Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 13 khách Trực tuyến
Văn học
Bình yên tháng Bảy…

Có những ngày tháng Bảy thật mong manh. Đi chưa hết con phố đã thấy lòng mình quay quắt nhớ. Vô tình chạm vào một thói quen, lại thấy tháng Bảy quê nhà hiện lên xanh ngời trong từng nếp nghĩ. Tháng Bảy lại ùa về trong vồn vã yêu thương. Sau bao biến cố cuộc đời, ta vẫn mơ một ngày trở về với tháng Bảy quê nhà. Tháng Bảy bình yên với những buổi chiều quê thong dong trên con đường làng quanh co, lồi lõm. Nơi có đám trẻ mục đồng chạy lon ton trên cánh đồng quê nứt nẻ. Những tiếng gọi nhau í ới, câu hát đồng dao quen thuộc, chùm trái cây dại tòn ten đã dắt tôi qua những tháng ngày cơ cực đầy ắp niềm thương mến, để tuổi trẻ qua đi, ta vẫn tiếc hoài năm tháng tuổi thơ.

Cơn mưa tháng Bảy chợt đến, chợt đi cuốn xoay ngày vội vã, để những phút trầm ngâm đứng bên hiên nhà ta thấy mình khờ dại biết bao. Nhìn từng hạt mưa rơi tí tách trên nền cỏ xanh biêng biếc, bóng nước vỡ tan theo từng giọt đổ dồn. Ta lại thấy lại đời mình trong đám trẻ quê ríu rít khi cơn mưa về. Đám trẻ cởi trần tắm mưa, vùng vẫy trong mưa, ta nghe tiếng cười giòn tan trong từng tiếng mưa rơi tí tách, lạnh cả một niềm mong mỏi chưa nguôi. Ta đi trong cơn mưa tháng Bảy tràn về, mặc cho những hạt mưa tạt vào lạnh buốt, mặc con đường quê lầy lội, trượt trơn. Ta bấu chân vào đất quê, nghe lòng mình động run miền nhớ, khắc khoải một cuộc chờ cho ước hẹn ấu thơ. Bước trong màn mưa, từng giọt mưa trắng xóa tạt khuôn mặt đã bắt đầu lấm tấm nếp nhăn, để ta biết rằng nước mưa thì ngọt, nước mắt thì mặn. Ta trở về với miền đất dấu yêu, sau những rối bời muôn thuở. Tháng Bảy quê nhà lại dang tay ắp ôm ta vào lòng. Ta như đang trôi giữa màu xanh bạt ngàn của quê hương, của những mối thân tình vẫn vẹn nguyên như thuở ban đầu.

Tháng Bảy về, cánh hoa mỏng manh rơi trên con đường vắng lặng. Cội phượng già loang lổ vết thời gian. Dưới tàn cây xanh bóng, ta đứng lặng nhìn mùa trôi về tít tắp, chỉ có ánh nhìn còn sót lại, đau đáu kiếm tìm một hình bóng đã mãi xa ta.

Ta trở về với xóm nhỏ ven sông. Những đứa trẻ quê ngày nào đã rộng dài muôn hướng, để ta mãi lạc nhau trong dòng đời tất bật. Cầm trên tay những điều bất trắc, ta lặng nhìn dòng sông cuộn mình về với biển. Con sông trải qua bao thăng trầm vẫn lặng lẽ trôi đi không bao giờ ngơi nghỉ. Trong dòng nước đỏ ngầu phù sa đó, có dòng nào mang theo ánh nhìn của người đứng bên kia bờ sông gởi về nơi xa vắng?

Mẹ vẫn đứng chờ nơi bậu cửa, câu hát ầu ơ bên cánh võng cứ theo ta đến mọi phương trời. Gối đầu vào òng mẹ, ta thấy mình vẫn bé bỏng như xưa. Dáng mẹ đã gầy hơn xưa, đôi tay run run mẹ vuốt ve ta trong cơn ngủ vùi bất chợt. Từng câu hát của mẹ đưa ta qua bao nỗi thăng trầm dâu bể. Vùi vào hơi ấm của mẹ, ta thấy lòng mình an yên đến lạ...

Trên chiếc xuồng con, ba vẫn lặng lẽ cùng ruộng đồng suốt bốn mùa khó nhọc. Ba vẫn lầm lũi với những nỗi niềm cha giấu kín. Người đàn ông quê mùa ít nói mà chan chứa yêu thương. Là những khi giật mình thức giấc, ta thấy ba ngồi lặng lẽ nhìn từng quyển vở của các con; là lúc ba khẽ mỉm cười khi nhìn thấy những đứa con trở về ríu rít bên chân ba; là những lúc ba trốn tránh nỗi buồn khi tiễn các con đi tìm vùng đất mới. Ngồi cùng ba với chiều chênh vênh nắng, nghe ba kể về tháng ngày đã qua, những lời của ba cứ dắt ta trở về với năm tháng tuổi thơ. Tưởng như mình đâu đã lớn bao giờ trong ánh mắt của ba?

Tháng Bảy lại về nhẹ nhàng gọi khẽ, ta bước qua những dùng dằng hối hả. Miền quê nhỏ vẫn êm đềm cùng ta qua những tháng ngày chông chênh sỏi đá. Ta lại về thủ thỉ cùng tháng Bảy quê nhà, để thấy rằng có bao giờ quê nhà bỏ ta đâu? Bước qua những ngày tháng Bảy bình yên, nhớ quá đổi những ngày xưa yêu dấu...

 

Tản văn: Nguyên Khối (Kiên Giang)

 
Ông Quân “ồ”

Ông lão dệnh dạng đi bộ trên đường bê tông nắng rát rạt. Hai tay nắm chặt ghi đông xe đạp, xem ra cái xe chỉ là vật để ông lão dựa vào cho khỏi ngã, mỗi bước lại thấy ông nhăn mặt xuýt xoa, hình như lão bị đau chân thì phải. Người làng trông thấy lão đều cúi đầu: “Chào cụ ạ!”. Lão dừng bước giương cặp mắt đùng đục nhìn người vừa chào cố nhận ra xem là ai và chắc cũng chả nhận ra ai nên đành cất tiếng “Phải” để giả nhời. Nếu người không quen chắc sẽ mất lòng vì cái câu chào lại xem ra có vẻ trịch thượng, nhưng người làng đều biết ông lão năm nay đã hơn 90 tuổi, là bậc cao niên nhất làng nên chả ai nỡ giận.

Cứ đi độ mươi bước ông lão lại dừng lại nhìn về trước như thể ước lượng cái quãng đường mình đi tới còn bao xa. ở đấy là “thủ đô” của xã có trụ sở ủy ban xã cùng với trường học, trạm y tế.

Đi ngược chiều ông lão là một người phụ nữ sồn sồn cắp thúng. áng chừng chị ta đi chợ về. Trông thấy ông lão dệnh dạng bước, miệng chị liến láu:

- Chào cụ Quân “ồ”. Nắng nôi thế này cụ đi đâu đấy? Gớm cứ tự đày mình cho khổ. Sao không ở nhà mà nghỉ.

Ông lão dừng hẳn lại nghiêng cổ nghe rồi toác cái mồm toàn lợi hì hì cười:

- Cái Chắt đấy hử! ồ, ồ cái thằng bố nhà chị... chỉ được cái nước láo. Mày đi chợ về đấy hử cháu? Ô xời... tao... tao đến trường cấp hai một tý.

