Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 8 khách Trực tuyến
Văn học
Ông tổng Thợi

Truyện ngắn: Vũ Hoàng Lâm

Tên thật của ông Chánh tổng người làng Bợi là Thiện. Tính ông hay bông đùa nên dân hàng tổng ghép chữ đầu tên ông TH với vần cuối ợI của tên làng Bợi thành tên THợI. Ông có tài  bình phẩm các việc xảy ra bằng ca dao, thành ngữ. Để an ủi những  hoàn cảnh éo le, ông nói: “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”. Thấy người hàng xóm, vợ chết chưa được trăm ngày đã cưới cô vợ bé, ông chép miệng: “Vô tình nào có ai ngờ, cạn sông mới biết rằng lờ hay hom”(*). Thấy nơi nơi, các ông chánh, phó tổng, các ông lý trưởng trong làng, năm thiếp bảy thê, mà ông tổng Thợi chỉ một bà cả, họ hỏi ông vì cớ gì mà ông cam chịu cảnh “cơm nhà, đít vợ”, (để miêu tả những anh chàng “đụt” chỉ biết có mỗi “cái” của vợ)  ông mỉm cười rồi đọc cho mọi người nghe: “Giang hồ mới trải mùi đời, có ăn gỏi cá, mới biết nhiều mùi rau thơm”. Người nghe phá lên cười, hiểu rằng ông quen thói “đi ngang về tắt”. Ông thường nói:  “Vườn rộng không trồng tre đằng ngà/ Nhà rộng không chứa khách đường xa”. Nhưng ai cơ nhỡ đến nhà xin tá túc vài ngày, ông đều dặn gia nhân đón tiếp chu đáo. Dân làng mến phục ông về cách xử sự đó. Nhiều người nghĩ rằng ông hay chữ, có việc gì “ đại sự” trong nhà, họ đến xin chữ ông. Một ông thợ mộc làm xong nhà, xin ông bức đại tự, chẳng hiểu học ở đâu, ông cho bốn chữ: “Cao cư lư xa” ( có nhà cao, có xe đi) nhưng đọc lên lại có âm hưởng “kéo cưa lừa xẻ”. Một gia đình làm lễ thượng thọ cho cụ ông 90 tuổi, đến xin ông đôi câu đối. Ông học ở đâu không biết, viết mừng gia đình: “ Phúc sinh phú quý gia đường thịnh / Lộc tiến vinh hoa tử tôn vinh.”

Vậy mà trong đời, ông có một lần ôm hận vì cái tính bông đùa đó. Và ông cũng đã chết vì tính bông đùa đó.

Một đêm ba mươi Tết, ông gọi gia nhân căn dặn:

- Đêm nay là đêm trừ tịch, trộm sẽ vào nhà ta. Trộm này là trộm quen, vì đàn chó nhà ta thì phi người quen không ai vào nổi. Trộm sẽ vào cổng chính. Hãy bắt vào đây, ta sẽ dạy cho nó bài học.

Quả nhiên, giữa đêm đen như mực, gia nhân tóm gọn tên trộm dẫn vào cho ông chủ. Tổng Thợi nghiêm sắc mặt:

- Tội này, đánh chết, vứt ra bờ sông là phi tang.

- Lạy ông!

- Còn muốn kêu oan gì thì nói.

- Lạy ông! Ba mươi Tết rồi, bốn bố con không còn hạt gạo trong nhà. Biết ông là người nhân đức, con đến  trộm ít gạo.

Tổng Thợi cười cười (Ông nhớ đến một hoàn cảnh… ông nghe ở đâu đó):

- Anh định xin ta bao nhiêu gạo ?

- Con định xin ông một thúng.

Ông lập tức quyết định, cả gia nhân lẫn tên trộm sửng sốt:

- Lấy ra đây một thúng gạo và năm chục vuông vải.

Giọng ông oai nghiêm như khi ông quất ba toong vào những tên bị ông bắt:

- Ta cho anh thúng gạo, và năm chục vuông vải. Nhưng để nhắc anh nhớ từ nay về sau đừng ăn xin kiểu nhơ nhuốc đó, ta bảo gia nhân quấn vải quanh người anh, quấn đến đâu, đổ gạo vào đến đó.

Quấn vải, đổ gạo vừa được một thúng và vừa đủ năm mươi vuông vải, ông bảo gia nhân dẫn tên trộm qua cổng chính. Anh ta đi thật khó khăn, nhưng gượng từng bước, hy vọng đến giao thừa thì cố “lết” về đến nhà.

