Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 98 khách Trực tuyến
Đôi ba “chuyện đằng sau” cuộc Cách mạng Tháng tám 1945

Hồi Tổng thống Mỹ Babrak Obama thăm nước ta cuối tháng 5/2016, nhiều người tấm tắc chuyện ông ăn bún chả, uống bia tu từ chai; dừng xe dọc đường để tạt vào hỏi han người bán hàng ở vỉa hè; kết thúc 30 phút nói chuyện với sinh viên tại Trung tâm Hội nghị quốc gia ngày 24/5/2016 bằng câu Kiều: “Rằng: Trăm năm cũng từ đây/ Của tin gọi một  chút này làm ghi”. Phải công nhận Obama “diễn” giỏi nhưng do toàn những “tiết mục sống động” nên điều khá quan trọng ông nói với sinh viên về mối quan hệ Việt - Mỹ trong quá khứ lại ít người lưu tâm, đó là năm 1944 máy bay Mỹ bị rơi, phi công nhảy dù xuống Cao Bằng đã được Việt Nam cứu và năm 1945 một nhóm quân nhân Mỹ đã giúp chúng ta giành chính quyền từ tay Nhật.

Nhìn chung sách báo, phim ảnh về Cách mạng tháng Tám năm 1945 chỉ cho biết các sự kiện chủ yếu, những “chuyện đằng sau” ít được đề cập đến nên điều Obama nhắc tới đúng là không nhiều người biết. Vấn đề còn bởi thời điểm và mức độ công bố. Những năm kháng chiến chống Mỹ là không thể. 20 năm tiếp theo do Mỹ thi hành chính sách cấm vận với nước ta, sự việc cũng chỉ nhắc đến thoáng qua một số lần trên vài tờ báo, với ý lấy làm tiếc khi hai bên từng khởi đầu tốt đẹp nhưng cơ hội đã bị bỏ lỡ. Chỉ từ năm 1995 khi Mỹ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, chuyện mới dần được đề cập rộng rãi. Cuốn Sổ tay tra cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh của 10 nhà sử học do GS.TS Phan Ngọc Liên chủ biên xuất bản lần đầu năm 1998 không rõ đã viết về chuyện “đằng sau” ấy chưa, chỉ biết năm 2004 sách được sửa chữa và bổ sung lần thứ ba cho NXB Hải Phòng thì sự kiện đã được nhắc đến. Năm 2010 Đặng Vương Hưng viết thử nghiệm, sau đó chỉnh sửa và in cuốn Phi công Mỹ ở Việt Nam (NXB Công an nhân dân, 2013) nhân 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ (1995-2015) và 70 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nước (1945-2015), trong đó có nhắc đến hai sự kiện trên. Gần nhất, nhân chuyến thăm của Obama, Nguyệt san Quân đội Nhân dân ngày 15/6/2016 đã viết khá chi tiết về “chuyện đằng sau” ấy.

Đại thể: Tháng 10/1944 một máy bay Mỹ bị quân Nhật bắn rơi (Sổ tay tra cứu… nói do hỏng máy), phi công William Shaw nhảy dù xuống vùng Hòa An, Cao Bằng đã được người địa phương cứu. Shaw đói đến mức xôi và con gà luộc người dân đem đến, anh ta ngấu nghiến một loáng đã hết! Biết quân Nhật truy lùng Shaw ráo riết, người dân đã liên hệ với du kích đưa anh ta tới Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng, tại đây Shaw nhận được bức thư bằng tiếng Anh nói sẽ có người đưa đến nơi an toàn. Người đó là Bằng Giang. Trải ba tuần băng rừng, Shaw được đưa tới Pác Bó và được lãnh tụ Hồ Chí Minh tiếp. Shaw hết sức ngạc nhiên, cảm phục và lấy làm thú vị khi “ông già không khác gì nông dân” lại nói được tiếng Anh và cho biết đã từng đến Mỹ tháng 12/1912.

