Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 44 khách Trực tuyến
Từ “Mầm đắng” nghĩ về mảng đề tài dân tộc và miền núi *

Trong dòng mạch văn học nước nhà, bộ phận văn học khai thác đề tài dân tộc thiểu số và miền núi là một dòng chảy tuy không ồn ào, mạnh mẽ nhưng chứa nhiều ẩn số thú vị, hứa hẹn những phát hiện độc đáo. Tiếp nối thành công của thế hệ nhà văn lớp đầu như Thế Lữ, Lan Khai, Tô Hoài, Nguyên Ngọc hay sau này với Nông Minh Châu, Triều Ân, Vi Hồng, Mã A Lềnh, Sa Phong Ba, Inrasara… nhiều cây bút trẻ (cả về tuổi đời và tuổi nghề) đang hăm hở khẳng định mình với hi vọng trở thành những người kế tục xứng đáng, Tống Ngọc Hân là một trong số đó.

Tống Ngọc Hân sinh năm 1976 ở Phú Thọ nhưng chị gắn bó với Sa Pa và chung thủy với mảnh đất này, nhờ thế, Sa Pa hào phóng, mở lòng mình với chị. Nếu ai đã đọc tập thơ đầu tay “Những nét vân tay” (2007) hay từng đôi lần lật giở những trang truyện ngắn trong các tập “Khu vườn yên tĩnh” (2009), “Hồn xưa lưu lạc” (2014) hẳn nhận ra ngay chất núi rừng, hoang hoải của nắng gió, của rừng, của ruộng bậc thang và của con người miền Tây Bắc thấm qua từng trang viết của chị. Sa Pa đẹp thơ mộng, trong trẻo, mát lành…nhưng đấy là qua con mắt của các công ty lữ hành và khách du lịch! Qua truyện ngắn của Tống Ngọc Hân, đặc biệt là “Mầm đắng”, ta sửng sốt nhận ra một Sa Pa khác, một Tây Bắc khác – vùng đất của thiên tai, nghèo đói, thất học cùng nhiều hủ tục.

Cùng với các truyện ngắn “Nước mắt để dành”, “Lửa cười lửa khóc”, “Hồn xưa lưu lạc”… “Mầm đắng” nối tiếp mạch miêu tả về “một vùng văn hóa, một tộc người, một phong tục đậm nét” bằng việc khắc họa chân thực cuộc đời của một cô gái người Giáy thông minh, bản lĩnh với khát vọng được học, được có nghề nghiệp, được đi nhiều nơi và kết giao nhiều bạn nhưng cuối cùng lại trở thành nạn nhân của nạn “đẻ thuê”.

Câu chuyện được kể bởi một người kể chuyện xưng “tôi”, tự kể về cuộc đời mình, nhờ thế câu chuyện cô kể trở nên đáng tin cậy. Các chi tiết trong truyện cho phép độc giả hình dung về một cô gái có gia cảnh nghèo khó, là con út trong gia đình có chín anh chị em sau mười ba lần sinh nở của bà mẹ. Trong khi các chi tiết nhỏ nhặt được miêu tả rất kĩ (chi tiết buộc giẻ vào đuôi trâu cho khỏi bị lẫn, chi tiết về cái quần rách, về việc “đến tháng” của chị em phụ nữ…) thì tên của các nhân vật chưa một lần được gọi ra, có lẽ tên gọi là một thứ xa xỉ và ít cần thiết nhất ở vùng này. Cái nghèo, cái đói, sự thất học và nạn sinh đẻ vô tội vạ được tác giả ngầm đưa ra để giải thích cho điều này qua đoạn tự sự nhẹ nhàng mà chua chát: “Mà mẹ cũng hay, ngày tháng năm sinh của chúng tôi, đứa nào có, tự nhớ lấy…Mẹ hay sai bảo tất cả chúng tôi bằng tên chung: “Chúng mày…”. Chín đứa cũng “chúng mày”, mà có một đứa mẹ cũng “chúng mày” chứ chả gọi đến tên riêng bao giờ”. Chứng kiến sự phát triển của nhân vật theo thời gian liên tiến của câu chuyện ta thấy được sự trưởng thành dần về mặt nhận thức của một cô gái miền núi: có khát vọng chính đáng, tìm mọi cách vượt lên hoàn cảnh, dám chấp nhận thay đổi và đối mặt thử thách…Tất cả những suy nghĩ ấy làm cô khác với đa số những người phụ nữ còn lại ở nơi đây, những người bà, người mẹ, người chị mà như cô thấy chỉ biết cam chịu, sống tù túng, quanh quẩn. Nhưng có lẽ cũng chính bởi những suy nghĩ “khác với đa số” ấy khiến cô rơi vào bi kịch – bi kịch của sự ý thức! Giá cô cứ cam chịu, cứ nghe theo sự sắp đặt của bố, không khát chữ, khát bạn, không táo bạo và quyết liệt thì có lẽ cô cũng sẽ được như các chị của mình: lấy một anh chồng học gần hết cấp hai, đẻ hai đứa con theo quy định của nhà nước, và quanh năm suốt tháng chỉ trung thành với hành trình “từ nhà lớn xuống bếp, từ bếp ra đồng, từ đồng về nhà”.

