Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 18 khách Trực tuyến
Các nhạc sĩ Hải Phòng trong buổi đầu tân nhạc Việt Nam

LƯU VĂN KHUÊ


Vào thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) các nhà truyền giáo phương Tây đã có mặt ở Đàng Trong cùng các bản thánh ca dạy cho giáo dân. Âm nhạc châu Âu vào nước ta từ đấy nhưng phải cuối thế kỷ 19 đầu 20, khi người Pháp ổn định việc chiếm đóng thì sự xâm nhập mới ồ ạt. Nhà thờ, tu viện mọc lên khắp nơi, các ban hát lễ được thành lập, một số nơi còn có dàn kèn đồng; các linh mục không còn đủ sức truyền dạy nên phải mời thêm lính kèn. Nhạc Công giáo cũng không bó hẹp trong phạm vi nhà thờ, ở các vùng nông thôn ban hát lễ và dàn kèn còn phục vụ đám rước, ma chay cưới xin, hội hè đình đám trong họ đạo. Đấy cũng là lúc âm nhạc châu Âu vào nước ta còn bằng những “con đường” khác nữa, sâu rộng và hấp dẫn hơn.

Một trong những nơi phổ biến âm nhạc châu Âu là trường học, nhất là cấp tiểu học với các giờ dạy nhạc, dạy hát, chủ yếu là những bản dân ca, các ca khúc sinh hoạt của Pháp. Năm 1920 Trường Bonnal (nay là Trường THPT Ngô Quyền) ra đời và là trường tiểu học duy nhất của Hải Phòng lúc này; sau đó ít năm trường mở hệ cao đẳng tiểu học, Hải Phòng trở thành một trong 11 nơi ở Việt Nam và một trong 4 nơi ở Bắc kỳ (Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Lạng Sơn) có cấp học này cho đến tận năm 1945. Vì vậy nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng của Hải Phòng sau này, trong đó có các nhạc sĩ từng là học sinh Trường Bonnal (Bậc trung học chỉ 3 nơi có là Sài Gòn: Trường Chasseloup Laubat, trường Pétrus Ký; Hà Nội: Trường Albert Sarraut, trường Bưởi; Huế: Trường Khải Định). Văn Cao lúc đầu học Trường Bonnal, sau chuyển sang Trường Công giáo Saint Joseph nên việc học nhạc bài bản hơn giúp năng  khiếu âm nhạc của ông phát triển. Về sau Hải Phòng mở thêm một số trường tiểu học công và tư. Lê Thương, thầy giáo Trường Lê Lợi không chỉ là nhạc sĩ tân nhạc đầu tiên của Hải Phòng mà còn có vai trò tiên phong của tân nhạc Việt Nam. Hoàng Quý vốn là học trò của Lê Thương, sau được học nữ giáo sư âm nhạc Leperète nên chỉ một thời gian đã thành giáo viên dạy nhạc của trường Bonnal. Một số nhạc sĩ người Pháp và người Việt còn mở lớp dạy tư hoặc làm gia sư. Có thể nói hầu hết các nhạc sĩ thời kỳ này đều bắt đầu từ các buổi học nhạc ở nhà trường, tất nhiên để trở thành tác giả, họ đều phải trải qua tự học và rèn luyện.

Nhà hát Lớn (dân ta gọi là Nhà hát Tây) được xây dựng ở Sài Gòn (1898-1900), Hà Nội (1901-1911), Hải Phòng (1904-1912) để đón các nghệ sĩ châu Âu, chủ yếu từ Pháp sang biểu diễn, rất nhiều nhạc phẩm của các nhà soạn nhạc nổi tiếng đã âm vang tại các nhà hát này, như Mozart, Beethoven, Schubert, Schumann, Tchaikovsky…Nhà hát Sài Gòn xây phục vụ người Pháp, song thường xuyên vắng khách, nên từ năm 1918 đã cho cả người Việt tham dự. Tình hình cũng diễn ra ở Hà Nội và Hải Phòng. Hai vở Ông ký cóp, Kim tiền nổi tiếng của kịch tác giả Hải Phòng Vi Huyền Đắc,  do Ban kịch Thế Lữ dàn dựng đều được diễn lần đầu, tháng 10 và 12/1938 tại Nhà hát Lớn Hải Phòng; Lê Thương là người đầu tiên hát phụ diễn cho ban kịch. Vở Kim tiền, Lê Đại Thanh thủ vai Trần Thiết Chung, Nguyên Hồng vai con Trần Thiết Chung; mãi 5 năm sau, vở này mới diễn lần thứ hai ở Nhà hát Lớn Hà Nội, lần này Nguyễn Tuân thủ vai Trần Thiết Chung.

