Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 49 khách Trực tuyến
Văn học
Chuyện kể về đêm

Tầm là con trai thứ hai trong một gia đình có bốn người con. Gia đình Tầm tuy không khá giả nhưng cũng không đến nỗi khốn khó. Chị gái Tầm què quặt bẩm sinh nhưng lại có khuôn mặt lành lặn và tươi tắn. Tầm có hai đứa em trai bụ bẫm, kháu khỉnh. Cha Tầm là lái trâu chuyên dắt mối cho những tay buôn trâu có tiếng ở Hải Phòng. Mẹ Tầm làm nghề buôn bán nhỏ từ phố vào bản, từ bản về phố.

Dạo ấy Tầm đang học lớp hai. Một hôm bố Tầm đi bản về kiếm được ít thịt thú rừng nướng ăn rất ngon. Cả nhà ăn xong, mẹ Tầm bảo. Thịt hổ đấy, đứa nào thích đi rừng xem hổ không? Cả hai đứa em Tầm cũng đòi đi. Nhưng Tầm tha thiết. Con lớn hơn, cho con đi xem trước. Chủ nhật tuần ấy, Tầm được mẹ cho đi xem hổ thật. Hai mẹ con Tầm đi bộ, xuyên qua bản của những người dân tộc, trên con đường đầy dấu chân ngựa. Chiều tối, hai mẹ con Tầm dừng chân tại một cái thung lũng rộng mênh mông và tốt tươi ngô lúa. Ở đó có hơn bốn chục nóc nhà của người Mông Hoa. Giờ trâu ngựa về chuồng, Tầm tận mắt chứng kiến sự giàu có trù phú. Người ta gọi nơi này là thung lũng Mo. Xung quanh thung lũng Mo là một cánh rừng rậm rạp xanh bao bọc. Cánh rừng chắc có từ lâu lắm rồi. Trông hoang sơ rờn rợn. Tầm thường nghe bố kể về những cánh rừng như thế này. Bố bảo rừng đem đến cho con người rất nhiều thứ quý giá. Người già vào rừng tìm thuốc. Con gái vào rừng lấy nấm lấy măng. Đàn bà vào rừng khơi nguồn nước dẫn về. Đàn ông, thanh niên khỏe mạnh vào rừng chọn gỗ tốt đem về làm nhà…Nhà mẹ con Tầm đến là một cái nhà gỗ rất to, lợp lá cọ. Mấy nghìn tàu lá cọ ấy chứ. Tầm đếm một lúc là mỏi mắt. Những cái cột nhà to bóng nhẫy, vòng tay Tầm ôm không xuể. Tường nhà bịt bằng gỗ ván xoan bào nhẵn. Bữa tối đầu tiên bên bếp lửa, chủ nhà trạc bốn mươi tuổi không có con, đãi mẹ con Tầm bữa thịt trâu nướng. Xé miếng thịt sau khi chấm với muối ớt, bỏ vào miệng, vừa dai vừa bùi, Tầm thấy phấn chấn, tan biến mọi mệt nhọc. Đêm ấy, trên tấm đệm lau ấm áp, Tầm rúc vào nách mẹ, nghe tiếng bọn trâu ngựa khua móng ngoài chuồng, thấy nao nao lạ lẫm. Giấc ngủ rồi cũng đến. Trong mộng mị con trẻ, Tầm mơ được mẹ đưa đi xem hổ.