Trong đêm tối, không ai nhận ra anh. Và anh cũng gắng gượng từng bước, chậm từng bước trong niềm vui mà về. Sự tình xảy ra thật thương tâm. Khi về đến nhà, con chó chạy ra , lúc đầu sủa ầm ĩ, nhưng sau nó nhận ra chủ, nó nhẩy chồm lên người anh. Các con anh chạy ra, thấy một cái đống gì to lừng lững, tưởng đó là ma. Con chó chồm lên, lúc đầu anh còn cố sức, nhưng sau ngã vật xuống đường. Thằng con trai lấy gậy đập tới tấp vào cái đống to lù lù như ma ấy. Gạo vung vãi tung toé, trắng xoá cả mặt đường. Khi các con đốt đuốc để xem sự tình, thì bố đã chết. Tiếng khóc vang trong đêm ba mươi Tết vang càng xa. Tổng Thợi cho gia nhân đi xem, về kể lại, tổng Thợi nằm suốt đêm không ngủ. Sáng hôm sau, tổng Thợi cho gánh một gánh gạo để các con làm ma cho bố. Người làng hiểu sự tình, trách tổng Thợi thì họ cũng chẳng trách, giận tổng Thợi thì họ cũng chẳng giận. Chỉ có ông từ coi đền bình phẩm “Cái thiện và cái ác cách nhau có một nén nhang mà thôi”.

Chuyện đó dân làng sớm quên, vì một chuyện tày trời sau đây.

Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945. Chúng ra lệnh phá lúa trồng đay. Các nơi đều phải thực hiện lệnh đó. Riêng tổng Thợi không thực hiện. Ba viên sĩ quan Nhật về tổng để trực tiếp ra lệnh phá ruộng lúa , trồng đay. Tổng Thợi mặc áo quan hàng tổng, cưỡi ngựa ra đầu làng nghênh tiếp, dẫn mười trai làng mang giáo  hùng dũng theo sau. Tổng Thợi dặn nếu quân Nhật chém ông thì tất cả xông vào đâm chết chúng nó. Ông bút đàm với người Nhật.

Sĩ quan Nhật hỏi:

- Vì sao dân làng chưa phá lúa trồng đay ?

- Thưa quý quan, dân chúng tôi xin quý quan cho chậm lại một thời gian.

- Một thời gian là bao lâu ?

- Thưa quý quan, dân tổng tôi đang đói, chỉ trông chờ ngày gặt lúa. Cho chúng tôi hai tháng nữa.

- A tên này dám chống lệnh !

- Thưa quý quan, lúa đang vào hạt, chúng tôi phá đi là chúng tôi có tội với trời. Tôi ra lệnh phá lúa là tôi có tội với dân làng.

Một viên quan  Nhật rút gươm khỏi vỏ. Tổng Thợi vẫn điềm tĩnh:

- Nếu quý quan là tôi, và những người dân này là người Nhật, quý quan có bảo họ phá lúa đi không? Chẳng thà tôi chết vì lưỡi gươm của quý quan, tôi còn ngẩng mặt nhìn dân tổng tôi dưới suối vàng.

Những viên sĩ quan Nhật nhìn mặt  trai làng tay nắm chắc ngọn giáo như đang sẵn sàng xông lên vì chủ, tên sĩ quan tra gươm vào vỏ, quay ngựa cùng rút.

Dân tổng không phải phá lúa. Người ta quên tất cả chuyện đùa cợt, hách dịch của ông. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được dân làng bầu làm Chủ tịch ủy ban kháng chiến của xã.

Năm 1947, gia đình bố mẹ tôi ở thị xã Ninh Bình tìm nơi tản cư. Người ta bảo gia đình đông người, bố mẹ tôi và sáu người con, họ giới thiệu đến ở nhờ ông tổng Thợi một thời gian. Tôi biết ông từ ngày ấy và còn nhớ ông cho đến ngày hôm nay. Dãy nhà ngang khá  dài. Gian chính giữa là văn phòng ủy ban. Ông cho bố mẹ tôi ở gian đầu. Hàng ngày bố mẹ tôi đi chợ bán thuốc. Chúng tôi ở yên trong nhà. Khách ra vào nhà ông Chủ tịch rất đông..

Một hôm, tôi nghe qua bức tường ngăn. Dáng chừng là người từ trên huyện về.

- Ông Thiện này (sau ngày cách mạng, dân làng không gọi ông là tổng Thợi nữa), có mười bảy lá đơn kiện ông, hôm nay tôi về đây chỉ xét một lá này thôi.

Chủ tịch Thiện nghiêm giọng:

- Ông cho mấy anh lính này về bắt tôi à? Ông bảo họ ra khỏi nhà tôi ngay. Ông Chủ tịch, tôi cũng Chủ tịch. Hôm bầu cử , đàn bà con gái “vén váy quai cồng”  chạy từ đồng về bỏ phiếu cho tôi làm Chủ tịch. Vậy mà ông đưa lính vào ủy ban định bắt tôi hả?  Mấy anh “quân sự”  biết tiếng ông rồi, lặng lẽ rút ra cổng.