Người đối diện ngỡ ngàng:

- Cụ đến trường cấp hai làm gì? Hay là cụ bây giờ lại xin đi học. Giá ngày xưa chịu khó học thì bây giờ cán bộ trung ương nhà lầu ở tận Thủ đô xe hơi đưa rước ấy chứ...

Ông già vẫn cười cười:

- Bố nhà chị... chỉ lỡm. Học cái gì mà học. Ô xời... sắp xuống lỗ rồi - Ông lão thở dài rồi nói nhỏ - Mày còn tiền cho ông vay hai chục... mai tao giả.

- Cụ vay tiền làm gì? Nộp tiền đóng học cho đứa nào à? Con cháu tận Sài Gòn, Hà Nội, có đứa nào đi học ở đây mà phải đóng tiền.

- Ô xời... Cái con này! Lắm điều quá. Mày có cho ông vay không thì bảo. Lại còn cứ lục vấn.

*

*  *

Ông lão tên là Quân. Từ nhỏ ông mồ côi bố mẹ phải ở với chú. Nhà chú đông con nghèo rớt, bữa ăn bữa nhịn nên ông cùng đám em đều không được đi học. Cách mạng thành công, Quân vừa đến tuổi thanh niên và cũng đã “phải lòng” một người con gái cùng xóm. Đấy là bà Chuột cùng tuổi với ông.  Mỗi lần nhìn cái dáng đậm thấp cùng ánh mắt đen, miệng cười khoe hàm răng đen nhưng nhức đều như hạt na của người ấy thì ông lại thấy chân tay thừa thãi miệng lúng búng nói chẳng ra lời. Cô thôn nữ tên Chuột ngày ấy cũng nhìn ông tình tứ lắm nhưng khi bạn bè gán ghép thì Chuột ngấm nguýt “ỉa vào thằng Quân to rốn”. Chả là nhà nghèo nên chàng thanh niên Quân lúc nào cũng chỉ có cái quần đùi đụp và cởi trần. Ông Quân tức lắm về bắt vạ chú thím. Người chú lúc ấy mới nhớ ra cháu mình chẳng gì cũng đã là một thanh niên vạm vỡ... đành nhường cái áo cánh nâu đã rung rúc. Vậy là chàng Quân ngày cởi trần khoe rốn làm như trâu lăn, tối tối lại diện cái áo cánh nâu vè vè qua ngõ nhà bà Chuột rủ bà cùng đi sinh hoạt đoàn thể, cùng căng lồng ngực hát “Bao chiến sĩ anh hùng- Lạnh lùng vung gươm ra sa trường...”. Khí thế cách mạng hừng hực trong làng ngoài xã. Như mọi trai tráng khác, ông hăng hái đi bộ đội kháng chiến. Đánh xong trận Điện Biên Phủ thì ông phục viên về làng với một cái ống nứa to bằng cổ tay để trong ba lô thòi cả ra ngoài hàng gang. Mọi người hỏi cái gì trong ống nứa, ông lắc đầu không nói rồi đem gác cái thứ bảo bối bí mật ấy tận trên nóc nhà của chú thím. Vậy là mọi người chịu dù rằng ai cũng tò mò không hiểu nó là cái gì mà quý đến vậy.

Chú ông hỏi tại sao lại về phục viên thì ông bảo là do cái tội không biết chữ nó khổ thế đấy! Thì đánh nhau liên miên hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, tranh thủ giữa hai chiến dịch đồng đội cũng dạy chữ cho nhưng ông học không vào. Bạn bè đồng đội đành chịu. Mặc cảm vì việc không biết chữ nên ông nằng nặc xin về quê làm ruộng mặc dù lúc ấy có chủ trương chuyển bộ đội sang làm công nhân Nông trường.

Người ta không biết còn một lý do nữa mà ông Quân dứt khoát xin phục viên. Đó là vì ông nhớ bà Chuột. Khi mới nhập ngũ ông đã nhờ đồng đội viết hộ một lá thư gửi cho bà. Gửi thư đi rồi ông thấp thỏm đợi, ngày nào cũng ngóng. Tuyệt nhiên chẳng có hồi âm. Thì ra thư ông về đến đúng nơi cần gửi nhưng phải cất đi vì bà cũng không biết chữ! Kể ra nhờ người đọc cho nghe cũng được nhưng bà lại ngại. Ngại hàng xóm đồn đại, ngại mang tiếng “phải lòng” giai. Dù ngày xưa chê ông là “thằng Quân to rốn” nhưng trong suốt hơn 8 năm ông đi kháng chiến bà vẫn đợi ông bởi lúc nào bà cũng nghĩ tới lá thư như một lời cầu hôn, bà đã nhận thư tức là đã đồng ý. Vậy thì dù bao lâu bà vẫn đợi.


Ông về được ít hôm thì cưới bà Chuột. Và cũng đúng thời kỳ bắt đầu phong trào vận động vào Hợp tác xã. Hai ông bà xung phong ngay không đắn đo. Dạo ấy mới vào Hợp tác xã, sáng ra kẻng đánh beng beng, đội trưởng sản xuất phải đến từng nhà gào gáy giục mọi người đi làm, tối nào cũng kẻng beng beng báo đi họp để nghe quán triệt nhiệm vụ mọi người phải tích cực sản xuất tiến nhanh tiến mạnh lên Chủ nghĩa xã hội.

Nhưng mà ngày ấy đói rạc… Từ đấy ông Quân hay thở dài... Rồi ông nói câu nào cũng kèm thêm “Ô xời”. Âm “ô” liền với âm “xời” nghe như tiếng ồ nên mọi người gọi ông là Quân “ồ”.

Một lần ông Chủ nhiệm HTX đang hùng hồn thuyết giảng mươi năm nữa tương lai sáng chói lên Chủ nghĩa xã hội thì của cải như nước, mọi người sẽ được ở nhà của nhà nước xây cho, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu…Bà con há hốc mồm nghe rớt cả dãi mồm dãi mũi…Chợt nghe thấy tiếng: Ô xời…

Ông Chủ nhiệm cáu lắm. Hỏi lão Quân “ồ”: Ô xời cái gì? Không tin Đảng tin Chính phủ à?

Lão Quân “ồ” không nói gì. Mà làm sao dám nói, vì ngày ấy ai gặp nhau nói chuyện bao giờ cũng phải kèm thêm câu mở đầu “ơn Đảng ơn Chính phủ”. Ví như ông A hỏi ông B: “ông được mấy con” thì ông B bảo là “ơn Đảng ơn Chính phủ tôi được tám đứa”. Mấy con giai? “Ơn Đảng ơn Chính phủ toàn con gái…” Vậy kinh tế có khá không? Trả lời: “ơn Đảng ơn Chính phủ túng lắm, đói lắm…”.

Lại kể tiếp, ông chủ nhiệm tiếp tục phê phán xã viên lười biếng không tự giác hăng say lao động, không có ý thức hợp tác xã là nhà xã viên là chủ…

Ô xời… lần nay thì lão Quân “ồ” ngồi tại chỗ nói vóng lên: “Việc đếch gì phải hợp tác xã, cứ chia mẹ ruộng ra cho mỗi nhà rồi Nhà nước muốn thu bằng nào thì thu, đỡ phải rắc rối…”

Ông chủ nhiệm lập tức hô: “Thằng phản động! Trói nó lại. Các đồng chí đâu, lập biên bản bắt quả tang tên phản động đang tuyên truyền phá hoại hợp tác xã, chống lại chế độ.”