Shaw trở thành cơ hội để chúng ta liên hệ với Đồng Minh và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã trực tiếp đi Côn Minh, Trung Quốc, nơi Đồng Minh đặt trụ sở. Một chuyến đi dài ngày hết sức vất vả. Đội bảo vệ do Phùng Thế Tài chỉ huy. Cuốn Lịch sử Việt Nam, tập II (NXB Khoa học xã hội, 1985) không nhắc tới sự kiện này và nói chung cho tới nay vẫn rất ít sách báo nói đến “chuyện đằng sau” ấy. Sổ tay tra cứu… là một trong số ít cuốn sách đề cập tới: “Vào đầu tháng 3/1945, Hồ Chí Minh tiếp xúc với quân Đồng Minh (các lực lượng Mỹ tại Trung Quốc) ở Côn Minh bàn việc hợp tác đánh Nhật. Người đã gặp một số sĩ quan Mỹ, như trung úy Sáclơ Phen (Charles Fenn), tướng Sênôn (Chennault)… Tướng Sênôn cảm ơn Việt Minh đã cứu thoát phi công Mỹ - trung úy Sao (Shaw) và tặng Hồ Chí Minh tấm hình của mình với dòng chữ “Bạn chân thành của ông, C.L.Chennault”. Người cảm ơn và nói: Bổn phận của những người chống phát xít là làm tất cả những gì có thể được để giúp Đồng Minh” (tr. 55). Dễ thấy là cuốn này xoáy vào chuyện ta cứu phi công Mỹ, trong khi mục đích chính chuyến đi của Bác thì lướt qua, đó là tranh thủ sự ủng hộ của Đồng Minh mà vai trò chính là Mỹ để chống Nhật, giành chính quyền và mục đích đã đạt được: Claire Chennault, Tư lệnh Không đoàn 14 Mỹ, biệt danh Hổ Bay (Flying Tiger) hứa giúp Việt Nam vũ khí và huấn luyện. Vì thiếu tư liệu nên Sổ tay tra cứu… nói cuộc tiếp xúc của Bác diễn ra “vào đầu tháng 3/1945”. Phỏng đoán này thiếu tính khoa học do không căn cứ vào tình hình thời sự lúc đó. Chúng ta đều biết, đêm 9/3/1945 Nhật đảo chính lật đổ Pháp trên toàn Đông Dương; ngày 12/3/1945 Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta và nêu khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”, từ đó mới có sự kiện Hồ Chí Minh đi Côn Minh để bàn với Đồng Minh việc đánh Nhật. Gần đây một tư liệu cho biết cuộc gặp ấy là cuối tháng 3, cụ thể là ngày 29/3.

Tại Côn Minh, lãnh tụ Hồ Chí Minh còn tiếp xúc với một số nhân vật trong chính quyền Tưởng Giới Thạch và người Pháp. Bác nói tiếng Anh với người Mỹ, tiếng Trung Quốc với người Trung Quốc và tiếng Pháp với người Pháp.

Báo Việt Nam độc lập ngày đó có in 8 tranh liên hoàn minh hoạ và hướng dẫn cách cứu phi công cùng câu thơ: “Quân đội Mỹ là bạn ta/ Cứu phi công Mỹ mới là Việt Nam”, có lẽ cả thơ và tranh đều của Bác. Không rõ số báo này ra trước hay sau chuyến Bác đi Côn Minh.

Lúc Nhật đảo chính Pháp, Bảo Đại đang ở Đà Lạt, ngày 10/3 ông vào rừng đi săn thì Nhật giữ lại để ký vào bản Tuyên cáo “Việt Nam độc lập”; hôm sau Nhật tuyên bố công nhận “độc lập” cho Việt Nam và Bảo Đại ra đạo dụ ca tụng “lòng chân thành” của Nhật (!) Trần Trọng Kim đang ở Tân Gia Ba (Singapore) được gọi về làm Thủ tướng. Tên nước được đặt là Đế quốc Việt Nam, quốc kỳ nền vàng với vạnh “quẻ ly” ở giữa. Trong Kinh Dịch, quẻ ly có nhiều nghĩa, ở đây chủ yếu với nghĩa phương Nam (khác với cờ “ba vạch” tựa như “quẻ càn”). Ngày 7/4 Bảo Đại chuẩn y nội các Trần Trọng Kim. Đây là chính phủ bù nhìn 100% dưới quyền “cố vấn” của Công sứ Nhật Yokoyama, không chỉ vậy, còn không có Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và quân đội. Cũng như các chính phủ Nhật lập ra ở Mãn Châu Quốc, Hàn Quốc, Phi Luật Tân (Philippines), Miến Điện (Myanmar), chính phủ Trần Trọng Kim không được Đồng Minh công nhận.