- Chủ tịch huyện nói đi.

- Lá đơn này, họ kiện ông đánh người ăn tiền. Có đúng không ?

Chủ tịch Thiện mỉm cười.

- Có.

- Cụ thể ông đánh người, ông ăn tiền như thế nào?

Chủ tịch Thiện  trả lời gọn gàng:

- Thằng Xuân con nhà Cảnh, đi họp đội thiếu niên về gọi bố nó là “đồng chí Cảnh ”. Bố nó cũng là con nhà gia giáo gặp tôi, nhờ tôi dạy cho thằng Xuân một bài học. Dân chủ gì dân chủ, trên dưới trong nhà phải có tôn ti trật tự, không thể cá mè một lứa, bố là bố, con là con, không bằng vai phải lứa như thế được. Tôi gọi thằng Xuân đến, nện vào mông nó ba cái ba toong. Tất nhiên là đánh nhẹ thôi, chứ mà đánh bằng tay thước như ngày trước thì nó chết. Từ đó thiếu niên trong làng không dám dân chủ quá trớn. Đến ngày nhà nó tát ao, bố mẹ nó nhớ công tôi dạy con, mang biếu tôi một con cá. ừ thì một con cá mà con biết lễ nghĩa thì làm sao tôi từ chối. Đánh người là tôi đánh như thế, và ăn tiền là ăn như thế. Ăn cá chứ ăn làm sao được tiền.

Đoàn cán bộ huyện đành cười xòa với ông Chủ tịch xã.

Trước khi ra về, Chủ tịch huyện niềm nở:

- Xã ta phong trào du kích rất tốt. Có ông Binh Lý huấn luyện quy củ lắm. Các đoàn thể Phụ lão cứu quốc cũng mẫu mực. Dân làng chỉ phàn nàn ông Chủ tịch vẫn hách dịch như thời làm Chánh tổng. Ông thay đổi cách cư xử cho phù hợp với chính quyền dân chủ mới.

Chủ tịch xã cười xoà, giọng vẫn như đùa :

- Chính trị của tôi là cái ba toong… Cứ ba toong là đâu vào đấy. Ông cười “từ ngày làm Chủ tịch, vợ tôi chỉ trông vào cái thớt”.

Mọi người cười đứng dậy. Chủ tịch Thiện ra hiệu mời mọi người ngồi.

- Mấy chú lính, gia đình tôi đã làm ăn cơm rồi. Từ đây về huyện cũng xa. Hôm qua nhà tôi đánh được con cầy hương, thịt nó thơm lắm. ở lại đây với tôi.

Sau ngày kháng chiến thành công, chúng tôi về thăm ông tổng Thợi. Thật buồn đến nao lòng khi nghe tin ông bị Tây bắn chết.

Làng làm lễ xuất quân cho ngót trăm thanh niên lên đường. Ông Chủ tịch xã mổ lợn khao đoàn “Vệ quốc trẻ” một bữa. Bát đũa còn để ngổn ngang trong căn nhà ngày trước bố mẹ anh chị em được ông cho ở nhờ. Chẳng dè ngày hôm sau, bọn Tây kéo quân đi càn qua làng, vào nhà ông, trông thấy bát đĩa ngổn ngang, thằng chỉ huy hỏi:

- Ông vừa tiếp đón “Vẹm” phải không? (Vẹm là hai chữ Việt Minh V.M đọc tắt.)

Ông bình tĩnh trả lời :

- Gia đình tôi sắp có giỗ.

Đứa con trai của người đã từng vào nhà ông ăn cắp, vẫn còn thù ông, nay đi lính cho Pháp, nó nói với tên sĩ quan Pháp :

- Hôm qua bộ đội của làng đã tập trung ở đây. Ông Chủ tịch xã mổ lợn đãi họ trước giờ lên đường.

- Có phải thế không? Tên Pháp hỏi.

Ông Thiện điềm tĩnh trả lời :

- “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” (*)

Viên thông ngôn dịch :

- Từ xưa cho đến nay, đã mấy người ra trận còn được trở về !

- Có mấy người  ra trận còn được trở về ! Cả ta cũng thế ư ?

- Vậy mà, ông Thiện đọc tiếp:  “Khả liên Vô Định hà biên cốt/ Do thị xuân khuê mộng lý nhân”(*); Ông đọc luôn lời dịch: Thương thay xương bãi sông Vô Định. Giấc mộng phòng khuê vẫn thấy người. Người ra trận chết rồi, người ở nhà còn nằm mơ thấy họ. Tôi thương họ, tôi mổ lợn khao họ một bữa. Vì biết đâu ngày mai…

Kẻ phản bội hét lên:

Tên này độc ác lắm. Hãy bắn chết nó đi !

