán dương lập trường quá khích, “gây hấn” của nhóm này mà tác giả Luận văn muốn tiếp tục châm ngòi, giữ lửa?

Qua đây có thể thấy việc thiếu vắng trình bày những khoản mục cần thiết, bắt buộc đối với một Luận văn khoa học như trên đã nói, ít nhiều đã cho thấy ngọn ngành những khiếm khuyết, bất cập của Luận văn, chứ không thể “châm chước” như Hội đồng chấm Luận văn, xem đây là một Luận văn hoàn hảo đến mức không phải băn khoăn chấm điểm xếp vào hạng ưu (?).

4. Rút cục, cái gọi là Luận văn khoa học ấy đã bảo vệ “thành công sáng giá” cách đây hơn 2 năm và Hội đồng chấm Luận văn đã bỏ phiếu tán thành thông qua ở trình độ xuất sắc với điểm tuyệt đối để tác giả của nó được vinh danh với học vị Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam. Nhưng nay, khi có dịp nhìn lại một cách bình tĩnh theo các chuẩn mực khoa học, đã thấy Luận văn này ở một số phương diện bộc lộ sự đáng ngờ về mục đích nghiên cứu khoa học; có dấu hiệu lệch lạc về tư tưởng học thuật; giá trị khoa học và ý nghĩa văn hóa, nhân văn lại mỏng manh, vậy thì chúng ta phải ứng xử như thế nào?

Tôi thiết nghĩ, dù đây là trường hợp ít khi xảy ra, nhưng nếu Luận văn quả thật đó đây xuất hiện những dấu hiệu không thể xem thường, cho qua (ở đây, tuyệt nhiên không phải là cách nói đẩy sự việc quá lên mức nghiêm trọng, việc bé xé ra to) thì việc cần làm ngay là tiến hành phúc tra, thẩm định lại thực chất giá trị khoa học của Luận văn và kết quả đánh giá của Hội đồng chấm Luận văn do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội được thừa ủy quyền của Bộ Giáo dục và Đào tạo, lập ra.

Cấp có thẩm quyền tiến hành phúc tra, thẩm định lại kết quả đào tạo đã rồi, cần phải là cấp trên - cơ quan chủ quản của Trường cũng là cơ quan quản lý cấp Nhà nước về đào tạo, tức Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nên chăng quý Bộ chủ quản nói trên, theo đúng Quy chế quản lý khoa học và đào tạo sau đại học do Nhà nước ban hành, cần thành lập một Hội đồng tư vấn khoa học chấm phúc tra Luận văn của Đỗ Thị Thoan, để có căn cứ, kết luận rõ ràng về các phương diện cần xem xét, đánh giá lại Luận văn, đặc biệt là chất lượng khoa học của nó. ý kiến tư vấn của Hội đồng khoa học độc lập này sẽ được trình lên để lãnh đạo Bộ xem xét, quyết định: hoặc là vẫn bảo lưu kết quả điểm của Hội đồng chấm Luận văn mà Nhà trường đã báo cáo ngay sau khi học viên Đỗ Thị Thoan bảo vệ năm 2010, hay cần phải cân nhắc, xem xét lại sự đánh giá “hơi bị hào phóng” của Hội đồng ngày trước, do không hoàn toàn phản ánh, nhìn nhận đúng giá trị thực chất của Luận văn?

Lúc này, cần quán triệt tinh thần, nếu việc nào làm đã đúng thì sẽ tiếp tục khẳng định, việc nào nhìn lại thấy là chưa đúng thì cần phải sửa chữa công khai trước công luận, ngõ hầu đảm bảo sự nghiêm túc, chuẩn mực, giữ gìn kỷ cương phép nước trong đào tạo cán bộ ở diện trình độ sau đại học.

Đối với những cán bộ khoa học quý là chuyên gia của ngành giữ vai trò liên đới trách nhiệm (người hướng dẫn, Hội đồng chấm Luận văn, cơ quan quản lý khoa học và đào tạo của trường) cũng cần được nhìn nhận thấu đáo, có lý, có tình. Là cán bộ Nhà nước, chuyên gia khoa học có học hàm học vị cao hoặc là đảng viên, căn cứ vào Luật Công chức và theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) của Đảng, những người nói trên cần được đảm bảo phát huy dân chủ trong phê bình và tự phê bình, để ngày càng làm tốt hơn phận sự của mình trong khi thực thi công vụ vì dân, vì nước, vì tính chất tiên tiến và nhân văn của khoa học xã hội Việt Nam.

Rất mong thiển kiến của chúng tôi được trao đổi chân tình và dân chủ, xây dựng, đảm bảo cho từng người trong đội ngũ trí thức khoa học của đất nước, đề cao được tinh thần “thực sự cầu thị” để tiến bộ, tiến bộ mãi, đoàn kết gắn bó trên lĩnh vực nghiên cứu khoa học và đào tạo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ và đòi hỏi nghiêm túc của nghề nghiệp.(2)


Hà Nội, tháng 7/2013


(1) Tài liệu Hội nghị Lý luận - phê bình văn học lần thứ III in vi tính tháng 6/2013, sử dụng nội bộ của Hội Nhà văn Việt Nam, tr.248;

- Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam số 221 (tháng 6/2013), tr.12-13.

- “Hội nhập để nâng cao năng lực thẩm mỹ” (vanhocquenha.vn ngày 4/6/2013)

(2) Những trích dẫn kèm theo số trang trong bài này căn cứ vào Luận văn Thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan ký hiệu V-LA1/4784 lưu tại Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.


 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

 

Tạp chí Cửa Biển số 199,200 (1,2/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 198 (12/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)