Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 37 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Cách tân, như là đẩy thơ vượt qua tai hoạ


Thi Hoàng


Thương sự cách tân, nể sự cách tân, ghét sự cách tân, phục sự cách tân... Tôi có tất cả tâm trạng này khi đọc thơ Mai Văn Phấn. Lãng đãng nhớ về những bài thơ ban đầu có phần bản năng ở tập thơ đầu tiên “Giọt nắng”. Cái bản năng đam mê thơ ca bồi hồi run rẩy với những thói quen của ý thích chứ ý thức thì chưa có bao nhiêu.

Nhưng rồi từ tố chất ở cá tính, muốn vượt qua sự tò mò mà dò dẫm những bước đầu tiên trên chặng đường khám phá. Thì, cũng mới chỉ rụt rè mở ra ở đơn vị nhỏ nhất của tác phẩm là chữ, đã thấy Mai Văn Phấn manh nha muốn thiết lập mối quan hệ giữa con chữ và con người: Anh đi vòng quanh con chữ/ Gọi ơi hời! (Một lần... thi pháp). Gọi thế nghĩa là đã coi con chữ như một sinh thể để muốn nó nên và có thể làm được những biến đổi trong thơ mình. Nhưng môi trường thơ quen thuộc vẫn ám đặc (ở cả người viết và người đọc) như cơn mưa dầm dai dẳng mà những hạt mưa gieo xuống những vần vèo ướt át của một vùng thơ nặng về duy cảm! Thì biết làm gì? Chưa đủ tự tin, hay chưa đủ nội lực? Mai Văn Phấn vẫn để mình ở trạng thái ít nhiều thụ động: Ngồi chờ mưa tan/ Đi tìm một nhịp điệu khác (trường ca Người cùng thời). Chờ, và rồi cũng ở trường ca này, trong toàn bộ chương VII (Mail cho em) anh đã để cho tấm áo thi ca cũ thoải mái bục chỉ may, tuột chỉ khâu, hay nói cách khác là một cuộc khai phá san ủi mặt bằng, lấy độ cao mới để quy hoạch lại thơ mình cả về vóc dáng lẫn công năng, nghĩa là ở cả hình thức và nội dung. Đầu tiên là giọng điệu, ngay cả những điều đã cũ được nói với một giọng điệu khác thì ý nghĩa những điều đã cũ kia ít nhiều cũng khác đi.

Còn từ cái khác đến cái mới, cái hay thì trong tiến trình thơ ca Mai Văn Phấn bằng vào sự đọc, sự học, sự trải nghiệm, anh đã làm dày dặn mình lên ở cả hai phương diện là kiến thức và kinh nghiệm để chọn lựa. Trên đường dấn thân đi tìm nẻo khác cho thơ mình, cái nẻo càng ít dấu chân, thậm chí chưa có dấu chân ai đó càng tốt. Mai Văn Phấn đã dằn mình để cho sự mạo hiểm thắng sự sợ hãi và chấp nhận cả những đau xé; Cơn đau siêu thực hành hạ anh có khi còn hơn những cơn đau hiện thực, khiến anh mong rằng nó chỉ là một giấc mơ: Tôi cúi xuống đón chiếc ách lên vai/... Tôi chạy quanh và miệng sùi bọt/ Tôi nhễ nhại giả chết, lồng lộn/ Tôi rã rời, loạn nhịp/ vỡ tung/ Tôi thấm nước và vắt ra nước. (Chỉ là giấc mơ).

Đây rõ ràng là tác giả không mấy đi tìm nỗi cảm thông ở người đọc mà là đang làm một việc gần như bóp chết bản ngã để hình thành một chủ thể khác, mong trình bầy tâm trạng một cách khách quan nhất có thể. Vậy, cũng là bước đầu tìm một điểm tì vịn mà bật lên đổi mới nội dung. Chỉ tiếc là vẫn hiện hữu nguy cơ lại rơi về sự thay đổi cách nói mà chưa làm mới được bao nhiêu vấn đề định nói! Tuy nhiên, cũng đã thấy lờ mờ dấu chân Mai Văn Phấn trên cái nẻo lạ này, đang rời xa dần không khí của trường thi ca cũ mà giá trị không phủ nhận, nhưng thiên chức (hay nhiệm vụ gì đấy) thì dường như đã xong, nó phải dừng lại, nó đã chết (theo một nghĩa đen có tính lịch sử):... Ông khách không còn đó/ Gọi điện thoại/ Người nhà bảo ông mất đã bẩy năm/... Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng trước mặt/ Chốc chốc lại cúi gập. (Vẫn bình tĩnh tiễn khách ra ngõ).

Cũng đã thấy dưới bề sâu của tâm lý sáng tạo, Mai Văn Phấn đang cố gắng để không bị ràng buộc vào bất cứ một phương pháp sáng tác nào. Anh tìm cách huy động cả hình thức và nội dung cùng ghé vai đưa bài thơ lên cao hơn cái nền chung của thói quen đọc thơ ở người đọc và hy vọng tìm ra thi- pháp- của- mình. Đây là chuyện tày đình, nếu nói ra thì như một sự bất kính hay ảo tưởng gì đó với trường thơ hiện thời. Song,  ở những khát vọng sáng tạo thành thực,  thường có ý định vừa tàn phá vừa xây dựng như vậy. Thế rồi cũng may mà trong muôn một anh có được những thi phẩm mà giá trị chắc chắn sẽ ngày càng được xác định: thanh tẩy mãi vẫn không thấy sạch/ quay về tắm bằng ngọn đèn/... vừa xối mạnh vừa gọi tên em/ ánh sáng bồng bềnh bụng mang dạ chửa/ thử gọi một ai xa lắc xa lơ/ ngọn đèn lặng phắc càng tỏ/ càng tỏ (Tắm đầu năm).

Đến một trong những bài mới viết gần đây thì ý thơ và tình thơ được mở mang dọn chỗ cho những con chữ phổng phao lớn khoẻ lên đặng mà đủ sức hiện thực hoá những ý tưởng thơ ca siêu thực, trừu tượng: Bình yên trong miệng anh/ Em thúc nhẹ bờ vai/ Vòm ngực, ngón chân vào má/ Huyên thuyên và hát thầm/ Hồn nhiên cho lưỡi và răng anh chạm vào cơ thể/ Anh là con cá miệng dàn dụa trăng/ Rời bỏ bầy đàn quẫy vào biển động (Ngậm em trong miệng). Đây cũng là một cách gián tiếp để rành mạch, sòng phẳng với sự lẫn lộn (thậm chí cố tình đánh tráo) giữa sự sơ lược, đơn giản với sự giản dị mà Mai Văn Phấn từng quan niệm: Thật kỳ diệu nếu chỉ bằng sự giản dị mà nói được những vấn đề lớn lao và mới mẻ. (Trả lời phỏng vấn báo Thể thao Văn hoá 2004). Phải luôn tự bồi đắp mình Mai Văn Phấn mới phong phú, phồn tạp, dư thừa rồi chọn lựa mà phủi vưỡi, vất bỏ đi những lòe loẹt rườm rà rối vướng để giản dị chứ đâu phải nghèo nàn, thậm chí không có gì ở năng lực thi ca mà ngộ nhận là giản dị!...

Ngẫu nhiên từ trường hợp thơ Mai Văn Phấn, đưa mắt nhìn về chặng đường cách tân thơ phía trước. Dẫu mừng cho chặng đường đã qua song, cũng không khỏi lo ngại ở những chặng đường chưa tới.