Mặt trời mọc, Tầm thức giấc, bên cạnh không còn mẹ nữa. Tầm òa khóc chạy tìm mẹ. Ông chủ nhà giữ Tầm lại, dỗ dành. Tầm vẫn khóc. Ông chủ nhà bảo. Đổi mày một con trâu đực to đấy. Mẹ mày dắt đi rồi. Tầm nín bặt. Chỉ còn những giọt nước mắt hờn tủi nối nhau lăn trên má, rơi xuống cổ, ướt hết ngực áo. Bố nuôi đặt cho Tầm cái tên mới. Ma Văn Sấu. Ai bảo trẻ con mau quên, chứ Tầm thì lâu quên lắm. Có khi, chả bao giờ quên được. Hằng đêm Tầm khóc vì nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ chị Tế và hai đứa em trai. Nhớ cả cái phố chợ lèo tèo vắng vẻ. Nhìn con gà mái dỗ con, Tầm nhớ những lần mẹ đi chợ về, chia bỏng ngô cho bốn chị em. Nhìn con lợn nái nằm nghiêng tênh hênh cho đàn con rúc vú, Tầm nhớ đến những ngày hè nóng nực, mất điện, mẹ nằm trên phản quạt, bốn chị em tranh nhau nằm gần. Mẹ bảo nằm xa mới mát, cả bốn đứa lại giạt ra xa. Một đứa bạn nói với Tầm. Bố mẹ mày không tốt mới bán mày, nhớ làm gì? Tầm giận mẹ, không khóc nữa. Tầm dần quen và bị hút vào những thú vui mới. Đó là những lần theo bố nuôi đi săn trong rừng. Những lần rủi ro không săn được con gì chỉ nhặt được vài cái lông nhím và bọc hạt dẻ. Có lần, theo đám bạn đi tìm trâu còn lạc sang cả đất Tuyên. Nhưng nhớ nhất là lần Tầm đi chăn trâu bắt được hai con chim chào mào non đang tập chuyền canh đem về nuôi trong lồng. Con chim mẹ theo về, sấn xổ nhảy vào lồng kêu như van như lạy. Mặc kệ. Sau cùng, cả đàn chim kéo về lóe xóe chửi rủa, Tầm thả ra. Thả hai con chim non, Tầm ngơ ngẩn cả người.

Không phải Tầm tiếc hai con chim. Mà vì Tầm nhớ mẹ. Tầm nghĩ, Tầm không được như hai con chim non.

Rồi nhà có đám ma. Người chết là ông cụ đẻ ra bố nuôi Tầm. Cái chết của ông khiến Tầm lo lắng. Lỡ đâu, ở nhà, bố đánh chết mẹ rồi thì sao? Nhiều lần bố đánh mẹ đau lắm. Nếu mẹ còn sống, sao hai năm rồi mẹ không tìm gặp Tầm?

Người chết, theo phong tục bản này, phải được ngày tốt mới chôn. Thầy cúng xem rồi, bảy ngày nữa mới là ngày tốt. Tầm phấp phỏng nuôi ý định trốn về thăm mẹ vài ngày. Ngay tối hôm đầu tiên, ông nội bị trói vào cột nhà, nơi gần nhất với bàn thờ thần linh. Hai con lợn, một đực một cái được mổ ra. Người trong bản đến làm cỗ. Thầy cúng được mời đến yểm bùa quanh nhà và cả xác ông nội. Đêm họ đốt lửa, uống rượu, nhảy múa quanh xác chết. Vừa nhảy họ vừa vã rượu thịt vào miệng người chết. Ba ngày sau, khi thức ăn hỗn tạp chất ngang người ông nội, họ mới cởi trói cho ông, đem ông đi ra trái nhà tắm rửa trong một cái lều được quây kín. Tự tay bố nuôi tắm cho ông và mặc quần áo mới cho ông. Sau đó họ thả ông vào một cái khúc gỗ khoét rỗng ở giữa như cái quan tài. Ở hai đầu khúc gỗ có xỏ dây thừng rồi treo ông lửng lơ ở gian giữa. Bố bảo, đấy là ông nội đang cưỡi ngựa đi gặp thần linh. Khi ấy, thầy cúng lại cúng một bài rất khác. Họ hàng, con cháu mặc áo tang và thi nhau khóc. Ba ngày cúng tế, than khóc, ăn uống, vừa vặn hết một con trâu đực. Sáng ngày thứ bảy, họ mới gỡ ông nội xuống ngựa và đem đi chôn ở một nương ngô rất xa. Tầm trốn khỏi đám đưa ma rồi theo chân những con ngựa của người buôn ngoài phố mà về nhà.

Về đến nhà, Tầm mừng lắm. Mẹ Tầm lo lắng bảo. Họ lại về bắt đi thôi, sao con lại trốn? Bố Tầm nhìn Tầm như thể Tầm vừa lập được chiến công. Nửa đêm ông bảo. Nhà đấy giàu có, mày ở đấy rồi sau này sướng, hưởng hết. Sao lại trốn về? Mà đã về rồi, muốn ở nhà với bố mẹ thì phải đi trốn vài bữa. Thế là Tầm lại vội vàng từ giã các em để đi ngay trong đêm. Lần này, bố đưa Tầm đi. Đi bằng xuồng. Tới sáng, bố để lại Tầm ở bản của người Dao Tuyển.