Khi này nạn đói đang hoành hành khắp miền Bắc (cao điểm từ tháng 10/1944 đến 5/1945). Đó là bởi suốt mấy năm liền cả Pháp lẫn Nhật đều ra sức tích trữ thóc gạo nhằm mưu đồ riêng. Nhật còn bắt dân ta nhổ lúa trồng đay để phục vụ chiến tranh - sách báo nói chung chung vậy, bởi đây là “chuyện đằng sau” của Nhật nên không thể biết, có lẽ một trong những lý do là Nhật vơ vét thóc gạo đem về nước nên cần nhiều đay để làm bao đựng! Đường sắt, đường bộ Bắc - Nam không giao thông được vì bị quân Đồng Minh ném bom và Nhật ngăn cản, tàu thủy cũng không vào được cảng Hải Phòng vì thủy lôi phong tỏa từ đó dẫn tới nghịch lý: Miền Nam không có than từ Bắc vào nên Pháp đã đốt thóc thay than cho nhà máy điện; miền Bắc không có gạo vì thóc gạo phải vận chuyển từ Nam ra bằng xe bò và thuyền nhỏ, tốn công sức, mất nhiều ngày và không được bao nhiêu. Có nguyên nhân nữa là do mất mùa, mặc dù thế, các kho ở miền Bắc vẫn chất đầy thóc gạo nhưng Nhật cấm mở kho để cứu đói, chính phủ Trần Trọng Kim thì chịu thân phận bù nhìn tới mức không dám cầu xin đến một hạt. Kết quả hai triệu người miền Bắc chết đói (riêng Thái Bình chết 1/4 dân số). Nói cho đầy đủ và công bằng thì chính phủ Đế quốc Việt Nam cũng thực hiện được hai việc: Dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ hành chính thay cho tiếng Pháp, phá đổ các tượng của Pháp và đổi tên đường phố từ tên Pháp sang tên Việt. Trước tình hình nguy cấp của nạn đói, ngày 12/3/1945 Đảng và Mặt trận Việt Minh đã nêu khẩu hiệu “giữ lấy thóc mà ăn”, “không nộp một hạt thóc, đồng xu cho Nhật”, “phá kho thóc, giải quyết nạn đói”. Nhiều nơi theo lời kêu gọi đã làm được việc mà Chính phủ Trần Trọng Kim không làm được, đó là cứu đói.

Ngày 21/5/1945 lãnh tụ Hồ Chí Minh rời Pác Bó đi Tân Trào, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. Tân Trào trở thành thủ đô của cách mạng (Xã Tân Trào thành lập năm 1945 trên cơ sở hợp nhất hai thôn Tân Lập - tên cũ: Kim Luông, còn gọi Kim Lung, Kim Long và  Hồng Thái - tên cũ: Kim Châu).

Thực ra Mỹ muốn có mặt ở Việt Nam từ lâu nhưng điều kiện chưa đảm bảo. Cơ quan Tình báo chiến lược OSS (Office of Strategic Services - tiền thân của CIA) của Mỹ đã đặt trụ sở ở Côn Minh, năm 1943 OSS đã gặp gỡ ba người Mỹ, muốn họ nhận một nhiệm vụ tình nguyện ở Đông Dương nhưng cả ba đều từ chối khi biết cơ hội sống chỉ 50%! Mặc dù vậy Mỹ vẫn huấn luyện được một số quân nhân cách giết mổ và ăn thịt dê, mò bắt ốc hến và kỹ năng sống khi lạc rừng; họ được học một ít tiếng Việt và kiến thức về địa lý, lịch sử, văn  hóa, tình hình chính trị ở Việt Nam để sẵn sàng làm nhiệm vụ khi có cơ hội. Việc giải cứu Shaw không chỉ tạo cơ hội cho ta mà còn là cơ hội của Mỹ nên ngay sau cuộc gặp Hồ Chí Minh ở Côn Minh, Mỹ đã lập tức cho hai quân nhân tới Tân Trào làm nhiệm vụ giải cứu phi công và công tác tình báo; tháng 5/1945 OSS lại giao Archimedes Patti đặc trách về Đông Dương, đồng thời thành lập đội đặc nhiệm Con Nai (Deer Team) gồm các quân nhân đã được huấn luyện do thiếu tá Allison Thomas làm đội trưởng để thực thi nhiệm vụ ở Việt Nam. Sổ tay tra cứu… viết: “Đội Con Nai: Mật danh của một nhóm quân nhân Đồng Minh được phái đến Việt Nam, theo thỏa thuận với Hồ Chí Minh huấn luyện du kích, cung cấp phương tiện chiến đấu. Vào chiều 17/7/1945 nhóm Con Nai gồm 5 người, do thiếu tá tình báo E. Tômát phụ trách, nhảy dù xuống Tân Trào (Tuyên Quang). Khoảng 20 giờ ngày hôm ấy, Hồ Chí Minh có thảo luận với Tômát, Người khẳng định Mặt trận Việt Minh là tổ chức tập hợp các tổ chức đảng phái chính trị để giành độc lập tự do. Ngày 19/7 Người lại cùng Tômát bàn về khu vực hoạt động của đội Con Nai. Theo Người, Con Nai nên tập trung hoạt động trên tuyến đường Thái Nguyên - Bắc Cạn - Cao Bằng (đường thuộc địa số 3), sau đó có thể mở rộng diện hoạt động trên đường Lạng Sơn - Hà Nội. Người cũng khẳng định tiếp nhận đội Con Nai khác. Từ ngày mồng 1 đến 6/8, Hồ Chí Minh tuyển lựa 200 du kích để đội Con Nai huấn luyện vũ khí” (tr. 81). Sự việc được tạp chí Xưa Nay và Hồn Việt viết tỉ mỉ hơn: Một khoảng rừng đã được chúng ta phát quang nhanh đến mức kỷ lục để đón Đội Nai và khẩu hiệu bằng tiếng Anh: “Chào mừng các bạn Mỹ của chúng tôi” (do hai quân nhân Mỹ tiền trạm thực hiện) khiến họ bất ngờ và cảm động. Ra đón là Võ Nguyên Giáp. Thả dù cùng Đội Nai là vũ khí đủ trang bị cho 80 người. Ngay tối hôm đó, vào hồi 20 giờ lãnh tụ Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đã làm việc với Thomas, thấy trong đội có một người Pháp và một người Việt, ta dứt khoát yêu cầu trở lại Côn Minh, đề nghị đổi người khác. Việc Pháp quay trở lại sau chiến tranh là điều rất có thể nên cảnh giác trước là hơn, đó là “chuyện đằng sau” của việc đề nghị đổi người. Mỹ đang cần có mặt ở Việt Nam nên buộc phải chấp nhận và một tuần sau đã thả dù bốn người thay thế. Tới lúc này Đội Nai có tất cả bảy người, ngoài chuyên gia vũ khí và bác sĩ còn có nhân viên điện đài, người phiên dịch, người chụp ảnh. Mỹ khá chu đáo, nhờ trung sĩ kiêm nhiếp ảnh Aron Sqquires, chúng ta mới có những bức ảnh Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp với Đội Nai. Cuối tháng 7 Bác bị ốm sốt rét rất nặng tưởng không qua khỏi, cuốn Sổ tay tra cứu… nói Bác khỏi nhờ thuốc của ông lang người Tày song theo bác sĩ quân y Paul Hoaglund trong Đội Nai thì chính ông ta đã “cứu ông Hồ”.