Sau đây là những băn khoăn (có thể ít nhiều chứa đựng mâu thuẫn) về những đổi mới thi ca trong những năm gần đây của không riêng gì Mai Văn Phấn. Thơ, sau khi xuất bản ra dường như nó không quay lại với tác giả mà thẳng hướng tìm tới người đọc. Người đọc ở đây tạm thời chia thành hai kiểu cách: Một kiểu đọc lý thuyết và một cách đọc hưởng thụ.

Đọc lý thuyết là tìm sự đắc ý, còn đọc hưởng thụ là tìm sự sướng khoái. Đắc ý thì chỉ trong não bộ, còn sướng khoái thì không chỉ trong não bộ mà ở khắp cơ thể. Thực ra bảo tồn và phát huy giá trị của thơ ca là ở cách đọc hưởng thụ, chứ kiểu đọc lý thuyết thì cuối cùng có vẻ như chỉ để cấp chứng chỉ, đặt tên cho những trào lưu, khuynh hướng; Trong khi tác động hay dở thế nào vào đời sống, tác phẩm sau khi ra đời chả phụ thuộc bao nhiêu vào việc gọi tên đó là thơ hiện thực, siêu thực, hậu hiện đại, tân hình thức hay gì gì đấy. Không hiểu do đâu, những tìm tòi dày vò chữ nghĩa, thay đổi cách viết để làm lạ với những ý tưởng rời vụn kỳ quặc ngày càng có vẻ hướng đến phục vụ kiểu đọc lý thuyết mà sao nhãng phần lớn độc giả ở cách đọc hưởng thụ! Lại nữa, kiểu đọc lý thuyết thường là ở những độc giả đặc tuyển, độc giả chuyên nghiệp mà loại độc giả này trong đời sống không có bao nhiêu, ở Việt Nam lại càng ít. Nếu tính hưởng thụ khi tiếp cận thi ca bị chối từ thì phần lớn người đọc sẽ quay mặt! Đây có lẽ là một phần nguyên do khiến người đọc thơ ngày càng ít. Bởi thơ (tìm tòi) trước hết là để cho người đọc với nghĩa chung nhất chứ không chỉ chăm chăm muốn phơi mở ra dưới mắt các nhà nghiên cứu, phê bình. Còn bảo rằng thơ cách tân là gợi mở, là mời gọi người đọc đồng sáng tạo thì tôi cứ nghi ngại cái ý vừa thách đố vừa có tính mị dân này (Người ta đến nhà hàng để ăn, hà cớ gì lại bắt người ta phải vào bếp cùng nấu nướng).

Đến đây, do cũng là một người làm thơ, tôi lại phải dè chừng ý kiến chủ quan của người biết đâu đấy đã không còn khả năng làm mới thơ mình. Thế là giật mình, nhảy vội sang phần thiên chức của thơ ca. Vâng, thơ đang ngày càng phai nhạt tính lý tưởng (Hình như hậu hiện đại gọi đó là giải đại tự sự thì phải). Cắt dán, phân mảng.

Không quan tâm đến những vấn đề sống còn có tính toàn cục, thời đại. Chẳng hạn như thời kinh tế thị trường, chất lượng hàng hoá được ráo riết quan tâm trong khi chất lượng người thì ít được quyền lực chú ý đến (?). Thế là hàng hoá lôi con người vào tâm lý kỹ trị và có vẻ các nhà thơ cũng bị áp lực nặng nề. Thơ dở thì không nói làm gì, xuất hiện khá nhiều những bài thơ trung bình chỉ thấy dàn ra những câu nói hay chứ không phải những câu thơ hay. Chao ôi! Chẳng lẽ thơ ca đang như là nạn nhân của cuộc ăn  hiếp của văn minh đối với văn hoá.

Thưa các nhà thơ! Nên chăng, có cách nào đó để hình thức được tự nhiên chuyển hoá thành nội dung; Còn nếu do thói quen, hình thức vẫn cứ đòi có một khái niệm riêng thì cách tân hình thức phải lui xuống vị trí thứ yếu mà chủ yếu vẫn là ở nội dung. Chứ nếu để chứng tỏ mình mới mẻ, hiện đại mà nằng nặc hình thức thì rồi không khéo mình chả còn yêu người thật mà đi yêu người silicon mất! Xin các nhà thơ đừng quá quan tâm đến những gì thật lạ mà hãy viết ra những gì mới mẻ thật bụng./.


 

 
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nguồn cảm hứng của sáng tạo văn học nghệ thuật

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập

Ảnh: Đinh Đăng Định


Các nhân vật lịch sử thường trở thành nguồn cảm hứng của văn học nghệ thuật, trong đó có những nhân vật không chỉ khơi nguồn nhất thời mà nhiều năm sau vẫn dạt dào trong tâm tưởng văn nghệ sĩ, thôi thúc họ sáng tạo, lại có những nhân vật tầm ảnh hưởng không chỉ trong phạm vi quốc gia mà lan toả tới toàn thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh bao hàm tất cả những trường hợp như vậy.

Nói về thế giới, ngoài những gì bạn đọc đã biết như: Tháng 11/1987 UNESCO công nhận “Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá” và ra Nghị quyết tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người vào năm 1990; như các quảng trường mang tên Hồ Chí Minh tại một số thành phố trên thế giới, xin cung cấp thêm hai thông tin:

- Trong những năm chúng ta tiến hành kháng chiến chống Mỹ, hoạ sĩ nổi tiếng người Mêxicô, Xicâyrốt (David Alfaro Siqueros, 1898 – 1974) đã thực hiện một bức tranh tường hoành tráng trong đó có hình ảnh Hồ Chí Minh. Các tranh của Xicâyrốt đều rất lớn, có bức tới 450 m2, thường mang cảm hứng chủ đạo là chủ nghĩa xã hội và lý tưởng cộng sản.

- Năm 2001, một người sưu tầm tem ở Rwanda, châu Phi gửi thư sang Việt Nam xin được trao đổi tem. Ông có blốc tem của Bưu chính Rwanda in hình bốn nhân vật trong bộ tem “Le Maillenaire” (những nhân vật của thế kỷ) và xin được trao đổi để có con tem “Bác Hồ tưới cây vú sữa” do Bưu chính Cộng hoà miền Nam Việt Nam (Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) ấn hành. Blốc tem là loại hình tem bao gồm nhiều con tem đặt trong một tổng thể đồng thời có thể tách thành những con tem riêng biệt. Bốn nhân vật trong blốc tem nói trên được in trong khuôn hình của bốn con tem, bên cạnh là những hình ảnh có liên quan đến nhân vật. Bốn nhân vật đó là Tổng thống Pháp - tướng Charles De Gaulle; nhà bác học Đức Wernher Von Braun cha đẻ của tên lửa đạn đạo - bom bay trong thế chiến thứ hai; Nhà sản xuất phim người Mỹ Walt Disney- tác giả của phim hoạt hình với những nhân vật lừng danh như chuột Mickey, vịt Donald, Bạch Tuyết và bảy chú lùn; Chủ tịch Hồ Chí Minh (cạnh con tem là hình ảnh Nguyễn ái Quốc tại Đại hội 18 Đảng Xã hội Pháp và ảnh quân Pháp đầu hàng ở Điện Biên Phủ năm 1954). Tạp chí Tem của Hội Tem Việt Nam số tháng 1/2006 đã đăng thông tin này kèm theo ảnh blốc tem nói trên.