Ông tổng Thợi của tôi đã chết trong một trận càn như thế, với cái triết lý nhân văn về chiến tranh ông đang muốn cảnh báo cho tên lính Pháp./.

V.H.L

 
Trái tim tự thú

 

Truyện ngắn: Trần Đức Lộc

 

Anh ơi, mãi mãi em chỉ là một người đàn bà mềm yếu. Chưa bao giờ em thấy mình đủ sức mạnh để vượt lên, trả cho trái tim em nguyên vẹn là nó. Có lẽ chỉ một lần, một lần duy nhất, khi em gửi cho anh bài thơ “Mê lộ”. Ôi, bài thơ như là định mệnh, như là cơn lốc cuốn hồn em về phía anh. Chỉ một lần, không biết sao em lại đủ sức mạnh, đủ dũng cảm ấn vào bàn phím để cho những con chữ lao về phía anh. Và cũng bắt đầu từ đó, em đã không còn là em của ngày hôm qua hôm kia nữa. Em như thấy mình vừa mới lớn. Em như vừa biết yêu và hơn bao giờ em đang được anh yêu. Sau phút giây ngất ngây ấy, em lại thấy ân hận, lại thấy mình có tội, lại như không đủ dũng khí nhìn vào đâu nữa, ngay cả đôi mắt trẻ thơ hồn nhiên của đứa cháu, con thằng lớn nhà em. Phải chăng em đang lừa dối mọi người, lừa dối cả đứa trẻ bập bẹ hai tuổi đầu kia? Em lừa dối tất cả mọi tín điều bấy lâu nay em đang sống?

Em yêu anh rồi ư? Đúng! Quả tim em nó nói thế. Rất thành thật, không thể khác hơn! Sao em lại có thể yêu anh? Em, một người đàn bà đã có chồng, đã có một gia đình, có một đàn con tới bốn đứa. Em yêu anh được ư? Em, một cô giáo dạy văn, luôn nói đến cái hay cái đẹp, cái tốt và cái xấu trước bao nhiêu những gương mặt trong trắng. Em – một trong những đại diện cho mục đích hướng thế hệ trẻ vào một trật tự của đạo đức?

Thế mà em lại yêu anh! Lẽ nào trái tim em đang nói thật, thật như không còn gì có thể thật hơn. Đâu như quanh em đang bảo em không được thế, mình phải biết tự dối chính mình. Chao ôi, khi em lừa dối được trái tim em thì đấy là đạo đức, đấy là sự thánh thiện của gia đình và phẩm hạnh ư?

Anh có biết một tối em bảo với chồng em: “Giả sử bây giờ em có một người đàn ông khác để yêu, yêu thực sự thì anh nghĩ sao”. Và chồng em đã bảo: “Nếu thế thì cả xã hội này điên loạn hết, làm gì còn Con Người, băng hoại, băng hoại tất…” Em đã hoảng hồn. Cả người em run lên, may là trời đang rất lạnh, anh ấy không nhận ra. Từ hôm ấy, em càng như thấy mình ngày một tội lỗi lớn hơn, lúc nào cũng muốn tránh ánh mắt của anh ấy. Người đàn bà mềm yếu trong em lại trở lại làm một người vợ ngoan, đức độ.

Cả một tuần sau đấy em đã im lặng không vào mạng trò chuyện với anh, cả tin nhắn em cũng tắt hết, không nhận và không gửi. Anh thì nghĩ là em bận bịu công việc và có lý do nào đấy buộc em phải tắt máy. May là anh không trách và sau anh cũng không nhắc nhỏm gì đến mấy ngày ấy nữa.

Nhưng mà anh ơi, chỉ có em là biết em đang dối lừa anh, em đang lừa dối trái tim em. Càng im lặng, em càng bắt quả tim phải gian dối, và em lại càng thấy yêu anh hơn, càng đòi mình phải sống thật với mình hơn.

Hôm chồng em đi họp hội nghị các nhà giáo ở Sài Gòn một tuần, em nhắn anh vào với em ngay tức khắc, anh còn nhớ? Thế rồi chỉ một đêm em đã quay ngoắt lại. Sáng sớm hôm sau em vội vã bảo anh không được đến em nữa. Em sợ. Em sợ lắm, em không thể. Em biết em không đủ can đảm để đón anh. Em biết em rất mềm yếu và em sẽ ngã vào vòng tay anh, em sẽ là một con đàn bà ngoại tình thực sự. Trời ơi, trái tim em lúc ấy giá mà anh biết được. Nó tan nát đến thế nào. Em đã tàn nhẫn với nó và vùi dập nó bất chấp chân giá và sự công bằng. Trái tim em chưa kịp cất lên tiếng hát của tự do và trung thực thì em đã lại giam hãm nó, bắt nó phải chịu mọi ngón đòn của phẩm hạnh, của tiết hạnh…

***

Sau trận ấy, em ốm suốt một tuần, con gái lớn vội về và lao vào bệnh viện chăm nom em. Thầy thuốc bảo em bị cảm, bị sốt vi rút, bị gì gì nữa, họ làm sao bắt được đúng bệnh hở anh? Giá mà anh ở gần, thế nào anh cũng biết, anh biết rõ trái tim em mà. Yêu có là một tội lỗi không anh?