Vậy là lão Quân “ồ” bị lập biên bản, bị gán cho chức danh phản động. Mấy chục người có mặt cũng điểm chỉ xác nhận. Lão bị giam ở nhà kho một đêm rồi bị giải lên huyện. Bà Chuột tay cầm cái ống nứa lẽo đẽo theo sau vừa đi vừa khóc...

Lên đến huyện thì ông chỉ bị cảnh cáo rồi được về ngay. Cũng là do tối hôm trước ông bảo với bà về bắc thang lấy cái ống nứa trên nóc nhà xuống. Khi ông cán bộ huyện hỏi ai xui giục làm phản động thì ông bảo tôi không phản động, tôi lúc nào cũng theo Đảng theo Chính phủ. Lúc đánh nhau chống thực dân đế quốc sài lang thì tôi sẵn lòng chết thì chết. Về quê tôi lại hăng hái tham gia Hợp tác xã. Tôi nghĩ thế nào thì nói vậy chứ tôi không làm phản động! Rồi ông bảo bà đưa cái ống nứa lấy ra hai cái bằng khen có thành tích xuất sắc trong chiến đấu và một cái chứng nhận Thương binh. Cũng nhờ hai cái thứ giấy đó mà ông được tự do.

Từ đấy trở đi ông Quân “ồ” lặng lẽ làm ăn nuôi con. Ngoài việc cày bừa theo công điểm ông còn tận dụng tất cả bờ mương, làn sông, làn ao, mép đường để cấy khoai nước, trồng rau, gieo đậu. Năm người con của ông ngoài nhiệm vụ phải học giỏi còn được phân công mỗi đứa một việc. Anh con trai cả ngoài giờ học thì rong ruổi đôi quang thúng lót lá chóc với hai cái mảnh xương bả vai trâu đi “lấy phân trâu làm giầu hợp tác”. Chị thứ hai thứ ba nhiệm vụ làm cỏ khoai, cỏ đậu... ông trồng nhiều khoai đậu đến mức hai người phải làm cả năm không hết việc. Anh thứ tư chịu trách nhiệm vớt bèo nấu cám nuôi hai con lợn. Cô con út từ khi mới đầy tám tuổi đã phải lụi cụi tất bật thổi cơm nấu nước ngày hai bữa. Anh con trai cả còn được thưởng huy hiệu vì thành tích xuất sắc theo nhiệm vụ ông bố phân công, mỗi vụ được hai mét khối phân trâu. Được thưởng nhưng không được nhận bởi vì ông Chủ nhiệm ngày xưa đã lên làm Chủ tịch xã bảo rằng không thể thưởng cho con một kẻ đã từng có hành vi phát ngôn phản động phá hoại Hợp tác xã. Nghe vậy ông Quân “ồ” ô xời một tiếng bảo cũng phải, hay ho gì cái việc hót cứt mà khen với thưởng.

Chăm chỉ làm ăn quanh năm suốt tháng, chi tiêu sẻn nhặt đến từng đồng xu... Chưa đầy mười năm sau... vào những năm sáu mươi nhà ông đã giầu nhất xóm. Năm người con lần lượt đều học hết phổ thông không bị đúp năm nào. Ba chị con gái đi học sư phạm làm giáo viên. Hai anh con trai đi bộ đội vào Nam chiến đấu. Nhờ giời, nhờ phúc ấm tổ tiên, cả hai anh vẹn nguyên trở về lại đi học đại học. Bây giờ một Sài Gòn, một ở Hà Nội. Làng xóm ai cũng trầm trồ. Người ta trầm trồ vì rằng ông bà vốn mù chữ mà con cái thông minh thành đạt. Thế mới tài! Và càng trầm trồ nức nở khi có “khoán mười” rồi “chỉ thị 100”: ông Quân “ồ” mù chữ mà ngày xưa nói đúng phết!

Kệ thiên hạ trầm trồ ông lão vẫn lặng im. Ba năm trước bà lão mất. Đám ma to lắm, cả làng đưa tiễn vì ông bà ăn ở tử tế đức độ. Rồi khách khứa tận Hà Nội, Sài Gòn về phúng viếng... xe ô tô mấy chục cái đậu chật đường làng, xe máy dựng kín cái sân kho cũ. Xong việc tang, anh con cả định đón bố lên Hà Nội, anh con thứ muốn đưa bố vào Sài Gòn thì ông kiên quyết “một tấc không đi một ly không rời” bảo rằng thì là tao vưỡn khỏe, rồi tao phải ở nhà thờ phụng tổ tiên, hương khói cho bà ấy... Mấy lị lên nhà chúng mày khó chịu bỏ mẹ... đến đi ỉa cũng chả được thoải mái, ở nhà sướng hơn! Chúng mày không phải lo... Tiền trợ cấp thương binh, tiền bán chuối, bán ổi ông đủ tiêu, nếu có gì đã có ba đứa con gái lấy chồng ở gần. Ngày lễ ngày Tết chúng mày cho các cháu về với tao là được rồi. Các anh đành chịu.

Ông cố thủ ở nhà, các chị con gái trưa tối hàng ngày sang với ông, các cháu ngoại tối đến ngủ canh chừng. Lại được chị Chắt là cháu đằng ngoại của bà ngày xưa được bà làm mối lấy chồng cách nhà ông có hai ngõ. Vậy nên ông chả thấy buồn. Nhiều lúc còn vui là đằng khác, vì thằng Nam con nhà Chắt thấy nhà ông có cái sân rộng nên hay rủ bạn bè sang đánh bi đánh đáo...

*

*   *

- Chết rồi... Tùng ơi!

Thằng Nam thì thầm quay sang giật áo thằng Tùng ngồi kế bên nó. Thằng Tùng ngoảnh ra nhìn theo hướng nhìn của thằng Nam: Ngoài ấy ông Quân ồ đang dệnh dạng bước vào cổng trường! Tùng tái mặt lấy cái thước chọc vào vai  Liêm ngồi bàn trước. Thằng Liêm nhăn mặt quay lại. Tùng hất hàm về phía ngoài cổng. Như phản ứng dây chuyền, đến lượt thằng Liêm xám mặt. Lớp 6 của chúng đang giờ học Toán, nhưng chẳng chữ nào vào được đầu ba thằng vì chúng đều nghĩ: Chết rồi. Chết chắc rồi. Ông Quân “ồ” vào trường để tố cáo Ban Giám hiệu chuyện hôm qua...

Chiều qua ba thằng đến nhà ông Quân “ồ” để đánh bi. Chúng rón rén vào sân... việc đầu tiên là phải xem ông lão thức hay ngủ. Nếu ông thức thì chỉ việc chào rồi chơi thoải mái. Nếu ông ngủ thì phải chuồn êm vì bố mẹ chúng dặn không được làm phiền người khác. Thằng Nam thì thầm bảo hai thằng đứng đợi, nó sẽ vào trinh sát. Lát sau nó trở ra bảo ông í đang ngủ, kiếm chỗ khác chơi thôi. Cả ba thằng ngao ngán: chơi đâu bây giờ? Chúng nhìn ra đường bắt gặp khu vườn ổi mọi khi được ngăn cách với con đường bởi hàng rào tre gai kín đáo giờ thông thống bởi hàng rào tre đã biến mất. Lạ nhỉ? Ba thằng đi thẳng ra vườn ổi, chúng thấy những bụi tre gai đã bị đánh bật tung gốc nằm ngổn ngang trên mặt vườn ngay cạnh các gốc ổi. Một con đường bằng bê tông rộng cỡ đến bốn mét thay thế cho con đường đất nhỏ mọi khi nằm bên ngoài hàng rào tre. Vậy ra xóm mình đã mở con đường rộng ra lấn hết cả bờ tre gai. Đúng rồi, đang làm đường“Nông thôn mới” đây mà- Chúng nghe đài truyền thanh nói thế. Các thầy cô giáo cũng bảo là trường ta đang xây dựng “trường chuẩn quốc gia” để xã được công nhận là xã “Nông thôn mới”.

