Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 18 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Tiếng cười trong “Utopi một miếng để đời” của Vũ Bão

Trần Thị Hạnh

Nhà văn Vũ Bão trước lúc ra đi về cõi vĩnh hằng đã kịp gửi lại cho độc giả một cuốn tiểu thuyết dồn trút những điều tâm huyết suốt một đời cầm bút: “Utopi một miếng để đời”. Utopi gợi nhớ tới tác phẩm “Utopia” của Thomas More viết năm 1516, mô tả một xã hội không có thật, từ đó Utopia có nghĩa là “không tưởng”. “Utopi một miếng để đời” đã kể chuyện anh thợ chuyên làm thịt chó lên  ngôi thành bao chuyện tức cười. Từ chuyện quốc gia đại sự đến chuyện ăn uống, tắm táp. Từ vấn đề an ninh, quốc phòng, y tế, giáo dục đến vấn đề nam nữ… hôn nhau, tất tật đều bộc lộ những bất cập, yếu kém, non nớt, ấu trĩ, lạc hậu…và con đường đi đến chỗ hoàn thiện dường như còn rất xa vời , rất gian nan.

Utopi của Vũ Bão là thủ đô của vương quốc Balôđitxtan theo chế độ quân chủ lập hiến. Thái tử Balôđitxtan nhân một lần du lịch nước Nam xứ á châu đã được thưởng thức món thịt chó tại một nhà hàng ở thôn Chè, xã Trà Thủy, huyện Sông Trà, tỉnh Trà Lý và đâm ra mê mẩn. Về nước, Thái tử bèn mời anh thợ thịt chó Phạm Thế Hệ sang xứ Balôđitxtan để phổ biến món ăn có một không hai này. Thế là câu chuyện bắt đầu mở ra theo bước chân và hành trình ra nước ngoài của anh thợ giết chó thôn Chè. Truyện của Vũ Bão là cả bức tranh xã hội sống động với muôn mặt đời sống.

Từ chuyện thịt chó, Vũ Bão tự do phóng bút đến chuyện quốc gia, dân tộc. Có chuyện xứ Balôđitxtan thanh bình, Thái tử không muốn làm Quốc vương, họp hành ít, lễ hội không vẽ vời, cái gì lợi được cho dân thì làm cho dân, đem cho dân. Utopi là một đất nước có sự công bằng trong luật pháp. Hoàng tử Ghita Đamua là vị quan tòa công minh, chính trực nhất: Có lần tòa án thủ đô Utopi xử một thanh niên 5 năm tù về tội cưỡng dâm. Anh ta chống án và lẵng nhẵng đâm đơn đi kiện khắp nơi và may mắn đến được Thái tử. Vốn tính thương người, Thái tử mời anh ta lên và kiên nhẫn nghe anh ta kể từ đầu đến cuối rồi khẳng định đây chỉ là một vụ thông dâm nhưng người đàn bà muốn giấu chồng mối tình vụng trộm của mình nên đã láu cá biến cuộc gặp gỡ thường kì của mình thành một vụ cưỡng dâm, mà ở Baloditxtan tội cưỡng dâm cũng bị xử nặng không kém tội cướp nhà băng. Thái tử đến tòa án đọc đi đọc lại hồ sơ rồi bảo Chánh án gọi cô ta lên. “Thái tử hỏi: Anh ấy hiếp chị ở đâu? Cô ta trả lời: Thưa Thái tử, anh ấy hiếp con ở nhà tắm ạ. Thái tử bảo chị ta đưa đến nhà tắm rồi hỏi: Nhà tắm chật chội thế này anh ấy hiếp chị thế nào được? Cô ta vẫn hồn nhiên trả lời: Thưa Thái tử, anh ấy hiếp đứng ạ.Thái tử vẫn bình tĩnh hỏi: Anh ấy cao còn cô thì thấp, làm sao anh ấy hiếp được cô? Cô ta thật thà trả lời: Thưa Thái tử, anh ấy xui con ra nhặt mấy viên gạch vào kê cho con đứng. Thái tử bảo cô ta ghi đúng lời khai rồi đưa tờ khai cho Chánh án. Tòa án thủ đô Utopi mở phiên phúc thẩm, bác phán quyết của phiên sơ thẩm. Anh thanh niên vô tội, cô người yêu của anh phạm tội vu cáo, nhận hình phạt 5 năm tù cho hưởng án treo. Từ đấy trở đi, anh không thèm nhìn mặt cô người yêu trước nữa và nhân dân thủ đô Utopi cũng không nhìn thấy mặt ông Chánh án thành phố nữa. Tòa án tối cao lột lon Chánh án và đưa ông lên công tác tại vùng núi Taihosin để ông có thời gian suy ngẫm về tai họa ông suýt đổ lên đầu người dân vô tội.

“Vấn đề dân chủ, bình đẳng ở đây cũng được Hoàng gia và Chính phủ Balôđitxtan đưa ra phân tích và thực hiện đến nơi đến chốn: “Quốc vương và Thủ tướng nói giải phóng phụ nữ không phải chỉ đưa một phụ nữ lên làm Phó Thủ tướng hay một Bộ trưởng (…). Giải phóng phụ nữ ở Balôđitxtan nghĩa là mỗi chị em chúng em được dùng nồi điện Nhật Bản, bếp ga Mỹ, bếp điện Nga, ấm đun nước điện Hàn Quốc, máy xay thịt Anh, nồi hầm Nga, máy rửa bát đĩa Mỹ, chảo rán không dính Pháp, nồi hấp Trung Quốc, lò vi sóng Nhật Bản, máy hút bụi Pháp, máy điều hòa nhiệt độ Nhật Bản, máy giặt Hàn Quốc, chúng em vừa làm vừa nghe ca nhạc, xem các chương trình ti vi (TV), học các chương trình toán lý hóa trên TV, xem các chương trình thời trang, các kiểu tóc, các kiểu giày dép trên TV (…). Chồng đánh vợ, người vợ chỉ cần nhấc máy điện thoại gọi đến đồn cảnh sát gần nhất, lập tức cảnh sát đến gõ cửa ngay”. Nói chuyện một đất nước nào đó xa xôi mà như thấy những vấn đề nhạy cảm của đất nước mình ngay trước mắt và ước mong cho Utopi là hiện thực ở xứ mình.

Mạch truyện cứ thế phát triển trên cái trục chính được nhân vật “tôi” kể một cách hồn nhiên với những đoạn rẽ ngang khá hợp lý. Mỗi câu chuyện đều lấp lánh nụ cười hóm hỉnh của Vũ Bão, xâu chuỗi tất cả lại, người đọc có một “đời cười” bất tận.

Đầu tiên là chuyện hành trình đi tìm việc làm của anh thanh niên làng Chè cùng những đồng hương của anh. Họ làm giấy xin làm công nhân của Viện thiết kế “đi công nhân hay hơn vì công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng”. Được nhận vào làm và được đón tiếp chu đáo nhưng đến nơi mới ngã ngửa người ra: “Đúng là Viện thiết kế tổng hợp lâm nghiệp Hà Nội thật nhưng cán bộ-kể cả kỹ sư, cán bộ trung cấp và công nhân đều đi tác nghiệp trên rừng. Nếu bở ăn, các ông ở Viện đã nhanh chân đưa con đưa cháu- cùng lắm cũng phải đến phần cánh người trong họ, ngoài làng, làm gì đến lượt chúng tôi (…). Từ đấy chúng tôi bảo nhau đừng xin vào các cơ quan trung ương, họ sẽ tha lôi mình khắp trên rừng dưới bể.” Rút kinh nghiệm lần này, anh thanh niên làng Chè đăng ký xin đi lao động xuất khẩu, làm đơn xin đi, làm lý lịch, làm giấy khám sức khỏe, sao văn bằng tốt nghiệp THPT, bằng Tổ quốc ghi công, Bằng khen chạy nhanh nhất huyện, Bằng khen chạy thứ ba toàn tỉnh với hy vọng được chiếu cố. Thế nhưng đơn của anh vẫn bị xếp xó bởi “Bố tôi bảo: Thời buổi này, mày đi qua cửa nào thì phải đóng tiền cho cửa ấy… Mày cứ nghĩ mà xem, ai uống nước lã mà chạy công, chạy việc cho mày sang Tây xem tư bản giãy chết văng cả ti vi, tủ lạnh, máy khâu, đầu đĩa, bàn là, xe máy ra cho mày đóng thùng mang về nước.”

Đến chuyện ngành giáo dục: “Xóm giữa có một tay thuộc loại tối dạ nhưng nhờ nhà trường mót cái huân chương nên năm nào cũng phấn đấu một trăm phần trăm lên lớp, cậu ta đã có người đun lên lớp. Từ lớp một đến lớp chín thì còn được, nhưng khi vào trường THPT, cậu ta phải nghiến răng leo lên, không thày bà nào đun lên được, thế là đành tuột xích.” Còn anh thanh niên khi cố vận dụng hết những từ đã học để nói một câu tiếng Anh với Sayonara (cô gái đón tiếp anh) “Tôi rất xúc động trước tấm lòng mến khách của dân Balôđitxtan” thì cái giọng làng Chè cộng vốn tiếng Anh do các thày người Giao Chỉ dạy khiến Sayonara phải nhẹ nhàng trả lời là: “Xin lỗi, tôi không biết nói tiếng Đức.”