Vậy là bố mẹ lại lừa bán Tầm lần nữa. Lần này, cái giá của Tầm là một bộ da gấu. Tầm tận mắt nhìn thấy bố gói ghém cẩn thận, đút vào túi và dửng dưng ra về không chút lưu luyến xót thương. Bố dặn. Ở đấy vài hôm bố đón. Đừng có trốn. Tầm không khóc như lần trước. Cũng không buồn nhớ đến ai hay bất cứ thứ gì nữa. Sự hờn giận ngưng lại trên đôi mắt lỳ lợm, trong giọng nói cục cằn. Gia đình nơi Tầm đến cũng không có con nên quý Tầm lắm. Tại đây, Tầm lại có một cái tên mới: Lý Phúc Tinh. Bản Lang của người Dao Tuyển tuy không giàu có như bản Mo của người Mông Hoa, nhưng nó sạch sẽ và xinh xắn. Con suối Thượng nước sung sức đuổi nhịp chày giã gạo thì thụp suốt ngày đêm. Ngày mưa lớn, bố nuôi phải cõng Tầm qua suối để đến lớp học. Cái trường học nho nhỏ, vẻn vẹn có ba lớp học lợp cỏ tranh, phên vách. Nơi cô giáo Liên kể chuyện rất giỏi, hát rất hay. Tằm nhớ cái túi rết tua đỏ đựng sách. Đi học về, Tầm phải kiễng chân mới treo được lên cột. Tầm nhớ, hằng năm, vào tiết lập thu, cả bản giết lợn, giết gà, đồ xôi, giã cốm để cúng mẹ lúa. Tầm nhớ từ giàn mướp đắng đến những luống rau mét rờn xanh. Chính nơi này đã phác họa những nét đầu tiên bản lĩnh đứa con trai trong Tầm. Tầm đã biết chọn thớ gỗ mà đưa vào lưỡi búa sắc ngọt. Tầm đã biết mài cho sắc con dao nương cán dài. Tầm biết khoét mắt ống nứa làm máng lần bắc nước về bếp, về ruộng. Bố mẹ nuôi bảo Tầm phải học thật giỏi để sau này về làm thầy thuốc chữa bệnh cho bà con. Cũng tại đây, Tầm được bố nuôi làm cấp sắc, ước mơ trở thành người lớn đàng hoàng giỏi giang của Tầm được nhen nhóm.

Một buổi chiều đi chăn trâu, Tầm gặp một thanh niên cùng phố. Tự nhiên, Tầm lại hỏi thăm về gia đình dù bao nhiêu năm Tầm đã cố quên. Anh ta thân thiết bảo. Mẹ mày ốm nặng sắp chết, mày có muốn về thăm không? Tiện xuồng đây tao cho về. Hai năm ở bản Mo, bốn năm ở bản Lang. Sáu năm đã biến cậu bé tám tuổi ngày nào giờ thành cậu choai mười bốn. Sáu năm Tầm thấy ròng rã, thấy xa lạ, thấy hờ hững với góc phố, con đường, căn nhà, bố mẹ, và cả các em. Tầm chỉ thấy bổn phận của Tầm trong sự kỳ vọng của bố mẹ nuôi là rõ rệt nhất. Giờ đây, mọi sự bỗng tỉnh giấc, bỗng náo loạn sau một giấc mơ dài. Tầm biết, tình cảm con người là thứ vốn dĩ rất tự nhiên. Bao năm Tầm không về nhà là Tầm hận cha mẹ đã lừa dối và bán Tầm. Còn giờ này, khi biết mẹ bệnh nặng mà không về thăm, như thế, đâu phải con người. Như bị thôi miên, Tầm lùa trâu về chuồng rồi chạy như bay ra bến sông, nơi có một chiếc xuồng máy đã chờ sẵn.

Thế rồi Tầm cũng không gặp được mẹ. Người thanh niên cùng phố đã lừa bán Tầm cho một ông chủ trong thung lũng đá đỏ cách bản Lang hai ngày đường vừa xuồng vừa ngựa. Cái giá của Tầm lần này còn hai chỉ thuốc phiện. Ông chủ của Tầm mặt rỗ không thể đoán tuổi. Hắn hất hàm hỏi Tầm:

- Mày tên gì? Bao nhiêu tuổi?

Tầm cộc lốc:

-  Tinh, mười bốn!