ở Việt Nam, hình tượng Hồ Chí Minh trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo của nhiều thế  hệ văn nghệ sĩ thuộc hầu hết các ngành nghệ thuật. Số lượng tác phẩm không thể nào kể hết, ngay những tác phẩm được nhiều người biết đến cũng khó nhớ được đầy đủ, vậy nên trình bày của chúng tôi xin đề cập đến những tác phẩm văn học nghệ thuật đầu tiên về lãnh tụ Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn còn nhiều thiếu sót.

Bức ảnh Nguyễn ái Quốc tại Đại  hội 18 Đảng Xã hội Pháp. Đại hội này họp từ ngày 25 đến 30/12/1920 tại thành phố Tua (Tours)nước Pháp nên nhiều người còn gọi là Đại hội Tua. Theo cuốn Sổ tay tra cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh (NXB Hải Phòng, 2004) thì Đảng Xã hội Pháp thành lập năm 1905, Nguyễn ái Quốc gia nhập Đảng khoảng năm 1919 và tham dự Đại hội Tua với tư cách là đại biểu Đông Dương. Đại hội diễn ra căng thẳng với nhiều tranh luận gay gắt, cuối cùng vào ngày 30/12 với hơn 70% số phiếu tán thành, đa số đại biểu đã tuyên bố thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản, ngày này được lấy làm ngày thành lập Đảng Cộng sản Pháp; Một năm sau Đảng Cộng sản Pháp tiến hành đại hội lần thứ nhất tại Vecxay, Nguyễn ái Quốc trở thành một trong những đảng viên đầu tiên. Bức ảnh thời sự nói trên đã mang giá trị lịch sử không chỉ với cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh mà cả với Đảng Cộng sản Pháp; Về nghệ thuật, bức ảnh cũng rất đáng trân trọng vì người chụp đã chớp được khoảnh khắc điển hình mang tính khái quát cao với hình ảnh nổi bật, trẻ trung, ngời sáng, đậm chất á đông của Nguyễn ái Quốc bên cạnh các đồng chí Pháp. Các bức ảnh chụp Bác sau đó, những năm ở Liên Xô (từ 1923), khi tham dự Đại hội 5 và 7 Quốc tế Cộng sản, lúc ở Quảng Châu và Hồng Kông, Trung Quốc… cũng mang giá trị lịch sử và ý nghĩa nhất định.

Sau những tác phẩm ảnh nói trên là bài thơ Hồ Chí Minh của Tố Hữu viết ngày 26/8/1945. Hình ảnh lãnh tụ trong bài thơ được miêu tả có phần khoa trương nhưng lại hoà hợp với hào khí của đất nước và hùng khí trong mỗi con người những năm tháng lịch sử ấy: “Tiếng Người thét/ Mau lên gươm lắp súng/Và cả đoàn quân/Đã bao nhiêu năm tháng trải phong trần/ Mắt sáng quắc, tay xanh loè mã tấu/Vụt ào lên, quyết hy sinh chiến đấu”. Tiếp theo phải kể đến những thước phim vô cùng quí giá do một người nước ngoài quay về không khí của quần chúng tại quảng trường Ba Đình ngày Chủ nhật mồng 2 tháng 9 lịch sử và hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. Hôm đó, nhiều bức ảnh cũng đã được chụp, song như nghệ sĩ Đinh Đăng Định kể thì do người chụp không ai lên được lễ đài và cũng không có ống kính chụp xa nên không nhà nhiếp ảnh nào có được bức ảnh cận cảnh đặc tả, tuy vậy những ảnh về toàn cảnh lễ đài vẫn mang giá trị lịch sử lớn lao và vẫn cho thấy hình dáng vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ.

Nghệ sĩ Võ An Ninh là người trong nước đầu tiên chụp ảnh cận cảnh Hồ Chủ tịch ngay chiều ngày 2/9, cùng với Bác là đại tướng Võ Nguyên Giáp. “Thế là tôi có bức ảnh có một không hai trong cả cuộc đời gắn bó với nghệ thuật: Cụ Hồ ngồi bên ông Võ Nguyên Giáp, cả hai gương mặt đều cương nghị, nhưng hiền hoà, có chút khắc khổ vì những lo toan cho vận nước ở giờ phút hàng ngàn cân treo sợi tóc. Hơn nữa, đây là tấm ảnh chụp vào ngày lịch sử muôn đời ghi nhớ của dân tộc ta ngay sau khi Cụ Hồ đọc Tuyên ngôn đọc lập với quốc dân đồng bào cả nước và thế giới” - Nghệ sĩ Võ An Ninh kể lại.

Theo ông nhớ thì vào 2 giờ chiều ngày đầu tuần thứ hai tháng 9, nhưng theo Đinh Đăng Định thì đầu tháng 10, sau cuộc họp của 32 chủ hiệu ảnh ở Hà Nội do Nha Tuyên truyền triệu tập, 6 thợ ảnh đã được chọn để tới Bắc Bộ phủ chụp Hồ Chủ tịch, trong đó có Vũ Năng An, Đinh Đăng Định và người của hai hiệu ảnh nổi tiếng: Khánh Ký, Hương Ký. Nhà ảnh Khánh Ký đã tháo dỡ để đem đến toàn bộ phòng ảnh của mình nên đồ nghề chất đầy cả một xe bò với chiếc máy đồ sộ cùng đèn, pha đèn; ông chủ Trần Văn Lưu hiệu Photo Atơlie phố Cột Cờ (nay là phố Điện Biên Phủ) của Vũ Năng An cũng đi xe tay cùng với đồ nghề; trong khi Đinh Đăng Định chỉ với chiếc máy ảnh khoác vai và cái chân  máy. Vũ Năng An chụp ba kiểu thì hai kiểu được chấp nhận, trong đó bức chụp thẳng đã làm xôn xao dư luận: “Mắt Cụ Hồ có hai con ngươi” và người ta tin rằng Cụ là một vị thánh. Bức ảnh này được Bác cho in nhiều bản và gửi tặng các đồng chí và bạn của Người như Môrit Tôrê, Macsen Casanh, Giăc Đuyclô… Thống lý ở Phiêng Sa bên Lào cũng có bức ảnh này. Ông nói: “Mắt Cụ Hồ có hai con ngươi, khác người thường. Cụ hiểu thấu khát vọng của mọi người dân, bất kể người đó là dân tộc nào, đó là lòng nhân nghĩa cao cả của Cụ.”. Vũ Năng An giải thích, thực ra đó là do ánh chiếu của hai chiếc đèn tụ quang tạo nên.

Theo nhà lý luận phê bình nhiếp ảnh Trần Đương, bài đăng trong tạp chí Mỹ thuật và Nhiếp ảnh của Vụ Mỹ thuật - Bộ Văn hoá thông tin số tháng 6/2002 thì những nhà nhiếp ảnh Việt Nam đầu tiên chụp ảnh Bác là Khánh Ký, Võ An Ninh, Vũ Năng An, Đinh Đăng Định…

Nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim với bức tượng cụ Hồ


Chúng tôi thấy cần phải nói cho rõ: Phải phân biệt ông Khánh Ký và hiệu ảnh Khánh Ký. Ông Nguyễn Đình Khánh, người làng Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội), là người có công lớn nhất trong việc phát triển nghề ảnh ở nước ta. Năm 1892 ông mở hiệu Khánh Ký ở phố Hàng Gai, Hà Nội và truyền nghề cho người trong họ, chẳng bao lâu sau khắp nơi ra đời hàng loạt hiệu ảnh của những ông chủ Lai Xá. Hiệu Hương Ký ở Hà Nội và hiệu Phúc Lai ở Hải Phòng đều của người Lai Xá. Chủ hiệu Phúc Lai là ông Nguyễn Văn Đính, mở hiệu ở Hải Phòng khoảng năm 1930. Sau năm 1955 hiệu Phúc Lai trở thành Quốc doanh nhiếp ảnh Lê Chân, gần đây thành hiệu sách Hải Hà trên phố Trần Phú. Họ Nguyễn ở Lai Xá cũng nhiều người không theo nghề ảnh, như hai anh em Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Văn Huyên và luật sư Nguyễn Văn Hưởng, như chính ba con trai ông Khánh Ký, họ đều theo đuổi các ngành khoa học (thiên văn học, hoá học, nhân chủng học) và trở thành các giáo sư có uy tín ở Pháp.

