Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 31 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Đọc Mai Văn Phấn


Vũ Quần Phương

VQP_1

Nhà thơ Vũ Quần Phương


Khoảng hai mươi năm trước tôi đã có dịp bộc lộ lòng yêu mến chất tâm hồn Mai Văn Phấn (MVP) khi viết về tập thơ đầu tay của anh. Hôm nay tôi vẫn giữ lòng yêu mến ấy, nhất là đối với phần thơ lục bát đầu tập tuyển này mà tác giả chú thích là từ khởi đầu đến 1995. Chặng thơ này bộc lộ một đặc điểm MVP. ấy là phóng túng trong cảm xúc và logic trong tư duy thơ. Thử lấy ngẫu nhiên một bài, bài Khúc cảm mùa thu, trang 18: Hóa thân giọt nước mùa hè/ Một đêm trở gió bay về với thu/ Dẫu chưa trọn kiếp sương mù/ Xin tan loãng kẻo trăng lu cuối trời/ Bao lần xanh biếc rong chơi/ Mấy lần úa rụng tiếng người vọng theo/ Thôi em! Đừng vặn đừng khêu/ Đáy thu thắp sáng trên nhiều ngọn cây/ Anh vừa đọng xuống thu gày/ Đã đông thành đá phủ đầy rêu xanh

Hồi ấy, cuộc thi thơ trên báo Người Hà Nội trao giải cao cho bài thơ Nghi Tàm của MVP cũng trong khuynh hướng ghi nhận phẩm chất tâm hồn này.

Nhưng thơ MVP không chỉ phát triển  theo lợi thế này. Một lần gặp anh ở Hải Phòng, anh thì thào thông báo anh đã tìm một hướng mới cho thơ. Tôi nhớ gương mặt anh khi ấy hào hứng, phấn khích và có vẻ bí mật như người mới tìm ra chỗ có giấu vàng. Kể lại chi tiết này tôi muốn lưu ý: MVP rất ý thức với hướng tìm của mình. Gần hai mươi năm trôi qua, nhiều tập thơ của anh đã xuất bản, MVP cũng nhiều lần bộc lộ quan niệm thơ. Anh tự điểm diện: Nhìn lại 9 tập thơ, đó là cách tôi đi từ truyền thống đến hiện đại và tìm ra giọng nói thi ca riêng biệt như bây giờ. ở tập Vách nước hình ảnh siêu thực đa dạng và phồn tạp. Nhưng đến những tập thơ sau này, nhất là Bầu trời không mái che vừa xuất bản, tôi cố gắng tránh cách biểu hiện đó. Thực ra “siêu thực” không còn mới mẻ, nhưng “vết bỏng” của nó vẫn ảnh hưởng tới nhiều thế hệ sau này (...) Sau khi đã băng qua những “sa mạc” như Siêu thực, Tượng trưng, Biểu hiện, thơ Ngôn ngữ, Tân hình thức, Hậu hiện đại, Cổ điển mới... tôi thấy sao chúng ta không tự tìm lấy một khuynh hướng, mà phải lệ thuộc vào “thằng Tây”. Những khuynh hướng ấy bên ngoài họ đã xếp vào viện bảo tàng từ thế kỷ trước, trong khi chúng ta vẫn lúng túng, tranh cãi...Vậy “thong dong” là cách tôi tìm về với cội nguồn thi ca, ĐỂ CHO CẢM XÚC TRÔI CHẢY TỰ NHIÊN VÀ TÌM CÁCH NÓI NHIÊN, TỐI GIẢN TRONG TRẺO NHẤT.

