Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 14 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Nghĩ về Nguyên Hồng


PGS.TS. Nguyễn Đức Thuận

(Trưởng Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Hải Phòng)


Nhà văn Nguyên Hồng

 

1. Nguyên Hồng là nhà văn mà cái Tâm đối với đời, với người, đã kết thành một thứ chủ nghĩa: chủ nghĩa nhân đạo thống thiết, thẳm sâu; một thứ chủ nghĩa nhân văn cao cả, thánh thiện.

Tiếng khóc bật ra và những dòng nước mắt chảy dài trên khuôn mặt lam lũ, khắc khổ của Nguyên Hồng là bắt nguồn từ tình thương vô hạn và nỗi đau thân phận con người đến tột cùng của nhà văn. Dường như Nguyên Hồng sinh ra trên đời này là để khiêng cáng cho nhẹ bớt đi cái nỗi khổ của con người, tát vơi đi nỗi đau, sự lầm than, cơ cực của con người. Nguyên Hồng nâng đỡ con người như một “lực sĩ” trên cả hai bình diện: Trong nội dung từng tác phẩm và trên tất cả khối lượng lớn các tác phẩm của nhà văn! Văn chương của Nguyên Hồng là thế. Và điều này đã được khẳng định!

2. Nhưng có một điều chúng ta thầm kính phục ông, là ở sức lao động nghệ thuật đến phi thường: viết và viết, đam mê viết, viết như một Hônôrê Đơ Bandac của Pháp với bộ Tấn trò đời, hay như một Lép Tônxtôi của Nga với bộ Chiến tranh và Hòa bình, hoặc như La Quán Trung của Trung Quốc với bộ Tam quốc diễn nghĩa vậy! Một ông “thợ cày” siêng năng trên cánh đồng chữ nghĩa mênh mông và trong tình yêu thương sâu sắc con người nơi trái tim. Nguyên Hồng đã để lại cho đời, tính từ khi bước “vào cửa văn xuôi”(1) năm 16 tuổi, đến khi giã từ cuộc sống ở tuổi 64, hàng vạn trang sách, với số lượng gần 40 tác phẩm, có đủ các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, thơ, kịch... trong đó có nhiều tác phẩm “có giá trị lâu dài cho nền văn học dân tộc”(2). Quả là đồ sộ thật! “Gớm ghê” thật!:  Công trình kể biết mấy mươi (Nguyễn Du – Truyện Kiều)

3. Cuộc sống lục đục, bất hạnh dẫn tới tổn thương tình cảm gia đình đã đưa mẹ con Nguyên Hồng từ thành phố dệt Nam Định ra với thành phố Cảng Hải Phòng. Từ nghèo khổ đến với lam lũ, nghèo khổ! Từ cuộc đời của một người bất hạnh, thiếu thốn tình thương, mồ côi từ năm 12 tuổi, kiếm tiền ăn học bằng những “nghề nhỏ mọn” nơi “vườn hoa, cổng chợ, bến tàu, bến ô tô, bãi đá bóng...bán báo, bán xôi chè...hoặc ăn mày, ăn cắp từng con cá, lá rau”(3), Nguyên Hồng đã đến ng với những người cùng khổ nhất ở thành thị: thợ thuyền, phu phen, những người buôn thúng bán bưng, những me tây, gái điếm, du côn, ăn cắp..., những người thuộc tầng lớp “dưới đáy” của xã hội, đến với những người lao động đói cơm, rách áo ở Hải Phòng những năm của “thời kỳ đen tối” trước cách mạng. Cuộc đời cần lao, lam lũ của những con người nơi đây cùng với nỗi đau riêng của thân phận đã thúc giục Nguyên Hồng cầm bút viết văn. Tiểu thuyết đầu tay “Bỉ vỏ” (1938) đã ra đời sau những ngày Nguyên Hồng lủi thủi đi hết từ bến cảng đến chợ Sắt, rồi mò đến Vườn hoa đưa người... để tìm việc làm; những ngày Nguyên Hồng ngồi viết trên chiếc bàn “trông ra những vũng nước đen ngầu bọt của một bãi đất lấp dở dang và một chuồng lợn ngập ngụa phân tro... trong một căn nhà lụp xụp cứ đến chập tối là ran lên muôn vàn tiếng muỗi”(4), những ngày mẹ con Nguyên Hồng đói và đói! Từ đây, Hải Phòng đã trở thành quê hương nghệ thuật của Nguyên Hồng. Sống gắn bó máu thịt với đất và người Hải Phòng, cũng như Nguyễn Đình Thi, Văn Cao..., Nguyên Hồng đã viết, viết say sưa, miệt mài, bằng cả tình yêu thương và trân trọng, bằng sự giác ngộ cách mạng, bằng cả niềm tin và lòng yêu đời của mình. Tác phẩm của Nguyên Hồng là bài ca về tình yêu thương và niềm tin yêu cuộc sống!

4. Tình yêu thương và niềm tin là ngọn lửa ấm nóng xuyên suốt chiều dài và thấm đẫm trong những tác phẩm của Nguyên Hồng. Đó chính là cái đã làm nên sức sống dài lâu của

các tác phẩm của nhà văn. Chất thơ từ những trang văn của Nguyên Hồng bật lên từ những đau khổ cùng cực của cuộc đời. Văn chương xưa nay và trước hết là câu chuyện của tấm lòng. Nhà văn Nguyên Hồng đi và viết. Sinh thời, ông lao động nghệ thuật một cách công phu, cần cù, tỉ mỉ và trân trọng, “mà nghệ thuật đúng là một sự lao động, nó kết hợp với đủ các thứ mà thứ nào cũng phải cật lực”(5). Bộ tiểu thuyết đồ sộ mang tính sử thi “Cửa biển” (1961-1976) là kết quả của quá trình lao động nghệ thuật miệt mài và sáng tạo của nhà văn, đã tái hiện lại sinh động một giai đoạn lịch sử trước cách mạng tháng Tám của mảnh đất và con người Hải Phòng nói riêng và đất nước nói chung.

Quê hương sinh thành Nam Định đã không cho ông một cuộc sống hạnh phúc, thì may sao Hải Phòng – quê hương nghệ thuật của Nguyên Hồng, đã để lại cho ông một sự nghiệp văn học lớn lao, sự nghiệp của một người đã gắn bó với con người và mảnh đất cửa biển này bằng một tình yêu sâu thẳm./.

--------------------

(1) Chữ của Nguyễn Tuân, Con người Nguyên Hồng, trong Tuyển tập Nguyên Hồng, tập 1, VH, 1983, tr 57

(2) Tuyển tập Nguyên Hồng, sđd tr 10

(3) Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu, VH, 1983

(4) Nguyên Hồng, Tựa “Tôi viết Bỉ vỏ”

5) Nguyễn Tuân, Con người Nguyên Hồng, trong Tuyển tập Nguyên Hồng, sđd, tr 60



 
Thúy Kiều nhớ ai ?

 

Vương Trọng (Hà Nội)


Ngày 25 tháng 10 năm 2013 tại Pari, UNESCO đã quyết định sẽ cùng Việt Nam kỷ niệm 250 năm ngày sinh của Đại thi hào Nguyễn Du vào năm 2015. Như vậy, Nguyễn Du trở thành “Danh nhân văn hóa thế giới” cùng với Nguyễn Trãi ( năm 1980), Hồ Chí Minh (1990). Đây không chỉ là tin vui, mà là niềm tự hào của mọi người dân Việt Nam, nhất là đối với những ai yêu mến Truyện Kiều và Nguyễn Du.

Hiểu cặn kẽ kiệt tác Truyện Kiều là điều không dễ. Hai trăm năm qua đã có biết bao cuộc tranh cãi, trao đổi…và xem ra việc đó chưa dừng ở hiện tại và tương lai. Nhân dịp này, chúng tôi giới thiệu bài trao đổi của nhà thơ Vương Trọng, ủy viên BCH Hội Kiều học Việt Nam khi nhà thơ Mai Văn Hoan không tán đồng cách hiểu của học giả Đào Duy Anh.