Rồi đến chuyện của ngành y tế, chuyện anh thanh niên thôn Chè đưa bà mẹ bị đau bụng vào bệnh viện huyện: “Cô y tá sờ sờ nắn nắn bụng bà cụ rồi ngẩng đầu hỏi tôi: Muốn kim to hay kim nhỏ đây? Tôi thật thà trả lời: Kim nào khỏi bệnh nhanh là được. Cô y tá lùi vào trong phòng, với tay lấy bao da, kéo roạt một cái cho nắp bong ra, lấy cái đo huyết áp rồi vừa quấn tấm băng rỗng quanh cánh tay mẹ tôi vừa nói: Đấy nhá, sau này đừng oán chúng tôi không báo trước. Nói đoạn cô bóp quả bóng cao su cho tấm băng màu xam xám quấn quanh cánh tay mẹ tôi căng dần lên. Chắc cô bóp quả bóng quá tay, nên mẹ tôi tự dưng không thấy đau bụng nữa mà cứ thấy nhưng nhức ở cánh tay như ngày bọn Pháp đóng ở bốt Chè xuống làng bắt phu đã trói mẹ tôi lại để uy hiếp những người định trốn”, anh phải vội chạy ra cổng mua cái phong bì, nhét tờ 50.000 đồng dúi vào túi áo blouse của cô thì bà mẹ mới được đưa vào phòng cấp cứu cho bác sĩ khám.

Rồi đến chuyện cán bộ lãnh đạo tha hóa, biến chất. Có vị cán bộ làm Chủ tịch xã, rất vô trách nhiệm dẫn đến hậu quả con đê của xã bị vỡ, dân làng lâm vào cảnh khốn quẫn nhưng ông chỉ bị “nghiêm khắc kiểm điểm, nghĩa là ngồi viết bản kiểm điểm, tống vội mọi tội lên cho trời. Lúc chỉ đạo chống hạn, ông thường kêu gọi cấp dưới chống trời, lúc rao giảng cho trường Đảng huyện, ông nhồi nhét cho các tín đồ của ông: không những chúng ta phải cải tạo thế giới, chúng ta còn phải cải tạo cả thiên nhiên. Đến khi muốn chạy tội, ông viện cớ điều kiện khách quan – tức là mưa to gió lớn như thế thì đê xi măng cốt thép ở Hà Lan cũng đành thúc thủ.” Trong một lần đi công tác, ông đã sàm sỡ cô cán bộ Đoàn ngồi cùng xe, có người tố giác, thế là ông bị cấp trên “giáng cho cái án khiển trách và rút lên làm Phó Giám đốc Sở Thể dục thể thao.” “Không biết còn ở nơi nào trên quả đất này lại có chuyện làm hàng vạn người khổ sở sống cảnh màn trời chiếu đất thì không việc gì nhưng đến khi chỉ làm cho một người sướng thì lại bị hạ tầng công tác như ở cái huyện tôi.”

Rồi đến chuyện của ngành giao thông vận tải: anh lái xe tuy nhìn thấy đèn đỏ rồi nhưng cứ phóng xe vượt qua. Bỗng dưng…Tuýt…uýt. Hai cảnh sát giao thông đứng sau mép tường cầm dùi cui vẫy xe dừng bánh. “Anh lái xe vội rút túi lấy tờ giấy “xanh lá cây” kẹp vào giấy tờ xe, đẩy cửa chạy ngay xuống. Một “ông núp bảo nhỏ anh lái xe: Có thế này thôi à? Anh lái xe xoa hai bàn tay vào nhau: Xin anh giơ cao đánh khẽ. Một ông núp nói ngay: Các anh mày thức cả đêm chốt ở chỗ này, chú em nghĩ sao cho hợp tình hợp lý. Anh lái xe vẫn xoa xoa hai bàn tay vào nhau: Đấy là em lo phần bia phở còn cà phê với thuốc lá, anh bắt con xe sau. Hai ông núp mỉm cười thông cảm với thằng em nhanh trí…”

Rồi đến chuyện nét tính cách xấu trong tâm lý người Việt “Một ông Tiến sĩ Sử học lâu nay chỉ chuyên tâm nghiên cứu thủy tổ loài người là con khỉ hay con ngựa. ông đã nghiên cứu từ thứ dân đến huyện trưởng, tỉnh trưởng, thứ trưởng, tổng thống, từ hạ sỹ đến trung sỹ, đại úy, thiếu tá, trung tướng, đại tướng vẫn hay ra đòn kiểu đá hậu, tuy mỗi thời, mỗi nước có cải tiến đi một chút cho phù hợp với phong tục, tập quán, hiến pháp, luật lệ nhưng miếng võ cơ bản vẫn là đá hậu theo gien di truyền.” Sống trong thế giới thông tin và hội nhập nhưng đa phần thanh, thiếu niên vẫn mù kiến thức giới tính và thiếu hiểu biết văn hóa phương Tây. Nghe thằng Đom – một thanh niên may mắn được đi xuất khẩu lao động ở Đông Đức, kể chuyện bãi biển nước người có cảnh tắm tiên “Đứa nào cũng bảo thằng Đom bốc phét, nước Đức là quê hương cụ Các Mác, không đời nào lại diễn công khai cái trò dâm ô, trụy lạc đó. Chỉ có bọn tư bản giẫy chết chúng mới sống gấp như thế thôi.” Thiếu hiểu biết nhưng lại rất tò mò thích nhìn trộm, xem lén. Anh thịt chó làng Chè muốn vào khu tắm khỏa thân là nhằm mục đích nhìn cho đã thân thể người khác (hơn nữa, người Tây hẳn hoi) chứ không phải nhằm mục đích thư giãn cơ thể. Thế nhưng lại khó vượt qua cái xấu hổ, tự ti cố hữu của anh nông dân sinh ra và lớn lên ở vùng đất ngàn năm trồng lúa nước. Cho nên anh ta mới “Nói người thì dễ, nhưng đến lượt mình tôi cứ phải đắn đo chán chê mê mỏi rồi cuối cùng tôi phải tự làm công tác chính trị cho chính tôi mới buồn cười chứ…Mày muốn xem hàng của Tây thì ít ra mày cũng phải trình làng cái của mày đi đã chứ… Mày nghiến răng lại “Triển lãm” một cái nhưng mày lại được thỏa thích ngắm nghía những trăm cái, toàn là hàng độc, lần đầu tiên mày nhìn thấy trong đời…”

Còn rất nhiều những chuyện khác nữa như tình trạng tham ô, lãng phí, ăn bớt ăn xén kinh phí xây dựng các công trình phúc lợi, tiêu “tiền chùa” vô tội vạ; chuyện lời nguyền của dòng họ Đamua như gửi gắm nỗi lo lắng về một nguyên tắc độc tôn, khép kín; chuyện giới thiệu món ăn mộc tồn “quốc hồn quốc túy” ra thế giới … Utopi đã dịch chuyển dần dần tương đồng với những điều chưa hoàn thiện ở đất nước xa kia.

Chất humour thấm đẫm từng trang sách, từng câu chuyện, cái cười của Vũ Bão trong tiểu thuyết này khi dí dỏm, lúc sảng khoái, lúc giễu nhại nhưng đằng sau đó chất chứa một sự suy ngẫm, có cả tiếng thở dài trước những ngổn ngang bề bộn chưa được dọn dẹp trên thế giới này. Và trên hết là tấm lòng thiết tha với con người và xứ sở, là niềm kỳ vọng vào một xã hội ngày cành tốt đẹp và văn minh hơn./.


 
Đọc truyện ngắn Đoàn Lê

 

Nguyễn Xuân Khánh (Hà Nội)


trinh tiet xom chua


1. Đoàn Lê viết truyện ngắn từ lúc học ở trường điện ảnh, đầu thập kỷ sáu mươi. Lúc đó chị mới khoảng hai mươi tuổi. Đoàn Lê có nhiều tham vọng. Chị đã thử sức mình ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật: Hội họa, điện ảnh, văn học. Văn học vốn là thứ bùa mê đối với nhiều người. Đoàn Lê cũng bị thứ bùa mê ấy hút hồn từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường. Chị làm thơ, viết truyện ngắn, tập dượt, tập dượt chăm chỉ mãi cho đến năm 1982. Lúc đó chị viết kịch bản Làng Vũ Đại ngày ấy. Cái kịch bản viết về Nam Cao nhưng không phải chỉ là chuyển thể một truyện ngắn hay tiểu thuyết riêng rẽ nào của tác giả, mà người viết kịch bản phải đọc kỹ toàn bộ tác phẩm của Nam Cao để phân tích rồi tổng hợp lại, tạo ra cái không khí rất Nam Cao của “Làng Vũ Đại ngày ấy”.