Tôi chắc bạn viết, bạn đọc không ai không tán thành khuynh hướng này. Cái đích đến của anh là sự hồn nhiên trong trẻo cả trong cảm xúc lẫn cách thể hiện. Nhưng để đến được đó là cả một quá trình. Anh nói: Tiếc những năm trước đây mình loay hoay lúng túng lâu quá. Chỗ anh tiếc là chỗ chúng ta yêu mến anh. Yêu mến thái độ dấn thân. Yêu mến tinh thần tìm, nhất là yêu mến ý thức tự nhận ra cái chỗ tìm mà chưa thấy của anh (loay hoay lúng túng) để tự “vong thân” mà đi tiếp, đi cho tới hồn nhiên, trong trẻo. Tôi chắc từ đây thơ anh sẽ “thong dong”. Thong dong trong sự định hướng: Hồn nhiên, trong sáng để tiếp tục đi, như anh tự nhủ lại phải chuẩn bị cho cuộc lên đường mới. Một đích đến ngỡ như “muôn đời” ấy, MVP đã phải trả giá bằng những cuộc tìm không hồn nhiên chút nào. Đóng góp của MVP không chỉ ở gầu nước mát Hồn nhiên trong trẻo anh dâng độc giả khi họ đang cơn khát mà còn ở cái cách anh đã băng qua những sa mạc siêu thực, tượng trưng...để tìm ra nước...

Như đã nói ở trên , trước khi nhập cuộc tìm,  rồi tìm mà chưa thấy, và đã thấy, MVP đã có thơ nằm trong sự chờ đợi của bạn đọc. Đó là một may mắn, nhưng may mắn hơn là anh lại biết: ngoài con đường của mình, của nước mình, của phương Đông mình còn có những con đường khác của thiên hạ cũng mở ra những miền đất, những chân trời. Chính cái sự biết ấy dẫn đến một say mê - cách tân. Anh đã bền bỉ đọc, viết, kiên định làm mới thơ mình. Tháng 8 năm 2010, MVP bộc lộ trên báo Thể thao Văn hóa: Thực trạng văn học nước nhà, đặc biệt trên lãnh vực thi ca vẫn trì trệ và lạc hậu so với một số nước trong khu vực (...) chứ chưa dám so sánh với các cường quốc thi ca như Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc... Văn bản là thế, nhưng tôi xin phép anh MVP được hiểu “thoáng” hơn một chút.

So sánh về khoa học, công nghệ dễ cụ thể hơn là so sánh về văn hóa, về lối sống nhất là về thi ca, vốn là chất tâm hồn, của các dân tộc với nhau. Tôi nghĩ một nền thơ có sức xốc dậy một dân tộc nhỏ và kém trang bị dám đứng dậy đòi quyền tồn tại cho mình không thể là nền thơ trì trệ. Tôi cũng không nghĩ một nền thơ mà giữa những bức xúc, thậm chí suy thoái trong nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội như hôm nay mà vẫn có những nhà thơ dám từ bỏ lợi thế ban đầu của tài năng mình để tìm đường khai phá, làm lại như MVP hoặc dám vượt lên những bó buộc của cảnh ngộ, của thời thượng để kiên trì làm bừng sáng giá trị một thể thơ  truyền thống như Đồng Đức Bốn lại là một nền thơ lạc hậu.

Tôi muốn thay khái niệm trì trệ lạc hậu trong văn bản trên bằng một khái niệm bình đẳng hơn, nó chỉ là sự khác biệt. Cái cần câu của chúng ta quả có khác cái cần câu của họ, còn để đánh giá mức tiên tiến của cần câu thì chí ít cũng phải xem lượng cá trong giỏ các ông câu ấy. Một nền thơ đủ để bảo vệ, để phát triển tâm hồn, tư tưởng, cách hành xử của một dân tộc không thể là trì trệ, lạc hậu, dù nó không tân kỳ trong quảng cáo, trong tuyên ngôn. Ngồi vào chiếu rượu chúng ta không việc gì phải xấu hổ khi không biết dùng dao và dĩa. Học cầm đũa có khi còn khó hơn học cầm dao, dĩa. Nhưng khó hay dễ cũng không gây nóng lạnh gì, cái chính là các công cụ ấy, các thao tác ấy đã giúp ta thong dong vận chuyển thực phẩm vào hệ tiêu hoá. Người ấn Độ ăn bốc (ăn bốc cũng là một đẳng cấp hưởng thụ mà ông bà ta đã xác nhận trong ca dao), nhưng họ lại làm giàu cho thơ ca thế giới bằng một Tagor đậm đặc vị và hương ấn Độ độc đáo cao quý, thần bí. Sao lại tự cho là mình trì trệ, lạc hậu chỉ vì khi ngồi ăn mình không dùng dao dĩa, khi làm thơ mình không tuyên ngôn những siêu thực, vị lai, đa đa, tượng trưng, phân tâm, nữ quyền, hậu hiện thực, tân hình thức...