Năm 1945 khi các nhà nhiếp ảnh chụp ảnh Bác thì ông Nguyễn Đình Khánh đã làm ăn sinh sống ở Pháp từ trước, tại Hà Nội chỉ có cửa hiệu của ông, vì vậy chụp ảnh Bác lúc đó chỉ là thợ ảnh hiệu Khánh Ký. Tuy nhiên đưa ông Khánh Ký lên trước hết trong những người Việt Nam đầu tiên chụp ảnh Bác cũng không phải không có lý. Chính ông đã dạy Nguyễn ái Quốc nghề ảnh khi Bác ở ngõ Côngpoanh, Pari những năm 1921 - 1923. Sống bằng nghề ảnh ở “Thủ đô ánh sáng”, cũng là nơi đã phát minh ra kỹ thuật nhiếp ảnh chắc chắn không hề dễ dàng, vậy mà ông Khánh Ký chẳng những tồn tại trong nhiều năm mà còn là một người chụp ảnh có tiếng ở Pari. Là thầy dạy nghề ảnh, từ đó suy ra ông Khánh Ký là người đầu tiên chụp ảnh Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh cũng có cơ sở. Sau này, khi Hồ Chủ tịch sang Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp dự Hội nghị Phôngtennơblô thì ông Khánh Ký đã mất. Ông Vũ Đình Huỳnh, được theo Bác sang Pháp hồi ấy kể: Ngày 25/6/1946 Bác đến viếng mộ ông Khánh Ký. Đứng trước mộ ông, Bác không cầm nổi nước mắt và kể chuyện ngày trước cụ Phan Chu Trinh dẫn Bác đến học nghề ảnh ở ông Khánh Ký, những ngày ấy nếu không có sự cưu mang của cụ Phan, ông Khánh Ký và bà con Việt kiều, chắc chắn Bác còn gặp nhiều khó khăn. Vui mừng vì nước nhà được độc lập, đầu tháng 6/1946 ông Khánh Ký đã viết thư về nước ngỏ ý muốn được trở về phụng sự quốc dân. Hồ Chủ tịch định đi chuyến này sẽ đón ông về luôn, không ngờ tới Pháp thì ông đã qua đời trước đó mấy ngày!

Nhà thơ Hằng Phương có một câu chuyện cảm động (Bà là vợ nhà nghiên cứu văn nghệ Vũ Ngọc Phan, là mẹ của hoạ sĩ Vũ Giáng Hương và giáo sư Vũ Tuyên Hoàng). Đầu năm 1945 muốn gia đình đỡ thiếu thốn, bà mua văn phòng phẩm vào Thanh Hoá bán, một lần bà đem cam từ Thanh Hoá ra  đến Bắc Bộ phủ biếu Hồ Chủ tịch nhưng không gặp được Người. Bà gửi gói cam lại cùng với bài thơ của mình. Mấy hôm sau người nhà nói Cụ Hồ có bài thơ Cám ơn người tặng cam in báo Tiếng gọi phụ nữ, Hằng Phương vội mua báo. Thì ra vì Hằng Phương không để lại địa chỉ nên Hồ Chủ tịch đành phải nhờ báo đăng thơ cảm ơn. Bài thơ của Hằng Phương đề ngày 2/1/1946 như sau:

Cam ngon Thanh Hoá vốn dòng

Kính dâng Chủ tịch tỏ lòng mến yêu

Đắng cay Cụ nếm đã nhiều

Ngọt bùi trời trả đủ điều từ đây

Cùng quốc dân hưởng những ngày

Tự do, hạnh phúc tràn đầy trời Nam

Anh hùng mở mặt giang san

Lưu danh thiên cổ, vẻ vang giống nòi.

Bài thơ cảm ơn của Hồ Chủ tịch như sau:

Cảm ơn bà biếu gói cam

Nhận thì không đáng từ làm sao đây

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Phải chăng khổ tận, đến ngày cam lai.

Sau nhiếp ảnh, thơ và những thước phim về ngày 2/9, đến lượt các tác giả mỹ thuật trở thành những người đầu tiên có tác phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bộ sách Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ, văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh (NXB Hội Nhà văn, 2010) có nhiều bài viết về sự kiện này. Đấy là việc các hoạ sĩ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung và nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim được gặp Hồ Chủ tịch để vẽ và nặn tượng Người vào tháng 5/1946. Trước đó, nhà văn Nguyễn Đình Thi, Tổng thư ký Hội Văn hoá cứu quốc đã đạp xe đến nhà từng người báo tin họ được ban lãnh đạo Hội chọn để sáng tác về Bác, chuẩn bị cho Triển lãm mỹ thuật và Nguyễn Thị Kim trở thành người đầu tiên của giới mỹ thuật làm  tượng Bác. Công việc của ba nghệ sĩ kết thúc vào sáng 30/5, sau hai giờ Bác ngồi “làm mẫu” vì tiếp đó Bác phải đến Khu học xá tạm biệt đồng bào trước khi sang Pháp dự hội nghị Phôngtennơblô. “Làm mẫu” nhưng trên thực tế Bác vẫn làm việc bình thường và Tô Ngọc Vân đã phản ảnh được điều đó trong cả hai bức ký hoạ và sơn dầu Bác Hồ làm việc ở Bắc Bộ phủ của mình. Hình ảnh vị lãnh tụ ở đấy thật gần gũi, bình dị và ung dung, toát lên sự tự tin mạnh mẽ trước những ngày sóng gió của đất nước. Theo kỷ yếu Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, 1948 – 2005 (NXB Hội Nhà văn, 2005) thì cuộc triển lãm nói trên mang tên “Triển lãm mỹ thuật Tháng Tám”, khai mạc vào ngày 18/8/1946. Trước đó, tạp chí Tiên phong số ra ngày 16/4/1946 đã có bài kêu gọi “Các nhà mỹ thuật hãy sửa soạn tác phẩm để dự phòng Triển lãm Mỹ thuật do Hội Văn hoá cứu quốc tổ chức vào mùa thu”.

Bức tượng Cụ Hồ của Nguyễn Thị Kim thực hiện tại chỗ bằng đất sét, sau đó được đổ thạch cao để làm khuôn đúc đồng. Toàn quốc kháng chiến nổ ra vợ chồng hoạ sĩ Phạm Văn Đôn - Nguyễn Thị Kim đã giấu tượng dưới căn hầm đào ở gầm bàn thờ. Sự việc không ai được biết, kể cả con cháu trong nhà. Trong 8 năm kháng chiến, Nguyễn Thị Kim hai lần bí mật về thăm nhà và rất mừng khi thấy bức tượng vẫn còn dưới hầm. Hoà bình lập lại tượng được tác giả tặng Viện Bảo tàng Cách mạng vừa thành lập.