Thằng Liêm bỗng nhìn lên rồi reo nho nhỏ: Nhiều quả quá chúng mày ơi... Trên tán lá rợp của khu vườn lúc lỉu những chùm quả ổi xanh chỉ to gần bằng cái chén nhỏ. Có ăn được không nhỉ? Vậy là mỗi thằng trèo lên một cây. Thằng Nam hái quả đầu tiên đưa lên miệng cạp. Ôi giời chát, nó vội nhè ra rồi thuận tay ném quả ổi xanh gặm dở sang thằng Liêm. Thằng này đang trèo lên cây bên kia thì bụp một phát quả ổi bay vào lưng. Nó nhăn mặt ngoảnh lại thấy thằng Nam đang nhe răng cười có vẻ khoái chí... vậy là nó tức khí cũng bứt một quả ổi ném lại. Thằng Tùng cũng bứt ổi ném về phía thằng Nam. Tự dưng thành trò chơi ném nhau. Thằng nào cũng trổ tài trèo từ cành này sang cành khác để tránh đạn ổi và đồng thời bứt quả ném sang nhau. Rồi chúng khoái chí nhìn đối thủ nhăn nhó khi bị ném trúng. Càng chơi càng hăng, hăng đến quên việc ông lão đang ngủ trong nhà. Chúng hét “chết này, chết này” và cười khanh khách om sòm cả góc vườn.

Tiếng bọn trẻ la hét làm ông Quân “ồ” tỉnh giấc. Ông lão ngồi dậy nghiêng tai nghe. Cái gì thế? Lại mấy thằng giặc nô nghịch đây mà. Nhưng mà chúng nó ở đâu mà tiếng gần thế? Ông lão chẳng kịp xỏ dép, vớ lấy cái gậy chống vội ra sân. Ngoài sân không thấy đứa nào. Cố mấy bước nữa ông ra bụi chuối mép vườn: ngoài vườn cũng không thấy đứa nào. Nghiêng cổ nghe thấy tiếng hét trên đầu, ông lão hấp háy nhìn lên thấy tán lá ổi đung đưa như phải bão. “Đứa nào? Xuống ngay! Gẫy cành chết cha chúng mày bây giờ”- Ông lão quát rồi cứ chân trần xăm xăm ra vườn.

Ba thằng “giặc” mải chơi nghe thấy tiếng hét thì thất kinh. Chúng vội từ trên cây nhảy xuống. Huỵch một tiếng... thằng Tùng rơi ngay dưới gốc cây. Ông lão trông thấy vội chạy lại để đỡ... loạng quạng thế nào chợt sựt một cái ở gan bàn chân. Giời ạ. Phải gai rồi. Bàn chân buốt nhói. Cố nhấc chân lên thì chân kia vướng phải một cành tre, ông lão mất thăng băng ngã nhoài úp mặt xuống đất. Thằng Tùng ngẩng lên thấy ông lão ngã thì hoảng hồn. Nó vội nhổm dậy... hai thằng kia đứng đờ người thất kinh nhìn ông lão vừa ngã. Chết rồi! Không ai bảo ai cả ba thằng cùng phóng thẳng ra đường.

Chạy một quãng chúng dừng lại thở. Bây giờ thì không đứa nào cười được nữa. Mặt chúng tái mét vì sợ. Sợ vì không biết ông Quân “ồ” ngã như vậy có việc gì không? Ông mà chết thì nguy! Ba thằng rón rén quay trở lại nấp vào chỗ kín, thò mặt ra quan sát. Chúng thấy ông lão đã ngồi dậy đưa tay rờ rờ dưới bàn chân. Khi tay ông đưa lên thấy đỏ lòe. Rồi ông bò đến bụi chuối mép vườn, bám vào thân cây chuối cố vươn người đứng dậy giật một tàu lá chuối non. Ngồi thụp dưới đất, ông lão xé một mảnh lá chuối cho vào miệng nhai trệu trạo lấy bã rịt vào chân, lại xé mảnh khác bó chỗ vừa rịt và lấy dây chuối buộc lại. Xong việc ông lão chống gậy lò dò bước miệng lẩm bẩm ô xời cái lũ mất dạy, mất dạy... ông bảo bố mẹ chúng mày đập chết...

Ba thằng mất dạy yên tâm ông lão không chết nhưng lại sợ tối nay no đòn của bố mẹ. Chúng buồn bã giải tán đứa nào về nhà đứa ấy.

Buổi tối cả ba thằng chăm chỉ ngồi vào bàn học. Mẹ thằng Nam chạy sang nhà ông Quân “ồ” để xem đã có đứa cháu ngoại nào của ông đến ngủ canh ông cụ chưa. Lúc về mẹ bảo cụ già hôm nay dệnh dạng ra vườn làm gì mà tre gai đâm cho có vẻ đau lắm. Thằng Nam căng tai nghe, không thấy mẹ nói gì khác thêm. Thì ra ông Quân “ồ” chỉ dọa chứ không mách bố mẹ. Yên tâm!

Bây giờ ông Quân “ồ” lại vào trường. Chắc chắn là đến để tố cáo ba thằng, đề nghị nhà trường kỷ luật. Phen này thì bị cảnh cáo trước toàn trường, bị ghi vào học bạ. Rồi mai bố mẹ biết lại còn bị ăn đòn. Lão già ác thật, thâm thật. Ba thằng đều chung ý nghĩ: Làm gì bây giờ. Làm gì bây giờ?

Cả buổi học ba đứa nhấp nhổm không yên. Hôm nay là thứ Bảy rồi. Nếu bị tố cáo thì thế nào cũng phải làm kiểm điểm. Tan học vẫn không thấy gì. Lạ nhỉ!

Buổi chiều thằng Nam không phải đi học. Cu cậu chui vào buồng đánh một giấc. Đang ngủ nghe thấy tiếng mẹ nó chào “Cụ ạ”. Nó giật mình nhỏm dậy nhìn ra: Ông Quân “ồ” chân quấn băng, tay chống gậy đứng ở sân nhà nó. Phen này thì chết chắc rồi. Ông ấy sang mách tội mình đây.

- Tao sang giả mẹ Chắt hai chục đây.

Mẹ nó đon đả nhận tiền: Con xin. Thì ra cụ vay tiền con để ủng hộ nhà trường à. Con nghe thấy xã và nhà trường biểu dương cụ trên Đài truyền thanh. Già rồi việc gì phải thế. Mà có tám chục thì ủng hộ tám chục việc gì phải cho đủ trăm.