Nghe thì có vẻ rất buồn cười, nhưng không đâu, anh thực sự là mối tình đầu của em đấy. Em lấy chồng nhưng có phải là tình yêu đâu, ngày ấy em chưa biết thế nào là yêu. Quả tim em nó ngu ngơ lắm. Nó thấy có người đàn ông săn đón mình, có người đàn ông mê muội vì mình và nó đã mềm yếu lầm tưởng, cứ sống với nhau sau ngày cưới là sẽ dần dần có tình yêu, là sẽ có hạnh phúc và có đủ một đàn con đông đúc là sẽ vợ chồng cơm dẻo canh ngọt.

Anh có biết không, chồng em chỉ hơn em bảy tám tuổi, nhưng anh ấy là thầy của em. Anh ấy theo đuổi suốt ba năm em học trung cấp. Và anh ấy không chỉ dạy mà còn học cả cho em.

Anh ấy đã giữ gìn em như giữ gìn báu vật của mình. Không một tai tiếng gì xảy ra trong khóa học. Và em đã vô cùng khâm phục anh ấy. Rồi ngày cưới cũng tự nhiên như cái gì đến tất phải đến. Bao giờ thì em cũng chỉ là người đàn bà mềm yếu. Bao giờ em cũng chỉ là cái bóng của anh ấy.

Nếu ai hỏi không yêu anh ấy, sao em lại có với anh ấy đến bốn đứa con, thì em sẽ bảo là, anh có tin không, nghĩa vụ làm vợ của em phải thế. Cả đời em có chống lại được ai đâu. Sức mạnh ở quanh em chứ không ở trong con người em, không ở trong trái tim em, trừ có một lần duy nhất, em bấm cho anh bài thơ “Mê lộ” .

Hôm em ốm, con gái em nghe điện thoại của anh gọi, anh còn nhớ? Nó là đứa hiểu và thương em nhất. Nó đã mấy lần bóng gió là nó thông cảm và không trách gì em. Nó như đi guốc vào trong bụng em vậy. Nó được học hành va chạm hơn hay nó mới hơn, hiện đại hơn mọi thước đo chuẩn mực xưa nay. Nó có nhiều bạn trai nhưng chỉ có một người để yêu và chúng sắp cưới nay mai. Nay mai em được làm mẹ vợ, được làm bà ngoại, được đặt lên nấc thang vọng trọng cao hơn. Và nay mai em cũng sẽ phải sống giả dối hơn. Không yêu anh, em cũng là kẻ giả dối, mà yêu anh, em cũng là kẻ giả dối, phải không anh? Trái tim con người sao khổ thế, nó cứ làm cái việc trái với mọi thước đo của người đời.

Nói anh đừng cười. Quá nửa năm nay, đêm đêm em trốn biệt vào phòng riêng khóa trái cửa lại. Em quyết làm một cuộc ly thân với anh ấy. May mà anh ấy không nói gì. Vẫn vui vẻ như không có chuyện xảy ra. Anh ấy giả đò hay anh ấy cho rằng ở tuổi em mọi khát muốn, mọi dục vọng đã không còn, hoặc còn rất ít? Các con em cũng không đứa nào biết bố mẹ nó đang có chuyện gì. Nhà vẫn êm đềm nề nếp. Chỉ đứa con gái kia mỗi lần nghỉ lễ về nhà là kín đáo cười với mẹ.

Bây giờ đã ai biết là em yêu anh, là em có nhân tình nhân ngãi đâu. Họ hàng nội ngoại vẫn nể trọng em, cô bác vẫn lấy em làm gương răn dạy con cái họ. Cả trường em tôn trọng em, không chỉ vì em dạy giỏi mà còn vì nhân cách của em, không ai chê trách. Em vừa nhận quyết định đề bạt Hiệu phó, anh bảo thế có chết không? Anh có biết là em muối mặt với em như thế nào không? May là anh ở rất xa em, xa em đến cả ngàn cây số đấy anh nhỉ. Anh và em muốn gần nhau, muốn cuốn vào nhau như rơm với lửa cũng không thể. Em thì mềm yếu, còn anh thì cháy bỏng thế kia, làm sao giữ được nguyên vẹn cho em. Em nghĩ đến đức độ, đến tiết hạnh mà ghê sợ…