Sự phân tích rồi tổng hợp ấy tạo ra một hiệu quả kép. Thứ nhất nó cho ra đời một kịch bản tốt, tạo điều kiện cho đạo diễn thành công. Đó là bộ phim hay về Nam Cao! Thứ nhì, từ công việc viết kịch bản này, Đoàn Lê đã học tập được rất nhiều về công việc viết truyện ngắn của Nam Cao. Đoàn Lê có lần đã thú nhận:

“Tôi rất mê truyện ngắn của Nam Cao. Có thể nói, tôi chịu nhiều ảnh hưởng của nhà văn tiền bối ấy trong nghề viết văn xuôi”.

Có nhà nghiên cứu nói: “Văn Nam Cao chủ yếu hướng nội”.

Thực ra thì văn Nam Cao có cả hướng nội lẫn hướng ngoại.

Hướng nội như Sống mòn, Đời thừa, Trăng sáng. Trong những tác phẩm này, tác giả chủ yếu phân tích tâm lý nhân vật. Chuyện hầu như chẳng có gì.

Hướng ngoại như Chí Phèo. Truyện ngắn này có cốt truyện, có nhân vật, có xung đột, có hoàn cảnh xã hội, có cao trào thắt nút, mở nút...

Năm 1990 Đoàn Lê cho in tập truyện ngắn đầu tiên của mình. Đó là cuốn Thành hoàng làng xổ số, do Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành.

ở ngay hai truyện ngắn đầu tiên của cuốn sách, người đọc đã thấy ngay hai khuynh hướng, hướng nội và hướng ngoại mà Đoàn Lê đã tìm thấy trong bậc tiền bối được ưa thích của mình.

2. Đêm ngân vào có thể như một truyện ngắn đầu tay, nó báo hiệu một khuynh hướng sáng tác của Đoàn Lê. Khuynh hướng hướng nội, phân tích tâm lý, đào sâu vào cái ẩn khuất của tâm hồn con người, cảm thông với những thân phận bất hạnh. Truyện viết khá tinh tế về một mối tình tay ba. Thành hoàng làng xổ số là một truyện ngắn viết theo xu hướng ngược lại. Nó hướng ngoại. Truyện có chuyện, đầy sự kiện và chi tiết, nói về những con người nghèo khổ, chỉ muốn đổi đời bằng xổ số, số đề.

Xu hướng hướng ngoại ấy của Đoàn Lê nổi

lên rõ ràng và đặc sắc nhất là seri truyện ngắn viết về Xóm Chùa. Chúng ta bắt gặp Đất Xóm Chùa, Nghĩa địa Xóm Chùa, Người đẹp Xóm Chùa, Trinh tiết Xóm Chùa, Xóm Chùa thời ung thư. Nam Cao viết về một làng quê thời Pháp thuộc với sự khốn cùng thê thảm của nó. Còn Đoàn Lê thì vẽ ra cho chúng ta xem một làng quê trong quá trình đô thị hóa. Thời gian đô thị hóa là thời gian bản lề, nó là thời gian quá độ chuyển sang đời sống công nghiệp cho nên hiện thực xảy ra vô cùng khắc nghiệt. Các giá trị truyền thống của một xã hội nông nghiệp đang mất đi, và các giá trị mới chưa được hình thành. Chúng ta chứng kiến văn hóa làng cổ truyền đang bị biến đổi hay là đang tan rã. ở những truyện ngắn này những bi kịch về tranh chấp đất đai trong làng xóm xảy ra. Đạo đức xuống cấp (Đất Xóm Chùa). Rồi những cô gái đi lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc (Trinh tiết Xóm Chùa), thậm chí người ta bán cả mồ mả ông cha đi mà không biết (Xóm Chùa thời ung thư).

Đoàn Lê chả phải đi thực tế đâu xa. Dạo ở làng Lủ quê chồng, chị chỉ sống chan hòa với người dân chung quanh, quan sát những con người và sự việc hàng ngày quanh mình mà viết nên những truyện ngắn này. Nam Cao có một làng quê mà ông cắm rễ rất sâu để làm chất liệu cho nghề văn của mình. Đoàn Lê cũng làm như vậy. Có khác chăng giữa hai người, thì chỉ là hiện thực diễn ra mỗi thời mỗi khác, và tâm hồn mỗi nhà văn mỗi khác. Hiện nay, nhà văn nữ đang sống ở một xóm núi Đồ Sơn. Một cái xóm gần núi, gần biển. Đã thấy những truyện ngắn Chốn sơn khê, Rồi Bụt hiện lên, mang hơi thở của cái thị xã du lịch biển này. Cái xóm ven biển cũng đang thay đổi từng ngày. Chắc seri truyện về cái Xóm Núi ấy cũng đang được ấp ủ và đang được viết ra.

Có một điều lý thú khi đọc loạt truyện Xóm Chùa của Đoàn Lê, đó là cảm giác nó có dáng dấp của một cuốn tiểu thuyết thời hậu hiện đại. Cuốn tiểu thuyết gồm những truyện ngắn. Tức là kết cấu của nó lỏng. Cái gắn kết các truyện đó lại là chủ đề văn hóa làng thời hiện đại. Một cái gì đó quý giá đang mất đi và ta đang cố níu giữ nó lại.

3. ít người phụ nữ nào có số phận long đong như nhà văn Đoàn Lê. Hai lần chia tay. Người con trai yêu quý, chiếc lá xanh đã rụng trước lá vàng. Số phận đổ xuống đầu dồn dập như muốn đánh gục người đàn bà đa tài và đa tình này. Những chấn thương tình cảm để lại khá nhiều dấu vết trong những sáng tác của nhà văn. Giường đôi Xóm Chùa kể lại về cuộc chia tay giữa vợ chồng, cái tổ ấm mà nhà văn cố níu giữ nhưng không được.. Mẹ, con và Thánh Thần kể về sự ra đi của người con. Nhà văn đã dùng ngòi bút tự mổ xẻ mình. Truyện ngắn tâm lý khá hay nhưng thật buồn. Giao cảm cuối cùng nói về cái chết của mình và sự giao cảm với người tình tưởng tượng. Rồi có lúc làm thơ, nhà văn cũng viết:

Người đừng năm tiết, bảy tao

Mai ta ra biển, tan vào sóng xanh...

Rồi khi trò chuyện với bè bạn, Đoàn Lê cũng hay nhắc tới căn bệnh kinh niên tiểu đường với những biến chứng khủng khiếp của nó. Chị nói:

“Tôi không để cho bệnh đi trước tôi đâu. Tôi sẽ đi trước nó. Người ta thiếu gì cách chết. Ra biển, tan vào sóng xanh chẳng hạn”.

Có lúc nhà văn nức nở khen một cái truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Cái truyện Thiệp viết có khẩu súng lục rồi đòm một phát.

Phải nói rằng, tư tưởng bi quan hay bản năng chết (Thanatos) cũng có sức hấp dẫn riêng. Có người lạc vào miền ảnh hưởng của nó, nếu lạc sâu sẽ thấy khoái cảm, rồi dần dà sẽ bị nó chi phối, nếu không tỉnh kịp sẽ quên mất đường ra. May thay, đối lại bản năng chết còn có bản năng sống (éros). Gặp một hoàn cảnh nào đó, bất thần éros thức dậy.

Bẵng đi ít lâu, bỗng một lần Đoàn Lê nói với tôi: “Em đi theo nhà ngoại cảm  tìm hài cốt ông cậu ruột hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Đứng ở bãi tha ma ngổn ngang gò đống, rồi nhà ngoại cảm nói: đứng lẫn với người là vong linh những người đã khuất. Em chợt cảm nhận cuộc đời thật vớ vẩn. Bon chen, tranh giành là vớ vẩn. Giàu sang nghèo đói cũng là vớ vẩn. Cả đến sự nghiệp viết lách cũng là vớ vẩn tuốt. Nghĩ cho cùng, có lẽ trên đời chỉ còn có tình yêu là thật nhất, đáng kể nhất. Tình yêu ở đây em muốn nói theo nghĩa rộng. Có thể tình mẹ con, chị em chẳng hạn”.

Tôi cứ tưởng chỉ là sự triết lý nhất thời của nhà văn mà thôi. Ai ngờ ít lâu sau một loạt truyện ngắn của Lê ra đời. Cổ tích Manơcanh, Chờ Nhật thực, rồi Sex, Rồi Bụt hiện lên. Mà lại toàn truyện tình yêu cả.

Tôi có hai người bạn viết truyện ngắn rất nhanh nhẹn. Nam là Châu Diên. Nữ là Đoàn Lê. Thuở trẻ, có lần Châu Diên bảo tôi:

“Mình có thể viết bất cứ về cái gì. Cậu cứ ra đề. Chỉ một đêm mình sẽ viết xong”.

Bận ấy, tôi chỉ vào con sư tử đá ở Đấu Xảo (Cung hữu nghị Việt Xô). Quả nhiên, sáng hôm sau Châu Diên viết xong truyện ngắn Con sư tử đá. Truyện ngắn chẳng tuyệt vời nhưng cũng xem được, tiếc rằng tôi đã để thất lạc. Năm 2005, có cuộc trình diễn thơ ở Trung tâm Văn hóa Pháp L’eopace. Tên cuộc trình diễn là “Chiều buông những tiếng thở dài”. Nhà thơ trình diễn là Dương Tường. Năm ấy Tường bảy mươi ba tuổi nên họa sĩ Nguyễn Minh Thành dùng bảy mươi ba chiếc cối đá để tượng trưng sắp đặt. Lẽ dĩ nhiên tôi và Châu Diên đều có mặt. Nhớ lại chuyện xưa, tôi bảo Châu Diên:

“Mình đố ông có một truyện ngắn về bảy mươi ba chiếc cối đá kia đấy”.