Ông già nghiêm mặt:

- Cái con mẹ này ăn nói hay nhỉ. Tao nghe nói nhà trường người ta xây dựng trường chuẩn để có cái cho bọn trẻ nó học nó chơi. Chứ cứ để chúng nó lông bông học chả ra học, chơi chả ra chơi... rồi sinh hư. Gớm, vào trường xem cái phòng... phòng gì mà toàn máy... máy gì ấy nhỉ mà chữ nghĩa cứ chạy nhoang nhoáng, rồi có cả máy chiếu bóng nữa nhá. ối tiền chứ không à? Vậy nên phải cố góp một tý. Sáng ra lẫn cẫn thế nào mà tám chục lại bảo một trăm. Dọc đường thấy thiếu mới phải vay. Đáng gì! Bây giờ chỉ có vậy. Tháng sau tao bán ổi sẽ ủng hộ thêm.

-Vậy sao ông không bảo các chú các cô ấy gửi tiền về để ông ủng hộ, việc gì phải bòn nhặt. Hay là ông muốn lấy tiếng thương binh gương mẫu.

- Ô xời... cái con mẹ này. Tao vả vào mồm bây giờ! Sắp xuống lỗ rồi còn tiếng tăm làm gì. Chả hiểu cái gì sất. Tiền chúng nó thì chúng nó ủng hộ. Tiền tao tao ủng hộ. Ai cũng phải ủng hộ.

Rồi ông lão tấp tểnh ra về. Đợi ông ra đến ngõ thì thằng Nam phóng theo. Đến trước mặt ông, nó cúi xuống ấp úng:

- Ông ơi... cho... cho con xin lỗi!

Ông già hấp háy mắt nhìn xuống:

- Ô xời... tiên nhân chúng mày, thuần nghịch dại. Thế cái thằng cu gì con nhà gì đấy nó ngã có đau không? Tao thấy nó chạy được thì mừng chắc không việc gì. Thôi về mà học đi.

Chị Chắt mẹ thằng Nam đứng trong sân nhìn ra: Không biết ông Quân “ồ” với thằng con nhà mình đang nói với nhau cái gì ấy nhỉ?

Truyện ngắn: Mai Tiến Nghị (Nam Định)

 
Mầm đắng

Truyện ngắn: Tống Ngọc Hân

(Lào Cai )

Mẹ vẫn khoe mình sinh nở những mười ba lần. Lớn lên tôi đếm được mình có chín anh chị em tất cả. Bốn anh trai đều được đi học gần hết cấp hai. Còn năm chị em gái mà tôi là út thì không đi học ngày nào. Tám tuổi, tôi bị bố cho một trận nhừ tử vì tội thường xuyên bỏ đói trâu để mon men đến gần các lớp học. Khi tôi lên mười, biết tôi làm toán giúp thằng bé hàng xóm, ông cho thêm trận nữa, nhớ đời. Với đàn bà con gái trong nhà tôi, biết chữ là một cái tội.

Trâu nhà tôi, để khỏi nhầm với đàn trâu nhà khác mà trong mắt tôi con nào cũng giống con nào, tôi đã buộc cho mỗi con một cái giẻ vào đuôi. ấy thế, tôi vẫn để mất con trâu đực to nhất đàn trong một lần chăn thả rừng xa. Mất trâu, tôi không dám về nhà, cứ thất thểu trên rừng ngày này sang ngày khác, gì ăn được là ăn, thấy tiếng người thì trốn vào bụi. Sau một tuần đói khát mệt lả, tôi mò về nhà, ngồi ngoài cối xay đợi mọi người ngủ, rồi lẻn vào bếp trộm cơm nguội. Cả nhà ngủ say. Chẳng ai quan tâm đến sự vắng mặt của tôi, kể cả mẹ.

Mà mẹ cũng hay, ngày tháng năm sinh của chúng tôi, đứa nào có, tự nhớ lấy. Tôi nghe bố nói tôi tuổi Mão, thì biết vậy. Khai sinh bố cất trong hòm. Cái hòm, ngoài bố ra không ai dám động vào, vì có tiền trong ấy. Mẹ hay sai bảo tất cả chúng tôi bằng cái tên chung. “Chúng mày ra cả đây, để cái chuồng lợn bẩn thế này à?” Hoặc. “Mai chúng mày dậy sớm đi gặt”. Chín đứa cũng “chúng mày”, mà có một đứa mẹ cũng “chúng mày” chứ chả gọi đến tên riêng bao giờ. Năm tháng qua đi, cái đám “chúng mày” vơi dần vì lấy vợ, lấy chồng, ở riêng.  Chỉ còn tôi và hai chị gái đã đến tuổi yêu đương.

Đêm ấy, sau khi chén no cơm nguội, tôi lăn ra hè bếp ngủ quên. Sáng ra, mẹ đá vào mông tôi và quát.

-  Tao tưởng chết trong rừng rồi, trâu về mà người không biết đường về, cứ liệu với bố mày, lười thối ra.

Tôi ngồi dậy, mừng quýnh. Thế ra con trâu đực đã tự về. Mừng chán, tôi lại buồn. Mất con trâu cả nhà đi tìm, còn tôi, lang thang cả tuần trên rừng chả ai buồn nghĩ đến. Tôi lớn lên cùng với đàn trâu và rừng măng đắng. Trâu bán bao nhiêu lứa, măng mỗi năm đắng một mùa. Chắc ngày nào đó, tôi như cái mầm đắng đã thành cây, bố cũng gả chồng. Chồng tôi, cũng như các anh trai thôi, được học đấy, nhưng chẳng để làm gì. Chồng tôi, rồi cũng  sẽ khắt khe, khó tính giống bố và khi gần đất xa trời thì sẽ giống ông nội, suốt ngày chửi nhảm. Tôi sẽ như chị dâu, đẻ hai đứa con theo quy định của nhà nước. Rồi tôi sẽ như mẹ. Từ nhà lớn xuống bếp, từ bếp ra đồng. Từ đồng về nhà, quanh quẩn, quẩn quanh. Và tôi sẽ giống bà nội, mắt mờ, tay rung rinh cái vỉ ruồi, chả đập trúng ruồi, đập trúng mẹt đỗ đen, vãi tung tóe…

Nghĩ thế là tôi chán, chán đầy cổ. Có cách nào để thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy không nhỉ. Tôi tìm sách cũ của anh chị, nhét vào bụng, mang vào rừng lúc chăn trâu để đánh vần và tự học. Dần dà, mười sáu tuổi, tôi đọc được hết những cuốn sách ấy. Tôi giấu tiệt chuyện đó. Cái chính sách “ngu hóa” đàn con gái của bố thật hiệu lực. Các chị thin thít nghe lời, không đứa nào dám cãi. Có tí chữ vào là hay cãi lắm. Tôi là út nhưng lại ương ngạnh nhất nhà. Bố càng sợ tôi biết chữ.

Đứa bạn gái cùng thôn rủ rê tôi sang bên kia sông kiếm tiền. Tôi không ham kiếm tiền lắm vì tôi có được tiêu tiền đâu. Hồi bé, suốt ngày tôi đi lấy lá nuôi thỏ. Lớn lên, tôi cuốc giun chăn vịt, lớn hơn chút nữa tôi móc cua đem bán. Rồi chăn trâu, lấy củi. Tiền tôi và các chị làm ra bố giữ tất, để lo cho các anh học hành, rồi xin việc, lấy vợ, làm nhà riêng. Bây giờ có sang đó làm rồi cũng mang tiền về cho bố. Chả tội. Tôi chỉ thèm đi chơi một chuyến, thèm học hỏi thêm điều gì đó hay hơn việc kiếm tiền thôi. Cái bác bên cạnh nhà tôi quát con.