Quả là một khối lượng kiến thức và kinh nghiệm của thơ mà nhân loại đã đi qua từ nửa cuối thế kỷ 19 (kể từ 1864 với Mallarmé và 1868 khi Théophile viết tựa tập thơ Hoa ác của Baudelaire khai sinh chủ nghĩa Tượng trưng với sau đó các tên tuổi Verlaine, Valery, Marcel Proust) và nhất là trong thế kỷ XX đầy ắp các trào lưu, các chủ nghĩa  (1909 Tuyên ngôn Vị lai, với Apollinaire, Tzara. 1918 Tuyên ngôn Dadaisme, với những Breton, Aragon, Elouard.  1919 Siêu thực, rồi siêu thực với Da da, với Chủ nghĩa Cộng sản khi gắn kết, khi đoạn tuyệt rồi hậu hiện đại từ kiến trúc (1963) vào văn chương (1967) sang triết học (1979, với F. Lyotard), và thành Chủ nghĩa tác động nhiều ngành nghệ thuật (1988). Các chủ nghĩa ấy đều có đích chung là phản kháng những giá trị cũ, tự xưng là nhân bản, là nền tảng, đều muốn phi thần thánh những hình thức nghệ thuật, đều chống  các lý thuyết hàn lâm, đề cao ngẫu nhiên, phi chính thống, rất gần với hư vô và vô chính phủ, mang tinh thần dân chủ cho thơ và cũng dẫn thơ đến một hệ quả: Mất độc giả trên phạm vi thế giới. Trong cuốn Văn hóa thế kỷ XX, của nhà xuất bản Bordas, 1995, tác giả Michel Fragognard đã viết trong mục thơ: Cái mà trước kia được tôn vinh là đẳng cấp nghệ thuật cao sang nhất, ngay ở thế kỷ XIX vẫn còn được coi là thể loại văn chương được trọng vọng nhất, thì bây giờ đã trở thành một loại hình riêng tư, bí hiểm, bị bỏ rơi trong học đường và rất ít được tìm đọc  ... Nhưng trào lưu này hầu hết nảy sinh, phát triển rồi tàn lụi ở phương Tây (Âu Mỹ) từ những lý do tâm lý, xã hội, chính trị... nảy sinh từ hai cuộc đại chiến, từ đời sống kỹ trị đơn điệu, từ sức mạnh phi nhân của đồng tiền...Âu Mỹ là động lực vì Âu Mỹ dẫn đầu về khoa học và công nghệ, dẫn đầu về văn minh thành đạt, có tác dụng thị phạm khích lệ nhân loại. Cái quần rách của anh chăn bò Mỹ từng thành mốt của thanh niên thế giới, họ phải mài quần đi cho rách để diện. Hội họa, điêu khắc, thơ ca... không ngoại lệ. Tuy vậy, vẫn có những vùng nhân loại không bận tâm nhiều đến các isme đó vì họ có hoàn cảnh sống khác, có những việc cấp bách khác. Việt Nam thời kháng chiến là một trường hợp. Chúng ta không tự hào vì sự không biết các trào lưu ấy. Bây giờ, hội nhập với thế giới, càng cần phải biết. Biết, để lựa chọn, để bổ sung, hoàn thiện con đường của mình, tối ưu cách đi của mình chứ không phải để dây chút cát bụi thời thượng, mù quáng bắt trước hiên hạ. Em như cục c... trôi sông / Anh như con chó chạy trông trên bờ, hai câu ca dao ấy có đủ mọi  tiêu chí của một bài thơ hậu hiện đại, mặc dù cha ông ta chưa hề biết tới thuật ngữ này. Ban ngày quan lớn như thần là “đại tự sự” thì ban đêm quan lớn tần mần như ma đã là “sự” gì rồi. Trạng từ tần mần giấu trong lòng nó một động từ mần duyên dáng và táo bạo như một thứ tân hình thức chính hiệu. Tìm viết cái lạ của người nhưng cũng cần, nếu không nói cần hơn, hiểu sâu sắc những đặc sắc của mình, mới có thể tìm ra tư thế “thong dong”  để đến được phẩm chất hồn nhiên, trong sáng và tối giản cho thơ như MVP mong muốn.

