Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 21 khách Trực tuyến
PHẠM NGÀ VỚI THƠ VÀ TRƯỜNG CA ĐỘC THOẠI MƯA

 

Vũ Quốc Văn


Từ ngày còn ngồi trên ghế trường phổ thông, là sinh viên Khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội rồi những năm đầu ra nhận công tác, Phạm Ngà đã có những bài thơ đầu tay: Nghe tiếng ve kêu; Quê em; Lửa Hải Phòng… in trên Văn Nghệ, Văn nghệ Quân đội, Cứu quốc; Thống Nhất… gây được ấn tượng trong bạn đọc.

Trải hơn bốn thập niên đồng hành với thơ, ngoài tập Hoa nắng in chung cùng một tác giả khác, anh đã có hai tập trường ca: Đi dọc thời mình (1986); Độc thoại mưa (2010), và ba tập thơ: Lời ru con của người yêu cũ (1991); Trầm tư (1995); Mảnh vỡ (2001) và tập lý luận phê bình Một miền văn chương.

Đọc Trường ca Độc thoại mưa – tác phẩm mới nhất của Phạm Ngà,  tôi hiểu thêm được phần nào về đời anh, về thơ anh. Anh là một nhà thơ đồng thời cũng là một nhà giáo mô phạm, tận tụy, nhiệt huyết với nghề, từng nhiều năm đứng trên bục giảng bình văn, truyền tình yêu thơ văn cho các thế hệ học sinh ở những ngôi trường nghiêm cẩn của hệ Phổ thông trung học và Cao đẳng Sư phạm. Sau này, anh còn được giao đảm trách quản lý một Nhà xuất bản, với chức danh Giám đốc, Tổng Biên tập nhiều thâm niên và đầy trách nhiệm. Và, hơn hết anh là người say thơ, sống hết mình cùng thơ, vì thơ, mê mải đi tìm cái chân giá trị của thơ, tạo được một bút pháp phong cách riêng cho mình.

Phạm Ngà là người thủy chung với thơ ca truyền thống, nhưng không vì thế mà anh thỏa mãn, bằng lòng với cái đã có. Anh luôn đau đáu trăn trở tìm đường, mở lối để bứt phá, và không ngừng tự đổi mới thơ mình.

Đổi mới thơ  nhưng quyết không làm lạ thơ, anh vẫn giữ được phong cách dung dị mà sâu sắc, đằm thắm trên từng thi phẩm. Anh là người đam mê nhưng không cực đoan thái quá, xưng tụng những lời tuyên ngôn to tát, một kiểu nóng vội thường thấy ở những cây bút thiếu bình tĩnh, để rồi lạc bước đuối hơi, đến khi ngộ ra, ngoảnh lại hóa toàn những ảo ảnh huyễn tưởng vô tiền khoáng hậu không mục đích.

Trường ca Độc thoại mưa là một minh chứng cho sự ứng xử mềm mại uyển chuyển nhưng rất sáng tạo của Phạm Ngà trước mê lộ trường phái, trào lưu và cả sự lạm phát, bội thực thơ ca của thời hiện tại. Có thể là rất võ đoán và chủ quan, nhưng người viết bài này vẫn nghĩ rằng những gì đang dung chứa, ký thác, gửi gắm bằng cả cái tâm lẫn cái tình của tác giả trong trường ca này là rất đáng trân trọng. Độc thoại mưa, có lẽ là một tác phẩm tiêu biểu của thơ Phạm Ngà về tầm vóc phổ quát, vốn cảm thức và cảm xúc sung mãn cùng bản ngã của tác giả. Và có lẽ đây cũng là điều may mắn của duyên kiếp và một cơ may phát tiết không dễ gì bắt gặp trong đời của người cầm bút.

Phạm Ngà viết trường ca Độc thoại mưa theo lối truyền thống chương khúc, nhưng khác một điều về hình thức cấu trúc cũng như phương cách chuyển tải nội dung ý tưởng là không trình bày khai triển theo phép tuyến tính tuần tự thuận chiều. ở trường ca Độc thoại mưa, tác giả có ý tạo ra một kết cấu mở khá linh động, uyển chuyển về mặt biên độ phản ánh, cũng như chiều kích không gian và thời gian;  những ngôn ngữ thơ tự nó làm nên màu sắc, mảng khối, hình tượng đồng hiện, ẩn dụ, đan cài cùng  ý tưởng hết sức sinh động và lôi cuốn.