Bác Hồ làm việc ở Bắc Bộ phủ. Tranh: Tô Ngọc Vân


Người thứ hai làm tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà điêu khắc Vũ Cao Đàm. Ông học khoá hai Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cùng với Tô Ngọc Vân. Trường này chỉ tuyển năm, sáu sinh viên mỗi khoá. Tốt nghiệp năm 1931vào loại xuất sắc, Vũ Cao Đàm được nhận học bổng sang Pháp học tiếp rồi ở lại Pháp. Khi Hồ Chủ tịch sang Pháp dự Hội nghị Phôngtennơblô, trong không khí hân hoan của Việt kiều với Bác, Vũ Cao Đàm đã đề đạt nguyện vọng được tạc tượng Bác và Bác đã đồng ý. Trong bài viết của mình, người con gái của ông bà Vũ Cao Đàm, chị Yannich Vũ kể: Tượng cao 45,7 cm bằng thạch cao. Hồ Chủ tịch cũng đã tặng ảnh và huy hiệu của Người cho Vũ Cao Đàm, tấm huy hiệu sau đó được Vũ Cao Đàm phiên bản thành nhiều chiếc từ một cơ sở đúc tiền. Sau, do người gác cổng tố cáo nên cảnh sát Pháp đã khám nhà Vũ Cao Đàm, may sao được người cậu báo trước nên tượng, ảnh và huy hiệu Bác đã được đem giấu vào hòm đàn dương cầm nên cảnh sát không tìm thấy. Vũ Cao Đàm bị bắt đi gần sáng mới được thả. Từ đó ông lâm bệnh và không thể làm việc được vì vậy phải dời Pari đi nơi khác và tìm đến nhà một nông dân đảng viên Đảng Cộng sản Pháp để nhờ giấu bức tượng. Vào những năm 1950, nhà Vũ Cao Đàm còn bị khám hai lần nữa và cảnh sát lấy đi 20 tấm huy hiệu Bác giấu trong hầm của phòng tiếp khách. Năm 1967 ông bà Vũ Cao Đàm trở lại nơi nhờ giấu bức tượng, 20 năm đã trôi qua, người nông dân ngày trước lúc này đã già và lâm bệnh nên không còn nhớ Vũ Cao Đàm là ai. Rồi một tia sáng như loé lên trong đôi mắt ông, ông nhìn bà vợ Vũ Cao Đàm: “Thưa bà, bà tìm bức tượng Hồ Chí Minh có phải không?” rồi đưa mọi người vào một căn phòng tối tăm, lấy ra dưới lớp rơm bức tượng. Ngay năm sau gia đình Vũ Cao Đàm đã định chuyển tượng về Tố quốc nhưng đúng lúc đó diễn ra cuộc tổng tấn công Tết Mậu thân (1968) nên không xin được hộ chiếu. Thời gian trôi đi, 30 năm trôi qua kể từ ngày tìm lại được bức tượng, vào năm 1996 vợ chồng Yannich Vũ quyết định mang tượng sang Tây Ban Nha, tới một điểm đúc đồng nổi tiếng đổ khuôn chuyển từ thạch cao sang đồng để giữ tượng được vĩnh viễn với ý định sẽ chuyển tượng về nước vào dịp kỷ niệm sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hai năm sau, năm 1998 ý định được thực hiện, rất tiếc do khoảng cách về địa lý và lý do tàu xe nên tượng tới Hà Nội chậm mất một ngày: 20/5/1998! Ông Vũ Cao Đàm lúc này đã 90 tuổi  không về nước được, tin này làm ông hết sức mừng rỡ.

Bộ sách Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ, văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh tập hợp nhiều bài viết có giá trị, rất tiếc không bài nào nói về những thước phim do hoạ sĩ Mai Trung Thứ thực hiện ở Pháp năm 1946, ghi lại hoạt động của Hồ Chủ tịch và phái đoàn Phạm Văn Đồng tại Hội nghị Phôngtennơblô. Tạp chí Cửa Biển số Xuân Tân Tỵ, 2001 có bài của nhà văn Mai Ngữ (tên thật là Mai Trung Rạng, cháu gọi Mai Trung Thứ là chú) viết về sự kiện này. Mai Trung Thứ, người làng Do Nha, nay thuộc xã Tân Tiến, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, ông là sinh viên khoá I Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cùng với Nguyễn Phan Chánh, Lê Văn Đệ, Lê Phổ, George Khánh và Nguyễn Cao Luyện. Năm 1936 Mai Trung Thứ sang định cư và hành nghề ở Pari, Pháp. Với chiếc máy quay phim 35 li, ông đã quay những hoạt động, những cuộc hội họp và hưởng ứng Tuần lễ vàng (diễn ra ở trong nước từ 17 đến 24/9/1945) ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh của Việt kiều ở Pháp và đầu năm 1946 đã gửi về nước bộ phim tài liệu Sức sống của 25.000 kiều bào tại Pháp. Phim đã được chiếu tại các rạp ở Hà Nội. Tháng 6/1946 Mai Trung Thứ lại thực hiện phim về Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Phạm Văn Đồng tại Pháp. Phim đã được chiếu trước bà con Việt kiều. Tháng 1/1974 Mai Trung Thứ về thăm Tổ quốc và trao lại những thước phim này, nhờ đó cùng với các tài liệu khác các nhà làm phim trong nước đã hoàn thiện bộ phim về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch.

Trên đây là những tác phẩm văn học nghệ thuật đầu tiên về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiều tác phẩm trên thực tế chỉ là tác phẩm thời sự nhưng ý nghĩa lịch sử, tầm khái quát, sức cuốn hút công chúng và đặc biệt là tình cảm của tác giả gửi gắm trong đó đã đưa tác phẩm trở thành những tác phẩm nghệ thuật có giá trị. Và còn phải nhấn mạnh điều này: Mọi tình cảm đối với Bác đều rất được trân trọng nhưng cũng như các lĩnh vực tình cảm khác, những tình cảm đầu tiên, tình cảm của người xa Tổ quốc bao giờ cũng mang ý nghĩa đặc biệt xúc động vì ngoài tấm lòng, tất cả không hề có một mục đích gì khác./.


 


 
Đọc Mai Văn Phấn


Vũ Quần Phương

VQP_1

Nhà thơ Vũ Quần Phương


Khoảng hai mươi năm trước tôi đã có dịp bộc lộ lòng yêu mến chất tâm hồn Mai Văn Phấn (MVP) khi viết về tập thơ đầu tay của anh. Hôm nay tôi vẫn giữ lòng yêu mến ấy, nhất là đối với phần thơ lục bát đầu tập tuyển này mà tác giả chú thích là từ khởi đầu đến 1995. Chặng thơ này bộc lộ một đặc điểm MVP. ấy là phóng túng trong cảm xúc và logic trong tư duy thơ. Thử lấy ngẫu nhiên một bài, bài Khúc cảm mùa thu, trang 18: Hóa thân giọt nước mùa hè/ Một đêm trở gió bay về với thu/ Dẫu chưa trọn kiếp sương mù/ Xin tan loãng kẻo trăng lu cuối trời/ Bao lần xanh biếc rong chơi/ Mấy lần úa rụng tiếng người vọng theo/ Thôi em! Đừng vặn đừng khêu/ Đáy thu thắp sáng trên nhiều ngọn cây/ Anh vừa đọng xuống thu gày/ Đã đông thành đá phủ đầy rêu xanh

Hồi ấy, cuộc thi thơ trên báo Người Hà Nội trao giải cao cho bài thơ Nghi Tàm của MVP cũng trong khuynh hướng ghi nhận phẩm chất tâm hồn này.