-  Tao chưa khiến chúng mày học cách kiếm sống, hãy học cách sống trước đã, đừng trát bùn vào mặt tao.

Cách sống và cách kiếm sống thì có gì khác nhau nhỉ? Câu chửi ấy có vẻ xa lạ với bọn trẻ con người Giáy chúng tôi. Nhưng tôi là đứa hay nghĩ. Vày vò mãi tôi cũng sơ sơ hiểu, cách kiếm sống là cách kiếm tiền tự nuôi thân, như tôi ấy. Còn cách sống là thế nào thì tôi thật tình chưa biết. Tôi mới mười sáu tuổi, vội gì phải biết.

Chưa bao giờ tôi làm mẹ vừa lòng. Mẹ chửi.

-  Kem đánh răng mày nuốt đi  hay sao mà nhanh hết thế. Xà phòng cũng tốn, đái ra quần hay sao mà ngày nào cũng thay giặt.

Với mẹ, dùng kem đánh răng và thay quần áo hằng ngày là thói đua đòi. Cái quần tôi toạc đũng vì can hai con trâu đực khà khịa nhau, mẹ tôi cũng bảo tôi phá. Mẹ bảo cái ấy của tôi có răng mà xé, mà cắn rách quần. Cái quần, phải bán năm sọt măng đắng mới mua được. Tôi không xin mẹ thôi chửi, chỉ xin mẹ chửi nhỏ. Mẹ càng gào to.

-  Hành kinh thì mang ra suối mà giặt chứ, ai cho mày giặt ở lần nước, đồ mất nết.

Như thể khổ quá mà chửi, và chửi thì mẹ bớt khổ, bớt nhọc nhằn. Tôi chọn lúc suối vắng người mà làm việc ấy. Lúm thúm như đứa trộm thóc bán lấy tiền ăn quà vặt. Vừa giặt, vừa lấy cành lá mà khoắng cho máu tan loãng và trôi đi thật nhanh. Ra suối nhiều mẹ cũng chửi.

-   Mày tối ngày đàn đúm, máu đâu mà nhiều thế, tưởng tao không biết chắc.

Có cũng chửi, mà không có cũng chửi.

Tháng ấy, tôi không có thật, mừng cuống vì thoát cái nợ giặt giũ tanh tưởi. Mẹ vạch bụng, xem lông mày, tát cho sưng mặt.

- Đi chơi với đứa nào, mày khai ra.

Tôi khai ra vài đứa, bố mẹ đến nhà chúng làm um lên. Cuối cùng tôi được đưa ra trạm xá. Cô y sĩ bắt tôi cởi quần, leo lên cái giường sắt lạnh ngắt, nằm ngửa, ngoắc hai cẳng chân lên hai cái giá đỡ ở hai bên, rồi lấy đèn pin rọi vào chỗ ấy của tôi. Cô bảo mẹ yên tâm. Tôi vẫn là con gái. Thật chả ra làm sao cả. Nhưng sau khi tôi ở trạm xá về thì không còn đứa bạn nào dám chơi với tôi nữa. Đá bóng, nhảy dây và trốn tìm với nhau mà cũng bị chửi, bị cấm thì chơi làm gì.

Không có bạn, tôi buồn lắm. Hai chị gái đã biết làm duyên thì không chơi những trò trẻ con vô bổ với tôi, nhưng cũng chẳng dám chơi trò người lớn vì sự kiểm soát gắt gao của bố. Con gà, con vịt, con trâu đi đâu cũng có đàn. Nhỏ như con kiến cũng có đàn. Tôi lủi thủi một mình được vài tháng thì đứa bạn cũ đã sang làm bên kia sông lội về ngon ngọt rủ đi. Nó nỉ non.

-  Có tiền mày mua xà phòng đổ vào quần áo cũng chả ai nói. Có tiền mày mua cái miếng gì gì có cánh ấy bịt vào rồi vứt béng đi, không phải mang xô màn ra suối mà giặt. Có tiền, mày có rất nhiều bạn, tha hồ mà chơi, chả ai cấm đoán.

Nó gãi đúng chỗ, tôi đang thèm bạn, thèm kết giao. Thèm đến ngứa ngáy cả người.

Không đi học, là không có trường lớp, không có bạn học, không có thầy cô giáo, không có kỉ niệm gì quý giá cả. Nghe nó nói tôi thấy mình thiệt thòi quá. Kiếm được tiền, tôi nhất định sẽ đi học một nghề gì đó và tôi sẽ có nhiều bạn. Trước khi trốn đi, tôi đã nghĩ như vậy. Chẳng cần giấy tờ thủ tục, qua bên kia dòng sông là tự do. Đứng trên ngọn trám nhà tôi là nhìn thấy tự do. Nơi ấy nhà cao chọc trời, điện đóm sáng trưng, hàng hóa ngồn ngộn. Đâu như cái bản nhỏ của tôi, nghèo đến nỗi người ta sẵn sàng vứt bỏ tất cả lại mà đi, chẳng vì giận hờn ai cả. Bạn tôi gọi là đi tiểu ngạch. Tiểu ngạch là hơn chục phút ngồi trên con xuồng cắt ngang mặt sông Hồng.

Bạn dắt tôi vào một quán ăn đề những dòng chữ lạ mà tôi không đọc được. Hai bát phở đỏ loét những ớt được bưng ra. Tôi nhăn mặt vớt cái, bỏ nước và thầm nghĩ, mình không thể quen và ăn mãi món này được. Khi tôi ăn gần xong, bạn bảo chủ mới của tôi đến. Tôi ngước lên. Hai gã đàn ông to lù lù, thô thiển nhìn tôi như nhìn con vịt quay trên lò than. Tôi thấy nóng cổ. Không để ai biết được suy nghĩ của mình, tôi đi thật nhanh ra cửa bên cạnh, và cứ theo cái lối cũ mà chạy, không ngoảnh cổ lại lần nào. Ba chục phút sau tôi xuống bến sông. Số tiền bạn cho lúc trước đủ để tôi mua một vé xuồng. Đặt chân về đến thành phố giáp biên, tôi thở phào. Tiền chẳng để làm gì, nếu chỉ kiếm tiền để sống, sống ở đất quê mình chả sướng hơn sao. Lúc ấy, tôi chỉ nghĩ thế.

Tôi vào chợ, xin việc trong một quán cơm bình dân. Bà chủ quán gầy gầy, nhìn tôi phổng phao thì có vẻ hài lòng. Bà hỏi tên, tuổi, quê quán. Tôi trả lời thật. Nhưng khi bà hỏi tôi học lớp mấy thì tôi nói dối. Lớp tám. Lúc đầu tôi định khai man là lớp hai thôi, nhưng lớp hai thì chắc gì bà nhận. Nghe nói đi làm thuê cũng cần phải có trình độ. Mà đằng nào chả nói dối, dối luôn lớp tám vì các anh của tôi cũng đã học hết lớp tám. Những bài giảng văn lớp tám tôi có thuộc. Người ta có ngờ vực mà hỏi, chỉ cần bình tĩnh mà nhớ lại là tôi có thể thoát nạn.