Bên cạnh nhân vật trung tâm, không khó để nhận ra một biểu tượng nghệ thuật đầy tính ẩn dụ cứ trở đi trở lại trong những thời khắc quan trọng của cuộc đời nhân vật - mầm đắng. Những mầm măng đắng là một phần không thể thiếu trong đời sống của con người nơi đây. Trẻ con ở đây lớn lên cùng đàn trâu và mùa măng, giá trị cái quần cái áo của chúng được quy ra bằng những sọt măng. Măng đen gắn với khát vọng đổi đời của ông bố, lại cũng được ví như cái mầm mống đau khổ mà “gã lái xe” đã gieo vào người cô con gái: “Nó bé nhỏ nhưng lại hiện hữu rõ ràng trong tôi…Như mầm măng ngọt được tưới bằng nước mắt của cây mẹ đều đặn như sương sa mỗi lúc đêm về. Nó lớn nhanh. Đã đến ngày, ngày nó xé đất đòi chui lên”. Mầm đắng rõ ràng vừa là một thực thể gần gũi, vừa là sự ám ảnh, vừa chất chứa hi vọng, vừa là nỗi xót xa với người dân nơi đây, mà nhân vật nữ trong câu chuyện là một đại diện.

Đọc xong câu chuyện, bên cạnh giá trị nhân sinh sâu sắc mà tác giả nhắn gửi, tôi còn ấn tượng mạnh với văn phong của tác giả. Đó là cách hành văn tự nhiên, không cầu kì trau chuốt nhưng rõ ràng đã chạm được tới nơi sâu kín nhất trong trái tim mỗi con người, gieo vào đó những ám ảnh. Đó là những câu văn ngắn, có nhịp điệu (nhiều ngắt, nghỉ) thể hiện một tư duy khúc triết, rõ ràng (Có tới hơn bốn mươi câu văn dài không quá 5 từ, trong đó nhiều câu chỉ có 2, 3 từ). Đó còn là những cách hình dung, so sánh thông qua những liên tưởng hình ảnh rất mộc mạc, dung dị như chính thiên nhiên con người ở vùng cao Tây Bắc.

Là cây bút tuổi đời còn khá trẻ, chúng ta có cơ sở để hi vọng rằng Tống Ngọc Hân, cùng với niềm yêu thích văn chương, cùng với vốn sống và sự gắn bó máu thịt với vùng núi Tây Bắc, sẽ khai thác có hiệu quả, đầy sáng tạo mảnh đất và con người nơi đây qua những trang văn của mình. Âu đó cũng là sự bổ khuyết cần thiết cho mảng sáng tác về đề tài dân tộc và miền núi của nền văn học nước nhà./.

 

Bùi Hải Yến

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)