Trong tạp chí Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam tháng 7 năm 2013, có đăng bài viết “ Phải chăng cụ Đào Duy Anh có sự nhầm lẫn” của nhà thơ Mai Văn Hoan. Tác giả bài viết đặt vấn đề : “ Phải chăng vì sự “thiếu minh xác” trong ngôn ngữ Truyện Kiều mà cụ Đào Duy Anh đã có sự hiểu nhầm khi phân tích đoạn Nguyễn Du diễn tả tâm trạng nàng Kiều  trong thời gian chờ đợi Thúc Sinh”? Để chứng minh cụ Đào Duy Anh đã nhầm, Mai Văn Hoan phân tích đoạn thơ:

Nàng từ chiếc bóng song the

Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu

Bóng dâu đã xế ngang đầu

Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi

Tóc thề đã chấm ngang vai

Nào lời non nước, nào lời sắt son

Sắn bìm chút phận con con

Khuôn duyên biết có vuông tròn

cho chăng? (*)


Theo cụ Đào Duy Anh thì: “Sau khi Thúc Sinh về thăm quê, Thúy Kiều ở lại Lâm Tri một mình nàng cũng nhớ cha mẹ trước rồi mới nhớ đến tình nhân, vì bây giờ mối tình của nàng đối với Kim Trọng không có vẻ đau đớn như trước lúc mới ra đi nữa. Nhưng tình với Kim Trọng cũng khác hẳn tình đối với Thúc Sinh. Cho nên khi nhớ về Kim Trọng thì nghĩ lại lời thề ước mà khi nhớ về Thúc Sinh thì chỉ lo không biết cái duyên lẽ mọn của mình đối với chàng có được toàn vẹn hay không?” (Khảo luận về Kim Vân Kiều). Nhà thơ Mai Văn Hoan cho rằng cụ Đào Duy Anh đã nhầm vì ở đây Thúy Kiều không nhớ cha mẹ, không nhớ Kim Trọng…

Để dễ tiếp nhận đoạn thơ này, ta hãy trở lại xem nàng Kiều quan niệm như thế nào về chữ Hiếu và chữ Tình. Khi gặp cảnh gia biến, nàng đã cân nhắc: “Duyên hội ngộ, đức cù lao / Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn”? Và đã đi đến quyết định: “Để lời thệ hải minh sơn/ Làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Nghĩa là nàng đặt chữ Hiếu lên trên chữ Tình, một quyết định không hề dễ dàng. Đó không chỉ là ý nghĩ khi quyết định bán mình chuộc cha, mà là tình cảm của nàng trong suốt mười lăm năm lưu lạc, Hiếu và Tình luôn giằng xé trong trái tim nàng.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã  năm lần diễn tả nỗi cô đơn, buồn nhớ của Thúy Kiều tại năm thời điểm khác nhau trong mười lăm năm lưu lạc, mà đoạn thơ(*)  Mai Văn Hoan xem xét ý nghĩa chỉ là một trong năm đoạn đó.

Lần đầu tiên trên đường theo Mã Giám Sinh từ Bắc Kinh về Lâm Tri nàng đã nhớ:

Dặm khuya ngất tạnh, mù khơi

Thấy trăng mà thẹn những lời non sông

Rừng thu từng biếc xen hồng

Nghe chim như nhắc tấm lòng thân hôn

Thì nỗi nhớ nàng chia ra làm hai, một nửa nhớ chàng Kim, một nửa nhớ cha mẹ.

Lần thứ hai là trước lầu Ngưng Bích:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể chơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ

Sân Lai cách mấy nắng mưa

Có khi gốc tử đã vừa người ôm

Tình cảm chia đều bên tình bên hiếu, bốn câu nói nỗi nhớ chàng Kim, bốn câu sau nhớ về cha mẹ.

Lần thứ ba, trong lầu xanh Lâm Tri:

Nhớ ơn chín chữ cao sâu

Mỗi ngày một ngả bóng dâu tà tà

Dặm ngàn nước thẳm non xa

Nghĩ đâu thân phận con ra thế này

Sân hòe đôi chút thơ ngây

Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình

Nhớ lời thề nguyện ba sinh

Xa xôi ai có thấu tình chăng ai

Khi về hỏi liễu Chương Đài

Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay

Tình sâu mong trả nghĩa dày

Hoa kia đã chắp cành này cho chưa…


Thì sáu câu nói nỗi nhớ cha mẹ, sáu câu nói nỗi nhớ chàng Kim. Khi mối tình mới chỉ có với chàng Kim, thì nỗi nhớ của nàng thường chia ra hai nửa, một nửa dành cho cha mẹ, một nửa dành cho chàng Kim. Do hoàn cảnh đưa đẩy phải chia ly với người tình cũ, đến với người tình mới, khi cô đơn buồn nhớ, nhớ người tình mới đã đành nhưng nàng không hề quên người tình cũ và không nguôi nỗi nhớ mẹ cha.

Theo thứ tự thời gian, đoạn buồn nhớ của Thúy Kiều(*) là lần thứ 4 được tác giả mô tả. Còn lần thứ 5, là nỗi nhớ của nàng khi ở nhà chờ Từ Hải đi đánh trận:

Đoái trông muôn dặm tử phần

Hồn quê theo ngọn mây tần xa xa

Xót thay huyện cỗi, xuân già

Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi

Chốc đà mười mấy năm trời

Còn ra khi đã da mồi tóc sương

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng

Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng

Duyên em dầu nối chỉ hồng

May ra khi đã tay bồng tay mang

Tấc lòng cố quốc tha hương

Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời

Cánh hồng bay bổng tuyệt vời

Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm”


Thì 6 câu đầu nói về nỗi nhớ cha mẹ, những câu tiếp nói nỗi nhớ Thúc Sinh, Kim Trọng, Từ Hải và nhớ quê. Như vậy, trong bốn lần mô tả sự cô đơn thương nhớ của Thúy Kiều, dù đoạn thơ dài ngắn khác nhau ( 4 đến 12 câu), dù khi nàng chỉ mới có một mối tình với Kim Trọng hay đã qua Thúc Sinh, đến với Từ Hải…không bao giờ tác giả quên nói nỗi lòng nhớ cha mẹ của nàng. Chứng tỏ với Thúy Kiều, nỗi nhớ cha mẹ thường trực trên bước đường lưu lạc.

Trở lại đoạn thơ (*) chúng ta đang khảo sát, đó là nỗi nhớ của Thúy Kiều ở Lâm Tri khi xa Thúc Sinh mà chính nhà thơ Mai Văn Hoan đã trích dẫn.