Lúc này nhiều nơi lập căn cứ và tổ chức lực lượng vũ trang kháng Nhật:

- Cứu quốc quân: Tên gọi chung 3 trung đội du kích ở Bắc Sơn (Lạng Sơn, thành lập 14/2/1941), Vũ Nhai (Thái Nguyên, thành lập 15/9/1941), Sơn Dương (Tuyên Quang, thành lập 25/2/1944). Mỗi nơi khoảng 30 - 40 chiến sĩ.

- Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân: Gồm 34 chiến sĩ (29 là người dân tộc thiểu số) thành lập theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh ngày 22/12/1944 tại khu rừng Sam Cao giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám thuộc châu Nguyên Bình, Cao Bằng. Chỉ thị được giấu trong bao thuốc lá. Đây là đội quân chủ lực do Võ Nguyên Giáp chỉ huy, Hoàng Sâm đội trưởng, Xích Thắng(1) chính trị viên, Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến. Trang bị gồm 2 súng thập (súng ngắn ổ đạn 10 viên), 17 súng trường, súng kíp, 14 mã tấu. Sở dĩ Bác chọn Võ Nguyên Giáp bởi nhận thấy nhà giáo dạy sử ở trường Thăng Long, Hà Nội này am hiểu sâu sắc lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới và trân trọng nghệ thuật quân sự của cha ông.

- 7 nơi khác trên toàn quốc lập chiến khu, trong đó Chiến khu Trần Hưng Đạo (còn gọi Chiến khu Đông Triều, Đệ tứ chiến khu) do Nguyễn Bình chỉ huy thu hút khá nhiều thanh niên Hải Phòng. Nhiều nơi cũng thành lập các căn cứ và các đội du kích kháng Nhật.

Ngày 15/5/1945 tại vùng Chợ Chu (Thái Nguyên), Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân tổ chức lễ hợp nhất thành Giải phóng quân Việt Nam. 100 chiến sĩ (Sổ tay tra cứu… nói 200) được tuyển lựa để Đội Nai huấn luyện. Henri Prunier, sĩ quan của Đội Nai kể trong hồi ký: Trước đó trang bị của Giải phóng quân rất thô sơ, chỉ vài khẩu hỏa mai nòng ngắn (musketoon) còn lại là súng kíp, mã tấu, giáo mác, gậy gộc, kỹ năng chiến đấu gần như không và chẳng một ai biết cách ném lựu đạn, mister Van (Võ Nguyên Giáp) thì “liều” đến mức có lần còn ghé tận mắt nhìn vào nòng súng khiến Prunier hoảng hồn!

Năm 1995 Henri Prunier thăm lại Việt Nam, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp. Trong bữa ăn Prunier đang nghĩ chắc ông Giáp không nhớ mình thì bất ngờ Đại tướng đứng dậy cầm một quả cam giả làm động, tác ném lựu đạn khiến Prunier rất xúc động, bởi đó chính là “bài giảng” 50 năm trước ông từng giúp huấn luyện  quân đội Việt Nam.