Ông chủ cau mày. Láo, sao bảo Tầm? Tầm thì Tầm. Tầm cúi đầu như  để tưởng nhớ những cái tên cũ. Việc của Tầm chả nặng nhọc gì. Ban đầu thì cơm nước, dọn dẹp thôi. Về sau, người lớn làm gì, Tầm làm việc ấy. Cái thung lũng này rộng gấp đôi bản Mo. Ở đây, dễ có đến vài nghìn người lao động. Dân bản địa thì ít còn dân tứ xứ thì nhiều. Họ là những kẻ ôm mộng đổi đời, những kẻ kiếm kế sinh nhai, những kẻ ôm hận tìm nơi trút bỏ. Tư Rỗ là một trong những ông chủ khét tiếng tàn bạo ở thung lũng này. Năm tháng trôi đi, Tầm trưởng thành từ đòn roi, từ sự hắt hủi tệ bạc, từ những lần may mắn thoát chết. Những vết sẹo trên mặt Tầm là minh chứng cho một cuộc sống hỗn độn mong manh. Ký ức về tuổi ấu thơ dần phai nhạt. Thi thoảng có lóe lên rồi cũng phụt tắt như ngọn đèn dầu ra gió. Tầm hân hoan vui mừng, buồn bã chán nản theo sự thăng trầm của đá. Ở đây người ta chỉ nói chuyện đá đỏ, chuyện rượu chè, cờ bạc, trai gái. Những thứ ấy Tầm không thích. Thật lạ, Tầm chỉ thích đánh nhau. Bởi thế, những cuộc sát phạt, cạnh tranh với các lán, các bưởng khác, Tư Rỗ thường đẩy Tầm vào như một nước cờ liều lĩnh. Nhìn bộ mặt đầy sẹo, lầm lỳ, đôi mắt một mí đầy khinh mạn, bất cần, đầy đứa tụt hứng ẩu đả. Thế mà biết bao nhiêu lần Tầm đã tự kiềm chế. Cái ranh giới trong lúc cả giận giống như một cái cốc thủy tinh mỏng đang tung hứng trên tay, Tầm lại cố giữ gìn. Tầm thích đánh nhau, nhưng lại không muốn hại chết ai cả.

Một lần trúng mánh, cao hứng, Tư Rỗ kể cho Tầm nghe, mạng người đầu tiên hắn giết là mẹ vợ hắn bởi vì bà ta cứ lèo nhèo mãi cái chuyện hắn ăn bám vợ con lại cờ bạc. Hắn đã trùm chăn lên đầu bà ta đến ngạt thở mà chết. Nhưng cả nhà ai cũng tưởng bà ấy cảm chết nên hắn vẫn sống ung dung. Tầm vã mồ hôi khi nghe Tư Rỗ kể hắn đã bỏ vào nồi quân dụng luộc chín một đứa trẻ lên ba vì cha của nó dám tố giác chuyện hắn cờ bạc. Hắn bị truy nã và vì tội này mà hắn đã lang bang bên kia biên giới cả chục năm giời. Hắn bảo. Mạng thứ ba sẽ là Tầm nếu Tầm trốn khỏi đây. Hắn biết, nếu hắn bị bắt thì đằng nào cũng chết. Chết một mình hơi buồn.

Tất cả kết thúc vào một ngày mưa. Mưa tầm tã từ trước đó cả tuần. Nước suối dâng ngập hết thung lũng. Các lán phải di lên núi ở. Cả thung lũng, đêm đến, ran lên tiếng ếch gọi nhau. Chả vậy mà người ở đây còn gọi thung lũng này là thung lũng ếch. Hôm ấy cả lán kéo nhau đi ăn thịt chó dưới bản. Tầm ở lại trông lán và đánh giấc. Đang mơ màng, có tiếng quát. Có tiền không, thằng mọi? Tầm toan nhổm dậy thì một bàn chân đi giày bẩn bê bết đã dập mạnh lên ngực Tầm. Tay nó nhăm nhăm con dao nhọn sáng loáng dài nửa mét. Tầm ngộp thở, cố ngóc đầu dậy và nhận ra một thằng nghiện ở bãi Bạc. Tầm bất ngờ chồm dậy, hất thằng nghiện ngã ngửa xuống nền lán ngổn ngang dụng cụ cào cuốc. Con dao văng ra. Tầm đè lên nó, lấy dây thừng trói nghiến thằng nghiện vào cột lán và dặn. Cứ nằm đây, đợi Tư Rỗ về nó cho tiền. Nói rồi, Tầm co chân chạy dưới mưa, vừa chạy vừa vuốt mặt. Vậy là, mười tám tuổi, Tầm được tự do.