MVP đã có thành công trong cuộc cách tân nhiều thử thách đó vì anh muốn thơ đáp ứng nhu cầu đích thật của đời sống, anh không lạm dụng thói quen lười biếng của người đọc để lười biếng theo và cũng không chịu về hùa với thói thời thượng nông nổi. Anh không có ý định bày biện chủ nghĩa này tuyên ngôn nọ trong thơ mình. Đổi mới là một yêu cầu bên trong của tâm hồn, của nhận thức và trách nhiệm xã hội nơi anh. Anh đã thực hiện ý định của mình, đã chấp nhận thử thách của dư luận, đôi khi chấp nhận cả thất bại. Nhưng điều đáng nói là anh đã có thành công. Chưa thành công nhiều trong đơn vị bài mà thành công rõ trong chất thơ, trong trạng thái thơ tản mác trong các bài. Hình như MVP chưa cố định thơ vào đơn vị bài. Anh thường cố định vào một trạng thái tâm hồn, có tính cách cảm thụ thiên nhiên, ngoại giới (Cốm hương trang 308, Thu đến trang 310, Đá trong lòng suối, trang 305) và đây là chỗ anh phát huy đắc địa  tố chất nhạy cảm, tinh tế của tâm hồn anh. Đôi khi anh cố định thơ vào một hướng chủ đề, một chủ đề mơ hồ như một tinh vân ý tưởng chứ chưa thành đường nét, nó gợi nghĩ chứ không phải là ý nghĩ đã thành hình (Ghi ở Vạn lý trường thành, trang 239,  Nhìn kỹ trang 249, Nghé ơi, trang 309) và có lúc anh chỉ cố định vào một thủ pháp kết cấu, như một tung hứng chi tiết (chi tiết cái móng chân trong đoạn thơ uống trà, trang 326).  Tôi gặp nhiều thủ pháp sáng tạo, cuốn hút, thông minh trong các mảng thơ MVP. Anh dùng nhiều ẩn dụ chất chứa suy tưởng. Đó là tiềm lực trí tuệ của thơ anh và cũng là một phẩm chất đang cần của cả nền thơ chúng ta Vệt môi anh là con chim gõ kiến trên cây cổ thụ. Chiếc mỏ tí hon làm cây rừng thay lá, thân gỗ mục hồi sinh (...) Nhắm mắt anh nghe trong thân cây biết mặt trời đã mọc và ngôi sao lơ đãng đổi ngôi. Một chất thơ mới mẻ, một cảm hứng hàm chứa nhiều dự báo tương lai. Chúc mừng anh ! Tôi thích thú bơi trong những lớp sóng cảm xúc của anh. Bơi mệt nghỉ, ít gặp chỗ dừng để có thể trèo lên, ngồi xuống và nhìn lại những gì mình vừa qua. Anh đang say mê mở ra mà chưa định chốt lại. Cũng có thể là một quan niệm thơ: kêu gọi bạn đọc làm đồng tác giả, kêu gọi hình thành liên văn bản cho tác phẩm. Tôi quen đọc thơ như người mót lúa ngoài đồng, muốn thóc được vào bồ cụ thể. Nhưng đây là đồng đất của anh, anh mời đứng mời ngồi như thế thì mình cũng phải theo thế mà thích ứng, mà hưởng thụ tinh hoa của thơ anh./.