Tôi ung dung ngồi trên cái ghế băng dài nghe bà tỉ mỉ chỉ bảo những việc phải làm. Nhặt rau, rửa rau, thái măng, chặt xương, băm thịt, rửa bát…Tưởng gì chứ, những việc ấy đâu có khó. Khó bằng phép tính nhân mấy số tôi còn làm được nữa là. Lúc đầu tôi còn lóng ngóng sai sót, về sau, được chỉ bảo, tôi quen việc, làm rất nhanh. Bà chủ quán trông thế mà lại dễ tính. Bà chẳng bao giờ mắng tôi tốn xà phòng hay kem đánh răng cả. Bà còn giục tôi ăn nhiều cho khỏe. Đến tháng, bà đưa tiền cho tôi mua băng dùng, chẳng phải giặt giũ. Bà mua cho tôi mấy bộ quần áo mới và những cái tạp dề xinh xinh màu xanh, dưới gấu viền ren trắng. Tôi thấy bà tốt với tôi nên càng chăm chỉ hơn.

Tôi thích những quả cà chua chín đỏ mọng. Tôi thích những rổ rau thơm xanh non. Tôi thích cái chạn bát gọn gàng, sạch sẽ và nhìn rất ngon mắt. Tôi thích nồi nước phở to đùng, thơm ngậy lúc nào cũng ì oạp sôi. Tôi thích nghe những lời khen của khách. Phở ngon quá, hoặc hôm nay món nộm thật khéo. ở nhà, dù tôi và các chị có làm tốt việc gì, bố mẹ cũng chẳng bao giờ khen câu nào cả. Tôi rất thích công việc và cuộc sống ở đây. Tôi bắt đầu kết bạn. Chúng cũng phụ việc như tôi ở những quán bên cạnh. Có vài đứa đã được chủ quán giao cho việc nấu nướng. Tôi nể chúng lắm. Và tôi quyết tâm học hỏi để một ngày được như chúng.

Cầm tháng lương đầu tiên, lòng tôi rưng rưng nhớ đến mẹ. Mẹ chưa bao giờ được cầm số tiền như thế này. Tiền nong, của cải trong nhà là do bố giữ. Thật lòng mà nói, từ lúc trốn nhà đi, mẹ là người tôi nhớ nhất. Được vài hôm, bà chủ xem tivi rồi tái mặt giục tôi thu xếp quần áo về nhà ngay.

Không khí tang tóc bao trùm lên cả thôn khi trận sạt lở đêm trước vùi chôn mười mấy ngôi nhà và hơn ba chục người thiệt mạng. Thi thể mẹ, bà nội và một chị gái đã được tìm thấy, còn thiếu ông nội. Bố như con thú điên, đưa tay cào xé mặt mình chán thì phăm phăm lội xuống con suối lũ, lổng chổng đá mà gào thét. Bố thương xót ông nội, bà nội và mẹ hay xót cái cơ nghiệp bị vùi lấp, xóa sổ trong tích tắc? Tôi nhớ là mình đã không khóc. Không phải vì tôi không biết đau đớn. Mấy hôm sau, họ tìm thấy ông nội. Ông bị thất lạc mất một cánh tay. Bố đã ngất đi.

Nhà chỉ còn tôi và một chị gái vừa qua tuổi mười tám. Trong căn nhà tạm, chị khóc lóc mê sảng gọi tên một người con trai vừa bỏ chị lại mà đi trong trận lở núi. Tôi cũng không khóc. Có lẽ, khi con người ta đau đớn, khóc thì dễ chịu hơn chăng? Tôi không cần phải cảm thấy dễ chịu, tôi cần đối diện. Vì người đàn ông trụ cột, vững vàng nhất gia đình, là bố, thì cũng đang quằn quại, vật vã dưới đất kia.

Mấy hôm sau, bố ném vào mặt chị nắm lá xanh, những chiếc lá có riềm răng cưa và ra lệnh.

- Muốn sống, muốn làm con tao thì nhá kĩ và nuốt đi.

Chị  quỳ mọp van xin. Bố giơ chân, đạp dúi đầu chị xuống, quát ầm.

- Đồ đĩ non, sao mày không chết luôn đi theo nó hả?

Nước mắt tôi bấn loạn chảy ngược vào trong. Tôi dìu chị dậy. Bố vồ lấy tóc tôi, xoắn chặt, đau điếng. Bố gằn từng tiếng.

- Còn mày, nứt mắt đã bỏ nhà theo giai, còn dám vác mặt về à? Cút hết, cút sạch, quân đốn mạt.

Bố tôi hằm hằm đấm vào cột nhà mấy cái rồi bỏ ra suối. Ngoài ấy, vẫn còn một cánh tay của ông nội và những vết tích đổ vỡ. Tôi biết, nếu chúng tôi ngoan ngoãn tử tế như các chị đã được gả chồng, thì bố có thể thu về một món kha khá từ khoản lễ lạt do nhà trai đưa đến. Giờ thì trắng tay, bố không điên sao được.

Tôi đưa chị ra thành phố. Bà chủ quán mở lòng đón cả hai chị em, giúp tôi thực hiện giấc mơ đi học. Tôi học ngoại ngữ. Học để kiếm tiền và học để có nhiều bạn. Ngày làm đêm học. Sau mấy năm quần quật, tôi được nhận vào làm trong một công ti lữ hành tại thành phố, ngay giáp cửa khẩu. Bà chủ bảo, tôi vẫn còn non dại lắm, phải đi nhiều để mở mang đầu óc.

Chuyến đầu tiên, tôi dẫn một đoàn khách mười sáu người đi Sa Pa. Sau chuyến ấy, tôi bị nhắc nhở. Em nói “không” với khách nhiều quá, họ là thượng đế chứ không phải chúng ta. Tôi biết rồi, tôi chỉ nhắc lại những tấm biển chỉ dẫn, không dẫm lên cỏ, không bẻ hoa, không vứt rác…thôi mà. Tôi dấn thân vào những chuyến đi rạc cả người và ôm ấp khát vọng xây cho bố ngôi nhà mới.

Một hôm, tôi được công ty giao cho một chuyến đi dài. Biển. Tôi băn khoăn vì chưa ra biển bao giờ. Đường là ở mồm. Chị quản tour chỉ ngắn gọn thế. Tôi về chuẩn bị. Có vẻ chuyến đi quá sức với một đứa thất học, nhưng như kẻ trót phóng lao, tôi phải theo lao. Khách là hai mươi mốt người đàn ông, tất cả đều nhang nhác hai gã tôi gặp ở quán ăn nhiều ớt độ nào. Nhưng lúc này thì tôi không sợ gì cả.

Biển đẹp quá, lại giầu nữa. Biển choáng ngợp tôi. Choáng ngợp bao kẻ. Chẳng thế mà lại tranh giành…

Tôi khàn hơi, lạc giọng. Dù đã được tư vấn trước là không được nói gì liên quan đến đề tài nóng bỏng trên biển nhưng hăng lên, tôi vẫn nói cho sướng. Tôi chỉ nghĩ. Khách ngoại quốc đến đất nước mình du lịch rất đông. Họ là những người hiểu biết, có tri thức. Tại sao mình không tranh thủ truyền bá, vừa để khẳng định chủ quyền lãnh thổ, vừa để kêu gọi sự ủng hộ, mà phải lờ đi?