Nhưng thơ MVP không chỉ phát triển  theo lợi thế này. Một lần gặp anh ở Hải Phòng, anh thì thào thông báo anh đã tìm một hướng mới cho thơ. Tôi nhớ gương mặt anh khi ấy hào hứng, phấn khích và có vẻ bí mật như người mới tìm ra chỗ có giấu vàng. Kể lại chi tiết này tôi muốn lưu ý: MVP rất ý thức với hướng tìm của mình. Gần hai mươi năm trôi qua, nhiều tập thơ của anh đã xuất bản, MVP cũng nhiều lần bộc lộ quan niệm thơ. Anh tự điểm diện: Nhìn lại 9 tập thơ, đó là cách tôi đi từ truyền thống đến hiện đại và tìm ra giọng nói thi ca riêng biệt như bây giờ. ở tập Vách nước hình ảnh siêu thực đa dạng và phồn tạp. Nhưng đến những tập thơ sau này, nhất là Bầu trời không mái che vừa xuất bản, tôi cố gắng tránh cách biểu hiện đó. Thực ra “siêu thực” không còn mới mẻ, nhưng “vết bỏng” của nó vẫn ảnh hưởng tới nhiều thế hệ sau này (...) Sau khi đã băng qua những “sa mạc” như Siêu thực, Tượng trưng, Biểu hiện, thơ Ngôn ngữ, Tân hình thức, Hậu hiện đại, Cổ điển mới... tôi thấy sao chúng ta không tự tìm lấy một khuynh hướng, mà phải lệ thuộc vào “thằng Tây”. Những khuynh hướng ấy bên ngoài họ đã xếp vào viện bảo tàng từ thế kỷ trước, trong khi chúng ta vẫn lúng túng, tranh cãi...Vậy “thong dong” là cách tôi tìm về với cội nguồn thi ca, ĐỂ CHO CẢM XÚC TRÔI CHẢY TỰ NHIÊN VÀ TÌM CÁCH NÓI NHIÊN, TỐI GIẢN TRONG TRẺO NHẤT.

Tôi chắc bạn viết, bạn đọc không ai không tán thành khuynh hướng này. Cái đích đến của anh là sự hồn nhiên trong trẻo cả trong cảm xúc lẫn cách thể hiện. Nhưng để đến được đó là cả một quá trình. Anh nói: Tiếc những năm trước đây mình loay hoay lúng túng lâu quá. Chỗ anh tiếc là chỗ chúng ta yêu mến anh. Yêu mến thái độ dấn thân. Yêu mến tinh thần tìm, nhất là yêu mến ý thức tự nhận ra cái chỗ tìm mà chưa thấy của anh (loay hoay lúng túng) để tự “vong thân” mà đi tiếp, đi cho tới hồn nhiên, trong trẻo. Tôi chắc từ đây thơ anh sẽ “thong dong”. Thong dong trong sự định hướng: Hồn nhiên, trong sáng để tiếp tục đi, như anh tự nhủ lại phải chuẩn bị cho cuộc lên đường mới. Một đích đến ngỡ như “muôn đời” ấy, MVP đã phải trả giá bằng những cuộc tìm không hồn nhiên chút nào. Đóng góp của MVP không chỉ ở gầu nước mát Hồn nhiên trong trẻo anh dâng độc giả khi họ đang cơn khát mà còn ở cái cách anh đã băng qua những sa mạc siêu thực, tượng trưng...để tìm ra nước...

Như đã nói ở trên , trước khi nhập cuộc tìm,  rồi tìm mà chưa thấy, và đã thấy, MVP đã có thơ nằm trong sự chờ đợi của bạn đọc. Đó là một may mắn, nhưng may mắn hơn là anh lại biết: ngoài con đường của mình, của nước mình, của phương Đông mình còn có những con đường khác của thiên hạ cũng mở ra những miền đất, những chân trời. Chính cái sự biết ấy dẫn đến một say mê - cách tân. Anh đã bền bỉ đọc, viết, kiên định làm mới thơ mình. Tháng 8 năm 2010, MVP bộc lộ trên báo Thể thao Văn hóa: Thực trạng văn học nước nhà, đặc biệt trên lãnh vực thi ca vẫn trì trệ và lạc hậu so với một số nước trong khu vực (...) chứ chưa dám so sánh với các cường quốc thi ca như Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc... Văn bản là thế, nhưng tôi xin phép anh MVP được hiểu “thoáng” hơn một chút.

So sánh về khoa học, công nghệ dễ cụ thể hơn là so sánh về văn hóa, về lối sống nhất là về thi ca, vốn là chất tâm hồn, của các dân tộc với nhau. Tôi nghĩ một nền thơ có sức xốc dậy một dân tộc nhỏ và kém trang bị dám đứng dậy đòi quyền tồn tại cho mình không thể là nền thơ trì trệ. Tôi cũng không nghĩ một nền thơ mà giữa những bức xúc, thậm chí suy thoái trong nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội như hôm nay mà vẫn có những nhà thơ dám từ bỏ lợi thế ban đầu của tài năng mình để tìm đường khai phá, làm lại như MVP hoặc dám vượt lên những bó buộc của cảnh ngộ, của thời thượng để kiên trì làm bừng sáng giá trị một thể thơ  truyền thống như Đồng Đức Bốn lại là một nền thơ lạc hậu.

Tôi muốn thay khái niệm trì trệ lạc hậu trong văn bản trên bằng một khái niệm bình đẳng hơn, nó chỉ là sự khác biệt. Cái cần câu của chúng ta quả có khác cái cần câu của họ, còn để đánh giá mức tiên tiến của cần câu thì chí ít cũng phải xem lượng cá trong giỏ các ông câu ấy. Một nền thơ đủ để bảo vệ, để phát triển tâm hồn, tư tưởng, cách hành xử của một dân tộc không thể là trì trệ, lạc hậu, dù nó không tân kỳ trong quảng cáo, trong tuyên ngôn. Ngồi vào chiếu rượu chúng ta không việc gì phải xấu hổ khi không biết dùng dao và dĩa. Học cầm đũa có khi còn khó hơn học cầm dao, dĩa. Nhưng khó hay dễ cũng không gây nóng lạnh gì, cái chính là các công cụ ấy, các thao tác ấy đã giúp ta thong dong vận chuyển thực phẩm vào hệ tiêu hoá. Người ấn Độ ăn bốc (ăn bốc cũng là một đẳng cấp hưởng thụ mà ông bà ta đã xác nhận trong ca dao), nhưng họ lại làm giàu cho thơ ca thế giới bằng một Tagor đậm đặc vị và hương ấn Độ độc đáo cao quý, thần bí. Sao lại tự cho là mình trì trệ, lạc hậu chỉ vì khi ngồi ăn mình không dùng dao dĩa, khi làm thơ mình không tuyên ngôn những siêu thực, vị lai, đa đa, tượng trưng, phân tâm, nữ quyền, hậu hiện thực, tân hình thức...