13/5/2011


 


 
Cần thống nhất về những di bản trong bài thơ NHỚ BẮC của HUỲNH VĂN NGHỆ

 

Nói về nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ và bài thơ Nhớ Bắc nổi tiếng của ông hai Tạp chí có uy tín của Hội Nhà văn Việt Nam là Tạp chí Nhà văn và Tạp chí Thơ đều có bài giới thiệu nhân Ngày thơ Việt Nam lần thứ VIII và chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội nhằm tôn vinh thi nhân và thi phẩm có giá trị này.

Nếu đối chiếu bài thơ Nhớ Bắc của Huỳnh Văn Nghệ trên Tạp chí Nhà văn số 2 năm 2010 (bản B), thấy có nhiều chỗ khác nhau:

Về địa danh và thời gian sáng tác, bản A không ghi, bản B ghi chiến khu Đ, 1946 - 1948.

Bài thơ Nhớ Bắc của Huỳnh Văn Nghệ có 16 câu, chỉ có 3 câu thơ in giống nhau ở hai bản A và B (câu 6, câu 11), còn lại 13 câu thơ đều có chô khác biệt từ dấu câu (dấu phẩy, dấu chấm, dấu cảm) đến từ ngữ (Lạc Rồng/ Lạc Hồng; độ/thuở; Trời Nam/ Ngàn năm; hồn/sầu; phảng phất/man mác; ngàn/nghìn; xa muôn dặm/ôi đất Bắc; cảnh/cánh), thậm chí thiếu một chữ (câu 1) khiến người đọc băn khoăn không biết bản in nào là đúng với nguyên tắc bài thơ (Chúng tôi xin đăng cả 2 bản in để bạn đọc xem xét).

Đề nghị Hội Nhà văn Việt Nam và cơ quan xuất bản báo chí của Hội có biện pháp xác định chính xác văn bản bài thơ Nhớ Bắc của nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ, đảm bảo tính khoa học, tính lịch sử trong việc nghiên cứu và giảng dạy văn học.


Huỳnh Văn Nghệ

Nhớ Bắc


Có ai về Bắc ta đi với

Thăm lại non sông giống Lạc Rồng

Từ độ mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long!

Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng!

Mà ta con cháu mấy đời hoang

Vẫn nghe trong máu hồn xa xứ

Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương

Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ

Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn

Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ

Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng

Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên

Chinh Nam say bước quá xa miền

Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm

Muốn trở về quê, mơ cảnh tiên

(Bản in của Tạp chí Nhà văn số 3/2010)




Huỳnh Văn Nghệ

Nhớ Bắc


Ai về Bắc, ta đi với,

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng

Từ thuở mang gươm đi mở cõi,

Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long

Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng

Mà ta con cháu mấy đời hoang

Vẫn nghe trong máu sầu xa xứ,

Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương

Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ

Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn

Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ

Mỗi lần man mác hương sầu riêng

Sứ mạng nghìn thu dễ dám quên

Chinh Nam say bước quá xa miền

Kinh đô nhớ lại, ôi đất Bắc,

Muốn trở về quê mơ cánh tiên

Chiến khu Đ 1946 - 1948

(Bản in của Tạp chí Thơ số 2/2010)


 


 
Đôi điều về thơ Khánh Phương


Thi Hoàng


 

Giọng mềm len lỏi trong tâm thức và sững ra bắt gặp những thi ảnh lạ. Những cảm thức tưởng như oái oăm đáo để mà thực ra lại  được nhú lên từ cái gốc thật hiền lành thiện nguyện của tâm tính.

Thơ Phương (rất may) không dụng tâm săn đuổi sự quái dị để làm mới mà cái mới ở chị được phát tiết chính là ở sự dám thành thực với chính mình. Ngoài cái tình thơ còn tính thơ . Tính nết ở thơ chị dàn ra những băn khoăn lưỡng lự để tìm chỗ cho thân tâm khả dĩ chấp nhận được trong sự giằng xé ngấm ngầm giữa văn minh và văn hoá. Qua rất nhiều phức cảm ngoắt ngoéo rồi lắng xuống, trong ra để giản dị:

- Takeshi, khi tớ bước đi hai tay vung vẩy cậu có nhìn không?