Ra khỏi đất Lục, Tầm lang thang nhiều nơi nhưng không nơi nào, không nhà nào nhận Tầm vào làm. Họ sợ khuôn mặt Tầm. Tầm chìa hai bàn tay xù xì, chai sần và nhợt nhạt ra, họ càng sợ. Tầm soi mình trong màn nước giếng hoang. Dưới ấy là một thằng hủi, một tên ăn cắp hay một kẻ giết người? Tầm tự hỏi rồi đi tiếp. Ký ức mù mờ đưa anh về phố cũ. Mười năm trôi qua với bao nhiêu đổi thay, xóm giềng vẫn nhận ra anh. Mọi người nhìn nhau ái ngại. Họ bảo Tầm càng lớn càng giống bố thế mà ngày xưa nằng nặc cho đi vì bảo không phải con đẻ. Qua họ, Tầm biết hai đứa em cũng bị bán từ lâu rồi. Mẹ Tầm đã bỏ nhà theo một gã buôn trâu từ vài năm. Nhà chỉ còn bố và chị Tế.

Chị Tế không nhận ra Tầm nữa. Tầm phải kể lại những gì đã khiến Tầm trở nên như thế, chị sụt sịt khóc chẳng nói gì. Thấy bụng chị lùm lùm, Tầm nghi ngờ. Cha chúng là ai? Chị Tế lặng lẽ lau nước mắt. Tầm hoảng hốt. Nhưng Tầm không dám tin vào cái điều chợt đến trong suy nghĩ và linh cảm. Tầm bỏ ra bờ sông ngồi, mặc cho cơn gió đêm quần xé mái tóc khô dựng tơi tả. Mười giờ đêm, Tầm về nhà. Cửa cài trong, qua khe cửa sổ, ánh điện vàng vọt hắt ra mang theo tiếng một người đàn ông lè nhè say xỉn. Con đĩ mẹ mày bỏ ông đi, mày phải thay mẹ mày chiều ông chứ. Tiếng chị Tế van xin lẫn trong tiếng gằn gọc của con thú vật. Lúc nào muốn chết, tao hóa kiếp cho. Nhưng bây giờ tao chưa cho chết. Rồi tiếng cười tởm lợm cất lên. Tầm nóng mặt, hai thái dương nổi gân giần giật. Tầm kéo mạnh cửa sổ nhìn vào. Một người đàn ông trần trục đang lột quần áo chị Tế. Chị Tế chới với trên phản.

Tầm đạp cửa lao vào nhà như một con thú rồi chồm lên phản, đè ngửa kẻ táng tận ra. Đưa hai bàn tay cứng như gọng kìm vào cổ nó, Tầm dọa. Ông như thế này nữa, tôi giết. Chị Tế gào lên. Lạy em, con không được giết bố. Tầm bàng hoàng bỏ tay ra, ngồi phịch xuống. Người đàn ông ngồi dậy, gầm ghè bước xuống đất. Bất ngờ hắn thò tay xuống gầm phản, lôi ra một con dao phay rồi nhằm thẳng đầu Tầm mà bổ xuống. Tầm còn đang ngơ ngác thì chị Tế đã nhoai người lên hứng trọn lưỡi dao oan nghiệt.

Tầm không nguôi hoảng hốt như chính anh là kẻ giết người. Nửa muốn bỏ chạy, nửa muốn kết thúc tất cả. Cay đắng, tủi nhục, Tầm chịu đựng được, không kêu ca oán thán. Nhưng sự cô độc bóp nghẹt tim anh. Bọn con gái, hễ thấy anh là phỉ nhổ, dè bỉu. Đứa nhát gan còn co cẳng chạy. Bà hàng xóm còn mai mỉa bóng gió. Loạn luân nó cũng di truyền đấy. Có người đay nghiến. Mày không về đây thì việc gì chị mày chết, việc gì bố mày ngồi tù?  Ê chề nhục nhã và cả những day dứt tội lỗi, Tầm bỏ đi mà không biết đi đâu. Giá như anh đừng rời bỏ cái thung lũng Mo xưa. Giá như anh đừng bùi lòng nghe theo kẻ lừa đảo để phải xa bản Lang ấy. Cái số đông văn minh, nơi anh luôn khát khao tìm về, có lẽ nào lại là nơi để cái ác nhất, cái khốn nạn nhất ngạo ngược tàn phá?