Nguyễn Du nhất quán trong việc tả tâm trạng và nỗi nhớ của Thúy Kiều trong bước đường lưu lạc, không bao giờ tách Tình ra khỏi Hiếu, dù thứ tự có thể khác nhau, nhưng bao giờ cũng tồn tại với nhau. Với nhận thức như vậy, dù chưa phân tích đoạn thơ này, từ bốn đoạn thơ trên kia, ta tin trong lần nhớ này, chữ Hiếu không vắng bóng, nghĩa là Thúy Kiều có nhớ cha mẹ, cùng nỗi nhớ những người tình, lúc này là Kim Trọng và Thúc Sinh. Nhà thơ Mai Văn Hoan đã phân tích khá dài để đưa đến kết luận rằng “Bóng dâu đã xế ngang đầu / Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi” là Thúy Kiều nghĩ về bản thân mình: “… Nguyễn Du dùng hình ảnh “bóng dâu tà tà” để nói về tuổi đời của cha mẹ nàng. “Bóng dâu tà tà” là khi mặt trời sắp lặn, là chặng cuối  của đời người. Nói như dân gian: Hai ông bà đã đến cái tuổi “gần đất, xa trời” rồi. “Nhớ ơn chín chữ cao sâu” và “Nghĩ đâu thân phận con ra thế này” khẳng định rõ ràng “chủ từ” của “Một ngày một ngả bóng dâu tà tà”. Còn việc xác định “chủ từ” cho “Bóng dâu đã xế ngang đầu” khó khăn hơn nhiều, vì không hề có chi tiết nào phụ thêm để có thể bấu víu. Đây là cách nói “thiếu minh xác” cần phải giải mã. “Bóng dâu đã xế ngang đầu” khác với “Một ngày một ngả bóng dâu tà tà”. “Bóng dâu đã xế ngang đầu” chỉ khoảng thời gian quá giờ Ngọ (hơn 12 giờ trưa), nghĩa là đã hơn một nửa đời người. Mà như thế thì không phù hợp với tuổi tác của cha mẹ nàng Kiều chút nào. Năm, sáu năm về trước (khi Kiều đang ở lầu xanh của mụ Tú Bà) họ đã về già, bây giờ chẳng lẽ ông bà trẻ lại? Thi hào Nguyễn Du không bao giờ làm chuyện ngược đời như vậy. Từ đó ta có thể suy ra: ở đây có thể là Kiều đang nghĩ về cuộc đời ngắn ngủi của chính mình. Sau bao nhiêu năm chìm nổi, lênh đênh, lưu lạc… lúc này Kiều tưởng như mình đã sống quá nửa cuộc đời. Bước qua tuổi 20 với những phụ nữ ngày xưa phần lớn đã êm ấm gia đình. Có người đã sinh hạ ba, bốn đứa con. Còn nàng thì vẫn chưa được yên thân: “Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi?”. Nàng hết sức lo lắng cho chính bản thân mình, nhất là khi đang phấp phỏng chờ đợi Thúc Sinh. Mặc dù đã phó thác đời mình cho chàng Thúc nhưng Kiều vẫn cảm thấy bấp bênh”.

Nhà thơ Mai Văn Hoan đã chính xác khi nói rằng “ Nguyễn Du dùng hình ảnh “bóng dâu tà tà” để nói về tuổi tác của cha mẹ nàng Kiều”, nhưng lại quá máy móc để phân tích “Bóng dâu đã xế ngang đầu” chỉ khoảng thời gian quá giờ Ngọ ( hơn 12 giờ trưa)! Sự thật, “bóng dâu tà tà” hay “bóng dâu đã xế ngang đầu” chỉ cùng một ý, cùng nói rằng cha mẹ đã “xế bóng”, đã già rồi chứ không hề “định lượng” sự hơn kém về độ già giữa hai hình ảnh ấy. Vì Mai Văn Hoan muốn kéo hình ảnh thứ hai về cho hợp với Thúy Kiều (theo ông), nên ông mới định lượng là mới “quá ngọ”, chứ thực ra, trong câu chữ của Nguyễn Du không hề có nội dung ấy. Cái nhầm của Mai Văn Hoan bắt đầu từ chỗ này, nên nghĩ “Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi” là nàng Kiều nói về mình. Sự thật, khá dễ hiểu, Thúy Kiều lo nghĩ về cha mẹ nơi xa không biết sinh sống, ăn uống ra sao?

Và hai câu tiếp: “Tóc thề đã chấm ngang vai / Nào lời non nước, nào lời sắt son”. Mai Văn Hoan cũng cho rằng đó là Thúy Kiều nhớ Thúc Sinh, chứ không phải nhớ Kim Trọng. Ông viết: “Nguyễn Du đã “nhập thân” vào nàng Kiều một cách hết sức tài tình. Lúc này bóng hình Thúc Kỳ Tâm hầu như choán hết tâm trí của nàng: “Đêm thu gió lọt song đào/ Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời” (“ba sao” là ba chấm cùng với nét cong của nửa vành trăng khuyết kết thành chữ Tâm). Vậy nàng Kiều còn lòng dạ nào để nghĩ đến người khác lúc này nữa”?

Đúng là Kiều có nhớ nhiều về Thúc Sinh, nhưng kết luận rằng chỉ nhớ Thúc Sinh thôi mà không còn lòng dạ nào để nhớ đến người khác nữa, xem ra không ổn. Chúng ta đọc lại lần Thúy Kiều nhớ khi phải xa Từ Hải xem! Rõ ràng là Từ Hải đã cứu vớt Thúy Kiều ra khỏi vũng lầy lầu xanh, Thúc Sinh cũng từng làm thế, nhưng về sau đầu hàng máu ghen của Hoạn Thư, đã dứt tình với Thúy Kiều khi tuyên bố: “ái ân ta có ngần này mà thôi”, thế mà khi đợi Từ Hải, Thúy Kiều vẫn nhớ về chàng Thúc: “Tiếc thay chút nghĩa cũ càng/ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”, thì sao có thể kết luận được khi ở Lâm Tri xa Thúc Sinh, Thúy Kiều chỉ nhớ Thúc Sinh mà không nhớ Kim Trọng?

Ngẫm lại những “nỗi nhớ” của Thúy Kiều trong mười năm lăm lưu lạc, ta thấy nàng là người “tình nặng, nghĩa dày”, không những có Tình không bao giờ quên Hiếu, mà mối tình nào cũng sâu nặng, không hề lãng quên mối tình trước khi hoàn cảnh đã dun dủi nàng tới mối tình sau. Hình như nhà thơ Mai Văn Hoan đã không lưu ý điều này nên đã hiểu lệch nỗi nhớ của nàng khi xa Thúc Sinh ở Lâm Tri, rồi tưởng học giả Đào Duy Anh đã nhầm lẫn, thực ra sự nhầm lẫn thuộc về chính Mai Văn Hoan!

Có vài ý nữa cũng muốn được trao đổi với Mai Văn Hoan. Thứ nhất, ông viết: “Năm, sáu năm về trước ( khi Kiều đang ở lầu xanh với Tú Bà)  họ đã về già, bây giờ chẳng lẽ ông bà trẻ lại”? ở trên kia tôi đã nói rằng “bóng dâu tà tà” hay “bóng dâu đã xế ngang đầu” chỉ cùng một ý bố mẹ đã ngả bóng chiều, đã già mà không nói cụ thể già đến mức nào. ở đây tôi muốn lưu ý rằng, Mai Văn Hoan bảo “năm, sáu năm về trước…”, nghĩa là ông cho rằng khoảng cách giữa hai lần nhớ (3) và (4) là năm hoặc sau năm. Điều này không có căn cứ. Tôi đã bỏ khá nhiều thời gian để giải bài toán “Thời gian trong Truyện Kiều”, cố xem một cách cụ thể trong 15 năm lưu lạc ấy, Thúy Kiều đã ở với ai, ở đâu…bao nhiêu thời gian, nhưng cuối cùng đành bó tay vì…không đủ giả thiết! Cụ thể không làm sao để biết được Thúy Kiều ở lầu xanh Lâm Tri trong bao lâu? Ta chỉ biết rằng sau khi Thúc Sinh hoàn lương Thúy Kiều, họ sống với nhau một năm thì Thúc Sinh về Vô Tích ở với Hoạn Thư một năm. Nỗi nhớ (3) của Thúy Kiều là khi ở lầu xanh, nhưng ta cũng không biết ở quãng đầu, giữa, hay cuối thời kỳ này. Còn nỗi nhớ (4) thì cuối thời kỳ chờ đợi Thúc Sinh, tức là cách ngày nàng rời lầu xanh chừng hai năm. Như vậy, ta chỉ kết luận được khoảng cách giữa nỗi nhớ (3) và (4) là “nhiều hơn hai năm” mà thôi! Thứ hai, trong bài viết của mình, ông tỏ ra đồng tình với Đoàn Phú Tứ khi nhận định “cách viết thiếu minh xác” của Nguyễn Du trong Truyện Kiều dẫn đến khó hiểu, làm như “thiếu minh xác” là một đặc điểm của ngôn ngữ Truyện Kiều. Nếu điều ấy đúng thì tin chắc Truyện Kiều không thể là tuyệt tác và Nguyễn Du khó thành Đại thi hào được UNESCO tôn vinh “Danh nhân Văn hóa thế giới” trong dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh vào năm 2015 sắp tới!.. Thơ khác với văn xuôi là không phải khi nào một câu cũng có đủ các thành phần, và nhiều khi tác giả sử dụng chủ ngữ ẩn. Nhưng nói chung, ngôn ngữ Truyện Kiều khá trong sáng. Tuy thơ cổ điển thường dùng nhiều điển tích, nhưng ngay trong trường hợp này, Nguyễn Du vẫn sử dụng một cách “thông thoáng” làm cho bạn đọc khá dễ tiếp nhận. Một điều đáng chú ý là trong Truyện Kiều tác giả dùng nhiều thủ pháp hoán dụ, mà nội dung của nó rút từ điển tích, cổ thi… khá quen thuộc trong thơ cổ điển buộc người đọc phải nắm bắt điều đó mới hiểu được nội dung của câu thơ.  Ví như “tử”, “phần” là nói về quê hương, “mây tần” là nói nỗi nhớ quê, “bóng dâu tà tà” hay “bóng dâu đã xế” nói tuổi già cha mẹ… Cũng tương tự, khi Kim Kiều thề bồi : “Tóc mây một món dao vàng chia đôi” thì “tóc thề” đã trở thành biểu tượng cho mối tình Kim Kiều mà không thể nhầm sang mối tình khác. Cách diễn đạt trong những câu thơ như vậy không hề “thiếu minh xác” chút nào!