Nhà kèn Hải Phòng lúc đầu trên khuôn viên sân Nhà hát Lớn, xế về phía Tây; khi kênh Bonnal được lấp thì chuyển tới vị trí mới, nằm trên con kênh bị lấp, đối diện với Nhà hát Lớn và Quán hoa. Đi theo quân đội Pháp là đội nhạc binh. Nhà kèn là nơi cho họ cử hành, thường vào thứ bảy, chủ nhật và các dịp lễ trọng. Lúc đầu chỉ lính Pháp có đội nhạc binh, sau Pháp tuyển mộ người Việt làm lính nên ra đời các đội nhạc binh người Việt của lính Khố Đỏ (lính chính quy cơ động) và Khố Xanh (đóng ở tỉnh lị). Ngọn nguồn âm nhạc của Đỗ Nhuận bắt đầu từ quê hương và gia đình. Quê ông vốn có truyền thống hát chèo, cha là nhạc công kèn clarinette trong đội nhạc binh Khố Đỏ ở Hải Phòng. Sau này các nhạc phẩm của Hoàng Quý, Văn Cao, Nguyễn Đình Thi cũng biểu diễn ở Nhà kèn.

Rất nhiều buổi hoà nhạc diễn ra ở khách sạn và tiệm nhảy. Hoàng Quý có lần tới tiệm Black Cat ở Hải Phòng để nghe nhạc công Philippines biểu diễn. Các rạp chiếu bóng trước khi chiếu phim thường có hoà nhạc, nhạc công là người Việt. Hình thức này kéo dài tới tận những ngày đầu giải phóng miền Bắc, khi đó Hải Phòng có Ban nhạc Bồ Câu Trắng.

Âm nhạc phương Tây tác động nhanh chóng, tỏa rộng hơn cả và có công chúng đông đảo thuộc mọi lứa tuổi là nhạc trong phim, ở đĩa hát và nhạc nhảy. Đủ mọi loại và đủ mọi trường phái từ cổ điển, lãng mạn đến ấn tượng, vị lai. Hãng Béka còn phát hành đĩa “Bông hồng Á Đông” Ái Liên hát bài hát Pháp. Nhạc cụ phương Tây và sách ký âm, dạy đàn bán khắp nơi. Một cuốn dạy Guitar có lời nói đầu khá hấp dẫn: “Học theo sách này chỉ 7 ngày là biết đàn”!

Trải qua nhiều năm và bằng những “con đường” như vậy, âm nhạc phương Tây vào Việt Nam. Đó là sự giằng co giữa “cái cũ” và “cái mới”. Người Việt Nam vốn ghét Pháp và những gì dính líu tới Pháp, vì vậy hát một bài hát châu Âu bị coi là lố lăng! Âm nhạc châu Âu bắt đầu chỉ là sự lạ gây thích thú ở một số người; từ ham thích và hát nguyên lời Pháp, họ phỏng dịch lời Pháp ra lời Việt, tiếp đó là đặt lời Việt cho giai điệu châu Âu, biến nội dung hoàn toàn khác so với nguyên gốc. “Lời ta điệu Tây” ra đời. Nhiều ca sĩ còn nhại theo giọng của danh ca Tino Rossi.