Tôi cũng không ngờ chỉ mấy hôm sau Châu Diên viết xong truyện ngắn “73 chiếc cối đá”. Tôi đọc thấy truyện này rất có duyên. Truyện tình mà còn ngậm ngùi là đằng khác. Đúng với chủ đề cuộc chơi thơ “Chiều buông những tiếng thở dài”.

Cho đến hôm Đài Truyền hình báo tin sắp có nhật thực toàn phần. Đoàn Lê gọi điện mời tôi về Đồ Sơn ngắm nhật thực. Lại còn nói có nhiều bạn bè lắm. Tôi xin phép có việc bận không về được. Tôi bảo:

“Nhưng nếu em viết được một truyện ngắn về nhật thực thì hay đấy”.

Đoàn Lê nói:

“Viết được. Em nhất định sẽ viết một truyện ngắn tên là Chờ Nhật thực”.

Và chỉ ít lâu sau, tôi thấy truyện ngắn xuất hiện cùng với cái sapô giới thiệu của nhà văn Hồ Anh Thái: Nhà văn Đoàn Lê sắp 70. Thế mà đọc văn chị, ta có cảm tưởng chị mới u30.

Còn tôi, khi đọc xong tôi lại nghĩ sang chuyện khác. Tôi thầm nhủ:

- Thế là những tư tưởng tiêu cực đã lùi xa. Cô ấy đã giữ đúng lời hôm nao. Cô ấy đã viết truyện tình yêu. Thanatos đã rút lui, éros đã thắng.

Mà quả thực, người phụ nữ này có bản năng sống phi thường thật. Trong những ngày khủng hoảng, Đoàn Lê đã làm đạo diễn mấy bộ phim, vẽ hàng chục bức tranh, viết mấy cái kịch bản phim, viết mấy chục truyện ngắn, một cuốn tiểu thuyết. Tôi cũng chẳng biết Đoàn Lê phân chia thời gian làm việc như thế nào, lấy thời gian làm việc vào lúc nào, bởi vì mỗi lần tôi có dịp về chơi, đều thấy nhà chị đông nghìn nghịt những khách. Khách văn thơ từ Hà Nội, Huế, Bắc Giang, những fan hâm mộ, những họ hàng con cháu, những nhà báo...

4. Cũng cần phải nói thêm một điều. Phong cách truyện ngắn của Đoàn Lê mấy năm gần đây ngày càng đa dạng.

Ngoài những truyện thiên về tả thực và phân tích tâm lý ta thấy nhiều truyện mang yếu tố ảo hơn như Lên ruồi, Nhân bản hoặc mang yếu tố hiện đại như Sex hoặc sử dụng nhiều đến trí tưởng tượng tổng hợp hơn (immagination synthétique), nghĩa là tác giả dùng hư cấu bịa đặt tổng hợp những trải nghiệm của cả đời mình ra để viết như Chờ Nhật thực, Cổ tích Manơcanh, Tình Guột.

Sự tưởng tượng tổng hợp - đó là điều làm nên sự khác biệt giữa các nhà văn tiền bối và nhà văn hiện đại. Thời hiện đại, cách suy ngẫm cũng thay đổi. Nó đòi hỏi phải phóng khoáng hơn, cởi mở hơn. Nhà văn tiền bối có chất liệu hiện thực là tâm hồn mình, là những gì xảy ra quanh mình. Sự tưởng tượng tổng hợp cho phép kết nối những không gian lạ, những thời gian rất cách xa nhau, những liên tưởng bất ngờ lý thú, cho phép động tới những vấn đề mà người ta ngần ngại nói tới. Truyện ngắn Sex nghe cứ tưởng chuyện tình dục nào đấy ghê gớm lắm. Thực ra chỉ là câu chuyện một anh chàng cave. Xưa, nàng Kiều bán thân. Nay, còn có chàng Kiều bán thân. Thật buồn đến nẫu ruột. Truyện ngắn Nhân bản là một hiện thực chưa xảy ra, nhưng chắc chắn rồi sẽ xảy ra.

Sự tưởng tượng tổng hợp - Có lẽ đó là một cách lý giải tại sao giới trẻ lại thích đọc văn Đoàn Lê. Và nó cũng lý giải tại sao nhà văn Hồ Anh Thái lại nói Đoàn Lê u70 lại viết như một u30.

5. Để kết thúc bài viết, tôi xin phép được mô tả lại cái không gian sống mà Đoàn Lê, trong truyện ngắn, thường gọi là cái tổ cò của mình. Tôi nghĩ không gian sống rất ảnh hưởng tới văn chương con người.

Đó là một khu đất chừng hơn 400m, thuộc Đồ Sơn, cách biển vài trăm mét, dựa lưng vào quả núi Mẫu. Xóm Núi đó lại gần đường ô tô. Ra khỏi ngõ chừng vài chục mét là đến phố. Có thể nói ngôi nhà Đoàn Lê vừa quê, vừa tỉnh, lại vừa biển.

Căn hộ có hai ngôi nhà A và B. A sát ngõ vào, đó là xưởng vẽ và phòng viết của nhà văn. B là nhà khách và nhà ăn, cũng là nơi ở của đứa cháu gái.

Vì đất ở đây thấm nước rất nhanh không thể đào ao được nên nhà văn xây một cái bể xi măng chừng 20m2, vừa dùng làm ao thả cá vàng, vừa dùng làm chỗ nuôi những con ếch nhái, ễnh ương để chúng kêu vang đến khuya những đêm mưa dầm. Nó cũng là nơi dụ dỗ mấy con chim bói cá thỉnh thoảng bay đến rình bắt những chú cá vàng.

Khu vườn trồng nhiều hoa. Bụi tầm xuân lấp ló bên cửa sổ. Hoa tigôn đỏ ối góc vườn. Rồi mẫu đơn đỏ, mẫu đơn vàng nở rực rỡ. Mẫu đơn trắng thơm kín đáo thỉnh thoảng lại lan tỏa vào bên trong xưởng vẽ. Còn phải kể đến những cây cau hoa trắng thơm ngát những sớm mai mùa hạ.

Người ta bảo cây rất thân với người. Cây cảm nhận được tình cảm của con người. Cây và người tác động qua lại với nhau.

Ngoài những cây hoa ấy ra, tôi xin kể thêm hai cây đặc biệt. Hai cây này thân gỗ, có bóng mát, cao tới 5 - 6 mét và 7 - 8 mét.

Cây thứ nhất là cây lộc vừng mọc ngay ở thềm nhà B. Đoàn Lê bảo:

“Rõ ràng lúc tôi mới trồng, cây lộc vừng chỉ có một gốc. Thế mà lớn lên nó lại thành hai gốc. Hai gốc khỏe khoắn ngang nhau nay đã to, mỗi gốc hơn bắp đùi. Tôi và Tảo cùng ở với nhau. Thành thử cứ cảm giác như nó là cây bản mệnh của hai chị em”.

Đoàn Thị Tảo và Đoàn Lê là hai chị em trong mười hai chị em con cụ lang. Lê là đốt thứ chín. Tảo là đốt thứ mười. Tảo là nhà thơ Hải Phòng nổi tiếng với bài thơ Chị tôi.

Tảo là người tận tụy với gia đình. Một mình cô đã hầu hạ mẹ già hơn mười năm liệt giường. Cũng chính bàn tay cô đã chăm bẵm cho ba đứa con của Lê. Rồi đến cả lũ cháu, con của ba đứa con Lê, cũng phải có tay của bà Tảo săn sóc... Cho nên, khi về già cùng sống với nhau, họ rất thận trọng chăm sóc hai gốc cây lộc vừng. Thậm chí, đối với cây ấy, Đoàn Lê như có chút mê tín. Cây mọc xum xuê quá, cô cũng không dám tỉa cành. Cô nói:

“Sợ rằng, chặt cành, cây nó đau thì sao. Trong hai gốc ấy, gốc nào ốm đau cũng đều thương cả”.

Cây thứ hai là cây ngọc lan trước cửa nhà A, trước xưởng vẽ. Hơn 10 năm về trước, Đoàn Lê được tặng cây ngọc lan khẳng khiu như ngón

tay út, trồng trong một chậu cảnh. Trồng trong chậu cây lan èo uột không lớn lên nổi và mãi chẳng có hoa. Một khách đến chơi nói:

“Cây ngọc lan là loại cây thân gỗ cao ngút trời. Có cây cổ thụ thân một người ôm không xuể. Bắt nó sống tù túng thế kia, làm sao có thể đơm hoa. Hãy giải phóng cho nó”.

Đoàn Lê nghe ra, đập vỡ cái chậu cảnh. Rồi bê cả cái chậu vỡ ấy, đào hố, chôn xuống đất. Hôm nay thân cây lan đã bằng bắp đùi. Cây lan đã cao tới 7 mét.