Ngay cái đề mục chương đoạn của trường ca Độc thoại mưa, tác giả dường như muốn đặt ra một kì vọng, ngõ hầu gửi gắm thức nhận, nếm trải cùng cái tình của người viết thông qua tác phẩm này.

Chương 1 có tựa đề Định mệnh. Mở đầu tác giả viết: Con người sinh ra cất tiếng khóc chào đời/  Lúc xuôi tay lại tiễn biệt tiếng khóc/ Cuộc đời là hành trình nước mắt/  Như sứ giả buồn vui/ Nước mắt chẳng phân ngôi đẳng cấp sang hèn”.

Nhà thơ nói điều tưởng như chẳng mới mẻ gì, nhưng anh vẫn cứ nói như là một điều tự răn, tự ngẫm sau những năm tháng trải nghiệm cuộc đời, nhưng hình như đó là một thiện ý tâm sự, mời gọi rủ rê người đọc cùng mình khám phá cái lẽ thường tình tưởng như rất cũ ấy.

Rồi qua hơn hai trăm câu thơ của chương 1, ta có thể coi đó là đề dẫn luận giải cuộc vật lộn sinh tồn của dân tộc, của đất nước, của mọi cá thể người trước thiên nhiên, trước cuộc đời  và chiến tranh. Tác giả mượn cơn mưa để giãi bày: “Mưa, lại mưa lại mưa như ân sủng đất trời/ Rửa trôi đi những lấm lem ám muội/  Những bạo cường như váng đục bùn khơi…

Và trước khi chuyển sang chương 2 tác giả đặt chủ thể là con người đối mặt trước một ranh giới: “Tín điều thì xa, cơm áo lại gần/ Công lý chập chờn sáng tối/  Liệu mệnh người có thắng nổi thiên cơ?”

Hai nửa sáng tối  là tựa đề của chương 2. Với những câu thơ rắn rỏi ít thấy trong thơ Phạm Ngà: “Bất ngờ nhận ra người quen là kẻ xấu/  Bất ngờ chân tướng kẻ vẫn hằng tôn vinh/  Bất ngờ tình yêu không còn như cổ tích/  Bất ngờ lối xưa cũng khác lạ khi nào…

Hay: “Sao bây giờ lắm chuyện mua bán thế/  Mua chức, bán danh, bán cả nghĩa tình/  Kẻ cơ hội bán nhân phẩm cầu thăng tiến/  Cô gái bán thân cho kẻ sang giầu/ Người cầm bút đi hoang cùng chữ nghĩa/ Có khi nào ta đánh mất mình không?

Rồi tác giả tự hỏi và tin vào luật trời, luật đời: “Tin vầng trăng ánh sáng chung tình/  Tin cái thiện diệt trừ cái ác/ Tin con người ngày một sống đẹp hơn…

Chương 3 có tên là Tâm khúc, Phạm Ngà trở về thể thơ lục bát truyền thống, ý chừng anh muốn làm mềm đi, khác đi với cái nhịp điệu hối hả, nhiều khi như trào ra từ cảm xúc không cưỡng được, mang tải những triết luận, nghiệm sinh, suy tưởng  đến với người đọc, cùng người đọc chia sẻ hồn mình, lòng mình, cao hơn nữa là với kiếp người.

Mưa tạnh rồi thì: “Nắng như từ chốn hư không/  Mưa như từ cõi lòng mình mưa ra/ Gió giông tít tắp mù xa/  Mà như bão ở quê  nhà bão lên”.

Có thể nói chương 3 là chương tả tình, tự tình với Em, cũng là với tình yêu (hiểu theo nghĩa rộng) nên nó thi vị, ngọt ngào, dịu êm, nhưng cũng đắng chát, xa xót với những câu: “Muôn đời khát một chữ yêu/ Bao nhiêu duyên kiếp bấy nhiêu phận người/ Dư nước mắt, hiếm nụ cười/ Khi thắp sáng, lúc chôn vùi tuổi xuân/ Cũng là một chuyện ái ân/  Một thân hoan lạc, một thân đọa đầy…”.

Tôi còn muốn trích nhiều những câu thơ đáng đọc nữa không chỉ ở tập trường ca này, mà còn trong cả nghìn câu thơ khác trong đời thơ Phạm Ngà, song vì hạn lượng của bài viết nhỏ này, xin được trân trọng dành cho bạn đọc sẻ chia cùng tác giả vậy.

