Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 17 khách Trực tuyến
Tiểu thuyết sinh thái đương đại Trung Quốc và khuynh hướng trở về thiên nhiên

TS. TRẦN VĂN TRỌNG

(Trường Đại học Hải Phòng)


Tiểu thuyết sinh thái là một loại hình tiểu thuyết chủ yếu quan tâm đến các nội dung và phương diện sinh thái. Tiểu thuyết sinh thái đương đại Trung Quốc đã đột phá những giới hạn hình thức văn học truyền thống về quan hệ giữa con người với tự nhiên và từ góc độ lí luận sinh thái xem xét lại văn minh nhân loại nên chủ đề của tiểu thuyết sinh thái xoay quanh vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái. Trên cơ sở tổng thuật hiện trạng tiểu thuyết sinh thái đương đại và khuynh hướng trở về tự nhiên của nó, TS Trần Văn Trọng đã phân tích, đánh giá những giá trị đạt được cũng như những hạn chế tồn tại của khuynh hướng tiểu thuyết này.

Cửa Biển xin giới thiệu phần 3 nội dung bài viết trên với nhan đề: “Giá trị và hạn chế của tiểu thuyết sinh thái đương đại Trung Quốc nhìn từ chủ đề trở về với thiên nhiên”.


Trên thực tế, sự hưng khởi và biểu hiện đột phá khuynh hướng trở về thiên nhiên của tiểu thuyết sinh thái trong văn học đương đại Trung Quốc có mối liên hệ không tách rời. Đây là kinh nghiệm của văn minh hậu hiện đại khi họ quay lại nhìn thế giới đã qua đi, đột nhiên thấy mình đối diện với nhiều nguy cơ khủng hoảng và cảm thấy hoang mang, bối rối. Nhiều nhà văn có ý thức mạnh mẽ về sứ mệnh thời đại, đối diện với hoàn cảnh này, họ lựa chọn thông qua tác phẩm với sự kết hợp thủ pháp tưởng tượng và hiện thực phơi bày những biến đổi sinh thái dẫn dắt độc giả thâm nhập vào thế giới sinh thái. Khi nhân loại nhận thức sự biến đổi sinh thái tự nhiên thông qua tác phẩm sẽ làm nảy sinh tình cảm mạnh mẽ trở về với thiên nhiên. Những sáng tác tiểu thuyết sinh thái đặt vấn đề xem xét lại lí luận đạo đức nhân loại mà không hề làm giảm đi thành công của nó. Về phương diện miêu tả hình tượng trung tâm, tiểu thuyết sinh thái đương đại Trung Quốc đã dần dần thoát khỏi quan niệm “dĩ nhân loại vi trung tâm” mà thông qua miêu tả tính khách quan của tự nhiên để mở rộng tính cộng đồng giữa con người và tự nhiên [9]. Dưới ý tưởng sáng tạo như vậy, nhiều tác phẩm đã hoàn tất việc thay đổi địa vị hình tượng con người và động vật trong tiểu thuyết trở nên bình đẳng đã tạo nên sức sống của tiểu thuyết sinh thái. Trước hiện trạng biến đổi khí hậu, sự nóng lên của toàn cầu do hiệu ứng nhà kính và sự tàn phá thảm thực vật trên hành tinh, con người cần phài khẩn cấp thay đổi hiện trạng này, song trên thực tế người ta thường lâm vào trạng thái bối rối. Tiểu thuyết sinh thái đương đại Trung Quốc quan tâm nhiều đến tự nhiên khiến con người hiện đại cảm thấy lo lắng quan tâm đến tự nhiên hơn, vì thế ý thức sinh thái trở nên rõ ràng. Dưới chủ đề trở về với tự nhiên, tiểu thuyết sinh thái đương đại đã kiến tạo một thế giới hài hòa giữa con người và tự nhiên trong một xã hội đang phát triển.

Mặc dù tiểu thuyết sinh thái đương đại trong quá trình hơn 30 năm phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu không nhỏ song vẫn không khỏa lấp được một số tồn tại hạn chế:

Thứ nhất, một bộ phận tác phẩm vì phân tích thực trạng mà bình luận, thể hiện thái quá về tư tưởng sinh thái hoặc nặng tính phổ biến khoa học mà tính nghệ thuật tiểu thuyết thì yếu; Nội dung đề tài còn hạn hẹp, để mở rộng và đào sâu thì hiện nay đề tài tiểu thuyết sinh thái chủ yếu tập trung vào vấn đề ô nhiễm môi trường, nạn phá rừng, suy thoái đồng cỏ, tàn sát động vật, khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, một số khía cạnh của văn minh công nghiệp đã làm xói mòn và phá hoại văn hóa truyền thống. Phạm vi sáng tác của đề tài cần phải mở rộng và đào sâu hơn nữa như phương thức của con người và hệ sinh thái, hình thái xã hội, kinh tế chính trị, quan niệm giá trị, tư tưởng triết học, tương quan thế giới cảm xúc tình cảm con người với tự nhiên. Không ít tiểu thuyết còn biểu đạt một cách đơn giản, phần nhiều là tả thực, mặc dù có sự cường điệu hóa mức độ khủng hoảng sinh thái, nhưng việc thiếu kinh ngiệm biểu đạt cảm xúc thẩm mĩ đối với thế giới, quá nhấn mạnh hô hào và can thiệp đối với hiện thực sinh thái tự nhiên, bỏ qua chiều sâu của sinh thái tinh thần và sinh thái văn hóa nên chưa thể đạt đến việc tạo dựng quan hệ sinh thái tự nhiên, sinh thái xã hội và sinh thái tinh thần. Nghệ thuật nếu chỉ là “bản sao” của hiện thực thời đại, không thể phản ánh tương lai thì đó chỉ là thứ nghệ thuật cắt xén, vụn vặt, “một thứ thứ nghệ thuật đoản mệnh khi nó làm ngơ sự thay đổi môi trường xung quanh thì ngay lập tức nó đã khai tử về mặt tinh thần” [4.16]. Các nhà bình luận đã chỉ ra hiện trạng bất cập của tiểu thuyết sinh thái đương đại Trung Quốc: “Từ phương diện sáng tác mà xem chúng ta hiện nay vẫn còn hứng thú với đề tài ô nhiễm môi trường. Điều này tất nhiên là cần thiết nhưng nhìn tổng thể mức độ phản ánh  vấn đề sinh tồn của con người còn thiếu sự chú ý đến nhân tính con người, nhận thức về trái đất, nhận thức vũ trụ, chưa suy nghĩ và quan tâm đến liên ngành triết học, văn nghệ học, sinh thái học, tâm lí học và nhiều lĩnh vực có thế nắm bắt được thì rất khó để viết một cách sâu sắc.....Trên thực tế thì việc biểu hiện quan hệ giữa con người và tự nhiên nếu như không thâm nhập sâu và thế giới tinh thần con người thì việc biểu hiện cũng chỉ hời hợt bên ngoài” [5]. Điều này rất dễ dẫn đến khuynh hướng phi văn học của tiểu thuyết sinh thái khiến cho các sáng tác và nghiên cứu chỉ quan tâm truyền đạt giá trị tư tưởng sinh thái và phơi bày hiện thực khủng hoảng sinh thái mà coi nhẹ giá trị thẩm mĩ của tác phẩm văn học cũng như khả năng biến đổi nghệ thuật của tác giả được thể hiện ra ở khả năng tự sự. Đối với tiểu thuyết sinh thái, điều này tuyệt không có ý nghĩa phủ định mà là sự kiện quan hệ đến hiện thực sinh tồn và tương lai phát triển của nó, liên quan quan đến sự định vị tiểu thuyết sinh thái và kiểm nghiệm tư chất nghệ thuật của nhà văn. Bởi lẽ, cuộc sống tự nhiên luôn vận động vì nó tuân theo bản nguyên thiên tính, nhưng nếu thiếu nội hàm tinh thần sâu sắc bên trong hay sự miêu tả của tác giả không thể chạm đến tâm linh thì văn học nghệ thuật sẽ chỉ thu được tư tưởng hiện thực mà không có khả năng nuôi dưỡng được tình cảm cảm xúc và chân lý nghệ thuật. Từ đó cho thấy, những tác phẩm thiếu sức mạnh nội tại, không thể phát huy tư tưởng mới mẻ trở nên bất lực và cô độc. Tiểu thuyết muốn thông qua thực hiện chủ đề sinh tồn của cộng đồng nhân loại trong hệ sinh thái để khám phá ý nghĩa đời sống cá nhân, định hướng tư tưởng con người nếu chỉ trong phạm vi bản thân chủ đề sinh thái thì vẫn chưa đủ. Muốn mở rộng suy nghĩ và theo đuổi câu hỏi ý nghĩa sinh tồn cuộc sống mà trong tiểu thuyết chỉ có hình tượng hiện thực và cảm xúc đơn giản thì thật chưa ổn. Vấn đề sinh thái là vấn đề văn hóa, vấn đề lịch sử do đó từ cấp độ cá thể và tập thể nên để con người nhận thức vấn đề sinh thái mà không cần né tránh. Đối với vấn đề sinh thái, nhân loại vẫn tiếp tục đặt câu hỏi để từ đó tìm được lối thoát, cụ thể lối thoát tinh thần. Đó là lối thoát của văn học sinh thái nói chung và tiểu thuyết sinh thái nói riêng. Nhà văn phải dũng cảm đối diện với bất kỳ nhu cầu nào của đời sống dù đó là nhu cầu phản ánh hiện thực hay siêu thực.