Mùa hè, tôi về thăm, Đoàn Lê khoe:

“Cây lan của em đã có chim làm tổ. Đấy anh đã trông thấy cái tổ xinh xinh làm bằng ba chiếc lá khâu lại kia không? Lũ chim non đã nở, bay đi rồi. Và thích nhất là cây lan đã ra hoa. Anh thấy chưa, hoa lan trắng muốt, rụng đầy sân”.

Tôi xin chúc Đoàn Lê như cây lan kia, sinh thêm được nhiều bông hoa lan vừa trắng tinh vừa thơm ngát./.


 

 
Thẳng thật với tình yêu...

Nguyễn Thanh Tuyên

 

Bài thơ "Cuộc sống" của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo:

Tờ giấy nào mỏng chỉ còn một mặt

Em hãy tìm cho tôi

Tờ giấy ấy không bao giờ tìm được


Tôi yêu em tôi tìm điều đáng ghét

ở trong em. Em đừng vội giận hờn

Em yêu tôi em tìm điều đáng ghét

ở trong tôi và em hiểu tôi hơn


Những ngọn gió chẳng hề mang tư tưởng

Cũng thổi dịu mùa Hè thổi buốt mùa Đông

Cái ngọn lửa con người tìm ra nó

Biết bao điều thiện - ác cháy bên trong


Đừng vội trách nhau nếu một ngày nào đó

Đang đắm yêu ta bỗng tự chia lìa

Bởi ta quá mê say mặt phải

Mà quên đi mặt trái bên kia.


Thưởng thức một bài hát ưa thích gặp chất giọng quen thính giả có thể nhận ra ngay ca sĩ, nhưng dường như chẳng mấy người để ý đến họ tên của người đã sáng tác ra ca khúc ấy là ai. Mặc dù vậy, giai điệu trữ tình ngọt ngào, tha thiết, đậm chất dân ca như  “Làng quan họ quê tôi” hay “ Khúc hát sông quê ” … thì không hiếm người biết rõ tác giả của nó là Nguyễn Trọng Tạo. Họ còn hiểu khá cặn kẽ về ông. Đó là một người lính, từng  trải qua khói lửa cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước; một thi sĩ đa tình, đa tài: vừa làm thơ, viết văn, viết phê bình, vẽ còn sáng tác cả nhạc nữa. Điều đáng nói là trong bất cứ lĩnh vực nào kể trên ông đều gặt hái được thành công đáng nể.

Khác với những làn điệu trữ tình bay bổng sâu lắng đọng lại tâm trí người nghe, bài thơ “Cuộc sống” của ông lại rất đỗi chân mộc, dung dị,  nghiêng về sự chiêm nghiệm lẽ đời. Nó gợi cho người đọc ngẫm ngợi, lưu tâm. Có thể những câu thơ ấy được viết ra khi mái tóc ông không còn xanh. Ông đã xa hàng mấy thập niên cái đoạn đời bồng bột mới tiếp cận tình yêu, nặng cảm tính ban đầu.Chắc chắn nghĩ suy khi viết bài thơ trên tác giả chẳng còn chịu chi phối bởi đôi mắt  háo hức, lãng mạn, say đắm ngắm nhìn tình yêu lung linh, rực rỡ, thuần hồng…

Ở đây ta nhận thấy lời lẽ trong thơ thẳng thật, không hề né tránh trước lề trái của tình yêu và với cả cuộc đời này. Người sáng tác đầy bản lĩnh, hết sức trách nhiệm khi nhận dạng và khẳng định cuộc sống.Tác giả nghiêm túc với bản thân, sẵn sàng đối diện với hai mặt phải trái, sáng tối, khuất lộ của mình và của “nửa kia”qua những tháng năm chung sống bên nhau.

Ai cũng biết bình thường tình yêu luôn đồng hành với sự vuốt ve, cưng nựng, nhưng tác giả lại chủ động đi “tìm” khiếm khuyết . Lẽ đời tình yêu tìm hoa hồng, thế mà tác giả lại đi tìm “cái gai” . Phải chăng đó là Nguyễn Trọng Tạo? Tôi yêu em tôi tìm điều đáng ghét/ ở trong em. Em đừng vội giận hờn.

Câu nói người xưa “ Nhân vô thập toàn” tác giả quá thấu hiểu nên ông không hề cao đạo, giáo huấn mà khuyên “ em ”  cần khách quan nhận xét tìm ra điểm “đáng ghét” của mình: Em yêu tôi em tìm điều đáng ghét/ ở trong tôi và em hiểu tôi hơn.

Chỉ khi thật lòng người ta mới bộc bạch những lời gan ruột như thế. Khi thấy được những hạn chế, nhược điểm của người yêu chắc chắn đôi bên sẽ đỡ bị bất ngờ. Sự góp ý ít nhiều sẽ giúp  nhau tiến bộ. Cũng từ đó còn có thể tu tạo cho mình cái nết đại lượng bao dung.

Nhiều ví dụ trong đời sống có thể sử dụng làm dẫn liệu về  tính hai mặt của một vấn đề tham gia cấu trúc tứ thơ, song tác giả chỉ khai thác có mức độ hai hiện tượng vô tri quen thuộc tác động hàng ngày đến cuộc sống con người: Những ngọn gió chẳng hề mang tư tưởng/ Cũng thổi dịu mùa Hè thổi buốt mùa Đông.

Gió không màu, tự nhiên sinh ra và từ đâu thổi tới đều không hề chủ định. Chỉ duy nhất con người mới mới có suy nghĩ trừu tượng trong não bộ, từ đó mà tư tưởng hình thành. Còn luồng gió của thiên nhiên biết chi định hướng ? Muôn đời rồi gió vẫn vô tư. ấy thế mà vẫn tiềm ẩn hai mặt “dịu mùa Hè” và  “buốt mùa Đông”. Cảm giác buốt và dịu ấy liệu có phải do bản chất gió, xuất xứ gió, hay là do sự biến đổi thời gian của khí hậu mùa ? Chắc mỗi độc giả sẽ tự liên tưởng khi thẩm thấu tác phẩm qua khổ thơ trên ...

Còn với lửa: Cái ngọn lửa con người tìm ra nó/ Biết bao điều thiện - ác ở bên trong.

Con người đã tìm ra nó. Cuộc sống con người đã hoàn toàn đổi thay sau khi tìm ra lửa. Lửa cung cấp nhiệt năng chuyển hoá phân giải thức ăn. Con người thoát cảnh ăn sống nuốt tươi. Lửa tạo ra quang năng xua tan bóng tối giúp con người dần xa đêm trường giá lạnh tối tăm. Chính lửa là tác nhân thúc đẩy sự tiến hoá của loài người. Lửa gián tiếp nạp và tích lũy năng lượng tạo nhiệt huyết cho cuộc đời ta… Hiển nhiên, đó là điều thiện!

Song, cái ác lúc nào cũng ủ tàng trong lửa, mầm ác rất dễ dàng bùng phát và luôn nhè cơ hội lơ là mất cảnh giác, kém đề phòng để tấn công. Hoả hoạn phũ phàng sẵn sàng cướp đi sinh mạng, của cải mà con người từng đổ mồ hôi sôi nước mắt gây dựng tích cóp mỗi ngày.Không hiếm những cánh rừng nguyên sinh bị thiêu trụi chỉ vì một mẩu thuốc lá của một kẻ cẩu thả, ngu xuẩn, vô tâm . Những thảm rừng điệp trùng ngút ngát nháy mắt hoá khói, vĩnh viễn biến thành đồi trọc hoang hoá khô cằn. Tàn ác hơn là lửa khói đạn bom từng gây ra bao cảnh nồi da nấu thịt của các cuộc chiến thảm khốc trên thế gian này, làm chồng chất biết mấy tang tóc thương đau !

Từ những dẫn dụ về tính hai mặt của lửa và gió, tác giả đưa đến một giả định: Đừng vội trách nhau nếu một ngày nào đó/ Đang đắm yêu ta bỗng tự chia lìa/ Bởi ta quá mê say mặt phải/ Mà quên đi mặt trái bên kia.

Nếu một ngày nào đó tình yêu bỗng sẻ đàn, lứa đôi chia lìa dứt bỏ bởi ta từng quá đắm say mặt phải khuấy quên mặt bên kia. Phải chăng do mặt tiêu cực từ lâu đã lấn át làm nhoè mờ mặt phải - tích cực. Những say đắm ngày nào bị ăn mòn dần gây mai một tin yêu ? Khổ thơ như một lời cảnh báo nhắc nhở ta đừng sao lãng giữ gìn phẩm chất tốt đẹp vốn có, cũng như phải sớm nghiêm khắc nhận ra mặt trái để tự chỉnh đốn hoàn thiện mình ngày mỗi ngày một trong sạch hơn.

Ở trên ta đã nói đến sự giả định và đúng thế! Bởi muôn người chẳng ai muốn tan vỡ hạnh phúc. Có ai lại dại dột mong “sảy đàn tan nghé” khi cuộc đời mình đã từng yêu dấu nâng niu, nhất là thủa ban đầu đã có lần ta từng thề thốt sống mái , sẵn sàng trao gửi trọn đời ta cho tình yêu tới hơi thở cuối cùng. Há chẳng quá thiêng liêng?