Về sự kiện Nhật đầu hàng Đồng Minh, cuốn Lịch sử Việt Nam (NXB Khoa học xã hội, 1985) viết: “Mùa Thu năm 1945, sau khi Liên Xô thực hiện cam kết ở Hội nghị Yanta, tuyên chiến với Nhật và đánh tan đạo quân Quan Đông tinh nhuệ của chúng, phát xít Nhật đầu hàng không điều kiện các nước Đồng Minh ngày 14/8/1945. Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc” (tr. 338). Cuốn sử này không nhắc đến sự kiện Mỹ ném bom nguyên tử xuống đất Nhật. Nhìn chung một dạo sách báo chỉ kể từ 9/8 đến 17/8/1945 Liên Xô đánh tan đội quân Quan Đông 750 nghìn người của Nhật đóng ở Mãn Châu, Trung Quốc, coi như yếu tố quyết định phát xít Nhật đầu hàng; có nói đến Mỹ ném bom nguyên tử xuống đất Nhật (ngày 6/8 và  9/8/1945) cũng chỉ xem như tội ác. Thiết nghĩ, “Phát xít Đức đã tắt thở”, đất nước lại bị bom nguyên tử nên quân Nhật không thể không mất tinh thần, do vậy nhanh chóng thua trận và trên thực tế 12 giờ trưa 13/8, Nhật đã chấp nhận hạ vũ khí đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện.

Theo dõi sát tình hình nên ngày 13/8 Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào đã đề ra các chủ trương để Mặt trận Việt Minh chủ trì Quốc dân Đại hội; mới họp được nửa ngày thì được tin Nhật đầu hàng Đồng Minh. ủy ban khởi nghĩa được thành lập (gồm Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Lê Thanh Nghị, Chu Văn Tấn do Tổng Bí thư Trường Chinh phụ trách).

Có tài liệu nói ngay sau khi nghe tin Nhật đầu hàng Đồng Minh, Giải phóng quân đã lên đường. Nhưng cũng có tài liệu nói là ngày 16/8 dưới gốc đa Tân Trào, trước sự chứng kiến của nhân dân trong vùng và các đại biểu dự Quốc dân Đại hội, Giải phóng quân Việt Nam đã làm lễ xuất quân, sau khi Võ Nguyên Giáp đọc Quân lệnh số 1. Sách báo ngày trước cũng chỉ kể đến Giải phóng quân Việt Nam, gần đây mới được biết một “chuyện đằng sau”, đó là sự có mặt của Đội Nai. Quân Giải phóng chia làm hai toán, toán do Võ Nguyên Giáp và Thomas chỉ huy, toán do Đàm Quang Trung và Dèfourneaux chỉ huy. Thế nên người Mỹ gọi đó là “Bộ đội Việt - Mỹ”. Lúc này mưa lớn đã nhiều ngày, sông suối tràn nước, đường lở, cây đổ khiến việc hành quân hết sức vất vả nên sau 4 ngày mới tới Thái Nguyên. Lực lượng Nhật ở đây khá mạnh, dù Thomas đưa vào đồn giấy tờ chứng minh là sĩ quan Mỹ thừa lệnh Đồng Minh, yêu cầu Nhật đầu hàng nhưng chúng không chịu hạ vũ khí nên buộc phải nổ súng.

Ngày 16/8 cũng là ngày khai mạc Quốc dân Đại hội. Hơn 60 đại biểu các đảng phái, đoàn thể, tôn giáo, các dân tộc và kiều bào ở nước ngoài đã tham dự Đại hội. Nhiều tài liệu nói chung chung như vậy. Cụ thể, đại biểu kiều bào chỉ từ Thái Lan và Lào. Các đảng phái chỉ Đảng Cộng sản Đông Dương và Đảng Dân chủ Việt Nam tham gia (Đảng Dân chủ thành lập ngày 30/6/1944 do Dương Đức Hiền sáng lập và làm Tổng bí thư). Đảng phái vắng mặt có thể đoán được, trong đó có hai đảng lưu vong ở Trung Quốc là Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội (Việt Cách), Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc).

Quốc dân Đại hội thông qua 10 chính sách của Việt Minh, định ra quốc kỳ, quốc ca và bầu ủy ban Dân tộc giải phóng (Hồ Chí Minh - Chủ tịch, Trần Huy Liệu - Phó chủ tịch, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền -ủy viên thường trực; Trường Chinh, Cù Huy Cận, Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Hữu Đang, Lê Văn Hiến, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Xuân(2) - ủy viên). Qua Charles John trong Đội Nai, một bức thư được chuyển tới OSS để gửi Chính phủ Mỹ, đề nghị thông báo với Liên Hợp Quốc việc Việt Nam đứng về phía Đồng Minh, yêu cầu tổ chức này thể hiện lời hứa long trọng là tất cả các dân tộc trên thế giới đều được hưởng quyền tự do và độc lập. Đại hội kết thúc ngay hôm sau, dân trong vùng đem gạo và một con bò đến mừng đại hội. Các đại biểu hết sức thấm thía khi Hồ Chủ tịch chỉ vào em bé đang ở trần nói: “Nhiệm vụ của chúng ta là làm sao cho trẻ em có cơm ăn, áo mặc, khỏe mạnh và được học hành”. Sau đó tất cả nhanh chóng lên đường về địa phương mình để phát động và lãnh đạo khởi nghĩa. Trong hồi ký, Trung tướng Trần Quý Hai kể ông đi xe đạp từ Tân Trào về Quảng Ngãi phải thay tới mấy bộ má phanh!