Thứ hai, tình trạng tụt hậu của lí luận phê bình sinh thái, đặc biệt thiếu sự chỉ đạo của triết lý sinh thái và tư tưởng thi học nên ý thức sinh thái được thể hiện còn phân tán, thiếu tập trung, đầy cảm tính cũng như sự đào sâu, kế thừa đề tài và tư tưởng sinh thái trong truyền thống văn hóa, văn học Trung Quốc là chưa đầy đủ. Chúng ta thường quá nhấn mạnh những gì phương Tây mang lại mà thường bỏ qua di sản tư tưởng phương Đông. Trong quan niệm triết học “thiên nhân hợp nhất” của Trung Quốc, tư tưởng sinh thái đậm đặc hơn nhiều so với truyền thống triết học “thiên nhân tương tranh” của phương Tây. Những mệnh đề triết học sinh thái từng được các tư tưởng gia nêu ra như “thượng hạ dữ thiên địa đồng lưu”(Mạnh Tử); “nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên” (Lão Tử); “thiên địa dữ ngã tịnh sinh, vạn vật dữ ngã vi nhất” (Trang Tử) hay “việt danh giáo nhi nhiệm tự nhiên” (Kê Khang). Chu Đôn Di từng nói “thánh nhân và thiên địa hợp với mệnh đề Đức” hay Vương Thủ Nhân từng đề xuất “tâm vô thể, lấy thiên đại vạn vật cảm ứng làm một”. Quan niệm của Vương Dương Minh “làm sáng rõ các đức của con người cũng là làm rõ thể thống nhất giữa con người và vạn vật”... Những mệnh đề triết học trên đều từ các góc độ khác nhau biểu thị quan niệm tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” của triết học Trung Quốc có tính giá trị cao cần được nghiên cứu kế thừa.

Thứ ba, thủ pháp biểu hiện và hình thức nghệ thuật còn đơn điệu nên tiểu thuyết sinh thái vẫn chưa hình thành đặc trưng nghệ thuật của riêng mình. Một số tác gia biểu đạt tư tưởng tình cảm đối với vấn đề sinh thái một cách trực tiếp và thái quá, đơn điệu nên chưa thể hiện được đặc điểm phong cách và diện mạo phong phú đa dạng, biểu đạt cảm xúc trước vấn đề sinh thái còn hời hợt, cứng nhắc. Không nên để cho thế giới tự nhiên, trái đất, cuộc sống đi vào văn học một cách tự do như vậy, mà nên từ trong sinh mệnh của văn bản để nó được lớn lên từ mặt đất. Hơn nữa, các tác giả chủ yếu đứng từ lập trường quan điểm chủ quan phản ánh những vấn đề sinh thái mà mình tâm đắc nhất, tính định hướng tình cảm của tác phẩm khá rõ nên không tạo được không gian tưởng tượng để độc giả đồng sáng tạo. Hình tượng văn học sinh thái thiếu sức sống do tác giả mới chỉ dừng lại ở miêu tả bề mặt của sự kiện sinh thái mà chưa chuyển hóa hiện thực sinh thái đó thành năng lực tưởng tượng và kỹ xảo tâm lý. Không ít tác phẩm mức độ biểu đạt vẫn còn đơn giản như chỉ miêu tả cảnh sắc thiên nhiên quê hương và nhân tính hóa động vật. Nhìn từ thể loại văn học sinh thái đương đại Trung Quốc, so với phóng sự sinh thái, thi ca sinh thái và tản văn sinh thái thì tiểu thuyết sinh thái có nhiều thành tựu hơn. Song về mặt nội dung và hình thức biểu hiện còn đơn điệu chưa có nhiều mới mẻ đột phá. Ngoài ra, ngôn ngữ biểu đạt, sáng tạo hình tượng, thủ pháp nghệ thuật và nhiều khía cạnh nghệ thuật khác còn chưa thoát ra khỏi tư duy tự sự và thói quen biểu cảm truyền thống, cá tính nghệ thuật của tác giả vì thế cũng chưa rõ ràng, chưa có những sáng tạo mới mẻ. Văn học là một hình thái ý thức thẩm mĩ, từ quan điểm thẩm mĩ xem xét sự tồn tại của con người nên không thể đồng nhất nó với luân lí đạo đức, triết học và khoa học. Chỉ có văn học mới có thể làm cho con người tiến vào cảnh giới giải phóng tự do, quan tâm tới cùng hạnh phúc sinh tồn của con người. Văn học có cá tính và phẩm chất thường có sức dẫn dắt cảm hóa lớn. Văn học phản ánh cái đẹp của hiện thực qua đối thoại dưới nhiều hình thức khác nhau, nó giúp độc giả nhận ra ý nghĩa đẹp đẽ của đời sống. Nếu như không xuất phát từ khía cạnh thẩm mĩ của văn học, có thể dẫn đến sự lầm lẫn đánh đồng giá trị và ý nghĩa văn học với triết học, đạo đức học và khoa học. Tất nhiên văn học không thể bị mất đi sức hấp dẫn đặc trưng và giá trị tồn tại tự thân của nó.