Tầm đến bên cây cầu ngã ba sông khi trời đã về chiều. Bên kia là Trung Quốc, bên này là thị xã hối hả dựng xây. Những người thợ áo đẫm mồ hôi, những công trường rộn ràng tiếng máy. Những con đường bụi đỏ cuốn tung theo những chuyến hàng ngược xuôi đầy ắp. Tầm nhìn cuộc sống tất bật ấy mà thèm khát, mà ao ước được hòa mình. Tại sao họ lại từ chối Tầm? Khuôn mặt anh thật sự gớm ghiếc thế sao?

Dưới kia là dòng sông lơ đãng chảy, yên ắng chảy, như chưa hề biết đến ghềnh thác. Tầm nhớ đến con trâu đực, bộ da gấu, hai chỉ thuốc phiện, rồi chua chát mỉm cười. Dòng sông có biết thân phận con người có những lúc không đáng một xu không? Tầm đứng từ chiều sang đêm, từ ồn ào đến khuya vắng. Như kẻ tử tội đợi ân xá của dòng sông.

Giật mình vì cái vỗ vai thật mạnh. Tầm quay lại. Chẳng ngờ đó là một khuôn mặt đàn bà trạc ba chín, bốn mươi gì đấy. Chị ta cười rất ngọt, hai tay xoa vào nhau. Gớm, may quá, cứ tưởng giờ này về hết rồi. Chú em giúp chị một tay nào. Chị trả công thêm. Cũng chả nặng quá đâu. Tầm rụt cổ lại. Chị ta có giọng con buôn ngọt như mẹ Tầm. Ánh mắt chị ta đưa đẩy như bố Tầm. Và cử chỉ của chị ta thân thiện giống như anh hàng xóm đã lừa bán Tầm. Lại cạm bẫy gì nữa? Từ chối cho yên chuyện. Nghĩ thế nên Tầm bảo. Để mai đi. Chị ta trở nên đanh đá. Mai hử, trên bến có mà hàng núi người, miễn vật nài. Có mỗi xe ngô mà làm như.

Vừa nói, chị ta vừa ngoay ngoảy bước về phía bến xe. Tầm lững thững bước theo sau. Tầm bỗng thấy tin. Thật lạ. Đến tận giờ phút này, Tầm vẫn dễ dàng tin vào cuộc đời đến thế!

 
Tiếng vĩ cầm trên hè phố

Tôi viết những dòng này khi người nghệ sỹ đường phố của Hải Phòng đã an yên nơi cõi vĩnh hằng hơn một năm rồi. Tôi viết bởi chiều nay, tôi lại đi ngang qua chốn ấy, đoạn đường dọc bờ sông Tam Bạc giữa lòng phố Cảng, mà không còn được nghe tiếng đàn réo rắt, không còn nhìn thấy hình ảnh quen thuộc của ông - người nghệ sỹ chơi vĩ cầm trên hè phố.

Không chỉ với một mình tôi, mà với rất rất nhiều người dân Hải Phòng, đặc biệt là những ai thường xuyên qua lại con phố Nguyễn Đức Cảnh và nhiều con phố khác ở nội thành, thì hình ảnh một cụ ông dáng hình gầy gò, khắc khổ, ngày ngày ngồi trên hè phố độc diễn với cây vĩ cầm đều đã quá quen thuộc. Mặc cho dòng đời hối hả trôi, mặc cho dòng người ngược xuôi tấp nập, ông vẫn say sưa kéo đàn. Những giai điệu quen thuộc của các ca khúc Bèo dạt mây trôi, Cò lả, Cây trúc xinh, Về quê … cứ thế lần lượt được ông tấu lên. Tiếng vĩ cầm trên hè phố hòa vào tiếng nói cười, tiếng máy nổ, tiếng còi xe… để trở thành một phần âm sắc không thể thiếu trong bản nhạc rộn ràng của cuộc sống.