Đồng bằng Bắc bộ ngập trong lũ lụt nên Giải phóng quân nhiều lúc phải đi thuyền từ Thái Nguyên về Hà Nội. Ngày 17/8 cờ quẻ ly ở dinh Khâm sai Bắc Bộ (Bắc Bộ phủ) bị hạ xuống thay bằng cờ đỏ sao vàng. Ngày 19/8/1945 Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Nhạc sĩ Xuân Oanh kể, ông hòa vào đoàn người tiến về Nhà hát Lớn. Cảm xúc trước khí thế cách mạng ông bật ra câu hát: “Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày…”, không có giấy, ông ghi vào vỏ bao thuốc lá, cứ thế cả lời và nhạc ào đến một cách tự nhiên và kỳ lạ, tới Nhà hát Lớn cũng là lúc hoàn thành, ông phổ biến luôn cho quần chúng, sau đó in, đài phát thanh thu âm và phát lên sóng suốt cả tuần cho đến ngày 2/9. Đó là ca khúc 19 tháng 8.

Lúc này nhiều vùng nông thôn Kiến An sôi nổi đứng lên giành chính quyền hoặc buộc chính quyền địa phương phải phục tùng cách mạng, điển hình là Kim Sơn, Kiến Thuỵ. Chiều 22/8 ủy ban khởi nghĩa gặp luật sư Vũ Trọng Khánh, Thị trưởng Hải Phòng; ông Vũ Trọng Khánh tuyên bố ủng hộ cách mạng. Sáng 23/8 nghĩa quân Chiến khu Đông Triều theo hai ngả tiến vào thành phố, cùng lúc trung đội tự vệ Kiến An tập trung ở Niệm Nghĩa, tất cả tiến về Nhà hát Lớn ra mắt quốc dân đồng bào, khởi nghĩa chính thức thắng lợi ở Hải Phòng. Vũ Trọng Khánh trở thành ủy viên hành chính ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Hải Phòng; sau là Bộ trưởng Tư pháp Chính phủ lâm thời (27/8/1945 - 6/1/1946), tham gia phái đoàn Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau (tháng 6-9/1946). Khởi nghĩa cũng lần lượt thắng lợi ở Huế 23/8, Sài Gòn 25/8...

Ngày 22/8 Hồ Chủ tịch rời Tân Trào để về Hà Nội, xế chiều 25/8 Người đến nhà số 48 Hàng Ngang. Trước đó Nguyễn Lương Bằng đã gặp ông bà Trịnh Văn Bô chủ nhà đề nghị sắp xếp cho một người đến ăn ở và làm việc ít ngày, nếu ai hỏi thì bảo là “người nhà ở quê” ra! “Người ấy” đến, cao gầy, áo nâu, quần sooc, đi dép cao su trắng nhãn hiệu Con Hổ, loại dép thông dụng lúc bấy giờ. Vì bí mật nên đến tận Lễ Độc lập 2/9, ông bà Trịnh Văn Bô mới biết “người ấy” là Hồ Chủ tịch và những người đến gặp Bác là ai, còn trước đó chỉ đoán “khách” hẳn là người quan trọng vì thấy ai tới gặp đều tỏ rõ sự kính trọng, có hôm tới 15 người đến họp (Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Bùi Công Trừng, Trần Đăng Ninh...). Có một “chuyện đằng sau” ít được nói tới, đấy là ngày 29/8 Archimedes Patti và Allison Thomas đến gặp Hồ Chủ tịch và được Người cho xem bản đánh máy Tuyên ngôn độc lập “với nhiều chữ bị gạch bỏ và được viết đè lên bằng mực cùng với nhiều ghi chú bên lề” - Patti viết trong hồi ký Why Vietnam? (Vì sao, Việt Nam? xuất bản 1985), được nghe dịch ra tiếng Anh những câu đầu, ông “nổi gai” khi nghe chính lời bản Tuyên ngôn năm 1776 của đất nước mình. Từ 28/8 Bác đến làm việc tại trụ sở Chính phủ lâm thời (Bắc Bộ phủ cũ) song vẫn về ăn ở tại 48 Hàng Ngang cho đến 27/9.