Tôi bị đuổi việc. Miếng cơm manh áo của cả tập thể mấy chục con người mới quan trọng, chứ quan trọng gì tôi. Xấu hổ và buồn tái buồn tê vì tất cả những công ty lữ hành trong thành phố đều khước từ tôi. Tôi chợt muốn về nhà với bố. Thời buổi này, gia đình có lẽ là nơi an toàn nhất. Bố đã bớt khó tính, bớt cổ hủ kể từ khi chị đem thằng cháu ngoại biết bi bô về gọi ông. Nhìn lên nhìn xuống, nhìn sang hai bên. Bạn cũ chẳng còn ai ở không. Tôi đã hai mươi nhăm tuổi rồi.

Đoạn đường từ phố huyện lên trung tâm xã đi qua cửa nhà tôi, căn nhà dựng tạm sau mưa bão, tránh xa con suối và ngọn núi sạt lở. Đoạn đường đang được làm lại. Bố có quen một gã lái xe chở vật liệu cho công trình. Tôi không dám gọi hắn bằng chú vì hắn đã gọi bố bằng chú rồi. Mà gọi hắn bằng anh thì ngượng mồm. Hắn gấp đôi tuổi tôi. Thấy tôi ấm ớ trống không. Bố  vằn mắt.

- Anh là anh, chú là chú, đừng có léng phéng.

Có lẽ bố còn ác cảm chuyện đứa con ương ngạnh văng khỏi gia đình bao nhiêu năm rồi đột ngột quay về vì bị xã hội ruồng bỏ.

Nhà tôi có một rừng măng đen rộng gần hai hecta. Giống măng mới bố liên hệ mua từ vùng trung du. Những cái măng mập mạp, đen trũi, có cái nặng cả yến. Bóc vỏ đen ra, măng vàng óng ả, luộc chín, măng trắng nõn nà và ngọt lịm. Trồng măng đen rất kinh tế. Vì thế bố chỉ giữ lại một vạt vầu đắng rất nhỏ từ ngày xưa. Bố và gã có sở thích giống nhau. Măng đắng luộc chấm nước mẻ. Chỉ thế thôi, là hai người rượu say nghiêng ngửa.

Mùa thu hoạch măng thứ hai đã đến. Gã kia thình lình yêu cầu bố để cho gã mua tất cả vụ măng và trả công nhật để tôi giúp hắn đóng hàng lên xe cho mát vía. Bố suy nghĩ một lúc rồi mới đồng ý.

Tôi vừa làm, vừa nơm nớp dè chừng gã ta. Bụng bảo dạ, đừng có chủ quan. Bây giờ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ con, thai nhi qua biên giới nhiều lắm. Bản này, khối đàn bà, con gái có đi mà chẳng có về rồi. Nhưng tôi khác họ, từng đi ngang về dọc bao năm, đứa nào dám lừa bán tôi?

Đã cạn mùa măng đen. Chuyến cuối cùng, như thường lệ, tôi lên xe để xếp lại những sọt măng cho ngay ngắn. Mặt tôi bất chợt xây xẩm. Tôi ngã xuống một cái sọt, lịm đi.

Rất lâu sau, tôi tỉnh dậy. Cục giẻ trong mồm tôi được lôi ra. Nhưng dây trói ở tay và chân thì không được cởi. Tôi bị giam giữ như tù binh. Nơi xứ người, tôi như ngọn măng đen bị lột vỏ bằng hai bàn tay khả ố, nhơ nhớp bao lần. Muốn gào thét, không được gào thét. Muốn vật vã, cũng không được vật vã. Có cái gì đó đã hình thành và lớn lên trong tôi. Người ta không cho phép tôi làm tổn hại đến nó. Người ta bảo vừa trao cho tôi một sứ mệnh. Tôi không hiểu sứ mệnh là gì, chỉ biết đây là một sự sắp đặt tàn nhẫn. Ai đã sắp đặt cuộc đời tôi? Tại sao lại chọn tôi? Chọn đứa con gái hèn nhát, ham sống sợ chết? ở chốn tột cùng nhục nhã, tôi vẫn tha thiết muốn sống, muốn được về nhà với bố.

Thời gian lê lết qua năm lần trăng tròn rồi khuyết. Biết tôi chẳng dám chết. Biết tôi không thể nhẫn tâm. Và không muốn thấy tôi rầu rĩ. Họ cho tôi về quê.

Tôi không biết mình tròn hay khuyết khi tất cả bỗng chốc đảo lộn. Bố không bắt tôi ăn nắm lá có viền răng cưa như ngày xưa bắt chị ăn để tống ra khỏi người cái mầm mống oan nghiệt. Tôi cũng chẳng phải van xin. Chuyện chị tôi không chồng mà chửa đẻ đã thành tiền lệ. Và bố, lão già khốn khổ đã quá mệt mỏi với việc giữ gìn nề nếp gia đình cũng đành buông xuôi. Trận sạt lở kinh hoàng, cả bản chưa ai quên ngày thì bố xây được một căn nhà mới, tươm tất nhất vùng. Bố nói, trồng măng đen được tiền lắm và hướng dẫn nhiều hộ trồng măng đen. Giờ bố chỉ quan tâm đến rừng măng đen thôi.

Ngày trước, tôi thèm có bạn biết chừng nào, để được chơi, được tâm sự. Thì nay tôi gói kín lời nói, chẳng dám chia sẻ cùng ai. Còn ai tin tôi? Ai tin chuyện lừa gạt? Họ nói. Nó chẳng lừa ai thì thôi. Trong nỗi cô độc, tôi chợt thấy được an ủi. Nó bé nhỏ nhưng lại hiện hữu rõ ràng trong tôi. Nó đòi hỏi tôi phải sống cho nó, vui buồn vì nó. Như mầm măng ngọt được tưới bằng nước mắt của cây mẹ đều đặn như sương sa mỗi lúc đêm về. Nó lớn rất nhanh. Đã đến ngày, ngày nó xé đất đòi chui lên.

Tôi mổ sinh con ở bệnh viện. Tỉnh cơn mê, không thấy con bên cạnh, tim tôi thắt lại. Tôi khom người, đi khắp các phòng bệnh tìm con. Đi mãi, tôi thấy bố đứng dựa lưng vào một góc tường. Mặt ông trắng bệch như cái măng luộc ngâm nước lâu ngày. Ông an ủi tôi :

- Bố nó lấy đi rồi. Tiếc gì cái mầm đắng ấy…

Tôi run rẩy, nép vào vai bố như hai cây tre đơn độc tựa vào nhau. Lần đầu tiên tôi mở miệng van nài.

- Bùn ơi! giọt máu của con, núm ruột của con. Trả nó về cho con.

Bố cười, miệng méo xệch, tay run run vỗ vào lưng tôi, thì thào.

-  Họ mang đi xa rồi, trả thế nào được...Cũng là cách kiếm tiền thôi mà, đẻ thuê thôi mà. Mày tưởng có hai vụ măng mà xây được cái nhà ấy hả con?

Tôi sững sờ rời vai bố. Ông đổ xuống chân tôi. Tôi ôm bụng gượng đứng. Máu từ vết mổ thấm qua áo, nhuộm đỏ bàn tay.

T.N.H

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 203 (5/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 202 (4/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 201 (3/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 199,200 (1,2/2019)

Tạp chí Cửa Biển số 198 (12/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 197 (10/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 196 (9/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 195 (8/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 194 (7/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 193 (6/2018)


Tạp chí Cửa Biển số 192 (5/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 191 (4/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 190 (3/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 189 (2/2018)

Tạp chí Cửa Biển số 187 (10/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)