Người nghệ sỹ đường phố ấy tên là Đỗ Bá Lý, người mà giờ đây mỗi khi nhắc đến, những ai từng biết ông đều không khỏi cảm thương cho một số phận vất vả nhọc nhằn, một cuộc đời tựa như cuốn tiểu thuyết buồn với nhiều thăng trầm biến cố. Sinh ra trong gia đình khá giả nên ngay từ nhỏ, ông đã được cha mẹ cho theo học violin của một ông thầy người Campuchia tên là Chây Sa Khôn. Tuổi thơ êm đềm trôi qua chưa được bao lâu thì tai họa liên tiếp ập đến: cha ông đột ngột mất sớm do bệnh tật, 3 người anh của ông cũng vĩnh viễn ra đi bởi bom Pháp dội xuống trúng bữa cơm chiều. Người mẹ vượt lên đau đớn, mất mát để nuôi con, tiếp tục thực hiện tâm nguyện của chồng là cho con theo nghiệp đàn để thành tài. Năm ông 16 tuổi, thầy Chây Sa Khôn về nước, Đỗ Bá Lý phải tạm ngừng việc học đàn. May mắn thay, ông lại được Trưởng đoàn Kịch nói Hải Dương nhận về đoàn, được đi biểu diễn phục vụ nhân dân, bộ đội ở các tỉnh thành phía Bắc. Ông kết hôn và sinh được 3 người con. Những năm ấy, đồng lương còi cọc của một nghệ sỹ đoàn kịch không đủ để Đỗ Bá Lý nuôi các con. Ông đành gác lại niềm đam mê với cây vĩ cầm để lo làm kinh tế. Từ khi cùng gia đình chuyển về Hải Phòng sinh sống trong căn nhà bố mẹ để lại trên phố Tô Hiệu, ông và vợ bươn chải đủ nghề, kể cả đi rửa bát thuê để kiếm tiền nuôi con. Thế nhưng, sóng gió lại dồn dập đến: ba người con của ông lần lượt ra đi. Người vợ không thể vượt qua nỗi đau mất mát quá lớn ấy, cũng lâm trọng bệnh. Để chạy chữa cho vợ, ông Đỗ Bá Lý đành phải bán đi căn nhà cha mẹ để lại, nơi cuối cùng lưu giữ những kỷ niệm tuổi thơ, nơi ông có những tháng ngày đẹp đẽ bên gia đình. Thế nhưng, mọi nỗ lực của ông cũng trở thành vô hiệu. Bệnh tật đã cướp đi nốt người vợ, bỏ lại mình ông trong nỗi đau buồn, cô đơn. Không tài sản, không nhà không cửa. Tận đến năm 64 tuổi, ông Lý mới tái hôn. Ông cùng người bạn đời mới của mình thuê nhà ở trọ và sống bằng nghề bán hàng ăn sáng gần chợ Sắt. Những tưởng đôi vợ chồng già ấy sẽ có cuộc sống đạm bạc mà an yên, nào ngờ chẳng bao lâu sau, ông Lý mắc bệnh ung thư dạ dày, bao nhiêu tiền tích cóp đều được bà dồn vào, rồi vay mướn để chạy chữa cho ông. Mọi gánh nặng cơm áo lo toan dồn lên vai bà. Ấy thế mà họa vô đơn chí, bà lại bị ngã gãy chân. Tuổi già, bệnh tật, không con cái nương tựa, hai ông bà lâm vào cảnh túng quẫn đến tột cùng. Không có tiền trả tiền thuê nhà, ông bà phải ra đường...

Ông Đỗ Bá Lý từng tâm sự: “Cả cuộc đời tôi chưa có một ngày hưởng trọn niềm vui, đã quen cái cảnh được bữa sớm lo bữa tối. Trời cho tôi sức khỏe, tôi vẫn làm được, vẫn có thể mang tiếng đàn làm vui lòng người”. Cây đàn violin cũ kỹ trở thành công cụ mưu sinh của người nghệ sỹ nghèo từ đó. Ngày ngày, dù nắng hay mưa, dù mùa đông lạnh giá hay mùa hè nóng nực, người nghệ sỹ già với chiếc mũ phớt và bộ quần áo bạc màu vẫn cần mẫn ngồi đàn bên lề phố, gần các ngã tư đường. Bộ râu trắng phủ lên mặt đàn. Đôi tay gầy guộc đều đều kéo cây vĩ cầm lướt trên dây đàn, tạo nên những âm thanh du dương, da diết. Những bản nhạc dân ca, nhạc cổ điển được người nghệ sỹ già tấu lên với tất cả lòng say mê của mình. Tiếng đàn gợi lên cảm giác thanh thản bình yên. Tiếng đàn xua đi những ồn ã, bức bối, bụi bặm của phố phường. Tiếng đàn da diết khiến lòng người chợt lắng lại, khiến dòng đời như trôi chậm hơn. Không khó để bắt gặp hình ảnh một ai đó ngồi bệt xuống bên cạnh người nghệ sỹ già, lặng nghe ông đàn những bản nhạc mình yêu thích, để tạm vơi đi những căng thẳng lo âu của công việc, để tìm lại sự thăng bằng giữa cuộc sống bộn bề. Chỉ mấy chục giây dừng chờ đèn đỏ hay vài phút dừng lại bên lề đường để lắng nghe thôi, người qua phố cũng cảm thấy vô cùng thú vị. Người ta thường bỏ tiền vào cái vỏ đàn cũ kỹ được ông mở ra để bên cạnh. Người ta biếu tiền ông không phải vì thương cảm như cho tiền một kẻ ăn xin, mà là vì cảm phục tài năng và sự say mê của người nghệ sỹ đường phố bất đắc dĩ ấy. Tiếng đàn, không biết từ bao giờ, đã trở thành một phần thân thuộc đối với người dân Hải Phòng.