Tháng 3/1938 nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên từ Sài Gòn ra Bắc thuyết trình và biểu diễn hai bài hát do ông sáng tác. “Nhạc mới” không lạ với người Bắc kỳ vì họ đã biết qua các bài hát “Lời ta điệu Tây”, Nguyễn Văn Tuyên lại nói giọng Nam bộ khó hiểu nên thính giả Hà Nội gây ồn, chỉ hôm nói ở Hội quán Trí Tri Hải Phòng ông mới thấy hài lòng dù chỉ 20 người nghe. Song sự kiện đã tạo “cú hích” và lần đầu tiên một bài hát hoàn toàn của người Việt Nam xuất hiện trên báo Ngày Nay số 121 (31/7/1938). Nhà văn Nhất Linh, chủ báo, đứng đầu Tự Lực văn đoàn đã cho in ca khúc Bình minh của Nguyễn Xuân Khoát, lời của Thế Lữ; ít lâu sau in bài thứ hai: Bản đàn xuân của Lê Thương, rồi một loạt bài của các tác giả khác. Và năm 1938 được coi là năm chính thức khởi đầu tân nhạc Việt Nam, khi đó gọi là “âm nhạc cải cách”. (“Tân nhạc”, “nhạc mới” là cách gọi sau này, gần đây thường gọi là “nhạc tiền chiến”). Nói chính thức bởi việc sáng tác đã ngấm ngầm ở một số người nhưng do tâm lý tự ti, sợ bị chê bai, khinh ghét nên viết ra không dám cho ai biết hoặc chỉ trong số ít bạn bè, có trình bày cũng phải giấu tên, mạnh dạn lắm là diễn thử ở rạp cine trước lúc chiếu phim. Lê Thương cho biết năm 1934 đã viết Tiếng đàn đêm khuya, song mãi về sau mới nói là tác phẩm của mình, chỉ từ Thu trên đảo Kinh Châu ông mới công khai các nhạc phẩm mình sáng tác.

Phong trào Hướng đạo lúc này khá sôi nổi. Tuổi thanh niên gọi là Hướng đạo sinh, tráng sinh; thiếu niên nhi đồng gọi là Sói con. Đó là tổ chức cho học sinh vui chơi và sinh hoạt, gọi “hướng đạo” bởi cắm trại, đi bộ đường dài balô sau lưng là hoạt động chính của phong trào. Thực ra phong trào này nằm trong kế sách “vui vẻ trẻ trung” của Pháp nhằm khiến người Việt Nam nhãng quên chống đối và đòi độc lập. Hoàng Đạo Thúy là người khởi xướng. Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Lưu Hữu Phước, Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch ngày trước đều là các tráng sinh. Hướng đạo mỗi nơi một vẻ, nơi mạnh về cắm trại, nơi mạnh về thể thao. Hướng đạo Hải Phòng mạnh về ca hát. Trong bài Nhạc tiền chiến viết năm 1970, Lê Thương kể khi dạy ở trường Lê Lợi, ông “có diễm phúc đếm được thường xuyên tại lớp sự hí hởn của một nhóm“Hippi tiền chiến” ưa ca hát thấu trời, thích du ngoạn là các bạn trẻ: Canh Thân, Hoàng Quý, Phạm Ngữ, Hoàng Phú, Văn Trang, nàng Cúc Phương, nàng Thư Nhàn. Ngoài những cuốc xe đạp đi Uông Bí, Núi Voi, nhóm nhạc sĩ trẻ ấy còn sáng tác âm nhạc…Họ giúp chúng tôi xuất hiện trên sân khấu Nhà hát Lớn hè 1939 và đi diễn ở Hà Nội, Vĩnh Yên”. (Sau này Hoàng Phú để râu, Xuân Diệu dựa vào điển tích của Tàu gọi là Tô Vũ và Hoàng Phú lấy luôn tên đó làm bút danh).