Quay lại khổ thơ đầu ta thấy như một định đề. Thật vậy , sẽ chẳng bao giờ tìm được tờ giấy mỏng nào có một mặt. Cuộc sống chắc chắn cũng tuân thủ theo nhận định ấy của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo.

Bài thơ của ông như một luận điểm mở rộng tính hai mặt luôn tồn tại của cuộc sống, của các hiện tượng xã hội. Lời thơ không có chữ lạ, to tát, mà giản dị, chân mộc, nhưng ý tứ sâu xa. Tin rằng bài thơ sẽ được đón nhận, trụ vững và sẽ được kiểm định lâu dài qua thách thức của thời gian./.


 

 
Đồng Đức Bốn bắc cầu lục bát


Nguyễn Trọng Tạo


Nói đến Đồng Đức Bốn là người ta nghĩ ngay đến thơ lục bát. Là bởi có mấy người nổi tiếng theo nhau phong đai phong đẳng lục bát cho anh. Cũng có thể là chính thơ anh tự tấn phong cho anh? Tôi nghĩ: cả hai.

Vẫn biết hàng gì cũng cần có quảng cáo, nhưng hàng thơ (tôi gọi hàng thơ vì có ông nhà thơ lớn Nadim Hitmet khẳng định: Làm thơ là cái nghề gay lắm – có nghề thì có hàng) lại càng cần có những “con mắt xanh” của nhà phê bình nhìn tới. Vì làm thơ đã gay lắm, khó lắm thì chắc đọc thơ cũng không phải dễ. Thế mới cần “con mắt xanh”. Cho nên nhà văn Nguyễn Huy Thiệp mới rọi “con mắt xanh” của mình vào lục bát Đồng Đức Bốn mà quả quyết rằng: có 4 người giữ “y bát” thơ lục bát đó là Nguyễn Du, Tản Đà, Nguyễn Bính, Đồng Đức Bốn. Khi đọc được sự dàn xếp quả quyết đó của Nguyễn Huy Thiệp, tôi giật mình tưởng mình nhầm (hay in nhầm), phải đọc lại lục bát của Bốn. Và tôi nghĩ: “Quảng cáo cho thơ cũng chẳng sao”. Nhưng sau đó thấy Thiệp viết một bài khác về thơ Đồng Đức Bốn, ký một bút danh khác, và tìm cớ để phê phán Nguyễn Huy Thiệp như sau: “Trong tập thơ Trở về với mẹ ta thôi ngoài ý kiến đánh giá của Vương Trí Nhàn (ý kiến này có phần cán bộ tổ chức của Hội Nhà văn hơn là ý kiến một nhà phê bình văn học) còn có bài viết có phần nào thái quá của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp”. Thì ra Nguyễn Huy Thiệp cũng tự thấy mình thẩm thơ không phải lúc nào cũng đúng chuẩn.

Ngược lại, có người vẫn coi Đồng Đức Bốn là cây bút có tài, nhưng thơ Bốn thì họ chỉ coi là “thơ vàng mạ”, “thơ rỗng ruột”. Nguyễn Hòa nhận định: “Phải chăng sự dông dài của những câu thơ “rỗng ruột” là một trong những đặc điểm làm nên phong cách thơ Đồng Đức Bốn, và nếu trên đời có cái gọi là “y bát thơ lục bát” thì dường như nó đã bị trao nhầm chỗ”, còn thần đồng Trần Đăng Khoa trong một bài viết công bố trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội thì cho rằng: “Chỉ óng ánh trang kim, nhưng nhẹ tếch chẳng có gì. Gạt cái vỏ mạ vàng ra, bên trong chỉ luễnh loãng một chút sương khói”.

Vậy là thơ Đồng Đức Bốn được khen được chê rất khác nhau, thậm chí là hai thái cực, không cực nào chịu cực nào. Điều đó cũng làm khó cho Đồng Đức Bốn khi xin vào Hội Nhà văn Việt Nam. Cả 3 lần bỏ phiếu cho Bốn ở Hội đồng Thơ chỉ đạt được tỉ lệ 4/9 phiếu. Tôi cũng ngồi trong Hội đồng Thơ mấy lần bỏ phiếu cho Bốn, phải an ủi anh qua điện thoại: Tại vì cái tên cậu là Bốn cho nên nó mới ám vào 4 phiếu, hay là đổi tên thành Đồng Đức Chín cho nó hên?

Là nói thế cho vui, chứ đọc thơ Đồng Đức Bốn thấy nhiều câu hay, mà chỉ hay ở lục bát. Lục bát là một thể thơ dân gian mà không học cũng làm được. Ai là người Việt Nam mà chả biết thơ lục bát nó thế, nó thế. Nó ngấm vào tâm hồn người Việt đến nỗi xuất khẩu cũng thành thơ lục bát. Ca dao hò vè diễn ca trường thiên hay hát dân ca và chèo đều sử dụng thể loại thế mạnh này. Và Đồng Đức Bốn thấm đẫm cái thể lục bát từ trong bụng mẹ, nên anh làm lục bát dễ như thò tay vào túi. Nhưng tại sao lục bát của Bốn có nhiều câu hay? Trước hết, anh có một khả năng thơ trời cho, nhưng không chỉ có vậy, Bốn cũng là người say thơ, mê thơ, và học tập được cái hay cái dở ở trong thơ người khác. Anh phân biệt được thơ dân gian với thơ bác học. Nghĩa là, anh có học (dù tự học), anh có tư duy thơ, mà tư duy thơ của anh cũng có cái sự độc đáo riêng. Đó là sự trống trải, dày vò, đau đớn của riêng anh. Đó là bi kịch của tinh thần lãng mạn trong tâm hồn anh. Đó là sự lắng lại sau ồn ào ảo tưởng của người thi sĩ trước miếng cơm manh áo, hiện thực hay phù phiếm trước cuộc đời. Và thơ đã cứu thoát anh vượt ra khỏi biển đắng cay và mộng mị. Nói là vượt ra, bởi anh đã đứng ra ngoài câu thơ để đọc lại đắng cay của đời mình:

Mải mê đuổi một con diều/ Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.

Câu lục bát này hay bởi nó chứa đựng triết lý “được-mất” một cách ngơ ngác và đau đớn. Tuy câu lục chỉ là tiền đề với một ngôn ngữ phẳng (đơn nghĩa) nhưng câu bát lại gợi lên được nhiều cảm giác của mất mát và tiếc nuối với những thi ảnh trùng điệp: củ khoai, nướng, (buổi) chiều, (tro) than… Nhưng cái hay của câu lục bát này càng có giá hơn khi nó được cộng hưởng với cái không gian đồng quê mùa đông có vẻ như bất an của câu lục bát mở ra bài thơ đầy gợi cảm: “Chăn trâu cắt cỏ trên đồng/ Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều”. Bài thơ lục bát này gieo được ấn tượng khó quên cho người đọc chính là nhờ cái tâm trạng bất an được mất đó. Tuy vậy, câu thơ “Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều” khiến tôi nhớ đến một câu thơ của Hữu Thỉnh trước đó viết về người mẹ gánh rạ ngoài đồng. Cũng rạ, cũng gió đặt cạnh nhau mà câu thơ trở nên hay: “Rạ chẳng nặng mà nặng nhiều vì gió”. Nếu không biết câu thơ của Hữu Thỉnh thì chắc câu của Bốn sẽ là một bất ngờ thú vị nhờ một tiểu đối hơi bị chênh chao.

Tôi từng nghĩ, nghệ thuật khởi đầu từ bắt chước. Điều đó không sai. Trẻ em vẽ con ngựa là bắt chước con ngựa, nhưng vì nó thích quá cái móng thiếc dưới chân ngựa nên nó có thể vẽ cái móng thiếc to hơn bình thường. Khi nó vẽ cái sở thích độc đáo của nó, đó là nghệ thuật ấn tượng của riêng nó. Đồng Đức Bốn cũng như mọi người làm thơ lục bát, đều bắt chước thể lục bát. Không biết ai là người đầu tiên làm ra câu lục bát để cho Truyện Kiều làm nên đại thi hào Nguyễn Du? Ấy là Truyện Kiều đã nâng lục bát dân dã lên tầm bác học. Khi Nguyễn Bính viết: “Anh đi đấy, anh về đâu?/ Cánh buồm nâu/ cánh buồm nâu/ cánh buồm…” và Bùi Giáng viết: “Hỏi quê…rằng biển xanh đâu/ Hỏi tên…rằng mộng ban đầu đã xa” là họ đã tạo nên thi pháp mới cho lục bát. Đồng Đức Bốn cũng tiếp thu được cả tính dân dã và bác học của lục bát, nhưng tính dân dã trong anh thường lấn lướt tính bác học, bởi thế những bài thơ “tầm tầm” chiếm đa số. Cấu tứ bài thơ của anh lại thường bị cảm tính chi phối nên thường luễnh loãng (như Trần Đăng Khoa nhận xét), ít tạo nên những tứ thơ mạnh mẽ, cô đúc hay độc đáo. Điều này không thể so với Nguyễn Bính được, vì thơ Nguyễn Bính đậm hồn Việt nhưng cấu tứ lại hơi hướng phương Tây, rất chặt chẽ và bất ngờ. Chỉ với mấy con số chín trong Giấc mơ anh lái đò cũng đủ khiến ta sửng sốt khi tác giả buông ra câu lục bát: “Lang thang tôi dạm bán thuyền/ Có người trả chín quan tiền, lại thôi!”. Vì thế mà tôi khẳng định tài thơ của Bốn chính là nằm ở trong những câu lục bát tiêu biểu của anh, đó là những câu lục bát hay bất ngờ:

Đời tôi mưa nắng ở đâu/Bây giờ vuốt gió trên đầu tóc rơi; Đừng buông giọt mắt xuống sông/Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm; Câu thơ nấp ở sân đình/Nhuộm trăng trăng sáng, nhuộm tình tình đau; Không em ra ngõ kéo diều/Nào ngờ được mảnh trăng chiều trên tay; Luồn kim vào nhớ để may/Chỉ yêu cứ đứt trên tay mình cầm; Không em từ bấy đến giờ/Bàn tay vẫn héo như cờ chịu tang; Cầm lòng bán cái vàng đi/Để mua những cái nhiều khi không vàng; Xong rồi chả biết đi đâu/Xích-lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương!

Từ những câu lục bát hay đó, có thể nhận ra một Đồng Đức Bốn đa cảm, giàu yêu thương và cũng lắm đau buồn. Có người trách thơ anh kém vui, nhưng tôi thấy nỗi buồn của anh dẫu cay đắng đến đâu cũng đều là nỗi buồn đẹp. Cái đẹp của thiên nhiên quê kiểng như ăn sâu vào anh, chìm đắm và anh không trôi đi được, không dứt ra được. Đối tượng thiên nhiên trong thơ anh quanh đi quẩn lại cũng chỉ có vầng trăng, cánh đồng, dòng sông, con đò, nhưng sao mà đẹp thế! Đẹp vì thiên nhiên ấy gắn với tình người. Hơn nữa, đó là tình người thi sĩ.

Tuy vậy, Đồng Đức Bốn cũng có những bài lục bát hay. Không nhiều, nhưng hay. Đó là bài Chăn trâu đốt lửa (tôi đã dẫn ở trên), bài Trở về với mẹ ta thôi và bài Vào chùa.

Hầu như nhà thơ nào cũng làm thơ về mẹ, vì con ở trong mẹ từ khi còn là hạt bụi, một gắn bó đặc biệt hơn cả vô thức. Bài thơ của Đồng Đức Bốn viết về mẹ lại cũng trong một trạng huống đặc biệt, đó là khi mẹ bỗng trở về cát bụi. Nhưng sự gắn bó và tình yêu thương mẹ của Bốn thật là day dứt. Lời thơ viết về mẹ không thể làm dáng làm điệu mà chân thành mộc mạc đến tận cùng. Ba đoạn thơ đầu là viết về mẹ khi còn sống tảo tần cay đắng nuôi con, hai đoạn thơ sau là tâm trạng của con mất mẹ. Sự bùng nổ tình cảm của nhà thơ mất mẹ trong một cảnh ngộ thật đau lòng:

Con vừa vượt núi băng ngàn/Về nhà chỉ kịp đội tang ra đồng/Trời hôm ấy chửa hết giông/Đất hôm ấy chẳng còn bông lúa vàng/Đưa mẹ lần cuối qua làng/Ba hồn bảy vía con mang vào mồ/Mẹ nằm như lúc còn thơ/Mà con trước mẹ già nua thế này.

Và tâm trạng nhà thơ lúc đó thật lạ lùng:

Mẹ không còn nữa để gầy/Gió không còn nữa để say tóc buồn/Người không còn dại để khôn/Nhớ thương rồi cũng vùi chôn đất mềm

Đến câu kết thì thật bất ngờ và táo bạo:

Trở về với mẹ ta thôi/Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ.

Quan niệm “sống gửi chết về” bỗng dưng hiện lên trong câu thơ cuối như một cầu mong được về với mẹ, mãi làm lay động lòng người. Một bài thơ toàn bích.

Bài thơ Vào chùa chỉ bốn câu mà treo lên trước cuộc đời cả một câu hỏi lớn về tình thương đồng loại. Hai nhân vật sư và ăn mày, hai hướng đời và đạo. Nhưng cả hai đều sống bằng của bố thí. Vì thế mà cái cảnh diễn ra trước cửa chùa như báo trước một điều gì thật đáng lo ngại:

Đang trưa ăn mày vào chùa/Sư ra cho một lá bùa rồi đi

Sư không sẻ chia cơm áo mà lại cho ăn mày “một lá bùa” rồi bỏ đi. Sao mà dửng dưng, sao mà chua chát thế. Ngòi bút Đồng Đức Bốn ở đây thật lạnh, nhưng rồi anh bỗng hiểu ra:

Lá bùa chẳng biết làm gì/Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.

Cái triết lý “con sãi ở chùa lại quét lá đa” như thấp thoáng hiện lên trong bài thơ như một bất lực, hay là một câu hỏi về tình đồng loại không dễ trả lời. Cái tưng tửng “chết người” của nhà thơ chính là ở chỗ đó. Đó là cách nói tài hoa của Đồng Đức Bốn.

Có người cho đó là một bài thơ thiền. Tôi nghĩ không phải. Đâu phải cứ có sư thì ở đó có thơ thiền. Đồng Đức Bốn càng không phải là một nhà thơ mang tư tưởng thiền, anh chính là một nhà thơ hiện thực mang bi kịch lãng mạn.

Vì vậy mà nhiều khi anh ngơ ngác trước những nghịch lý trớ trêu của cuộc đời. Và anh đã làm thơ, đặc biệt là thơ lục bát, gây được ấn tượng trong lòng bạn đọc.

Mỗi nhà thơ bắc cầu để đến với cuộc đời bằng những cây cầu khác nhau. Người đến bằng cây cầu lục bát, người đến bằng cây cầu ngũ ngôn, người đến bằng cây cầu thơ dài, thơ ngắn…  Và tôi có thể nói, Đồng Đức Bốn đã “bắc cầu lục bát” để đến với cuộc đời này.


 


 
Cách tân, như là đẩy thơ vượt qua tai hoạ


Thi Hoàng


Thương sự cách tân, nể sự cách tân, ghét sự cách tân, phục sự cách tân... Tôi có tất cả tâm trạng này khi đọc thơ Mai Văn Phấn. Lãng đãng nhớ về những bài thơ ban đầu có phần bản năng ở tập thơ đầu tiên “Giọt nắng”. Cái bản năng đam mê thơ ca bồi hồi run rẩy với những thói quen của ý thích chứ ý thức thì chưa có bao nhiêu.

Nhưng rồi từ tố chất ở cá tính, muốn vượt qua sự tò mò mà dò dẫm những bước đầu tiên trên chặng đường khám phá. Thì, cũng mới chỉ rụt rè mở ra ở đơn vị nhỏ nhất của tác phẩm là chữ, đã thấy Mai Văn Phấn manh nha muốn thiết lập mối quan hệ giữa con chữ và con người: Anh đi vòng quanh con chữ/ Gọi ơi hời! (Một lần... thi pháp). Gọi thế nghĩa là đã coi con chữ như một sinh thể để muốn nó nên và có thể làm được những biến đổi trong thơ mình. Nhưng môi trường thơ quen thuộc vẫn ám đặc (ở cả người viết và người đọc) như cơn mưa dầm dai dẳng mà những hạt mưa gieo xuống những vần vèo ướt át của một vùng thơ nặng về duy cảm! Thì biết làm gì? Chưa đủ tự tin, hay chưa đủ nội lực? Mai Văn Phấn vẫn để mình ở trạng thái ít nhiều thụ động: Ngồi chờ mưa tan/ Đi tìm một nhịp điệu khác (trường ca Người cùng thời). Chờ, và rồi cũng ở trường ca này, trong toàn bộ chương VII (Mail cho em) anh đã để cho tấm áo thi ca cũ thoải mái bục chỉ may, tuột chỉ khâu, hay nói cách khác là một cuộc khai phá san ủi mặt bằng, lấy độ cao mới để quy hoạch lại thơ mình cả về vóc dáng lẫn công năng, nghĩa là ở cả hình thức và nội dung. Đầu tiên là giọng điệu, ngay cả những điều đã cũ được nói với một giọng điệu khác thì ý nghĩa những điều đã cũ kia ít nhiều cũng khác đi.