Tháng 11- 2013



 
Câu lục lệch chuẩn trong “Truyện Kiều”


Cùng là thơ lục bát, nhưng có bài nghe êm dịu, có bài lại trúc trắc, khó đọc. Nguyên nhân ngoài vần ra, còn do điệu, tức là thanh trắc và thanh bằng của các chữ trong câu quyết định điều đó. Chúng ta biết rằng, với một câu thơ lục bát chuẩn thì chữ thứ 2 của câu lục cũng như của câu bát phải là thanh bằng, chữ thứ tư của mỗi câu phải là thanh trắc(*). Trong 1627 câu bát của “Truyện Kiều”, câu nào cũng chuẩn, nghĩa là mọi câu đều có chữ thứ hai thanh bằng, chữ thứ tư thanh trắc. Nhưng trong 1627 câu lục thì không như thế, nghĩa là có một số câu có chữ thứ hai thanh trắc, hoặc chữ thứ tư thanh bằng. Ta tạm gọi những câu lục như vậy là câu lục lệch chuẩn. Trước hết ta hãy thống kê những câu lục ấy:

- Mai cốt cách, tuyết tinh thần

- Đau đớn thay phận đàn bà

- Nền phú hậu, bậc tài danh

- Người quốc sắc, kẻ thiên tài

- Khi tựa gối, khi cúi đầu

- Người nách thước, kẻ tay đao

- Đồ tế nhuyễn, của riêng tây

- Duyên hội ngộ, đức cù lao

- Nước vỏ lựu, máu mào gà

- Tin nhạn vẩn, lá thư bài

- Khi khóe hạnh, khi nét ngài

- Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

- Khi gió gác, khi trăng sân

- Khi hương sớm, khi trà trưa

- Khi chè chén, khi thuốc thang

- Sao chẳng biết ý tứ gì

- Có cổ thụ, có sơn hồ

- Khi Vô Tích, khi Lâm Tri

- Mụ quản gia, vãi Giác Duyên

- Hết nạn nọ, đến nạn kia

- Hại một người, cứu muôn người

- Người một nơi, hỏi một nơi

- Người yểu điệu, kẻ văn chương

- Tưởng bây giờ là bao giờ

- Thêm nến giá, nối hương bình

- Khi chén rượu, khi cuộc cờ

Như vậy, ta tính được 26 câu lục lệch chuẩn, chiếm tỷ lệ chưa đến 1,6% tổng số câu lục. Trong 26 câu này thì có đến 21 câu có chữ thứ hai mang thanh trắc, và chỉ 7 câu có chữ thứ tư mang thanh bằng. Với những câu lục bát chuẩn, khi không thất vận, bao giờ nghe cũng êm tai; ngược lại với trắc bằng lệch chuẩn, ngay cả khi chuẩn vần, thường trúc trắc, khó đọc. Thế nhưng khi đọc “Truyện Kiều”, không câu nào ta có cảm giác trúc trắc, ngang ngang, ngay cả những câu lục lệch chuẩn. Nguyên nhân vì sao?

Ta biết rằng thơ lục bát thường ngắt nhịp từng cặp hai chữ một:

Trăm năm/ trong cõi/ người ta (2/2/2)

Chữ tài/ chữ mệnh/ khéo là/ ghét nhau (2/2/2/2)

Phần lớn những câu lục bát trong “Truyện Kiều” cũng được ngắt nhịp như vậy. Thế nhưng ở 26 câu lục lệch chuẩn trên kia, không câu nào Nguyễn Du ngắt theo nhịp 2/2/2 quen thuộc, mà ngắt theo nhịp 3/3. Như vậy , chính nhịp 3/3 trong câu lục có sức mạnh làm tiêu tan sự trúc trắc, cho phép một câu lục lệch chuẩn làm thành viên một cặp lục bát êm dịu, mượt mà. Phải chăng đây cũng là một “bí quyết” mà những người làm thơ lục bát chúng ta cần tham khảo?

Đọc lại 26 câu lục trên kia, ta thấy rằng, chúng không chỉ được ngắt theo nhịp 3/3; mà chỉ trừ ba câu: Đau đớn thay phận đàn bà, Sao chẳng biết ý tứ gì, Người một nơi, hỏi một nơi, còn 23 câu lục còn lại, mỗi câu được chia ra hai phần, tạo thành một cặp tiểu đối 3-3 hoàn chỉnh, và khi đó đọc lên nghe thuận tai hơn ba câu trên kia dù ngắt nhịp 3/3 nhưng không tạo thành tiểu đối.

Như trên đã nói, lục bát chuẩn thường có âm điệu du dương, lên bổng xuống trầm theo quy luật. Tuy nhiên nó cũng có “tác dụng phụ” là dẫn đến sự đơn điệu, nhất là đối với những bài thơ dài hay những truyện thơ hàng ngàn câu. Có đôi khi những câu lệch chuẩn giống như con ngựa bất kham dễ quật ngã những nài ngựa trình độ hạn chế, nhưng với những nài ngựa giỏi thì tìm được cái hay ở chúng. Với “đàn ngựa ngôn ngữ” thì Nguyễn Du là nài ngựa kỳ tài, có phép riêng để sử dụng những con ngựa lệch chuẩn, để cho lục bát trong “Truyện Kiều” giàu âm điệu, tiết tấu, tránh được sự đơn điệu thường tình.

Cũng cần lưu ý rằng, khi không thể ngắt nhịp 3/3 thì đại thi hào tìm cách hoán vị các từ, chứ không chịu để cho câu lục lệch chuẩn xuất hiện. Ví dụ như khi nói về Hoạn Thư:

ở ăn thì nết cũng hay

Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.

Trong ngôn ngữ tiếng Việt, chúng ta thường nói nết ăn ở, chứ không mấy khi nói ở ăn. Nguyễn Du thừa biết điều ấy, nhưng nếu dùng ăn ở thì chữ thứ hai câu lục mang thanh trắc: Ăn ở thì nết cũng hay, không thể ngắt theo nhịp 3/3, thế là “con ngựa bất kham” này không có “chiêu ngắt nhịp” để trị, không thể dùng được, nên đành phải hoán vị hai chữ đầu câu để đưa nó về một câu lục chuẩn.