- Tớ thấy cậu biến vào căn phòng kín mít để con chó con đứng lại ở bên ngoài.

đến những câu như vậy tức là không còn (phải) quan tâm đến thi pháp, nó tự nhiên có thi pháp ở trong ấy. Còn:

chầm chậm ráp những đoạn thì giờ đứt gãy

một góc chiều tróc sơn.

thì đấy là thấy hay cảm thấy ? Chắc là cả hai. Không mấy khi vừa thể chất vừa tinh thần dồn vào nhãn lực như vậy để phát hiện ra những day trở nhuốm màu phiền muộn ở cả hai chiều không gian và thời gian thật sự là đương đại như vậy. Tìm kiếm Phật tính trong văn hoá tinh thần phương Đông không phải là chuyện dễ. Nhiều khi nằng nặc dõi nhìn mà chẳng thấy. Vậy mà có lúc ở những va chạm ngẫu nhiên của vật chất hay ngôn ngữ như là sự ngớ ngẩn, ngô nghê lại đánh mạnh vào thức giác như một công án thiền. Thảng hoặc gặp ở thơ Khánh Phương cái mờ tỏ của những ẩn ý không biết là để sống hay để mộng. Song, dù sống hay mộng thì cũng trong nội hàm là đem sự tốt đẹp đến cho nhau. Sự tốt đẹp ấy đã dịch chuyển từ truyền thống sang hiện đại ở những ý tưởng, chi tiết từ:

... vị đắng còn lại trên lưỡi ta khi ngôn từ bị chối bỏ cho đến khi Đêm lăn thân thể anh tới em dưới ánh sao trời... Nhà thơ không phải là nhà đạo đức, nhưng cũng phải tốt bụng thì từ lòng mình ra chữ nghĩa may ra mới có một vài cảm hoá để rồi chính nhà thơ hay may hơn là độc giả sau cái sự viết và đọc, cùng nhau sống tốt hơn.

Đừng tưởng rằng trong tưởng tượng không có sự minh bạch. Dù hiện thực ngoài đời hay hiện thực trong tâm trạng cũng đều có độ thành thực ít nhiều quan hệ với tư cách của người viết. Chỉ có sự bịa đặt mới làm băng hoại trí tưởng tượng. Săn tìm cái mới lạ để đón lõng sự chú ý của dư luận mà không thể tất nhân tình, không điềm tĩnh rất dễ sa vào bịa đặt. ở thơ, sự bịa đặt đang là một nguy cơ! Chân thực không phải là sự ràng buộc mà chỉ là điều kiện để người viết và người đọc có sự liên thông; Không có sự liên thông này, thơ không còn là nó nữa. Ta có thể nhẩn nha cùng Khánh Phương với những nỗi niềm thơ mà sự tưởng tượng và tính chân thực không bài trừ lẫn nhau mà sít sao tương tác, cộng hưởng. Thì đây:

Chỉ đêm mới ràng buộc ta, lại đến ngày rời rụng,

hãy nhìn em trong ánh sáng ban ngày.

Nếu từ chối tự nấu cho mình bữa trưa,

hãy trở về nấu lại cuộc đời anh... chẳng hạn

Trở lên,  sau những gì đã nói vẫn dấy lên một âu lo. Không biết phía trước con đường thơ của Khánh Phương sẽ ra sao. Chủ thể thì đã đành là người thơ nương níu. Còn khách thể, ai mà biết được rồi ra có làm khó chị không? Hy vọng chị là người có bản lĩnh.

Ở thơ Khánh Phương có nhiều cái (không loại trừ có cả cái lan man) nhưng trước hết là có cái để đọc./.



 
Những vần thơ về Xi măng Hải Phòng


Lưu Văn Khuê


Có thể nói hiếm nơi đem đến nguồn cảm hứng cho văn học, nghệ thuật như  Công ty Xi măng Hải Phòng. Từ lâu đã có câu ca dao:

Hải Phòng có bến Sáu Kho

Có sông Cửa Cấm, có lò Xi măng.