Năm 1941 Lê Thương chuyển vào Sài Gòn; Đoàn trưởng Hướng đạo sinh Hoàng Quý lúc này đã là thầy giáo dạy nhạc Trường Bonnal trở thành người đứng đầu nhóm Hippi. Văn Cao sau một thời gian vào Huế và Sài Gòn, trở về Hải Phòng cũng gia nhập nhóm. Muộn hơn nữa là Đỗ Nhuận. Từ đây Hippi bắt đầu thời kỳ mới. Phong trào Hướng đạo rất cần các bài hát sôi nổi. Từ chỗ nhóm chỉ sáng tác những ca khúc vui tươi, Hoàng Quý đề ra tôn chỉ là viết và hát các bài hát ca ngợi giang sơn đất nước và dân tộc, gọi là “tâm khúc hoài lịch sử”. Các bài hát của nhóm nhanh chóng lan khắp nơi. Rồi diễn ra một sự kiện lớn, đó là kỳ trảy hội Đền Hùng xuân Tân Tị (1941) do tờ Việt Báo tổ chức: Hai đoàn xe lửa chở hàng ngàn Hướng đạo sinh từ Hà Nội lên Phú Thọ, hát vang các bài hát Gọi bạn lên đường, Tiếng chim gọi đàn, Dưới bóng thông xanh, Bóng cờ lau, Non nước Lam Sơn(Hoàng Quý), Vui lên đường(Văn Cao), Ngày xưa (Hoàng Phú), Trước cảnh cao rộng (Phạm Ngữ). Hai em gái Hoàng Quý, Hoàng Phú là Hoàng Hải, Hoàng Hà đã thể hiện xuất sắc các ca khúc của nhóm. Lưu Hữu Phước những năm 1940-1944 ra Hà Nội học Trường Y Dược (thuộc Viện Đại học Đông Dương) cũng có mặt hôm ấy và góp vào không khí ngày hội bài Vui xuân.

Thấy nhóm có sự nhất trí cao về tư tưởng và sáng tạo, cuối năm 1943 Hoàng Quý đặt tên nhóm là Đồng Vọng và tập hợp khoảng 70 bài hát của nhóm để in, lấy tên chung là Đồng Vọng. Chỉ những bài “tâm khúc hoài lịch sử” mới được in vào các tập Đồng Vọng nên trong đó không có “nhạc tâm tình”. Sách được Nhà xuất bản Lửa Hồng và tạp chí Tri Tân, Hà Nội in từ 1943 đến 2/1945. Các tập được chính người trong nhóm đi bán, nên Văn Cao nhiều lần đứng ở ngã tư Cầu Đất, Hải Phòng để làm điều đó.

Nhóm Đồng Vọng làm lu mờ nhóm Tricéa và Myosotis ở Hà Nội. Myosotis chỉ tồn tại được 5 năm (1938-1942) thì tan vì Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước mâu thuẫn nhau. Phạm Duy sau này nhận định: Tác phẩm của Myosotis “rất nhiều nhưng không lưu truyền cho tới về sau, trừ một số bài nào đó ngẫu nhiên được một giọng ca lớn nào đó hát lại trong những thập niên sau”. Phạm Duy cũng lưu ý mọi người không nên chỉ biết tới nhạc tình thời tân nhạc mà phải “ghi nhớ và ghi ơn nhạc hùng của nhóm Đồng Vọng”. Lê Thương phân định buổi đầu của tân nhạc làm hai thời kỳ: 1938-1940 và 1941- 1944 thì thời kỳ thứ hai là thời kỳ của Đồng Vọng. Có bài viết còn cho rằng “Các nhóm nhạc thời kỳ tiền chiến bắt đầu với nhóm Đồng Vọng ở Hải Phòng”. Công sức của Hoàng Quý với Đồng Vọng rất lớn, ông lại còn phải lo cho các tráng sinh, dàn Sói con và ba người em, trong khi sức khỏe ngày một sa sút. Lê Thương nói, đó là sự “quên mình cho đoàn thể, cho kẻ khác”.

Lạ là không khí tân nhạc buổi ấy chỉ sôi động ở Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi ở Bắc kỳ; dân chúng Sài Gòn và Nam kỳ vẫn mê cải lương cho dù có Nguyễn Văn Tuyên và nhóm Tổng hội sinh viên của Lưu Hữu Phước.