Ngày 28 tháng 7 năm 2017, cuốn “tiểu thuyết” cuộc đời của Đỗ Bá Lý đột ngột khép lại  ở tuổi 82. Tai nạn giao thông thảm khốc đã cướp đi sinh mạng của người nghệ sỹ già, khiến bao người bất ngờ và thảng thốt. Ông nằm đấy, bất động giữa lòng đường. Chiếc ghế, chiếc ô, chiếc loa và cả cây đàn violin nằm ngổn ngang trên phố. Tiếng vĩ cầm tắt lịm giữa trưa hè. Và, những giọt nước mắt cứ tiếp nối rơi.

Ngày tiễn người nghệ sỹ già thân thuộc về thế giới bên kia, một ban nhạc ngẫu nhiên đã được thành lập bởi những người chơi vĩ cầm tại Hải Phòng. Trước giờ tiễn biệt, bản “Cát bụi” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được tấu lên bằng tất cả lòng yêu mến, kính trọng mà mọi người dành cho ông. Đấy chính là lời cầu mong cho ông được yên nghỉ nơi suối vàng. Dẫu thân xác trở về cát bụi, linh hồn ông sẽ được siêu thoát khỏi những khổ hạnh, trầm luân của kiếp người này mà bay về với miền cực lạc.

Chiều thu. Hè phố rải đầy lá vàng. Gió cuốn lá bay xao xác. Cái khoảng trống trên hè phố nơi người nghệ sỹ ấy vẫn ngồi cũng chính là khoảng trống trong lòng người mỗi lần đi qua chốn ấy. Người chơi vĩ cầm bên bờ hồ Tam Bạc đã khuất bóng từ lâu. Tiếng vĩ cầm trên hè phố đã tắt lịm rồi. Nhưng, những âm thanh da diết của nó vẫn còn vang mãi trong mỗi người dân Hải Phòng. Và nó chỉ được lấp đầy phần nào khi những âm điệu da diết của tiếng vĩ cầm bỗng chợt ngân lên trong tâm tưởng: “Mây í ì i trôi, chim sa tang tính tình cá i lội, ngậm i một tin trông, hai tin đợi ba bốn í tin chờ, sao chẳng thấy đâu ...”.

Bút ký: ĐẶNG THỊ THÚY

 
Lời ru của mẹ

Này gió, này mưa,

này trống tênh huơ hoắc

Không biết gọi tên các bạn là gì

Tôi đi về với hàng cây lặng phắc

Đêm vít chặt mặt người hình tam giác

Giữa có - không khăn gói ủ sương.

Phận số so le bám đất xạc xào

Rễ chùm nẩy mầm thành chữ

Mưa không xoáy mòn mà lá ngủ lại

Xoay xoay sáu mặt chớp lớp nở sinh

Thêm một nghìn hồng cầu.

Tôi gối đầu trên tay mẹ

À ơi lời ru gối đầu lên kho báu lời ru

Mẹ tôi gối đầu trên những câu thơ

Mọc lên từ những gió dông mỏng dính

Tôi uống nước suối nguồn cô đặc

Muốn tạm biệt tuổi mình

bằng bản Beethoven.

Buổi sáng hôm sau từ ban công

phát ra bản giao hưởng

Tôi bắt đầu vo tròn rót ngọt

Nơi mẹ giấu tôi cắm bình vỏ quế

Nơi mẹ gửi lại giấc mơ tôi

thiếu tháng hoa lệ

Chở tôi đi qua những ngã năm phồng rộp

Những nghiêng ngả ngoài chữ.

Ơi bản thể tôi có bao đêm trong suốt?

Bao đêm vẩn đục?

Bao đêm ngực lép?

Mẹ thêu bước chân tôi sau từng lưu lạc

Chăm bón, tỉa cành,

vẽ một tôi đồng thuận xoay xoay...

 

PHẠM THÚY NGA

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

 

Tạp chí Cửa Biển số 199,200 (1,2/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 198 (12/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)