Để giúp các bạn dễ nhớ 26 câu lục trên, tôi ghép chúng lại trong một bài lục bát như sau:

Mai cốt cách, tuyết tinh thần

Mỗi người một vẻ, phong trần khác xa

Đau đớn thay phận đàn bà

Sống làm vợ khắp người ta, tội tình

Nền phú hậu, bậc tài danh

Tình đầu ngắn ngủi sau dành phần ai

Người quốc sắc, kẻ thiên tài

Vô duyên, chỉ để vắn dài dòng châu

Khi tựa gối, khi cúi đầu

Bên nhau ai biết về sau thế nào

Người nách thước, kẻ tay đao

Đầu trâu mặt ngựa ào ào đến ngay

Đồ tế nhuyễn, của riêng tây

Chắt chiu bao thuở, một ngày sạch lau

Duyên hội ngộ, đức cù lao

Nhẹ tình, nặng hiếu lòng đau biệt nhà

Nước vỏ lựu, máu mào gà

Tính toan của Mã nghe mà sởn gai

Tin nhạn vẩn, lá thư bài

Khi khoé hạnh, khi nét ngài, mà kinh!

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

Giật mình mình lại thương mình, chiếc thân

Khi gió gác, khi trăng sân

Bầu tiên  chuốc rượu, câu thần nối thơ

Khi hương sớm, khi trà trưa

Bàn vây điểm nước, vần thơ họa đàn

Khi chè chén, khi thuốc thang

Không hay địa ngục, thiên đàng là chi

Sao chẳng biết ý tứ gì

Cho chàng buồn bã tội vì Hoa Nô

Có cổ thụ, có sơn hồ

Đêm Quan Âm Các lần mò trốn đi

Khi Vô Tích, khi Lâm Tri

Thương thay thân gái chuyển di bao miền

Mụ quản gia, vãi Giác Duyên

Mấy lần gặp gỡ, mấy phen chia lìa

Hết nạn nọ, đến nạn kia

Biết bao giờ mới yên bề thảnh thơi?

Hại một người, cứu muôn người

Người một nơi, hỏi một nơi, lầm đường

Người yểu điệu, kẻ văn chương

Đoàn viên một cuộc tình thương vô bờ

Khi chén rượu, khi cuộc cờ

Tưởng bây giờ là bao giờ, nét xinh

Thêm nến giá, nối hương bình

Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan…

Dùng bao câu chữ làng nhàng

Chỉ mong chuyên chở hạt vàng văn chương!

V.T


(*) Trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du không sử dụng thể lục bát gieo vần ở chữ thứ tư câu bát, nên ở đây không bàn về thể  thơ đó.


 
Đảng trong thơ Nguyễn Viết Lãm


Cao Năm


Nguyễn Viết Lãm tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ do Đảng  lãnh đạo từ năm mười bảy, mười tám tuổi, khi ông đang học trường Quốc học Quy Nhơn (1936-1939). Khi đang dạy học ở thị xã Quảng Ngãi, Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông tham gia cướp chính quyền ở thị xã, rồi đi theo cách mạng, được Đảng giao nhiều trọng trách về văn hóa, văn nghệ miền Nam Trung bộ, Liên khu 5 và là Hội trưởng đầu tiên của Hội Văn nghệ tỉnh Quảng Ngãi. Sau hòa bình lập lại (1954) tập kết ra Bắc, Nguyễn Viết Lãm là Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, làm Chánh Văn phòng. Năm 1962 ông được tăng cường về Hải Phòng, tham gia thành lập Chi hội Văn nghệ thành phố năm 1964 (nay là Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật), làm Phó Thư ký rồi Thư ký Chi hội cho đến khi về hưu (1980).

Trích ngang đôi dòng lý lịch để bạn đọc thấy Nguyễn Viết Lãm là người sớm giác ngộ cách mạng, một lòng kiên định, thủy chung như nhất. Khác với nhiều nhà thơ cùng lứa, Nguyễn Viết Lãm dường như không có sự chập chững dò đường nhận lối. Được giác ngộ cách mạng, mà người ảnh hưởng đến ông nhiều nhất là Nguyễn Minh Vỹ. Trong bài thơ “Chân trời” , ông đã đề “Tặng anh Nguyễn Minh Vỹ” (sau này là Phó Trưởng ban Tuyên huấn trung ương). Trong lòng chàng trai xứ Quảng như reo lên: Ta thấy kia rồi/Chân mây hồng ánh dương soi/Cờ Đảng vẫy ta đi/Ai ngăn được lòng ta lên tới đỉnh. Là bài thơ đầu tiên viết về Đảng nên không tránh khỏi cảm xúc dâng trào có phần thái quá, lời dài, tới 48 câu, tứ thơ dàn trải, ít cô đọng. Thơ viết theo lối tự do, khá hồn nhiên, đôi khi cảm giác như tác giả để mặc cảm xúc “tung hoành”:  Núi sẽ đứng lên/ triệt lũ sông Hồng, theo ta làm biển lớn. Nhưng nếu nhìn vào năm ra đời bài thơ 1956, là cái năm đầy phức tạp, cả ở trong nước và nước ngoài, mới thấy tấm lòng chung thủy và tình cảm của nhà thơ sâu đậm đến mức nào. Và đấy là điều người đọc hôm nay dễ cảm thông với ông, cũng như bao người làm thơ khác, viết về Đảng trong những năm tháng ấy.

Mười năm sau, nhân Đại hội IV của Đảng  1976 ông có bài thơ “Ân tình” sâu lắng và hàm súc. Nhà thơ như hóa thân vào dòng sông, cây trái, đất trời mà cảm nhận, lắng nghe sự luân hồi của vạn vật một khi được tiếp nhận luồng sinh khí tưởng như vô hình mà lại hữu hình và gần gũi như thứ “ánh sáng ân tình trời đất trao cho!”. Bài thơ được mở đầu bằng sự cảm nhận của tác giả, và cũng là của muôn người: Ta đi trên sông/Nghe thuyền nói biết ơn dòng nước. Rồi cứ thế, nhà thơ như thủ thỉ chuyện trò với người thân về những thứ mà hôm nay được nhìn, được nghe, được thấy, nhưng lại không phải bằng trực giác, mà bằng cảm giác thông qua những thứ tưởng như nhìn thấy, nhưng lại chẳng nhìn thấy gì: Những trưa hè nắng gắt/ Nghe con đường nói biết ơn cây/ Nghe đồng cát biết ơn bóng mây/ Thấy nắng xuân nhớ mùa chim én/ Nghe trái đất biết ơn khí quyển/ Cho trời xanh năm tháng cứ xanh thêm. Thơ mang tính triết lý mà vẫn gợi liên tưởng vời xa. Cũng viết về Đảng, nhưng từ bài “Chân trời” (1956), đến bài “Ân tình” (1976), nhà thơ đã có bước chuyển dài trong nhận thức, từ chỗ bày tỏ niềm hân hoan vui sướng được đến với Đảng: Hôm nay lại dắt tay nhau/ ta nhằm hướng chân trời/ Ta lại khởi hành/ khi trên đầu hiện ánh sao mai, thơ Nguyễn Viết Lãm đã chuyển sang suy ngẫm, đậm chất triết lý về mối quan hệ giữa Đảng với dân keo sơn gắn bó như trái đất cần khí quyển để sinh tồn vậy. Nhà thơ không tức sự nữa, mà đã truyền cảm xúc, suy nghĩ của mình về Đảng sang người đọc; nói cách khác, là trong hai mươi năm, ta thấy Nguyễn Viết Lãm đã từ lối thơ “hướng ngoại” kể lể, sang thơ “hướng nội” đậm chất suy tư, liên tưởng. Tuy vẫn là mạch thơ triết lý, nhưng gặp những câu này thì người đọc thấy rõ chất trữ tình quyện vào triết lý, tạo được sự truyền cảm lắng sâu trong người đọc: Sông núi bốn nghìn năm, dân tộc nghĩa tình/ Đến ngọn cỏ cũng mang hồn tri giác/ Huống chi lòng ta, đâu phải trăng lạnh ngắt/ Mà quên ánh sáng ân tình trời đất đã trao cho. Nhà thơ triết lý về sự hình thành và tái tạo, về quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân thật tự nhiên, hàm súc và tinh tế: Đảng về với nhân dân bước bước chông gai/ Đường vạn lý đâu chỉ có hoa hồng và tiếng hát/ Mà nặng trĩu xiềng gông, tối tăm ngục thất/ Từ buổi thương đời mặc áo vá vai/ Giữa giá rét triền miên, quạnh quẽ đường dài/ Bỗng nồng ấm yêu thương hai tiếng thiêng liêng: đồng chí!. Đúng là còn gì bằng tình người, tình đồng chí, đồng bào nên dẫu “giá rét triền miên, đường dài quạnh quẽ” thế, chứ nữa, một khi đã có ngọn lửa tình người thì mọi gian khó đều có thể vượt qua. Thơ như nói thay bao người về niềm tin và ý chí vượt lên phía trước, làm điều tốt lành, giống như hóa thân thành ngôi sao nhỏ: Xin gắng làm ngôi sao nhỏ pun-xa/ Mà tỷ trọng triệu lần hơn kích thước/ Đảng cho ta những tầm cao mơ ước/ Theo Đảng ta đi mở cửa những chân trời. Chân trời, hay chân-thiện-mỹ, niềm khát vọng của con người bao đời nay, thì cũng thế.