Các bài thơ của anh gửi, em đều chép lại vào một quyển riêng. Anh có biết bao nhiêu không? Gần trăm bài đấy. Anh thật tuyệt! Làm sao em lại có thể không yêu anh cơ chứ. Con gái em đã vô tình đọc tập thơ ấy và tra em. Nó ghen tị với em. Và sau khi đọc thơ anh nó đã hiểu, thông cảm với em. Bây giờ em đã có một đồng minh ngầm ủng hộ mình rồi. Nó hỏi anh đã có gia đình mấy con rồi, em nói là chưa, nó không tin anh ạ. Tin làm sao được. Ngay cả em, phải qua các bạn anh, em mới tin là thật. Em biết có nhiều người đàn bà muốn gần anh, trò chuyện với anh, nhưng khi bảo đồng hành cùng anh đi về phía trăm năm thì họ sợ, họ lùi ra xa rồi chạy biến không quay đầu lại…

Giá mà em gặp được anh từ hai nhăm năm trước. Giá mà có cơn lốc xoáy nào đó cuốn em đi khỏi cái nơi em đang sống và ném bịch xuống trước anh. Ôi, nhiều lúc em ngẩn người ra mong một phép lạ.

Không có một phép lạ nào cho em cả. Chỉ có trái tim đang làm một việc kỳ lạ, có một không hai. Người ta bảo quả tim con người kỳ diệu lắm phải không anh? Em cũng cảm thấy nó rất kỳ diệu. Trí tuệ con người còn có các cỗ máy chen vào làm hộ, nghĩ hộ, lo lắng hộ. Nhưng quả tim, đã có loại máy nào thay thế nó rung động, yêu ghét hộ đâu. Không có cỗ máy nào thay thế được trái tim em để yêu anh, và cả để được anh yêu.

Em khâm phục trái tim em bao nhiêu thì em căm ghét con người em bấy nhiêu. Phải chi em rũ bỏ được tất cả để nghe theo tiếng gọi của con tim. Phải chi em có thể cải lão hoàn đồng? Trời ơi, có phải em hèn đớn quá không anh? Con người thế tục chính là em đấy. Em chính là thế hả anh?

Em đã định không bao giờ kể anh nghe chuyện ốm đau của anh ấy, và rồi em sẽ tìm cách biến đi đâu đó cho anh không thể nào tìm được em, để anh phải quên em đi, để trái tim em có thể một mình chống chọi với chính em.

Anh có biết là chồng em bỗng dưng đổ bệnh không? Đúng ra là anh ấy đã cố giấu cả nhà. Các bác sĩ nói riêng với em là còn nước còn tát và có thể kéo dài được đôi năm nữa, hy vọng là hơn. Để điều trị căn bệnh này, y học đang có nhiều tiến triển nhảy vọt.

Chợt nghĩ đến mối tình của chúng ta, em cho là điều mừng. Em cho là trái tim em có cơ hội để được tự do làm cái điều mà nó cần làm, nó đang khao khát được làm. Suốt bao nhiêu ngày em hí hửng mừng thầm. Có lúc chỉ một mình trong phòng tắm, em còn khe khẽ hát nữa. Mặc dù phải đi lại trông nom anh ấy rất mệt nhọc nhưng em lại ngủ ngon giấc hơn, ăn uống ngon miệng hơn lên.

Được thế không lâu, em bỗng ngộ ra. Thì ra mình đang mong chồng mình chết. Mong bố của các con mình không sống nữa để làm một cái việc tày trời. Em như là kẻ giết người vậy. Và em bắt đầu nguyền rủa em, em ghê tởm em. Em thấy trái tim em sao mà man rợ đến thế. Giá nó là cái củ chuối nằm kia thì em phải băm vằm ra trăm vạn mảnh.

Anh ơi, em ghét anh. Em ghét anh. Sao anh lại có ở trên đời này. Sao ông trời lại xô anh vào với em, để cho em mụ mị? Sao lại có cái “Mê lộ” chết tiệt ấy chứ? Sao có thể kéo dài đến ba năm trời một cuộc tình vụng trộm, dù chỉ là một cuộc tình ảo trên mạng. Sao không ai biết được cái việc xấu xa này nhỉ. Sao cái con biết kia nó lại câm như hến thế? Lẽ ra nó phải lu loa lên. Bố nó mà nó không biết bênh vực. Cái tổ ấm của nhà nó mà nó không biết bảo vệ. Thật là ngu ngốc!