Đến với chương 4: Cõi thực và hư vô, tác giả dùng thể thơ tự do câu ngắn, nhịp nhanh, khá hàm súc, người đọc cứ như bị cuốn đi, để rồi bị ngôn ngữ thơ như mối lạt mềm buộc chặt vào tâm tưởng: “Mưa. Vẫn mưa/ Giọt buồn nghe máu khóc/ Gió than van/ Rền rĩ kiếp người…

Đan xen với những câu thơ xao xuyến ấy là những lời tự bạch, tự ngộ rằng: “Hoang phí một thời/  Hoang phí một đời/  Đêm nay ta đế vương/  Đêm nay ta hành khất/  Vũ trụ giao hoan/  Quay cuồng trời đất/  Ngờm ngợp hố đen”.

Và tác giả như ngẩn ngơ, như thảng thốt, nhưng không hề hoảng hốt trước mất mát và hệ lụy của kiếp người: Bóng trắng. Bóng trắng. Lại bóng trắng/ Hình như có tiếng khóc/ Hình như có tiếng ai cười/ Người chết trận, người ốm đau tai nạn/ Người lương thiện, kẻ tàn ác/  Người hiền lành, người oan khuất gần xa”.

Có lẽ con người ta phải đến cái tuổi nào đó mới đủ tự tin, mới tự biết trải lòng, trải hồn mình ra như thế. Và Phạm Ngà là một trong những người đã dư đủ cái ngưỡng tuổi tự tin, tự biết ấy rồi!

Từ những thực tế trải nghiệm cuộc sống, giờ đây nhà thơ đã có một năng thế nghiệm sinh về cái lớn lao của vũ trụ, của thiên nhiên vĩnh hằng và của cuộc đời. Anh như đã thấu tỏ muôn nỗi thăng trầm, buồn vui, được mất của thân phận người. Phải chăng là thế nên qua thời gian thụ giáo nơi trường ốc, qua thời gian tồn sinh trong biển đời trôi giạt, làm  bầu bạn cùng con người để đến tháng năm này Phạm Ngà mới có cơ hội gửi vào từng con chữ, từng dòng thơ những gì ấp ủ, tinh lọc, căn cốt tâm đắc nhất của anh hiến dâng cho bạn đọc.

Anh là người lao động hết mình cho thơ, bởi sự dày công dồn nén, kỹ lưỡng đến từng dấu phảy trong mỗi tác phẩm. Độc thoại mưa là minh chứng cho điều ấy. Tác phẩm này đủ xác lập một bước chuyển, cao hơn là một bứt phá đầy năng lực mới của tác giả. Từng đơn vị chữ nghĩa trong Độc thoại mưa là sự đằm chín, mang theo ma lực có khả năng hút cuốn, nhuyễn quyện, xoắn bện vào nhau đến độ sáng láng kinh điển.

Chương 5  có tên Cội nguồn, cũng là chương cuối của trường ca Độc thoại mưa.

Có lẽ nhà thơ Phạm Ngà đã suy nghĩ, cân nhắc, nghiền ngẫm khá nhiều về cái phần kết của trường ca này, và anh đã thật hữu lý khi viết những dòng thơ cuối cùng theo thể thơ văn xuôi.

Người viết bài này xin phép độc giả và nhà thơ họ Phạm được mượn ít dòng thơ trong chương cuối của trường ca thay cho lời kết: “Có lúc ta tự hỏi: Sẽ ra sao nếu trái đất này không có mưa? Chỉ nắng gió ngày đêm thống trị. Thế gian thiêu đốt trong hạn khô, dằng dặc bốn mùa ảm đạm. Sẽ không còn những dòng sông vắt ngang như dải lụa, những chiếc thuyền dong buồm lả lướt chân mây. Dòng suối thôi róc rách, biển khơi thôi dạt dào, mặt hồ thôi lấp lánh gương soi. Sẽ không còn những khu rừng với tầng tầng những thảm cây xanh mướt, cánh chim phân vân không nơi di trú và bặt tiếng hót ca. Sẽ không còn những cánh đồng mơn mởn đất đai phì nhiêu cò bay thẳng cánh. Và, sẽ không còn những buổi chiều trú mưa dưới hiên nhà xa lạ, để thoáng gặp ánh mắt người con gái nhìn ta bất chợt, ám ảnh ta suốt cuộc đời. Em có biết đâu, chính ta đã trú mưa dưới hàng mi cong long lanh ánh nhìn trong trẻo tinh khiết ban mai từ độ ấy. Em giờ lưu lạc nơi đâu? Sẽ không còn thơ ca, nhạc, họa. Không còn tình yêu. Không còn sự sống”./.


 


 
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)