Hải Phòng trăm năm trước còn nhỏ bé, chỉ ven mạn bờ Nam sông Cấm nhưng có một bến cảng làm cửa ngõ cho toàn Bắc kỳ và sừng sững Nhà máy Xi măng duy nhất của cả Đông Dương. Trong nhiều năm, Cảng và Nhà máy Xi măng như hình ảnh tiêu biểu của Hải Phòng, gắn bó khăng khít với cuộc sống của con người nơi đây. Nhà thơ Trịnh Hoài Giang thật có lý khi viết: “Nhà máy Xi măng/Trái tim thành phố”.

Nhà máy Xi măng Hải Phòng còn là cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam, nơi ra đời một trong những chi bộ Cộng sản đầu tiên của Hải Phòng. Công nghệ ngày đó còn lạc hậu, công với sự hà khắc của giới chủ, người công nhân Xi măng không những phải làm việc vất vả mà còn cực nhục. Báo Si moong phát hành bí mật vào năm 1931, cùng với các khẩu hiệu, những bài viết, thơ ca trên báo đã góp phần quan trọng trong việc đấu tranh đòi quyền lợi của người thợ.

Vất vả, cực nhục nhưng công nhân Xi măng vẫn có những vần thơ vui, để quên đi nặng nhọc và cho lòng nhẹ nhõm:

Anh đi khắp bốn phương trời

Không đâu lịch sự bằng nơi sở lò

Giai tơ xúc bột đầu lò

Còn như con gái phải lo việc ngoài

Lại thêm có một anh cai

Đứng trên cửa máng nhặt vài hòn vôi

Trẻ con hết đứng lại ngồi

Cai Ngãi bắt được lôi thôi đuổi về…

Cách mạng tháng Tám bùng nổ, công nhân Xi măng hoà vào không khí sôi sục của toàn dân. Họ có cách nói độc đáo chỉ người thợ Xi măng mới có:

Nước Nam là một cái nồi

Đun trên lửa hận, giận sôi đùng đùng

Trời Nam là một cái vung

Âm u khói súng đựng trong vung trời

Lòng dân ngùn ngụt bốc hơi

Hơi căng sức ép tung trời nổ ran

Căm hờn dâng nước sôi tràn

Đội lò áp bức, đập tàn lửa hung

Chúng ta vẫn coi bài thơ Hải Phòng, 19/11/1946 của Trần Huyền Trân gần như tác phẩm duy nhất phản ánh những ngày đầu kháng chiến chống Pháp trên đất Hải Phòng, thực ra trước đó công nhân Xi măng đã nói đến tinh thần ấy ở bài thơ Thanh sắt rỉ. Bài thơ kể về hành trình của thanh sắt “cò queo trong xó xỉnh đã từ lâu”, nay “nhẩy vào lò điêu luyện” và được rèn thành gươm, trông đã thấy “rùng mình, lạnh gáy, khí ngang tàng”:

Thanh sắt rỉ được tung hoành, thoả chí

Quyết xông pha tẩm máu chiến công đầu

Nào! Thực dân phản động, chúng bay đâu?

Hoà bình lập lại trên miền Bắc, nhiều văn nghệ sĩ từ Hà Nội xuống Hải Phòng để thâm nhập thực tế và viết về thành phố vừa được giải phóng. Nhưng hình như không mấy ai viết được gì. Vậy mà một công nhân Xi măng lại có bài thơ Tiếng còi của Sở Xi măng.  Đó là tiếng còi hồi “mồ ma giặc Pháp”: “Còi như tiếng rú kinh người/ Hú hồn lao động, doạ đời bấp bênh”. Còn “Hôm nay còi sở thổi vang/ Reo vui khắp cả xóm làng xung quanh”, “Ngân nga còi báo tin lành”, “Du dương còi vẳng lưng trời/ Bằng trăm đàn ngọt, bằng mười hát hay”, “Tiếng còi, êm ấm thanh thanh/ Cho cơm nóng dẻo, cho canh ngọt ngào/ Cho con ta ửng má đào/ Múa ca hạnh phúc dạt dào về ta/ Tiếng còi bay bổng, bay xa/ Còi ơi, còi hỡi – thiết tha yêu còi”. Thật là đủ mọi cung bậc của cảm xúc và sinh động trong cách diễn tả.