Rồi em đùng đùng đốt hết tập thơ của anh. Khi những vệt lửa cuối cùng của ngọn lửa vừa tắt và những tàn tro chưa kịp cuốn đi hết thì em đã òa khóc. Em khóc như một con điên. Em khóc không còn biết trời đâu đất đâu, không còn biết xung quanh mình có ai. Chẳng một ai biết đích thực vì sao em khóc. Có lẽ mọi người nghĩ là em khóc vì chồng em ốm đau tật bệnh, vì tai hoạ bỗng dưng giáng xuống em, xuống gia đình nhà em. Chỉ cái con ngồi kia, cái đứa con gái đồng minh ngầm của em kia là nó biết rõ.

Từ sau hôm ấy, em lặng lẽ và cần mẫn chăm nom anh ấy. Vốn tính em vẫn luôn chu đáo với người thân, với những người mà em gần. Em đôn đáo nhờ người này người nọ tìm mua thuốc bệnh cho anh ấy. Tứ phương, phương nào em cũng vái.

Rồi bệnh anh ấy đỡ dần. Em lại được họ hàng, chúng bạn tụng ca đủ khúc, hệt như người ta đã vinh danh các thầy cô nhân ngày 20/11 ấy.

***

Bây giờ anh đang làm gì, anh đang viết? Anh có viết được không? Anh thừa biết là em đã thay sim khác. Địa chỉ trên mạng em cũng thay mới, mà nhà cửa em ở đâu anh nào có biết. Thơ anh viết nói cuối đất cùng trời anh cũng tìm, thực ra anh có đi tìm không? Anh tìm em ở đâu? Tám tháng rồi mà chưa thấy anh đến cửa. Hay là anh đến rồi mà em không biết. ừ nhỉ, em có biết mặt anh đâu. Hay là cái hôm có một người đàn ông đứng ở bên kia đường rất lâu, như là đang nhìn chéo sang ấy chính là anh???

 
Quê nhà kỳ giáp hạt

Tản văn: Phạm Quang Huy

Ngày xưa ở quê kỳ giáp hạt, có ngày hết gạo phải nhịn cơm mà kiếm tìm cái ăn cho qua bữa, chỉ ưu tiên trẻ nhỏ mấy bữa gạo nấu cháo loãng.

Đồng ruộng mênh mông nhưng bỏ hoang hóa nhiều, đầm đìa thùng vũng bờ bãi, chỗ nào cũng lắm cua cáy tôm cá, cứ chịu khó lặn lội là có cái ăn chống đói.

Chị dâu trao thằng Mầm tôi bế, chị ra đồng bắt cua. Mẹ bảo chị: “Nay trời nắng nóng cua ngôm nhiều, con mang cái giỏ sồng mẹ để trên sàn bếp đấy con ạ!”

Nghe mẹ dặn, chị thay quần áo đội nón xách giỏ ra đi. Tôi bế thằng Mầm ra cửa dạy cháu vẫy tay chào mẹ. Trên ngọn cau ngoài ngõ bày chim sẻ ríu rít bay lượn. Dưới góc hè mẹ con nhà mèo ngồi rình lũ chim. Mèo mẹ rướn lấy đà “phốc” một phát tót lên thân cau, lũ con bắt chước mẹ leo cau. Thằng Mầm hướng nhìn chúng thích thú tới lúc buồn ngủ tay dụi mắt. Hai cô cháu vào võng ngồi nghêu ngao hát: “Con mèo mà trèo cây cau...” ru một lúc thì nó ngủ. Tôi tranh thủ xuống bếp đun niêu cháo, chờ khi dậy cho cháu ăn.

Mẹ sang hàng xóm chơi, khi về bà xin một khúc cây chuối hột non với đủ loại lá thơm chanh ớt. Mẹ bắt tay vào thái ghém làm mẻ rau sống cho bữa canh tối nay. Chiều hè êm ả thoáng đãng, mặt ao nước trong mát, bè rau rút ngọn non dài mập, tôi ào xuống hái nhặt rửa sạch làm gia vị không thể thiếu cho món canh chua.

Mãi xế tà, chị dâu tôi về bê giỏ đầy cua, công sức cả chiều nắng nóng ngoài đồng. Thế là bữa tối có món ăn, tôi bắt tay ngay vào việc rửa cua cho sạch để chị đi tắm giặt. Cua đổ đầyvào nồi hông đất to, những con cua kềnh càng giương lên hung dữ nhưng cũng chẳng thoát khỏi đôi tay chị em tôi xé xác. Rổ cua làm xong chị bảo phải xóc ít muối khi giã nước không tanh và chia thành từng mẻ trong cối giò đá giã và cho vào rá lọc nước, giã đến ba lần mới bỏ bã đi. Nồi nước cốt cua đặc sánh như mật ong, mầu nâu đậm như sông Hồng mùa lũ.