Trịnh Văn Bô thuộc dòng dõi Trịnh Kiều (con thứ tư An Đô vương Trịnh Cương), có hiệu vải Phúc Lợi ở 48 Hàng Ngang, xưởng dệt và một số nhà ở Hà Nội. Triết lý kinh doanh của ông bà là: “Buôn bán được 10 chỉ giữ 7, còn thì giúp người nghèo và làm phúc. Khi cần nuôi nền độc lập thì cống hiến tất cả”. Trước Tổng khởi nghĩa ông bà đã hiến tiền và vàng cho cách mạng, trong Tuần lễ vàng (17/9 - 24/9/1945) lại hiến tiếp và đưa cho họ mạc hàng trăm lượng để hiến Nhà nước. Sau này khi quân đội Tưởng Giới Thạch vào tước khí giới quân Nhật, tuy thỏa thuận và nhường chỗ cho Pháp, chấp nhận rút về nước song chúng không phải đã dễ dàng cuốn gói, có tài liệu nói “đằng sau” sự việc là chuyện ta phải lót tay cho Tiêu Văn, Lư Hán và Tổng trưởng Quốc phòng Hà ứng Khâm! Tất cả đều do Trịnh Văn Bô ủng hộ, vì không có sẵn tiền mặt, gia đình đã phải bán phá giá vải vóc. Tính ra, trước sau Trịnh Văn Bô ủng hộ Nhà nước, quy ra vàng là 5147 lượng, tương đương 2.000.000đ Đông Dương, gần gấp đôi ngân khố quốc gia chính quyền cũ để lại (1.200.000đ, phần lớn là tiền rách không lưu thông được). Con số 5147 lượng vàng được viết ở góc bức ảnh bà Hoàng Thị Minh Hồ, vợ Trịnh Văn Bô hiện vẫn treo trên tường biệt thự 34 Hoàng Diệu nơi ở của một trong các con của ông bà (cạnh nhà gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp). Gia đình Trịnh Văn Bô theo kháng chiến, hòa bình lập lại ông làm Phó chủ tịch ủy ban hành chính Hà Nội cho đến khi nghỉ hưu.

Sổ tay tra cứu… viết: “ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời…” (tr. 229) là chưa được cụ thể vì sau đó 10 ngày, đến 27/8 Hồ Chủ tịch mới đề nghị ủy ban Dân tộc giải phóng cải tổ thành Chính phủ lâm thời. Để tránh bất lợi về chính trị và tạo điều kiện cho phong trào Việt Minh, 5/15 thành viên ủy ban không tham gia Chính phủ, gồm Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Đình Thi, Chu Văn Tấn, Nguyễn Chí Thanh, nhường chỗ cho các nhân sĩ Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Trọng Khánh, Hoàng Minh Giám.

Ngày 23/8/1945 Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận đại diện  Chình phủ lâm thời vào đến Huế; nội các Trần Trọng Kim chính thức bị xoá sổ, tính ra tồn tại được hơn 4 tháng. Trong hồi ký Từ Triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc Phạm Khắc Hoè, nguyên Ngự tiền văn phòng của Bảo Đại kể: Đêm 23/8/1945 ủy ban Nhân dân Cách mạng Bắc Bộ gửi cho Bảo Đại bức điện: “Chính phủ Nhân dân cách mạng đã thành lập, Chủ tịch là cụ Hồ Chí Minh. Yêu cầu đức vua thoái vị ngay để củng cố và thống nhất nền độc lập nước nhà”. Dưới bức điện là tên những người gửi: Nguyễn Xiển, Nguyễn Văn Huyên, Nguỵ Như Kon Tum, Hồ Hữu Tường. Sáng 24 Phạm Khắc Hòe vào gặp Bảo Đại và đưa xem bức điện. Bảo Đại tỏ ra rất buồn vì hóa ra câu sấm “…Vạn đại dung thân”(3) là sai, rồi ông nói: “Nếu quả là người cầm đầu Việt Minh là “Thánh Nguyễn ái Quốc” thì tôi sẵn sàng thoái vị ngay”. Bởi khi này Hồ Chí Minh là ai, ở Huế chưa hề nghe tiếng, chỉ biết đến Nguyễn ái Quốc và câu sấm “Nam Đàn sinh thánh”. Phạm Khắc Hòe vội tới các nhà để hỏi thì Tôn Quang Phiệt đi vắng, Đào Duy Anh lục sách vở chỉ thấy Nguyễn ái Quốc có rất nhiều tên gọi nhưng không thấy tên nào là Hồ Chí Minh cả. Sực nhớ đến Vũ Văn Hiền vừa ở Hà Nội về, Phạm Khắc Hoè liền tới mới biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn ái Quốc. Ông về ngay báo cho Bảo Đại. Những khi bộc phát, câu nói cất lên từ đáy lòng thường Bảo Đại nói bằng tiếng Pháp và lần này cũng vậy: “Ca vaut bien le coup alors” (Như vậy thì thật đáng thoái vị).