Những năm đầu hoà bình lập lại và suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, nhà máy Xi măng là điểm đến của rất nhiều văn nghệ sĩ, và chính nơi đây đã hình thành một đội ngũ tác giả khá đông đảo, nhiều người xuất thân từ người thợ, như: Nguyễn Hoàng (tác giả kịch bản phim Khói trắng, nói về nhà máy Xi măng, một trong những tác phẩm đầu tiên của nền điện ảnh miền Bắc), như tác giả sân khấu Vũ Ngọc, hoạ sĩ Duy Lộc, các tác giả văn học: Nguyễn Kế Truyền, Xuân Hồng, Trần Tự, Nguyễn Hồng Quang, Trần Viêm…

Đầu năm 1964 Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng được thành lập, tập thể những người sáng tác và biểu diễn của Nhà máy Xi măng là một trong 5 hội viên đơn vị. Nhiều người trong tập thể này về sau đã trở thành tác giả tiêu biểu của thành phố.

Nhà máy Xi măng Hải Phòng ngày ấy là niềm tự hào của nhân dân thành phố, nơi có Tổ đá nhỏ ca A- đơn vị Lao động XHCN đầu tiên của cả nước. Hồi đó, dường như không một nhà thơ Hải Phòng nào lại không có thơ về nhà máy Xi măng. Nếu không cả bài thì cũng những câu thơ.

Đây là cảm nghĩ của nhà thơ Thi Hoàng:

Những bao xi măng chưa dựng xây thì chồng tạm lên nhau làm bệ tì của súng

Độ bền vững của xi măng là ý chí ngoan cường

Sau những trận quất lửa vào mặt quân thù người thành phố nhìn về nhà máy

Trên miệng ống khói lưng trời những ý nghĩ gặp nhau

Cuối những năm 80, đầu 90 thế kỷ trước, đất nước lâm vào suy thoái, Xi măng Hải Phòng gặp muôn vàn khó khăn, nhìn ngọn khói Xi măng “rã rời trong mỗi âm vang”, nhà thơ Thanh Tùng như nấc lên trong niềm ao ước:

Xi măng của ta ơi!

Ta xin dâng người từng hơi thở

Để người trở lại trẻ trung xưa

Để người lại hùng vĩ đứng bên bờ cửa bể

Để cho những người thợ chiều chiều vừa ăn cơm vừa ngắm làn khói trắng múa giữa trời xanh

Để cho giấc mơ đời ta không còn gầy guộc

Bay lên cùng ngọn khói trắng Xi măng

Trần Lưu có bài thơ tên gọi như một phóng sự: Trên công trường Nhà máy xi măng Hải Phòng nhưng quả không có cái tên nào thích hợp hơn. Đó là bức tranh bằng thơ về việc xây dựng nhà máy Xi măng mới bên sông Bạch Đằng:

Công trường dài suốt dòng sông

Náo nức ngàn cơn sóng vỗ

Bản thiết kế trải dài những chiếc lò nung

Ngàn tấn máy hiện trong đầu đồ sộ

Nhà máy mới ấy bây giờ là đây, niềm ao ước ấy, giấc mơ ấy, công sức của bao nhiêu ngày, giờ đang là hiện thực hùng vĩ bên dòng Bạch Đằng lịch sử.

Nhãn hiệu Con Rồng là biểu tượng của Xi măng Hải Phòng, chúng tôi xin khép lại bài này bằng thơ của một người thợ xi măng:

Rồng ta vươn ngọn cờ đầu

Rồng bay cho nước mạnh giàu, vẻ vang

Nhân Ngày thơ Việt Nam 2010

Tại Công ty Xi măng Hải Phòng

14 tháng Giêng năm Canh Dần



 
«Bắt đầuLùi1112131415Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)