Khí ý đồ sáng tác đã được xác định thì viết cái gì và viết như thế nào rất quan trọng. Sinh thái học là ngành có nội hàm và ngoại diên rất rộng nên tình cảm sinh thái hay quan điểm sinh thái cũng cần phải đa dạng, phong phú. Làm thế nào để thể nghiệm được cảm xúc sinh thái, tăng cường nội hàm thẩm mĩ cho tiểu thuyết sinh thái, sử dụng phương thức nghệ thuật và phương tiện ngôn ngữ như thế nào nào để sáng tác tiểu thuyết sinh thái đều là những vấn đề quan trọng được các tác gia sinh thái quan tâm đặc biệt. Các nhà văn không thể chỉ có mỗi cách cảm nhận, miêu tả tự nhiên giàu tính thơ như một quán tính được hình thành trong tự sự truyền thống. Tiểu thuyết sinh thái tuy không chủ trương phải là chủ nghĩa sinh thái nhưng nó có tầm nhìn và triển vọng phát triển trong không gian rộng lớn của đời sống văn học. Sáng tác tiểu thuyết sinh thái do đứng trên lập trường sinh thái nên đều có ý thức tưởng tượng và ý thức sinh thái. Điều này khiến cho tiểu thuyết sinh thái thúc đấy một cách hiệu quả ý thức bảo vệ sinh thái trên thực tế. Với tư cách một thể loại đang tràn đầy sức sống, nhận thức của tiểu thuyết không phải chỉ hời hợt ở hiện tượng bên ngoài, nó có thể chạm đến tầng sâu của hiện thực, đời sống, tín ngưỡng để nhận thức, cảm thụ và biểu tượng hóa cũng như tìm ra cách thức diễn đạt phù hợp để cho văn học sinh thái nói chung và bản thân nó nói riêng từ nội dung đến hình thức biểu đạt có sự đột phá mới mẻ. Đó sẽ là một chặng đường dài, đầy gian khổ nếu như nó chưa xác lập được một mô hình nghệ thuật của  tiểu thuyết sinh thái đích thực./.

Tài liệu tham khảo

1. 赵树勤、龙其林,当代中国生态小说的发展趋势 [J],文艺学,2008.03

2.马兵,自然的返魅之后―论新世纪生态写作的问题[J],中国现代文学研究丛刊,2011.06

3. Đỗ Văn Hiểu, “Phê bình sinh thái khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân”, Tạp chí sông Hương, http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/ p0 / c7/ n11088 /  đăng  ngày 26/ 11/ 2012.

4. 康定斯基,论艺术的精神 [M]。北京,中国社会科学出版社,1987 页16.

5. 王克俭,生态文艺学,现代性与前瞻性[N]。文艺报,2000-4-25

6. 杨剑龙,生态危机、生态文学与生态批评 [N]。文汇报,2004-6-6

7. 杨剑龙,周旭峰, 论 中 国 当代 生 态 文 学创 作, 上 海师范 大学 学报, 2005年 3月 第 34卷 第 2 期

8. 雷鸣,中国当代生态小说几个问题的省思 [J]北方文丛. 2008. 04

9 雷鸣,抵抗与反思:现代性症候的生态小说 [J]山东师范大学学报,2009.01.

10. 温越,生态文学的发展生态论析 [J],甘肃社会科学,2008. 03.

11.吴怀仁,皈依与升华:人类的诗意栖居论当代生态小说的回归想象[J],江淮文丛,2011.05.

12. 茹晴.九成城市水域污染严重 [N].中国经济时报 ,2000一 08一01.

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)