Ngày 25/8 (có tài liệu nói chiều 30/8), trước hàng ngàn người ở Ngọ Môn, Bảo Đại tuyên ngôn thoái vị. Trần Huy Liệu là người đầu tiên tiếp nhận ấn, kiếm. Lời Bảo Đại tại lễ thoái vị: “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ” sau này được cựu Hoàng hậu Nam Phương nhắc lại trong một thông điệp; tuy nhiên một người chứng kiến lễ thoái vị cho biết Bảo Đại không nói câu trên mà đọc câu trong Chiếu thoái vị là: “Từ nay trẫm lấy làm vui mừng được làm dân tự do của một nước độc lập”. Tiếp đó Bảo Đại trao ấn, kiếm cho đại diện Chính phủ lâm thời, kể từ đây ông là công dân Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy. ấn và kiếm đều bằng vàng, Cù Huy Cận bưng ấn mà muốn xiêu cả người vì thấy nhỏ tưởng nhẹ nên không chuẩn bị tư thế.

Các triều đại đều có nhiều ấn, một tài liệu nói triều Nguyễn có 26 ấn, chỉ ấn triện (thuộc “đồ thư văn bảo”: bản đồ, sách, văn bản, triện bảo) là dùng thường xuyên, các ấn khác đều cất giữ (gọi là “tôn tàng bảo tỉ”). Tên ấn căn cứ vào chữ ở ấn. ấn quan trọng nhất, tượng trưng cho quyền lực triều đại chỉ dùng trong ngoại giao, truyền ngôi hoặc trường hợp đặc biệt nên Bảo Đại đã trao chiếc ấn này khi thoái vị. Có tài liệu nói đó là ấn “Sắc cáo chi bảo” (đúc năm Gia Long thứ nhất,1802). Có tài liệu lại nói là “Hoàng đế chi bảo” (hoặc “Nguyễn triều chi bảo”, đúc năm Minh Mạng thứ tư, 1823). Chỉ biết ấn nặng 280 lạng 9 chỉ 2 phân (27 lạng = 1kg nên ấn nặng 10,7 kg), bà Mộng Điệp “thứ phi” của Bảo Đại đã tự tay đem cân và nói nặng 12,9 kg; Trần Huy Liệu lại viết trong hồi ký ấn nặng 7 kg. Có lẽ bà Mộng Điệp nói đúng.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến, người Pháp vô tình tìm thấy cặp ấn kiếm trong một thùng dầu hỏa, kiếm bị bẻ làm đôi cho gọn! Ai giấu, sao không mang vào vùng kháng chiến? Đó là “chuyện đằng sau” không bao giờ có câu trả lời. Pháp đưa cho bà Mộng Điệp, bà hàn nối lại kiếm. Năm 1953 Mộng Điệp sang Pháp giao lại cho Nam Phương. Sau này Bảo Long bán đấu giá 306 kỷ vật triều Nguyễn trong đó có chiếc kiếm. Bán rẻ nhất là ảnh Nam Phương chụp với Bảo Long hồi nhỏ, 600 fr; trung bình là bức tranh Phụ nữ ngồi của hoạ sĩ Mai Trung Thứ (quê Do Nha, An Dương, Hải Phòng), 25.000 fr; đắt nhất là tượng Chàm thế kỷ XII, 150.000 fr. Bảo Long dự định sẽ bán chiếc ấn. Mộng Điệp phản đối chuyện ấy vì cho rằng cặp ấn kiếm là tài sản của quốc gia Việt Nam chứ không phải của bất cứ cá nhân nào. Chính nhận thức như vậy nên trước đây người Pháp tìm thấy chúng đã trả lại cho phía Việt Nam.

Cũng cần biết thêm: Cuốn Bí sử triều Nguyễn (NXB Thanh Hóa, 2014) viết: “Triều đình Thành Thái khác các triều trước ở chỗ lễ đăng quang không có Truyền quốc bảo tỉ ấn ngọc. Lúc trước, khi rời khỏi kinh thành Huế, vua Hàm Nghi đã mang theo ấn ngọc và đánh mất tại Quảng Bình. Lúc tại vị vua Đồng Khánh đã phải dùng một ấn ngọc khác”.

Trên đây là một số chuyện xung quanh cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 được lượm lặt từ sách báo. Chuyện có thể không hoàn toàn đúng với sự thật, bởi lịch sử bao giờ cũng tồn tại những bí ẩn và được nhìn nhận bằng cái nhìn của nhiều người, từ nhiều góc độ và tùy từng thời điểm, nhất là những gì “đằng sau” sự việc./.

Lưu Văn Khuê

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)