Tôi có ý dừng lâu ở bài “Ân tình” bởi đây là bài thơ khá đặc trưng cho lối thơ trữ tình, triết lý của Nguyễn Viết Lãm, và có thể xếp vào một trong số ít thơ hay viết về Đảng. Vì thế, ra đời cách nay gần 40 năm (1976-2013), nhưng vẫn được người yêu thơ phẩm bình và nhạc sĩ lấy đặt lời cho bài hát.

Năm 1977, Nguyễn Viết Lãm có bài “ánh đèn huyện ủy”, viết theo lối tự sự và kể đan xen, nhưng khá niêm luật. Cả sáu khổ thơ bốn câu, đều được viết theo thể thất ngôn, bát cú khá hoàn chỉnh từ đặt câu, gieo vần đến nhịp điệu. Đọc thơ cảm tưởng như ông đang khắc họa nhân vật và đời sống, với những đường nét giao thoa như tái tạo hiện thực hiển hiện trước mắt người đọc: Anh tính toán số đầu tư mã lực/ Cho lúa ruộng gần, cho cói ruộng xa/ Mới dự kiến dường đã nghe máy động/ Như khúc ca vui gõ cửa mọi nhà. Còn đây là đoạn thơ miêu tả sự thay đổi trên quê hương, hệ quả của bao đêm người lãnh đạo huyện chụm đầu bên ngọn đèn bàn mưu tính kế đưa huyện đi lên: Xưa mẹ kéo bừa đêm chiêm trũng/ Nay hừng đông con lái máy cày/ Điện sẽ đến tận thôn xa vắng lặng/ Từ ánh đèn huyện ủy đêm nay. Hình ảnh mẹ kéo cày đêm trên cánh đồng chiêm trũng, đối chọi với hừng đông con lái máy cày là một sự so sánh thật đắc địa và kiệm lời. Bài thơ viết khá chân thật, dường như nhà thơ dựa hẳn vào cái nghe được, cái nhìn thấy ngoài đời để từ đó dựng lại thời gian, hoàn cảnh, chứ chưa thấy cảm xúc, suy nghĩ của người viết hòa vào thơ bao nhiêu, lại càng ít thấy tâm trạng lắng sâu vào câu chữ; vì thế, thơ đọc tuy có niêm luật, đối xứng câu chữ, nhưng sức lắng đọng trong người đọc vẫn chưa nhiều. “ánh đèn huyện ủy” là bài thơ khá tiêu biểu cho lối thơ nặng về tự sự và kể, ít tâm tình, khơi gợi mà người đọc hay gặp trong thơ Nguyễn Viết Lãm được viết sau những sự kiện, những chuyến đi thực tế. Chẳng hạn cũng về sự kiện, đề tài Đảng, ở bài “Đêm vào Đảng” nhà thơ viết sau gần năm mươi năm: Ta trở về dòng sông tuổi thơ/ Nơi tiếng hát bờ tre nâng hồn ta lên mãi, đi bên dải sông Trà lại bỗng nhớ: Đêm vào Đảng, lòng ta rưng nước mắt/ Tay đồng chí trong tay mình ấm áp, thì chất tự sự và tình cảm chân thực vẫn là hồn cốt thơ, làm người đọc thấy tin yêu, chứ chưa thấy đắm say với thơ nhiều lắm. Nhưng cái hay về bút pháp niêm luật và hiện thực đời sống thì hôm nay đọc lại vẫn phải cảm ơn nhà thơ đã lưu giữ cho ta cái dư ba một thời, chẳng hạn đoạn thơ hiện thực nhưng cũng đầy lãng mạn này:Tiếng chim mai trong như giọt sương/Qua cửa sổ rơi giữa dòng dự án/Anh bí thư chợt nhìn trời hửng sáng/Một dải mây hồng vẫy gọi vừng dương.

Có thể nói, chân thực, tâm tình là dòng cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Viết Lãm viết về Đảng. Thế nhưng ở từng bài, trong từng hoàn cảnh ra đời bài thơ, ông thổi dòng cảm hứng ấy vào câu chữ và trong từng bài thơ được đến đâu lại là điều khác. Nếu ở bài “Đêm vào Đảng” viết năm 1996 chân thực đến mức như dãi lòng để những người đồng chí, đồng bào nơi quê hương hiểu cho tấm lòng đứa con đi xa mấy chục năm mới có dịp trở về: Ta vẫn giận mình chưa trọn với tình quê, thì ở bài “Sinh thành” viết bốn năm sau (năm 2000), nhà thơ đã quay về với lối viết trữ tình, triết lý quen thuộc của mình, nên thơ sâu lắng mà vẫn khoáng đạt. Vẫn là giọng tâm tình, so sánh đầy triết lý: Đứa con sinh ra/ Từ nỗi đau của mẹ/ Cành non hé nụ/ Từ nỗi đau của cây/ Vết thương chảy máu trong lòng trai/ Đọng lại thành viên ngọc quý. Từ suy luận, diễn giải ấy, nhà thơ dẫn người đọc tới sự tất yếu như một quy luật của sự sinh thành:Từ nỗi đau nghìn đời nô lệ/ Đảng ta sinh thành/ Gian khổ hay quang vinh/ Đảng vẫn gọi nhân dân là Mẹ/ Và để trọn niềm hiếu nghĩa/ Đảng nhận về mình bao xiết kể hy sinh/ Lòng mẹ là biển cả/ Đảng là thuyền hướng tới khơi xa. Thơ viết tỉnh táo và trí tuệ, truyền cảm đến người đọc không phải bằng cảm xúc làm đắm say, rạo rực con tim, mà bằng sự đánh thức cân não, làm bật dậy cái gì đó như một sự thức tỉnh tư duy, nhận thức. Đấy là nét đặc sắc thơ trữ tình, triết lý của nhà thơ Nguyễn Viết Lãm viết về đề tài chính trị, về Đảng Cộng sản và Bác Hồ kính yêu./.