Việc chế biến bữa ăn, chị dâu tôi rất đảm đang thành thục. Về làm dâu, anh trai tôi đi bộ đội, chị quán xuyến mọi công việc giúp mẹ. Mẹ coi chị như con gái. Chị là chị cả của các em, cả nhà đều thương yêu chị.

Thằng Thắng đi học về nhìn nồi cốt canh mừng hớn, ra tay giúp các chị. Nó cặm cụi gảy từng cái mai cua được đầy bát gạch cua vàng ngậy. Chị sắp sẵn cà chua, me, gia vị hành, mỡ. Tôi phi gạch cua, mùi thơm váng cả xóm.

Chị dâu bê nồi cốt cua lên bếp dặn tôi đun khi nước sủi thì cho nhân gạch cua vào nồi, đến lúc sôi chín kỹ, những tảng gạch cua nổi dần lên như miếng bánh đa quạt váng sao. Mẹ bê ra một rổ bánh đa đỏ khô (loại bánh này bà cất kỹ dành cho bữa nay). Tôi cho bánh đa cùng rau rút vào nồi, thế là được nồi bánh đa cua tỏa khói thơm nồng hương vị đồng quê.

Thằng Thắng trải chiếu ngoài sân dọn mâm bát, nồi canh bưng ra. Cả nhà ngồi quây quần. Chị dâu chu đáo múc ra từng bát cho mỗi người. Mẹ cầm cái bát đàn múc phần cho cháu, đợi khi nó ngủ dậy. Mẹ soạn bát mắm cáy xổi vắt chanh ớt sủi bọt chấm với mẻ rau ghém bày đầy trong mâm.

Chị dâu tôi chăm chút múc canh tiếp cho mẹ và hai em. Mẻ rau trong mâm vơi lại đầy. Bát canh nóng tỏa khói ấm lòng dai giòn mềm nâu hồng quyện mùi thơm rau lộc đậm đà vị ớt, hương chanh của bữa ăn gia đình, chả mấy chốc nồi canh chạm đáy. Thằng Thằng vét không sót sợi bánh dính, mới đứng dậy vuốt bụng xách nồi ra cầu ao cho chị rửa.

Bà vào nhà đón cháu Mầm dậy, bế ra ngồi bón cho nó từng muỗm canh mà nựng yêu “Ngoan nào, cháu bà ăn ngoan chóng lớn...” Bà trao thằng Mầm sang cho chị dâu, nó vơ núm vú mút chùn chụt đôi bầu sữa căng tròn.

Thằng Thắng ra vuốt yêu lên má cháu, nhấm nhá với chị: “Mai chị lại bắt cua nhá, canh ngon lắm!”, rồi quay sang hỏi mẹ: “Mẹ còn nhiều bánh đa nữa không?”

Mẹ vừa têm miếng trầu vừa nhẩn nha nói:

“Mẹ còn nhiều, mấy hôm nữa vạt lúa “chăm” ngoài đầm chín, con quẩy về vò kỹ mới có thóc xay gạo làm bánh chứ”

Thắng nghĩ việc quẩy, vò lúa chăm thì giẫy nẩy nói: “Lúa cây bằng cái nơm, con quẩy sao nổi, thóc hạt dai râu dài nhọn như kim đâm vào chân đau lắm”.

Mẹ cười bảo: “Ăn thì dễ làm thì khó”

Chị dâu tiếp luôn: “Em ngoan, học giỏi, lớn đi làm có tiền cho mẹ. Việc thóc lúa có chị”. Thắng quay sang hỏi mẹ: “Mẹ cho con tiền mua mực” mẹ móc túi còn 5 xu đưa cho con. Thắng mừng có tiền vào thắp đèn ngồi học.

Cả nhà ngồi bên cháu chơi. Thằng Mầm tròn mắt nhìn đàn chim xếp thành hình mũi tên bay trên khoảng trời, gió mát hây hây, hương cau thoang thoảng. Trăng đã lên tỏa sáng khắp sân nhà. Thằng Mầm trong vòng tay mẹ hóng chuyện chơi trăng.

Mỗi dịp về quê tôi lại ra thăm chị dâu, ăn bát canh bánh đa cua chị mở quán hàng đầu làng, nay là món đặc sản quê hương. Hai chị em ôn lại thời giáp hạt đã qua với bao kỷ niệm ghi đậm trong ký ức cảnh đầm ấm thắm đượm tình gia đình, lòng bùi ngùi thương nhớ mẹ vất vả tần tảo lần hồi nuôi đàn con khôn lớn./.

 

“Chăm”: Loại thóc chuyên làm bánh đa, bánh đúc cấy ở đất vỡ hoang đầm, đìa. Hạt to có râu như kim nhọn.

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)