Quả là một khối lượng kiến thức và kinh nghiệm của thơ mà nhân loại đã đi qua từ nửa cuối thế kỷ 19 (kể từ 1864 với Mallarmé và 1868 khi Théophile viết tựa tập thơ Hoa ác của Baudelaire khai sinh chủ nghĩa Tượng trưng với sau đó các tên tuổi Verlaine, Valery, Marcel Proust) và nhất là trong thế kỷ XX đầy ắp các trào lưu, các chủ nghĩa  (1909 Tuyên ngôn Vị lai, với Apollinaire, Tzara. 1918 Tuyên ngôn Dadaisme, với những Breton, Aragon, Elouard.  1919 Siêu thực, rồi siêu thực với Da da, với Chủ nghĩa Cộng sản khi gắn kết, khi đoạn tuyệt rồi hậu hiện đại từ kiến trúc (1963) vào văn chương (1967) sang triết học (1979, với F. Lyotard), và thành Chủ nghĩa tác động nhiều ngành nghệ thuật (1988). Các chủ nghĩa ấy đều có đích chung là phản kháng những giá trị cũ, tự xưng là nhân bản, là nền tảng, đều muốn phi thần thánh những hình thức nghệ thuật, đều chống  các lý thuyết hàn lâm, đề cao ngẫu nhiên, phi chính thống, rất gần với hư vô và vô chính phủ, mang tinh thần dân chủ cho thơ và cũng dẫn thơ đến một hệ quả: Mất độc giả trên phạm vi thế giới. Trong cuốn Văn hóa thế kỷ XX, của nhà xuất bản Bordas, 1995, tác giả Michel Fragognard đã viết trong mục thơ: Cái mà trước kia được tôn vinh là đẳng cấp nghệ thuật cao sang nhất, ngay ở thế kỷ XIX vẫn còn được coi là thể loại văn chương được trọng vọng nhất, thì bây giờ đã trở thành một loại hình riêng tư, bí hiểm, bị bỏ rơi trong học đường và rất ít được tìm đọc  ... Nhưng trào lưu này hầu hết nảy sinh, phát triển rồi tàn lụi ở phương Tây (Âu Mỹ) từ những lý do tâm lý, xã hội, chính trị... nảy sinh từ hai cuộc đại chiến, từ đời sống kỹ trị đơn điệu, từ sức mạnh phi nhân của đồng tiền...Âu Mỹ là động lực vì Âu Mỹ dẫn đầu về khoa học và công nghệ, dẫn đầu về văn minh thành đạt, có tác dụng thị phạm khích lệ nhân loại. Cái quần rách của anh chăn bò Mỹ từng thành mốt của thanh niên thế giới, họ phải mài quần đi cho rách để diện. Hội họa, điêu khắc, thơ ca... không ngoại lệ. Tuy vậy, vẫn có những vùng nhân loại không bận tâm nhiều đến các isme đó vì họ có hoàn cảnh sống khác, có những việc cấp bách khác. Việt Nam thời kháng chiến là một trường hợp. Chúng ta không tự hào vì sự không biết các trào lưu ấy. Bây giờ, hội nhập với thế giới, càng cần phải biết. Biết, để lựa chọn, để bổ sung, hoàn thiện con đường của mình, tối ưu cách đi của mình chứ không phải để dây chút cát bụi thời thượng, mù quáng bắt trước hiên hạ. Em như cục c... trôi sông / Anh như con chó chạy trông trên bờ, hai câu ca dao ấy có đủ mọi  tiêu chí của một bài thơ hậu hiện đại, mặc dù cha ông ta chưa hề biết tới thuật ngữ này. Ban ngày quan lớn như thần là “đại tự sự” thì ban đêm quan lớn tần mần như ma đã là “sự” gì rồi. Trạng từ tần mần giấu trong lòng nó một động từ mần duyên dáng và táo bạo như một thứ tân hình thức chính hiệu. Tìm viết cái lạ của người nhưng cũng cần, nếu không nói cần hơn, hiểu sâu sắc những đặc sắc của mình, mới có thể tìm ra tư thế “thong dong”  để đến được phẩm chất hồn nhiên, trong sáng và tối giản cho thơ như MVP mong muốn.

MVP đã có thành công trong cuộc cách tân nhiều thử thách đó vì anh muốn thơ đáp ứng nhu cầu đích thật của đời sống, anh không lạm dụng thói quen lười biếng của người đọc để lười biếng theo và cũng không chịu về hùa với thói thời thượng nông nổi. Anh không có ý định bày biện chủ nghĩa này tuyên ngôn nọ trong thơ mình. Đổi mới là một yêu cầu bên trong của tâm hồn, của nhận thức và trách nhiệm xã hội nơi anh. Anh đã thực hiện ý định của mình, đã chấp nhận thử thách của dư luận, đôi khi chấp nhận cả thất bại. Nhưng điều đáng nói là anh đã có thành công. Chưa thành công nhiều trong đơn vị bài mà thành công rõ trong chất thơ, trong trạng thái thơ tản mác trong các bài. Hình như MVP chưa cố định thơ vào đơn vị bài. Anh thường cố định vào một trạng thái tâm hồn, có tính cách cảm thụ thiên nhiên, ngoại giới (Cốm hương trang 308, Thu đến trang 310, Đá trong lòng suối, trang 305) và đây là chỗ anh phát huy đắc địa  tố chất nhạy cảm, tinh tế của tâm hồn anh. Đôi khi anh cố định thơ vào một hướng chủ đề, một chủ đề mơ hồ như một tinh vân ý tưởng chứ chưa thành đường nét, nó gợi nghĩ chứ không phải là ý nghĩ đã thành hình (Ghi ở Vạn lý trường thành, trang 239,  Nhìn kỹ trang 249, Nghé ơi, trang 309) và có lúc anh chỉ cố định vào một thủ pháp kết cấu, như một tung hứng chi tiết (chi tiết cái móng chân trong đoạn thơ uống trà, trang 326).  Tôi gặp nhiều thủ pháp sáng tạo, cuốn hút, thông minh trong các mảng thơ MVP. Anh dùng nhiều ẩn dụ chất chứa suy tưởng. Đó là tiềm lực trí tuệ của thơ anh và cũng là một phẩm chất đang cần của cả nền thơ chúng ta Vệt môi anh là con chim gõ kiến trên cây cổ thụ. Chiếc mỏ tí hon làm cây rừng thay lá, thân gỗ mục hồi sinh (...) Nhắm mắt anh nghe trong thân cây biết mặt trời đã mọc và ngôi sao lơ đãng đổi ngôi. Một chất thơ mới mẻ, một cảm hứng hàm chứa nhiều dự báo tương lai. Chúc mừng anh ! Tôi thích thú bơi trong những lớp sóng cảm xúc của anh. Bơi mệt nghỉ, ít gặp chỗ dừng để có thể trèo lên, ngồi xuống và nhìn lại những gì mình vừa qua. Anh đang say mê mở ra mà chưa định chốt lại. Cũng có thể là một quan niệm thơ: kêu gọi bạn đọc làm đồng tác giả, kêu gọi hình thành liên văn bản cho tác phẩm. Tôi quen đọc thơ như người mót lúa ngoài đồng, muốn thóc được vào bồ cụ thể. Nhưng đây là đồng đất của anh, anh mời đứng mời ngồi như thế thì mình cũng phải theo thế mà thích ứng, mà hưởng thụ tinh hoa của thơ anh./.


13/5/2011


 


 
Cần thống nhất về những di bản trong bài thơ NHỚ BẮC của HUỲNH VĂN NGHỆ

 

Nói về nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ và bài thơ Nhớ Bắc nổi tiếng của ông hai Tạp chí có uy tín của Hội Nhà văn Việt Nam là Tạp chí Nhà văn và Tạp chí Thơ đều có bài giới thiệu nhân Ngày thơ Việt Nam lần thứ VIII và chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội nhằm tôn vinh thi nhân và thi phẩm có giá trị này.