 
Những sai lạc, nhầm lẫn trong một công trình nghiên cứu văn hóa, văn minh


Nguyễn Dương

(Đọc sách “Văn minh vật chất của người Việt”, tác giả Phan Cẩm Thượng, NXB Tri thức tái bản 2012)

 


 

Sách dày 664 trang, với 959 ảnh và 505 hình vẽ minh họa, ít nhiều có tác dụng tham khảo về đời sống người Việt trong quá trình phát triển của mình. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy chủ đề sách đề cập quá rộng, lý luận m

iên man và không mang tính khoa học, cấu trúc không chặt chẽ, thực chất là tản mạn tìm hiểu về đời sống vật chất người Việt thì đúng hơn. Về phía tác giả, có lẽ thấy quá sức mình nên ngay từ “Lời nói đầu”, ông đã bộc bạch: “Chắc chắn cuốn sách của tôi không thể hoàn thiện và có nhiều khuyết điểm, vì một cá nhân dù tài đến đâu cũng không thể biết chiều lịch sử và chiều không gian của đời sống dân tộc” và “Mình viết nhiều thế này thì sai lầm lắm lắm. Tôi mong những nhà nghiên cứu trẻ có thể bổ sung, mở rộng cho cuốn sách này theo cách mà các bạn suy nghĩ, và coi cuốn sách như là của chính mình cần viết tiếp, sửa chữa”.

Để đáp lại tinh thần cầu thị trên, chúng tôi xin trao đổi với tác giả mấy vấn đề như sau:

I. Những nhận xét rất hệ trọng nhưng không chính xác:

1. Ngay mặt trong trang bìa, tác giả viết người Việt sống trên dải đất “Nơi các nhà nước phong kiến rất nhược tiểuluộm thuộm trong nền hành chính của mình”.

Chế độ phong kiến Việt Nam có lúc thịnh, suy theo quy luật phát triển nhưng trong tâm thức, lúc nào cha ông ta cũng đề cao ý thức tự cường dân tộc, thể hiện ở việc đặt quốc hiệu là: Đại Việt, Đại Cồ Việt, Đại Ngu (sự yên vui lớn – thời nhà Hồ), Đại Nam v.v, và thực sự đã từng xây dựng được những nhà nước phong kiến hùng mạnh, lập bao chiến công lẫy lừng, đánh bại cả những đạo quân viễn chinh mạnh nhất thế giới như Nguyên Mông, để: “Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên/ Mỗi bên hùng cứ một phương” (Nguyễn Trãi)

Đó là về võ công, còn về xây dựng đất nước, các nhà phong kiến Việt Nam thời thịnh trị đã mang lại xã hội ấm no, hạnh phúc cho dân khác gì “thiên đường ở hạ giới”: “Nhà Nam, nhà Bắc đều no mặt/ Lừng lẫy cũng ca khúc thái bình” (thơ Lê Thánh Tông); “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông/ Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn” (ca dao)

Giáo trình “Lịch sử hành chính Nhà nước Việt Nam” của Học viện Hành chính quốc gia cũng cho biết rằng các nhà nước phong kiến của ta luôn tìm cách cải tổ, cải cách nền hành chính để đất nước được phát triển, nhân dân được ấm no, không phải “rất nhược tiểu và luộm thuộm” như tác giả nghĩ.

2. Tiếp đến trang 125 sách đã dẫn, tác giả nhận định: “Ăn cắp là thói quen rất bình thường tại xứ này, nếu người ta thích một vật nào đó của bạn”.

Ở một đất nước luôn đề cao đạo nghĩa “Đói cho sạch, rách cho thơm” mà tác giả lại nhận xét như vậy thì hoàn toàn sai lạc. Truyện thơ “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu có câu: “Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài/ Nào ai chịu lấy của ai làm gì” (Tài       ở đây là tiền bạc, của cải chứ không phải là tài năng )

Sách “Đại Việt Sử ký toàn thư” ghi nhận thời thịnh trị của Mạc Thái Tông: “Đêm ngủ không cần đóng cửa, ngoài đường không nhặt của rơi”. Đến của rơi người ta còn không nhặt nữa là trong tay, trong túi, trong nhà người khác. Từ trước tới nay, ăn cắp là hành vi cá biệt, xấu thậm tệ, luôn bị nhân dân ta lên án, xếp vào bốn nguy cơ cảnh báo, trước cả giặc dã: Thủy (nước), hỏa (lửa), đạo (trộm cắp), tặc (giặc), chứ không phải là “thói quen rất bình thường tại xứ này” được!

II. Những hiểu sai về “Truyện Kiều”

1. Thúy Kiều được bán theo cách thức buôn trâu?

Trang 312, 313 tác giả viết: “Cách thức buôn trâu thường nói thách rất cao, lấy đơn vị mười làm gốc, người mua sẽ bớt một lần tiền, nhưng lại bằng 1/3 tổng số tiền, sau đó mới là bớt theo đúng giá trị. Ví dụ con trâu 100 đồng, bớt một tức là bớt hơn 30 đồng, bớt thêm hai, tức là bớt hơn hai lần mười đồng nữa (hơn 20 đồng)”. “Nguyễn Du đã dùng cách thức này để mô tả việc bán nàng Kiều: Cò kè bớt một thêm hai/ Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm. Như vậy thoạt tiên nàng Kiều được định giá 1000 lạng vàng, bớt một còn hơn 600 lạng, bớt thêm hai lần nữa, giá thành hơn 400 lạng”.

“Truyện Kiều” được Nguyễn Du viết theo “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Quốc, các chi tiết mua bán Kiều được Nguyễn Du mô tả rất sát và tôn trọng theo nguyên truyện ghi ở phần văn ước như sau: “Nay nhận thấy người thiếu nữ tên gọi là Vương Thúy Kiều vì việc cứu cha nên phải bán mình làm thiếp cho khách họ Mã lấy số tiền sính lễ là bốn trăm năm mươi lạng bạc...” (Nguyễn Quảng Tuân trích dẫn, in trong “Truyện Kiều nghiên cứu và thảo luận”, NXB Văn học, 2004), việc mua bán Kiều diễn ra ở Bắc Kinh – Trung Quốc (Tú bà cùng Mã Giám sinh/ Đi mua người ở Bắc Kinh đưa về - “Truyện Kiều”) thì làm sao có thể ứng dụng theo cách thức buôn trâu ở Việt Nam?

Cũng cần nói thêm, “vàng ngoài bốn trăm” như họa sĩ Phan Cẩm Thượng trích là không chuẩn. Các nhà Kiều học đã chứng minh nguyên bản câu Kiều trên là: “Giờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm” (vâng là đồng ý, chấp nhận). Trong các tác phẩm nghiên cứu của mình, nhà Kiều học Nguyễn Quảng Tuân đã sao chụp lại toàn văn các bản truyện Kiều và kết luận đại ý rằng: Các bản Nôm cổ đều viết chữ vâng, kể cả bản Kiều cổ nhất hiện sưu tầm được (khắc in năm 1866). Chữ vàng là do sau này các bản chữ quốc ngữ tái bản, in sai từ chữ vâng mà ra vì chữ vângvàng rất giống nhau, còn chữ nôm thì khác nhau hoàn toàn, không thể nhầm được. Hơn nữa đơn vị tiền tệ thời cổ ở Trung Quốc là lạng bạc chứ không phải là vàng.

2. Tác giả hiểu sai đoạn thơ về Đạm Tiên

Ở trang 540, tác giả hiểu sai đoạn Kiều: “Thuyền tình vừa ghé tới nơi/ Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ/ Phòng không lặng ngắt như tờ/ Dấu xưa rêu đã lờ mờ phủ xanh, đó là đoạn một người khách tìm đến nàng Đạm Tiên thì nàng đã xanh cỏ đỏ mồ từ lâu”.

Dấu xưa là dấu xe, dấu ngựa, dấu chân, dấu giày v.v. đã bị rêu phủ lờ mờ chứ không phải nói về mồ mả. Cũng Nguyễn Quảng Tuân trích dẫn, chú giải theo nguyên truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thì: “Khi Đạm Tiên chết gặp phải mụ chủ tệ bạc toan đem vứt xác nàng ra bờ ngòi. May sao lúc ấy có một khách ở viễn phương vì mộ tiếng sắc tài của nàng nên mới tìm đến”. Lúc đó, người khách mới sắm cái áo quan bằng gỗ tử (nếp tử) và dùng xe chở linh cữu có rèm kết ngọc châu (xe châu) mang Đạm Tiên đi chôn sơ sài (vùi nông một nấm) như hai câu thơ tiếp theo của đoạn thơ trên: “Sắm sanh nếp tử, xe châu/ Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa”.