Còn từ cái khác đến cái mới, cái hay thì trong tiến trình thơ ca Mai Văn Phấn bằng vào sự đọc, sự học, sự trải nghiệm, anh đã làm dày dặn mình lên ở cả hai phương diện là kiến thức và kinh nghiệm để chọn lựa. Trên đường dấn thân đi tìm nẻo khác cho thơ mình, cái nẻo càng ít dấu chân, thậm chí chưa có dấu chân ai đó càng tốt. Mai Văn Phấn đã dằn mình để cho sự mạo hiểm thắng sự sợ hãi và chấp nhận cả những đau xé; Cơn đau siêu thực hành hạ anh có khi còn hơn những cơn đau hiện thực, khiến anh mong rằng nó chỉ là một giấc mơ: Tôi cúi xuống đón chiếc ách lên vai/... Tôi chạy quanh và miệng sùi bọt/ Tôi nhễ nhại giả chết, lồng lộn/ Tôi rã rời, loạn nhịp/ vỡ tung/ Tôi thấm nước và vắt ra nước. (Chỉ là giấc mơ).

Đây rõ ràng là tác giả không mấy đi tìm nỗi cảm thông ở người đọc mà là đang làm một việc gần như bóp chết bản ngã để hình thành một chủ thể khác, mong trình bầy tâm trạng một cách khách quan nhất có thể. Vậy, cũng là bước đầu tìm một điểm tì vịn mà bật lên đổi mới nội dung. Chỉ tiếc là vẫn hiện hữu nguy cơ lại rơi về sự thay đổi cách nói mà chưa làm mới được bao nhiêu vấn đề định nói! Tuy nhiên, cũng đã thấy lờ mờ dấu chân Mai Văn Phấn trên cái nẻo lạ này, đang rời xa dần không khí của trường thi ca cũ mà giá trị không phủ nhận, nhưng thiên chức (hay nhiệm vụ gì đấy) thì dường như đã xong, nó phải dừng lại, nó đã chết (theo một nghĩa đen có tính lịch sử):... Ông khách không còn đó/ Gọi điện thoại/ Người nhà bảo ông mất đã bẩy năm/... Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng trước mặt/ Chốc chốc lại cúi gập. (Vẫn bình tĩnh tiễn khách ra ngõ).

Cũng đã thấy dưới bề sâu của tâm lý sáng tạo, Mai Văn Phấn đang cố gắng để không bị ràng buộc vào bất cứ một phương pháp sáng tác nào. Anh tìm cách huy động cả hình thức và nội dung cùng ghé vai đưa bài thơ lên cao hơn cái nền chung của thói quen đọc thơ ở người đọc và hy vọng tìm ra thi- pháp- của- mình. Đây là chuyện tày đình, nếu nói ra thì như một sự bất kính hay ảo tưởng gì đó với trường thơ hiện thời. Song,  ở những khát vọng sáng tạo thành thực,  thường có ý định vừa tàn phá vừa xây dựng như vậy. Thế rồi cũng may mà trong muôn một anh có được những thi phẩm mà giá trị chắc chắn sẽ ngày càng được xác định: thanh tẩy mãi vẫn không thấy sạch/ quay về tắm bằng ngọn đèn/... vừa xối mạnh vừa gọi tên em/ ánh sáng bồng bềnh bụng mang dạ chửa/ thử gọi một ai xa lắc xa lơ/ ngọn đèn lặng phắc càng tỏ/ càng tỏ (Tắm đầu năm).

Đến một trong những bài mới viết gần đây thì ý thơ và tình thơ được mở mang dọn chỗ cho những con chữ phổng phao lớn khoẻ lên đặng mà đủ sức hiện thực hoá những ý tưởng thơ ca siêu thực, trừu tượng: Bình yên trong miệng anh/ Em thúc nhẹ bờ vai/ Vòm ngực, ngón chân vào má/ Huyên thuyên và hát thầm/ Hồn nhiên cho lưỡi và răng anh chạm vào cơ thể/ Anh là con cá miệng dàn dụa trăng/ Rời bỏ bầy đàn quẫy vào biển động (Ngậm em trong miệng). Đây cũng là một cách gián tiếp để rành mạch, sòng phẳng với sự lẫn lộn (thậm chí cố tình đánh tráo) giữa sự sơ lược, đơn giản với sự giản dị mà Mai Văn Phấn từng quan niệm: Thật kỳ diệu nếu chỉ bằng sự giản dị mà nói được những vấn đề lớn lao và mới mẻ. (Trả lời phỏng vấn báo Thể thao Văn hoá 2004). Phải luôn tự bồi đắp mình Mai Văn Phấn mới phong phú, phồn tạp, dư thừa rồi chọn lựa mà phủi vưỡi, vất bỏ đi những lòe loẹt rườm rà rối vướng để giản dị chứ đâu phải nghèo nàn, thậm chí không có gì ở năng lực thi ca mà ngộ nhận là giản dị!...

Ngẫu nhiên từ trường hợp thơ Mai Văn Phấn, đưa mắt nhìn về chặng đường cách tân thơ phía trước. Dẫu mừng cho chặng đường đã qua song, cũng không khỏi lo ngại ở những chặng đường chưa tới.

Sau đây là những băn khoăn (có thể ít nhiều chứa đựng mâu thuẫn) về những đổi mới thi ca trong những năm gần đây của không riêng gì Mai Văn Phấn. Thơ, sau khi xuất bản ra dường như nó không quay lại với tác giả mà thẳng hướng tìm tới người đọc. Người đọc ở đây tạm thời chia thành hai kiểu cách: Một kiểu đọc lý thuyết và một cách đọc hưởng thụ.

Đọc lý thuyết là tìm sự đắc ý, còn đọc hưởng thụ là tìm sự sướng khoái. Đắc ý thì chỉ trong não bộ, còn sướng khoái thì không chỉ trong não bộ mà ở khắp cơ thể. Thực ra bảo tồn và phát huy giá trị của thơ ca là ở cách đọc hưởng thụ, chứ kiểu đọc lý thuyết thì cuối cùng có vẻ như chỉ để cấp chứng chỉ, đặt tên cho những trào lưu, khuynh hướng; Trong khi tác động hay dở thế nào vào đời sống, tác phẩm sau khi ra đời chả phụ thuộc bao nhiêu vào việc gọi tên đó là thơ hiện thực, siêu thực, hậu hiện đại, tân hình thức hay gì gì đấy. Không hiểu do đâu, những tìm tòi dày vò chữ nghĩa, thay đổi cách viết để làm lạ với những ý tưởng rời vụn kỳ quặc ngày càng có vẻ hướng đến phục vụ kiểu đọc lý thuyết mà sao nhãng phần lớn độc giả ở cách đọc hưởng thụ! Lại nữa, kiểu đọc lý thuyết thường là ở những độc giả đặc tuyển, độc giả chuyên nghiệp mà loại độc giả này trong đời sống không có bao nhiêu, ở Việt Nam lại càng ít. Nếu tính hưởng thụ khi tiếp cận thi ca bị chối từ thì phần lớn người đọc sẽ quay mặt! Đây có lẽ là một phần nguyên do khiến người đọc thơ ngày càng ít. Bởi thơ (tìm tòi) trước hết là để cho người đọc với nghĩa chung nhất chứ không chỉ chăm chăm muốn phơi mở ra dưới mắt các nhà nghiên cứu, phê bình. Còn bảo rằng thơ cách tân là gợi mở, là mời gọi người đọc đồng sáng tạo thì tôi cứ nghi ngại cái ý vừa thách đố vừa có tính mị dân này (Người ta đến nhà hàng để ăn, hà cớ gì lại bắt người ta phải vào bếp cùng nấu nướng).

Đến đây, do cũng là một người làm thơ, tôi lại phải dè chừng ý kiến chủ quan của người biết đâu đấy đã không còn khả năng làm mới thơ mình. Thế là giật mình, nhảy vội sang phần thiên chức của thơ ca. Vâng, thơ đang ngày càng phai nhạt tính lý tưởng (Hình như hậu hiện đại gọi đó là giải đại tự sự thì phải). Cắt dán, phân mảng.

Không quan tâm đến những vấn đề sống còn có tính toàn cục, thời đại. Chẳng hạn như thời kinh tế thị trường, chất lượng hàng hoá được ráo riết quan tâm trong khi chất lượng người thì ít được quyền lực chú ý đến (?). Thế là hàng hoá lôi con người vào tâm lý kỹ trị và có vẻ các nhà thơ cũng bị áp lực nặng nề. Thơ dở thì không nói làm gì, xuất hiện khá nhiều những bài thơ trung bình chỉ thấy dàn ra những câu nói hay chứ không phải những câu thơ hay. Chao ôi! Chẳng lẽ thơ ca đang như là nạn nhân của cuộc ăn  hiếp của văn minh đối với văn hoá.

Thưa các nhà thơ! Nên chăng, có cách nào đó để hình thức được tự nhiên chuyển hoá thành nội dung; Còn nếu do thói quen, hình thức vẫn cứ đòi có một khái niệm riêng thì cách tân hình thức phải lui xuống vị trí thứ yếu mà chủ yếu vẫn là ở nội dung. Chứ nếu để chứng tỏ mình mới mẻ, hiện đại mà nằng nặc hình thức thì rồi không khéo mình chả còn yêu người thật mà đi yêu người silicon mất! Xin các nhà thơ đừng quá quan tâm đến những gì thật lạ mà hãy viết ra những gì mới mẻ thật bụng./.


 

 
«Bắt đầuLùi111213141516Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 203 (5/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 202 (4/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 201 (3/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 199,200 (1,2/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 198 (12/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)