Nếu đối chiếu bài thơ Nhớ Bắc của Huỳnh Văn Nghệ trên Tạp chí Nhà văn số 2 năm 2010 (bản B), thấy có nhiều chỗ khác nhau:

Về địa danh và thời gian sáng tác, bản A không ghi, bản B ghi chiến khu Đ, 1946 - 1948.

Bài thơ Nhớ Bắc của Huỳnh Văn Nghệ có 16 câu, chỉ có 3 câu thơ in giống nhau ở hai bản A và B (câu 6, câu 11), còn lại 13 câu thơ đều có chô khác biệt từ dấu câu (dấu phẩy, dấu chấm, dấu cảm) đến từ ngữ (Lạc Rồng/ Lạc Hồng; độ/thuở; Trời Nam/ Ngàn năm; hồn/sầu; phảng phất/man mác; ngàn/nghìn; xa muôn dặm/ôi đất Bắc; cảnh/cánh), thậm chí thiếu một chữ (câu 1) khiến người đọc băn khoăn không biết bản in nào là đúng với nguyên tắc bài thơ (Chúng tôi xin đăng cả 2 bản in để bạn đọc xem xét).

Đề nghị Hội Nhà văn Việt Nam và cơ quan xuất bản báo chí của Hội có biện pháp xác định chính xác văn bản bài thơ Nhớ Bắc của nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ, đảm bảo tính khoa học, tính lịch sử trong việc nghiên cứu và giảng dạy văn học.


Huỳnh Văn Nghệ

Nhớ Bắc


Có ai về Bắc ta đi với

Thăm lại non sông giống Lạc Rồng

Từ độ mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long!

Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng!

Mà ta con cháu mấy đời hoang

Vẫn nghe trong máu hồn xa xứ

Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương

Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ

Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn

Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ

Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng

Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên

Chinh Nam say bước quá xa miền

Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm

Muốn trở về quê, mơ cảnh tiên

(Bản in của Tạp chí Nhà văn số 3/2010)




Huỳnh Văn Nghệ

Nhớ Bắc


Ai về Bắc, ta đi với,

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng

Từ thuở mang gươm đi mở cõi,

Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long

Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng

Mà ta con cháu mấy đời hoang

Vẫn nghe trong máu sầu xa xứ,

Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương

Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ

Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn

Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ

Mỗi lần man mác hương sầu riêng

Sứ mạng nghìn thu dễ dám quên

Chinh Nam say bước quá xa miền

Kinh đô nhớ lại, ôi đất Bắc,

Muốn trở về quê mơ cánh tiên

Chiến khu Đ 1946 - 1948

(Bản in của Tạp chí Thơ số 2/2010)


 


 
Đôi điều về thơ Khánh Phương


Thi Hoàng


 

Giọng mềm len lỏi trong tâm thức và sững ra bắt gặp những thi ảnh lạ. Những cảm thức tưởng như oái oăm đáo để mà thực ra lại  được nhú lên từ cái gốc thật hiền lành thiện nguyện của tâm tính.

Thơ Phương (rất may) không dụng tâm săn đuổi sự quái dị để làm mới mà cái mới ở chị được phát tiết chính là ở sự dám thành thực với chính mình. Ngoài cái tình thơ còn tính thơ . Tính nết ở thơ chị dàn ra những băn khoăn lưỡng lự để tìm chỗ cho thân tâm khả dĩ chấp nhận được trong sự giằng xé ngấm ngầm giữa văn minh và văn hoá. Qua rất nhiều phức cảm ngoắt ngoéo rồi lắng xuống, trong ra để giản dị:

- Takeshi, khi tớ bước đi hai tay vung vẩy cậu có nhìn không?

- Tớ thấy cậu biến vào căn phòng kín mít để con chó con đứng lại ở bên ngoài.

đến những câu như vậy tức là không còn (phải) quan tâm đến thi pháp, nó tự nhiên có thi pháp ở trong ấy. Còn:

chầm chậm ráp những đoạn thì giờ đứt gãy

một góc chiều tróc sơn.

thì đấy là thấy hay cảm thấy ? Chắc là cả hai. Không mấy khi vừa thể chất vừa tinh thần dồn vào nhãn lực như vậy để phát hiện ra những day trở nhuốm màu phiền muộn ở cả hai chiều không gian và thời gian thật sự là đương đại như vậy. Tìm kiếm Phật tính trong văn hoá tinh thần phương Đông không phải là chuyện dễ. Nhiều khi nằng nặc dõi nhìn mà chẳng thấy. Vậy mà có lúc ở những va chạm ngẫu nhiên của vật chất hay ngôn ngữ như là sự ngớ ngẩn, ngô nghê lại đánh mạnh vào thức giác như một công án thiền. Thảng hoặc gặp ở thơ Khánh Phương cái mờ tỏ của những ẩn ý không biết là để sống hay để mộng. Song, dù sống hay mộng thì cũng trong nội hàm là đem sự tốt đẹp đến cho nhau. Sự tốt đẹp ấy đã dịch chuyển từ truyền thống sang hiện đại ở những ý tưởng, chi tiết từ:

... vị đắng còn lại trên lưỡi ta khi ngôn từ bị chối bỏ cho đến khi Đêm lăn thân thể anh tới em dưới ánh sao trời... Nhà thơ không phải là nhà đạo đức, nhưng cũng phải tốt bụng thì từ lòng mình ra chữ nghĩa may ra mới có một vài cảm hoá để rồi chính nhà thơ hay may hơn là độc giả sau cái sự viết và đọc, cùng nhau sống tốt hơn.

Đừng tưởng rằng trong tưởng tượng không có sự minh bạch. Dù hiện thực ngoài đời hay hiện thực trong tâm trạng cũng đều có độ thành thực ít nhiều quan hệ với tư cách của người viết. Chỉ có sự bịa đặt mới làm băng hoại trí tưởng tượng. Săn tìm cái mới lạ để đón lõng sự chú ý của dư luận mà không thể tất nhân tình, không điềm tĩnh rất dễ sa vào bịa đặt. ở thơ, sự bịa đặt đang là một nguy cơ! Chân thực không phải là sự ràng buộc mà chỉ là điều kiện để người viết và người đọc có sự liên thông; Không có sự liên thông này, thơ không còn là nó nữa. Ta có thể nhẩn nha cùng Khánh Phương với những nỗi niềm thơ mà sự tưởng tượng và tính chân thực không bài trừ lẫn nhau mà sít sao tương tác, cộng hưởng. Thì đây:

Chỉ đêm mới ràng buộc ta, lại đến ngày rời rụng,

hãy nhìn em trong ánh sáng ban ngày.

Nếu từ chối tự nấu cho mình bữa trưa,

hãy trở về nấu lại cuộc đời anh... chẳng hạn

Trở lên,  sau những gì đã nói vẫn dấy lên một âu lo. Không biết phía trước con đường thơ của Khánh Phương sẽ ra sao. Chủ thể thì đã đành là người thơ nương níu. Còn khách thể, ai mà biết được rồi ra có làm khó chị không? Hy vọng chị là người có bản lĩnh.

Ở thơ Khánh Phương có nhiều cái (không loại trừ có cả cái lan man) nhưng trước hết là có cái để đọc./.



 
«Bắt đầuLùi111213141516Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

 

Tạp chí Cửa Biển số 199,200 (1,2/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 198 (12/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)