Vậy, đúng ra khi người khách tìm đến thì Đạm Tiên vừa mới chết, vì mụ chủ chứa tệ bạc nên người khách ấy đã chôn cất cho nàng chứ không phải “nàng đã xanh cỏ đỏ mồ từ lâu”. Mà người ta thường nói “Xanh cỏ, đỏ ngực” chứ không ai nói “xanh cỏ đỏ mồ” cả.

III. Những nhầm lẫn trong kiến thức về đời sống văn hóa nông nghiệp

1. Dân ta nuôi mèo làm cảnh?

Trang 309: “Còn chó thì nhà nào cũng nuôi vừa giữ nhà vừa ăn thịt tùy lúc, mèo thì chỉ để làm cảnh”.

Thực tế, dân ta nuôi mèo để đối phó với chuột chứ đa phần dân nghèo làm gì có thức ăn lãng phí nuôi mèo để ngắm “mèo cảnh”. Nếu con mèo lười nào không hoàn thành nhiệm vụ bắt chuột sẽ bị mắng “Bắt chuột không hay, lại hay ỉa bếp” là vậy.

2. Gà, vịt cũng là gia súc?

Có đôi lúc phóng bút, tác giả lẫn lộn giữa gia cầm (gà, vịt) với gia súc: “Bên cạnh những sản vật tự nhiên như cá tôm cua ốc, gà rừng, lợn rừng, người Việt nuôi rất nhiều gia súc như lợn, gà, vịt, dê, bò trâu...” (trang 123)

3. Hiểu sai về “canh, tiều, ngư, mục” là bốn việc ngày thường ở nhà nông”, nhưng đây là bốn loại người, bốn nhóm việc khác nhau, như tiều phu là người đốn củi trên rừng làm sao là công việc thường ngày của nhà nông được?

4. Hiểu sai về “thả cá – gá bạc”:

Trang 319 tác giả viết: “việc thả cá: Chỉ thả giống mà không cần chăm nuôi nhiều, lại thu hoạch lớn, nên nông dân có câu: Nhất thả cá. Nhì gá bạc”.

Có một số sách nghiên cứu về thành ngữ cũng hiểu nhầm “thả cá” ở đây là gây giống nuôi thủy sản. Nhưng từ “thả cá” có nhiều nét nghĩa, phải tùy theo văn cảnh mà hiểu cho phù hợp. Khi “thả cá” đi với “đào ao” trong “Đào ao, thả cá” mới là hoạt động nuôi thủy sản. Còn khi “thả cá” đi với “gá bạc” thì nghĩa của “thả cá” phải được hiểu như “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ đã giảng giải là: “thách cá, nói trong một độ gà chọi hay ác lia thia, sau khi xem – xét kỹ lưỡng – con vật rồi, những người cầm chắc con của mình chọn sẽ thắng, bèn thách mọi người bắt số tiền cá của mình”

Vậy câu: “Nhất thả cá, nhì gá bạc” là dành cho giới cờ bạc đỏ đen, chứ tuyệt nhiên không liên quan gì đến hoạt động nông nghiệp cả. Tác giả đã bị hiện tượng đồng âm đánh lừa.

5. “Thọ Mai gia lễ” là sách của Ta chứ không phải của Tầu:

Trang 591 có câu “và cả một nghi thức phiền toái trong Thọ mai gia lễ Trung Hoa được áp dụng”

Họa sĩ cứ ngỡ “Thọ Mai gia lễ” là của Trung Hoa nhưng sách “Một trăm điều nên biết về phong tục Việt Nam” (NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội 2001) cho ta biết rõ như sau: “Thọ Mai gia lễ” là gia lễ tức gia lễ thời xưa của Trung Quốc nhưng không rập khuôn theo Tầu. Mặc dầu gia lễ từ triều Lê đến nay có nhiều chỗ đã lỗi thời nhưng khi đã trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân, nên đến nay trong Nam ngoài Bắc vẫn còn phổ biến áp dụng, nhất là tang lễ.

Tác giả của “Thọ Mai gia lễ” là Hồ Sỹ Tân (1690-1760) hiệu Thọ Mai người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, đậu Tiến sĩ năm 1720 (năm thứ 2 triều Bảo Thái), làm quan đến Hàn lâm Thị chế”.

IV. Những nhầm lẫn trong chú thích tranh, ảnh:

Trang 376: “Chân dung hoàng hậu Trà Phương (chùa Trà Phương, Kiến An, Hải Phòng)” nhưng thực tế người trong ảnh là hoàng hậu Nguyễn Thị Ngọc Toàn (vợ vua Mạc Đăng Dung), được thờ trong chùa Trà Phương, ở huyện Kiến Thụy (chứ không phải Kiến An), Hải Phòng và bà chưa bao giờ có danh hiệu là hoàng hậu Trà Phương.

Trang 540: Tranh người đội mâm trầu cau phủ vải được chú thích là: “ăn hỏi (lễ vu quy). Hình vẽ trích trong sách “Kỹ thuật của người An Nam” của Henri Oger, NXB Thế giới 2009”. Chúng tôi đã tra cứu sách “Kỹ thuật của người An Nam” thì hình trên chỉ được chú thích là lễ ăn hỏi. Tác giả đã chú thích thêm “lễ vu quy” vào thành không chuẩn. Ăn hỏi và vu quy là 2 lễ khác nhau, chú thích kiểu này thì độc giả không biết đâu mà lần!

Ngay trang bìa lót, tác giả viết: “Nam mô a di đà Phật/ Cuốn sách này là lời tri ân với đất nước và mẹ cha”. Niệm Phật, tri ân với đất nước

nhưng không hiểu vì sao tác giả lại nỡ quy cho xứ mình sản sinh ra những thứ tệ hại như: “Các nhà nước phong kiến rất nhược tiểu và luộm thuộm trong nền hành chính của mình”, “ăn cắp là thói quen rất bình thường”. Rồi viết về “Văn minh” nhưng tác giả lại trích dẫn những câu rất tục tĩu (vì tế nhị, chúng tôi xin viết tắt một số từ): “Cái l... mà để ngoài da/ Một ngày mất bẩy mươi ba cái l...; Chồng người  buôn ngược bán xuôi/ Chồng em ngồi bếp để b... chấm gio” (trang 541,542) và đáng ngờ là ca dao “chế”, vì người ta chỉ nói “Ruột để ngoài da”, “L... để ngoài quần” chứ như câu trích của tác giả thì bất hợp lý, và kiểu trích dẫn này thì giúp gì cho chủ đề sách nói về “Văn minh”?

Nghiên cứu văn hóa, văn minh là lĩnh vực cực khó, người nghiên cứu cần phải có tư duy khách quan, toàn diện, kiến thức uyên thâm, phong cách nghiên cứu chuyên nghiệp; Tác phẩm trước khi đưa ra công chúng cần phải được một hội đồng uy tín hoặc ban biên tập thẩm định nghiêm túc, kỹ càng, còn không tác phẩm sẽ rơi vào chủ quan, tùy hứng, đưa ra vô số nhận định sai ảnh hưởng tới độc giả, đặc biệt là những độc giả trẻ tuổi.

Chúng tôi xin có mấy ý kiến tham gia để tác giả, NXB và bạn đọc tham khảo, đánh giá, hy vọng những lần tái bản sau chúng ta sẽ có cuốn sách được chỉnh lý khoa học hơn, thuyết phục hơn./.



 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 203 (5/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 202 (4/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 201 (3/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 199,200 (1,2/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 198 (12/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)