Âm nhạc cải cách buổi đầu, như lời một nhạc sĩ thời ấy, nếu không “ca tụng đời niên thiếu, làm cho tâm hồn mạnh mẽ, ý chí thanh cao, làm cho vui vẻ luôn, sung sướng luôn, hăng hái mà tiến thủ”; không mượn bóng những Kinh Châu, Dương Tử, Hòn Vọng Phu xa xôi như Lê Thương thì cũng thả hồn mơ mộng như Hoàng Quý, Văn Cao. Nhóm Đồng Vọng với các bài hát ngợi ca đất nước và tinh thần dân tộc đã “gây men” cho những ca khúc yêu nước ra đời, rõ nhất là Lưu Hữu Phước song so với Đồng Vọng, các ca khúc của ông mang tính chính trị nên được coi là chính ca. Đỗ Nhuận xuất hiện muộn hơn và đã có ngay Trưng Vương, Lời cha già, Đường lên ải Bắc, Nguyễn Trãi - Phi Khanh. Hoàng Quý trước khi mất (1946) đã để lại Cảm tử quân, Đinh Nhu viết Cùng nhau đi Hồng binh, Nguyễn Đình Thi viết Diệt phát xít. Hành trình ấy tiếp tục với các ca khúc cách mạng của Văn Cao, Đỗ Nhuận và thể loại “nhạc đỏ”. Những năm kháng chiến chống Pháp, có một người Hải Phòng lập nghiệp âm nhạc tại Hà Nội là Đoàn Chuẩn - con trai nhà tư sản nước mắm Vạn Vân nổi tiếng không chỉ sáng tác mà còn là nghệ sĩ Guitar Hawaii số 1 Việt Nam.

Sau này một thời gian khá dài, để phục vụ cho công cuộc kháng chiến, “nhạc tình” bị coi là “nhạc vàng” nên không được phổ biến và chỉ phục hồi từ năm 1987 khi đất nước bắt đầu công cuộc đổi mới. Từ đó người yêu âm nhạc lại được nghe Cô lái đò, Cô láng giềng (Hoàng Quý), Cô hàng cà phê (Canh Thân), Buồn tàn thu, Suối mơ (Văn Cao), Tình nghệ sĩ, Thu quyến rũ (Đoàn Chuẩn)…

Tiến sĩ nghệ thuật Vũ Tự Lân trong Những ảnh hưởng của âm nhạc Châu Âu trong ca khúc Việt Nam giai đoạn 1930 - 1950 (NXB Thế giới, 1997) đã điểm tên các tác giả thời kỳ âm nhạc cải cách theo thứ tự thời gian xuất hiện, người đầu tiên là Nguyễn Xuân Khoát, không xuất sắc lắm nhưng lại ghi những dấu mốc, trong đó có bài Bình minh; tiếp đến Lê Thương, Hoàng Quý, Dương Thiệu Tước, Doãn Mẫn, Văn Cao, Văn Chung, Lê Yên, Thẩm Oánh, Lưu Hữu Phước; tiếp theo là Đỗ Nhuận, Nguyễn Văn Thương, Phạm Duy, Lương Ngọc Trác. Về đánh giá thành tựu, Vũ Tự Lân đi sâu phân tích tác phẩm của 11 tác giả và cũng theo thứ tự, trong đó Văn Cao (1), Đỗ Nhuận (2), Hoàng Quý (5), Tô Vũ (8), Lê Thương (9). Phạm Duy không được phân tích chỉ là quan điểm của tác giả. Có người còn coi Phạm Duy là nhạc sĩ lớn nhất của tân nhạc Việt Nam với gia tài hơn 1000 ca khúc, cũng là người đầu tiên đưa chất liệu dân ca vào sáng tác một cách nhuần nguyễn.

Không chỉ âm nhạc, Hải Phòng những năm 1930 - 1945 còn để lại dấu ấn ở nhiều lĩnh vực. Việc người Pháp xây dựng Hải Phòng thành thành phố đã thu hút người nhiều nơi tới làm ăn sinh sống và học hành. Chỉ nói về âm nhạc thì Lê Thương từ Hà Nội, Văn Cao từ Nam Định, Đỗ Nhuận từ Hải Dương, anh em Hoàng Quý quê gốc Sơn Tây, đến như Nguyễn Đình Thi quê Hà Nội nhưng theo gia đình từ Luông Prabăng ở Lào về cũng “cập bến” thành phố Cảng.

Thật tự hào Hải Phòng ngày ấy với nhóm Đồng Vọng và các tên tuổi: Lê Thương (1914-1996), Hoàng Quý (1920-1946), Văn Cao (1923-1995), Canh Thân (1928-1975), Hoàng Phú (Tô Vũ, 1923-2014), Phạm Ngữ (?), Đỗ Nhuận (1922-1991); kể cả Nguyễn Đình Thi (1924-2003) và Đoàn Chuẩn (1924-2001).

L.V.K

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)